Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm Đại hội XIII về đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

  - Đại hội XIII của Đảng đã đề ra quan điểm và các chủ trương, nhiệm vụ về nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới. Với trách nhiệm của mình, các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên có nhiệm vụ nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, hiệu quả các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp đã nêu trong các văn kiện của Đại hội. Bài viết đề cập một số nhiệm vụ nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng theo yêu cầu của Đại hội XIII của Đảng.

Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm Đại hội XIII về đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng - Ảnh: vnanet.vn

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu các phương thức lãnh đạo chủ yếu của Đảng: “Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu”(1). Trong các văn kiện Đại hội và Hội nghị Trung ương trước Đại hội XIII, Đảng ta đã nêu nhiều quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó đã đề cập đến việc đổi mới phương pháp ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng; đổi mới công tác tư tưởng; đổi mới công tác tổ chức; đổi mới công tác cán bộ; đổi mới công tác dân vận; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; v.v.. 

Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã nêu hệ thống các quan điểm khá toàn diện, cụ thể và sâu sắc, trong đó có nhiều quan điểm mới, có tính đột phá về công tác xây dựng Đảng nói chung, trong đó có những chủ trương về nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nói riêng, trong đó nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền là cơ sở, điều kiện để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Có thể khái quát những nội dung và yêu cầu chủ yếu về nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng như sau:

1. Nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng

Đây là điểm mới rất quan trọng thể hiện sự phát triển, đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng. Khác với cách tư duy lãnh đạo cụ thể, nhất là ảnh hưởng của tư duy nhiệm kỳ, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Đảng phải thể hiện tư duy vượt trội, tầm nhìn chiến lược trong nhìn nhận bối cảnh thế giới, trong nước và định hướng phát triển đất nước, trong đó trước hết phải nâng cao năng lực dự báo các nhân tố tác động, xu hướng phát triển để hoạch định đường lối, chủ trương phù hợp, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trước mắt, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ lâu dài, khắc phục tình trạng ban hành nghị quyết chưa sát thực tiễn, tầm nhìn ngắn hạn, thiếu tính khả thi. Để đáp ứng yêu cầu này, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, xây dựng, ban hành nghị quyết của Đảng. Ban hành nghị quyết khi thật sự cần thiết, hợp lý, thiết thực, ngắn gọn, khả thi”(2). Để nghị quyết của Đảng vừa ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ và khả thi, các nội dung cơ bản về quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp trong nghị quyết phải ở tầm chiến lược, đó là các vấn đề đã được nghiên cứu, tổng kết, đáp ứng những yêu cầu từ thực tiễn trong nước và thế giới. Mỗi nghị quyết mới của Đảng phải có những chủ trương, giải pháp có tính đột phá, sáng tạo. Đương nhiên, nghị quyết của đại hội đảng bộ, cấp ủy các cấp có những yêu cầu, đòi hỏi về cấp độ cụ thể riêng: các nghị quyết của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị phải thể hiện quan điểm, tầm nhìn chiến lược; nghị quyết của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới cần có những nội dung, nhiệm vụ cụ thể hơn, rõ ràng, sát thực tiễn địa phương, cơ sở hơn.

2. Nâng cao năng lực lãnh đạo việc thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả

Đây là quan điểm và cũng là nhiệm vụ, giải pháp hết sức quan trọng, có tính quyết định năng lực, hiệu lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Bởi, lãnh đạo việc thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước là một trong những cách thức lãnh đạo, cầm quyền cơ bản, trọng yếu, trực tiếp, có hiệu quả nhất đối với việc hiện thực hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, nhất là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay. Chức năng, nhiệm vụ, vai trò và trách nhiệm của Đảng là lãnh đạo, Nhà nước có chức năng quản lý mọi lĩnh vực và hoạt động của xã hội bằng pháp luật. Vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng chính là những nội dung cơ bản, cốt lõi, có tính quyết định trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Chính vì vậy, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng”(3) và “kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, triển khai đúng đắn, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện”(4)

3. Đổi mới công tác tư tưởng, tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tạo sự thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong nhân dân để thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới công tác tư tưởng, tuyên truyền, thuyết phục, vận động các tầng lớp nhân dân trong phạm trù đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Đây cũng là sự bổ sung, phát triển về nhận thức và tư duy lãnh đạo của Đảng nói chung và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nói riêng. Phương châm, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng là định hướng, dẫn dắt, gợi mở, tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tạo niềm tin và truyền cảm hứng để các đối tượng lãnh đạo giác ngộ, tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Để đáp ứng được mục đích, yêu cầu đó, các cấp ủy, tổ chức đảng phải đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền, thuyết phục, vận động các tổ chức và các tầng lớp nhân dân. Với tinh thần đó, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(5), trong đó tiếp tục “đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại”(6)

Cùng với việc đề cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, Đại hội Đảng lần này cũng nhấn mạnh cần phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan thông tấn, báo chí trong tuyên truyền, vận động, tập hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: “Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động, sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo hướng thiết thực, tăng cường đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh”(7).

4. Nâng cao năng lực lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ

Lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua công tác tổ chức, cán bộ và đội ngũ cán bộ, đảng viên công tác trong cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là một phương thức lãnh đạo, cầm quyền đặc biệt quan trọng, không thể thay thế của Đảng. Vì vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng không thể không đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức. Năng lực lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy của Đảng thể hiện trên nhiều phương diện, trước hết là ở tư duy và tầm nhìn chiến lược trong thiết kế mô hình tổ chức bộ máy của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Mô hình tổ chức đó phải vừa bảo đảm vai trò lãnh đạo, cầm quyền thống nhất, toàn diện, hiệu lực, hiệu quả của Đảng, vừa bảo đảm bộ máy tinh gọn, không chồng chéo, song trùng quyền lực, phát huy vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm, sự chủ động của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị. Trên tinh thần đó, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội, con người... đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và nền dân chủ XHCN ở nước ta. Đại hội yêu cầu: “Tổng kết các mô hình thí điểm về tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị, khắc phục sự chồng chéo và những bất hợp lý trong tổ chức của Đảng và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Đẩy mạnh thực hiện tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm”(8).

Đi liền với yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy là nâng cao năng lực lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Đảng lãnh đạo Nhà nước, hệ thống chính trị và xã hội thông qua đội ngũ cán bộ, công chức, nhất đội ngũ đảng viên là những cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên, nhất là tổ chức, đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước vừa phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối, các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(9); phải xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

5. Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở; xây dựng và thực hiện phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm

Đây là quan điểm và cũng là nhiệm vụ, giải pháp có nội dung yêu cầu mới, có sự bổ sung, phát triển hơn so với các quan điểm, giải pháp đã được nêu trong các văn kiện trước đây của Đảng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: phải đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo từ Trung ương tới cơ sở, tức là đổi mới phương pháp, phong cách làm việc trong phạm vi toàn Đảng, từ trên xuống dưới, đồng bộ, thống nhất, trong đó bao gồm cả đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo (cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng) và các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy đảng các cấp. Toàn Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị phải xây dựng được phương thức, phong cách làm việc bài bản, hợp lý, khoa học, theo tinh thần “trên dưới đồng lòng”, “tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng” và “dọc ngang thông suốt” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh. Đặc biệt, trong mỗi cấp ủy, tổ chức đảng phải xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, bảo đảm thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Toàn Đảng phải xây dựng phong cách làm việc theo quan điểm trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân, bám sát thực tiễn, chịu khó học hỏi, nói đi đôi với làm. 

6. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Đảng; tập trung rà soát hệ thống các văn bản của Đảng bảo đảm thống nhất, đồng bộ, liên thông trong hệ thống chính trị

Đây là chủ trương, giải pháp đã được Đảng nêu trong các văn kiện trước đây. Tuy nhiên, trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã có sự bổ sung nội dung và gắn cải cách hành chính với yêu cầu rà soát hệ thống văn bản, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định, quy trình công tác. Bởi vì, một trong những đặc trưng hoạt động lãnh đạo cũng như hoạt động xây dựng nội bộ của Đảng là hoạt động hành chính, sinh hoạt hành chính (hội họp) và ban hành văn bản. Văn bản hóa nghị quyết, quyết định, chủ trương lãnh đạo của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước là một yêu cầu tất yếu trong hoạt động của Đảng và Nhà nước pháp quyền. Cũng như hoạt động của các cơ quan hành chính, các văn bản của Đảng sẽ ngày càng nhiều hơn, đa thể loại hơn. Do yêu cầu nhiệm vụ, tần suất, mật độ các cuộc họp của các cơ quan lãnh đạo, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy ở các cấp cũng ngày càng nhiều và dày hơn, trong khi vẫn phải thực hiện sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế. Nếu không cải cách hành chính, không ứng dụng công nghệ thông tin, không rà soát hệ thống văn bản và thực hiện sự chuyển đổi số thì hoạt động của Đảng sẽ kém hiệu quả, các hệ thống văn bản của Đảng chồng chéo, thậm chí xung đột lẫn nhau. Do đó, Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi hoạt động của Đảng”(10). Văn kiện Đại hội cũng đã nêu các giải pháp về vấn đề này với những nội dung, yêu cầu mới, gắn với một số giải pháp khác, tạo sự đồng bộ, liên thông, hiệu quả hơn trong hoạt động lãnh đạo cũng như hoạt động xây dựng nội bộ đảng.

7. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết gắn với coi trọng việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm

Để nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng phải có sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, làm đến nơi, đến chốn. Nếu không có sự tập trung tư tưởng, trí tuệ, nguồn lực, không có quan điểm, thái độ kiên quyết, hành động quyết liệt, chắc chắn hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng sẽ không cao. Điều này đã được thực tiễn hoạt động lãnh đạo cách mạng của Đảng trong nhiều nhiệm kỳ kiểm nghiệm và minh chứng. Ở đâu buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng, ở đó mọi việc dễ chệch choạc, nghị quyết, chủ trương của Đảng không đi sâu vào cuộc sống và đem lại hiệu quả thiết thực.

Công tác kiểm tra, giám sát là một nhiệm vụ và giải pháp xây dựng Đảng, góp phần nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Điều đó được thể hiện đậm nét trong Báo cáo chính trị cũng như Báo cáo xây dựng Đảng và tổng kết thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội XIII của Đảng. Các văn kiện này đều nhấn mạnh yêu cầu thực hiện quyết liệt, thường xuyên, toàn diện, đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, phục vụ thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm: phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, giám sát chặt chẽ từ việc quán triệt, thể chế hóa, cụ thể hóa đến tổ chức thực hiện nghị quyết. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những nơi dễ xảy ra vi phạm, nơi có nhiều bức xúc nổi cộm, dư luận quan tâm; xử lý kịp thời, kiên quyết, triệt để, đồng bộ, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, để kịp thời phát hiện, ngăn chặn từ xa, từ đầu, giải quyết từ sớm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên đối với cấp dưới. Kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với giám sát, thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Tăng cường phối hợp giữa giám sát, kiểm tra của Đảng với giám sát, thanh tra của Nhà nước và giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả. Cùng với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát phải coi trọng việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực.

8. Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể

Đây cũng là giải pháp đã được Đảng ta nêu từ Đại hội XII. Tuy nhiên, qua nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, việc cụ thể hóa các phương thức lãnh đạo của Đảng thành những quy chế, quy định, quy trình chưa được thực hiện đồng bộ, đầy đủ ở tất cả các cấp, nhất là cấp cơ sở. Chẳng hạn, đến nay Đảng chưa có các quy định cụ thể về quy trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị và các định hướng lớn của Đảng; một số phương thức lãnh đạo khác của Đảng như: Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động; Đảng lãnh đạo bằng công tác tổ chức, thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân; v.v. đến nay cũng chưa có những quy định đầy đủ, cụ thể về quy trình thực hiện hoặc chế độ công tác. Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ năng lực cụ thể hóa nghị quyết, chủ trương của một số cấp ủy, tổ chức đảng còn hạn chế, năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, làm cho nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước chậm được thực hiện và hiệu quả thấp. Vì vậy, Đại hội nhấn mạnh: “Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể và công khai để cán bộ, đảng viên và nhân dân biết, giám sát việc thực hiện”(11). Đại hội yêu cầu cần có các quy định cụ thể về cơ chế Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; về quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu và mối quan hệ giữa tập thể cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu, bảo đảm thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; phát huy vai trò, trách nhiệm, tính chủ động của người đứng đầu và có cơ chế xử lý đối với người đứng đầu khi vi phạm. 

Đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đòi hỏi phải quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân trong cấp ủy, tổ chức đảng cũng như trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức thành viên khác của hệ thống chính trị một cách đầy đủ, đồng bộ, cụ thể. Vì vậy, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phải tiếp tục thực hiện phương châm cụ thể hóa, cá thế hóa “quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu và mối quan hệ giữa tập thể cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu, bảo đảm thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”(12).

9. Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức, cơ quan, đơn vị

Nêu gương là một nội dung phương thức lãnh đạo quan trọng, là một thuộc tính bản chất của đảng cộng sản được Đảng ta, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ ra từ rất sớm. Tuy nhiên, trong nhiều năm, phương thức lãnh đạo này chưa được các cấp ủy, tổ chức đảng coi trọng và thực hiện đồng bộ, thống nhất và quyết liệt. Những năm gần đây, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã liên tiếp ban hành các quy định về nêu gương đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ, đảng viên giữ chức vụ chủ chốt, các đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng. Cùng với đó, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, kết quả thực hiện chưa được như mong muốn, ý thức tự giác, tính tiên phong, gương mẫu trong nêu gương của nhiều cán bộ, đảng viên không cao. Chính vì vậy, Đại hội XIII của Đảng đặc biệt nhấn mạnh: “Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”(13), coi phát huy vai trò nêu gương để thúc đẩy đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng. Coi trọng kiểm tra, giám sát trong Đảng kết hợp với phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhân dân đốì với cán bộ, đảng viên thực hiện các quy định về nêu gương. 

10. Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền, phát huy quyền chủ động, sáng tạo gắn với đề cao trách nhiệm của địa phương, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý thống nhất của Trung ương, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, chống tha hóa quyền lực

Đây cũng là quan điểm, chủ trương và tư duy mới của Đảng ta về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Đảng cần đổi mới cách thức tác động, định hướng, dẫn dắt của Đảng theo hướng tạo cơ chế, cơ sở, hành lang pháp lý cho các cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới phát huy vai trò, trách nhiệm, sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Theo đó, thay vì các lãnh đạo “cầm tay chỉ việc”, trực tiếp chỉ đạo các công việc cụ thể thuộc trách nhiệm của cấp ủy cấp dưới, Đảng phải đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện phân cấp, phân quyền, chống tha hóa quyền lực. Đảng xác định rõ: cần có cơ chế để các địa phương phát huy quyền chủ động, sáng tạo, gắn với đề cao trách nhiệm, đồng thời bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý thống nhất của Trung ương. Để thực hiện được chủ trương, giải pháp này, Đảng cần có quy định khung về thẩm quyền, trách nhiệm đối với các cấp ủy, tổ chức đảng từng cấp, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, ủy quyền gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm cá nhân và nâng cao trách nhiệm phối hợp công tác giữa các cấp, các ngành.

__________________

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.88-89.

(2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.199, 42, 180-181, 181, 182-183, 191, 185, 197, 199, 197-198, 198, 183-184.


Kịp thời nhận diện và tẩy chay luận điệu của các “nhà” tự xưng

 

Để tăng độ "nóng" cho các luận điệu xuyên tạc hiện nay, một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại tiếp tục lôi kéo, sử dụng các đối tượng bất mãn, có tư tưởng chống đối trong nước và tâng bốc họ bằng các loại danh xưng tự phong, như: “Nhà nghiên cứu”, “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà hoạt động môi trường”, “chuyên gia của dân oan”... Thông qua miệng lưỡi của các loại “nhà” này, họ cố tạo ra uy tín giả để xuyên tạc luận điểm, ngụy tạo luận chứng, bịa đặt luận cứ... vẽ ra bức tranh đen tối, tiêu cực về đời sống KT-XH để lèo lái dư luận. Tuy nhiên, khi vào trang cá nhân trên MXH của một số loại “nhà” này thì thấy, không ít đối tượng đã lợi dụng chiêu trò để đánh bóng tên tuổi, bán hàng online, kinh doanh kiếm tiền. Mục tiêu của nhiều đối tượng dạng này là trở thành những “Kols” (Key Opinions Leaders, nghĩa là những người có tầm ảnh hưởng lớn trên cộng đồng mạng, thường được mời tham gia các chiến dịch truyền thông để tạo sức lan tỏa). Lợi dụng quyền dân chủ và tự do ngôn luận, họ không ngừng đánh bóng tên tuổi để trở thành “Kols”, xâm hại lợi ích quốc gia, ám chỉ, bịa đặt, gây tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân... Đây là chiêu trò rất nguy hiểm, từ những thông tin kiểu dẫn dụ ấy, một số cá nhân, trong đó có cả một số người trong giới trí thức, văn nghệ sĩ, hưu trí... lại cả tin hùa theo, phát ngôn thiếu suy nghĩ kiểu ngẫu hứng cá nhân, bỡn cợt, đả kích, gây hoang mang dư luận.

Không khó nhận ra chân tướng của những chiêu trò này để phân biệt đâu là vàng, đâu là thau, đâu là hàng xi mạ bóng bẩy. Trong đối tượng có đối tác và trong đối tác có đối tượng. Hãy nhìn cách họ thể hiện thái độ, bày tỏ quan điểm cá nhân trên không gian mạng để chúng ta có cách ứng xử phù hợp. Cách tốt nhất là cùng nhau tẩy chay, đấu tranh thẳng thắn với những đối tượng có hành vi lệch lạc về tư tưởng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời góp ý chân thành, thẳng thắn với những cá nhân có biểu hiện dao động, bị lôi kéo, dụ dỗ. Bảo vệ môi trường văn hóa tư tưởng lành mạnh, nhất là trên không gian mạng, phải bắt đầu từ những việc làm mang tinh thần xây dựng, theo phương châm lấy xây để chống, nhận diện rõ bộ mặt, chiêu trò lố bịch của chúng để tẩy chay, loại bỏ.


 

Không thể phủ nhận sự thật và đảo ngược chân lý

 

Để xem xét lịch sử thì cần phải có cái nhìn toàn diện, khách quan, tôn trọng sự thật. Cho dù cuộc kháng chiến đã lùi xa 47 năm hay lâu dài hơn nữa thì lịch sử dân tộc và thế giới đều ghi nhận và chúng ta phải luôn khẳng định, tự hào về thắng lợi của một cuộc kháng chiến chính nghĩa, trường kỳ, vĩ đại vì nền hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc.  Đúng như Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IV, đại hội đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất đã ghi rõ: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc".

Trên thực tế, chính những người trong cuộc là Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng đều đã thừa nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam. Chính Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, người được xem là “kiến trúc sư” của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã rút ra 11 “sai lầm một cách tồi tệ”, đáng chú ý nhất là đã lẫn lộn cuộc đấu tranh ý thức hệ với cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của cả một dân tộc. Ông viết: "Chúng ta (Mỹ) đã đánh giá sai khi đó (và từ đó đến nay) những chủ đích địa chính trị của các đối thủ là mở rộng làn sóng đỏ xuống Đông Nam Á và chúng ta đã phóng đại những mối nguy hại từ hành động của họ đối với nước Mỹ”. Giáo sư Trần Chung Ngọc, một người Mỹ gốc Việt, một cựu quân nhân trong quân lực Việt Nam cộng hòa từng có nhiều bài viết phân tích sâu sắc về cuộc chiến tranh. Ông viết: “Mỹ không có lý do nào chính đáng để can thiệp vào Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975. Mỹ đã bất kể đến công pháp quốc tế, không dựa trên pháp lý mà dựa trên “luật rừng” và “cường quyền thắng công lý” để can thiệp vào Việt Nam với ý đồ “bành trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực”. Đây là những bằng chứng hùng hồn, chúng minh cho sự chính nghĩa và ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Đại thắng mùa xuân năm 1975.


 


GIỮ GÌN NHÂN PHẨM, DANH DỰ NGƯỜI ĐẢNG VIÊN

 

Trong các mối quan hệ xã hội, nhân phẩm và danh dự là hai yếu tố tạo nên giá trị, cốt cách của mỗi người. Nhân phẩm, danh dự, uy tín không bỗng dưng hoặc trong một chốc lát có được, mà phải trải qua quá trình tu dưỡng, rèn luyện, dày công vun đắp, được thử thách qua thực tiễn cuộc sống hằng ngày.

Với đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng, nhân phẩm, danh dự và uy tín “là điều thiêng liêng, cao quý nhất” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh. Ấy thế nhưng thời gian qua, nhiều người đã tự mình tước bỏ những điều thiêng liêng, cao quý ấy.

1. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XI đến nay, liên tục hơn một thập kỷ qua, toàn Đảng, toàn dân ta được chứng kiến những bước tiến vượt bậc, thành quả to lớn với thay đổi về chất trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, việc Đảng ta quyết tâm đương đầu chống “giặc nội xâm”-nạn tham nhũng-một cách quyết liệt, triệt để được các chuyên gia ví như một cuộc đại chỉnh đốn chưa từng có trong lịch sử xây dựng, phát triển của Đảng ta.

Đặc biệt, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, Trung ương đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để tiếp tục khẳng định quyết tâm làm trong sạch đội ngũ. Trong đó, để tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; không cho lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, Trung ương đã ban hành Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 về những điều đảng viên không được làm. 

Mặc dù vậy, nhìn vào những vụ việc vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước của cán bộ, đảng viên bị phát hiện, xử lý chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay khiến nhiều người chưa thể yên tâm. Nhất là suốt hơn hai năm qua, trong khi cả nước đang gồng mình vượt qua đại dịch, lại có không ít trường hợp cán bộ, đảng viên đã bất chấp liêm sỉ, bất chấp luật pháp và đạo đức xã hội để trục lợi, khiến dư luận xã hội dè bỉu, phẫn nộ.

2. Chúng ta biết rằng, có không ít trường hợp cán bộ, đảng viên lúc đương chức, khi phát biểu trong hội nghị, trả lời báo chí thì tỏ ra mình liêm khiết, chí công vô tư để đánh bóng uy tín, tên tuổi. Thế nhưng khi tay đã “vấy bẩn” thì những lời phát biểu ấy càng trở nên lố bịch, làm trò cười cho dư luận. Sự nghiệp chính trị, danh dự, uy tín mà biết bao nỗ lực, phấn đấu bền bỉ không dễ gì có được cũng theo đó mà lụi tàn. Thậm chí, những cán bộ, đảng viên “hai mặt” ấy còn làm xói mòn nghiêm trọng niềm tin nơi quần chúng vào Đảng, bởi họ đều là những người đã từng một thời được quần chúng hết mực tin yêu. Niềm tin là thứ không dễ gì có được, nhưng một khi đã đánh mất niềm tin nơi quần chúng thì cũng không dễ gì lấy lại được. 

Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Người khẳng định: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn mỗi đảng viên không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho đất nước hoàn toàn độc lập, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Phải biết đặt lợi ích của dân tộc, của giai cấp lên trên lợi ích cá nhân, vững vàng trước mọi khó khăn, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Người chỉ rõ, mỗi đảng viên phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nếu để cho chủ nghĩa cá nhân ám ảnh, chi phối, người đảng viên sẽ mất dần tư cách, đi tới tự tước bỏ danh hiệu cao quý của mình. Vì vậy, muốn giữ được tư cách, đảng viên nhất thiết “phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu... sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải”.

Những chỉ dạy của Người vẫn còn nguyên giá trị. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của một người không phải bỗng dưng mà có được, không thể mua được bằng tiền bạc hay địa vị mà “do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố"... Ngày hôm qua anh là người tốt, có ích cho xã hội, nhưng nếu không thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện thì chưa hẳn hôm nay anh còn là người tốt, thậm chí còn gây tổn hại cho uy tín, thanh danh của tổ chức, gây họa cho xã hội... Thực tế cho thấy, trong giai đoạn 2013-2020, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131.000 đảng viên, có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực. Không chỉ bị kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước trừng trị thích đáng mà hơn cả là tòa án lương tâm, dư luận lên án, bị “xã hội tiến bộ sa thải”. Cái mất lớn nhất vẫn là phẩm giá, thanh danh, bởi một khi đã bị vấy bẩn thì không dễ gì gột rửa.

3. Danh dự làm nên phẩm hạnh con người, là thước đo giá trị của mỗi người trong xã hội. Với một người bình thường, danh dự đã là cao quý. Là cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, quản lý, danh dự càng cao quý, thiêng liêng. Bác Hồ vẫn thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn giữ gìn, bồi đắp đạo đức, nhân cách. Người căn dặn: "Hạnh dục phương", nghĩa là đức hạnh, đạo đức phải vuông vắn, ngay thẳng, không làm điều gì khuất tất. Phải tránh xa những thói xấu “lười biếng, gian giảo, tham ô”. Phải biết sống “ngay thẳng, không có việc gì phải giấu Đảng”, “không tham địa vị. Không tham tiền tài”... Đó là phẩm chất, đức hạnh, danh dự của người cộng sản. Cán bộ, đảng viên phải biết giữ “thanh danh của Đảng” và “danh giá của mình”. 

Trong nhiều bài viết và nhiều lần phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở, phân tích sâu sắc về tư cách, đạo đức cách mạng, về liêm sỉ và danh dự của người cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ thanh liêm, giữ liêm sỉ và danh dự của người đảng viên. "Nếu không liêm thì của gì cũng cả gan lấy. Không sỉ thì việc gì cũng bất chấp làm. Người mà đến như thế không chỉ rước họa làm “thân bại danh liệt” và thử hỏi còn tai họa nào mà chẳng đến. Huống chi, kẻ làm quan mà cái gì cũng rắp tâm mưu đoạt, việc gì cũng bằng mọi thủ đoạn mà làm thì sao mà thiên hạ không loạn, quốc gia không mất cho được. Khi không có tài đức mà dám cầm trọng trách để cho cơ đồ tan hoang, đổ vỡ. Khi mình đã ở cấp lãnh đạo mà không làm cho đạo đức được thi hành, quốc pháp được tuân thủ. Những người chuyên sống xảo trá, quỷ quyệt, ăn cắp quốc khố là vô hình trung đã vứt bỏ mất danh dự, liêm sỉ, tức là lòng hổ thẹn của mình rồi”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Chỉ tính riêng trong năm 2021, các cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra 390 vụ án và hơn 1.000 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ. Nhiều cán bộ cấp cao vi phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đã bị xử lý kỷ luật (tăng 15 trường hợp so với năm 2020). Nhìn vào số lượng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực khiến nhiều người không khỏi lo lắng. Các chuyên gia cho rằng, kết quả chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua mới chỉ là “phần nổi của tảng băng trôi”. Trong nhiều vụ việc, kết quả xử lý những "mảng chìm tiêu cực" mới chỉ được một phần rất nhỏ. 

Những con số nêu ra trên đây là những trường hợp đã bị phát hiện, xử lý, nhưng trên thực tế, vẫn còn một phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang tự đánh mất phẩm giá, làm hoen ố danh dự của người cộng sản. Họ đã không kiên tâm, bền chí nuôi dưỡng, bồi đắp và bảo toàn danh dự hai tiếng “đảng viên”; không vượt qua được cám dỗ “mồi phú quý, bả vinh hoa”. Cũng bởi thế, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, trong nhiều bài viết, bài phát biểu của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh đến lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên là phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân làm cho không ít cán bộ nảy sinh căn bệnh tham ô, tư túi, đặt lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích tập thể, trên cả lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Những bài học đau đớn, xót xa từ rất nhiều cán bộ, đảng viên chỉ vì chút lợi ích vật chất tầm thường mà đánh mất phẩm giá, danh dự, uy tín vẫn còn nguyên giá trị, là tấm gương để chúng ta tự mình soi chiếu, tự mình suy ngẫm và có hành động đúng đắn. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải luôn khắc cốt ghi tâm rằng, một khi đánh mất nhân phẩm và danh dự là mất đi giá trị làm người. Hơn thế, giữ gìn phẩm giá, danh dự, uy tín của một người đảng viên không chỉ là giữ gìn cho mình mà đó còn là giữ gìn và bảo vệ danh thơm, tiếng tốt của Đảng một cách bền vững nhất.

NHỐT "QUYỀN LỰC ĐEN" TRONG “LỒNG" THỂ CHẾ


Các vụ khởi tố còn thể hiện rõ sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong công cuộc phòng chống tham nhũng tiêu cực trong thời gian qua.

Thời gian qua, hàng loạt các vụ việc liên quan đến tham nhũng kinh tế như vụ nâng giá bộ sinh phẩm xét nghiệm tại Công ty Việt Á; vụ trục lợi cá nhân tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao); các sai phạm về đấu giá đất, chứng khoán… đang khẳng định quyết tâm của Đảng, Chính phủ về không có vùng cấm trong cuộc chiến chống tham nhũng.

Đặc biệt, gần đây vụ khởi tố Tập đoàn FLC và Tân Hoàng Minh liên quan đến thao túng thị trường chứng khoán và phát hành trái phiếu doanh nghiệp như “phát súng” đầu tiên của năm cho thấy quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ trong việc đập tan cái gọi là quyền lực "đen" được tạo ra bởi những đồng tiền bẩn, thói kinh doanh chộp giật, coi thường kỷ cương pháp luật.

Mục đích chính của cuộc chiến không khoan nhượng này nhằm lành mạnh hóa thị trường, tạo môi trường kinh doanh thực chất bền vững. Đó chính là nền tảng vững chắc cho năm khởi đầu thực hiện Chương trình phục hồi kinh tế.

Chỉ trong vòng 1 tuần qua, hàng loạt vụ vi phạm pháp luật liên quan bất động sản, thị trường chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã được các cơ quan chức năng khởi tố cho thấy quyết tâm lành mạnh hóa thị trường của Đảng, Nhà nước và Chính phủ.

Cụ thể ngày 29/3/2022, Bộ Công an đã có Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt tạm giam đối với Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC về hành vi "Thao túng thị trường chứng khoán," "Che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán" gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà đầu tư, ảnh hưởng đến hoạt động của thị trường chứng khoán. Ngay sau đó cơ quan điều tra cũng tiếp tục khởi tố hàng loạt các cá nhân khác liên quan đến vụ việc thao túng thị trường chứng khoán tại FLC.

Chỉ sau đó 1 tuần, ngày 5/4/2022, Cơ quan điều tra Bộ Công an khởi tố ông Đỗ Anh Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Tân Hoàng Minh để điều tra về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, xác minh một số hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan việc phát hành trái phiếu, huy động tiền nhà đầu tư của các công ty thành viên. Ngoài ông Dũng, cơ quan điều tra cũng khởi tố bị can, bắt tạm giam 6 người khác có liên quan.

Trước đó, hàng loạt các vụ án đã được Bộ Công an khởi tố điển hình như vụ án vi phạm quy định về đấu thầu, nâng khống giá sinh phẩm xét nghiệm COVID-19 để thu lợi bất chính hàng nghìn tỷ đồng xảy ra tại Công ty Việt Á. Điều đáng nói, mở rộng điều tra, đã có nhiều lãnh đạo địa phương và Bộ Y tế, Bộ Khoa học Công nghệ cũng đã bị khởi tố liên quan đến vụ án này. Những vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại tiền và tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng, của Bộ Khoa học và công nghệ và Bộ Y tế.

Tiếp nối ngay sau vụ án “thổi giá’ sinh phẩm xét nghiệm của Công ty Việt Á, vụ án “nhận hối lộ” xảy ra tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao) lại một lần nữa khiến người dân cả nước vô cùng bức xúc. Ngày 27/1/2022, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố vụ án "nhận hối lộ" để xét duyệt cấp phép cho các công ty thực hiện chuyến bay đưa công dân Việt Nam từ nước ngoài về nước nhằm trục lợi cá nhân xảy ra tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao. Điều đáng nói, từ khi dịch COVID-19 bùng phát, Việt Nam đã tổ chức gần 800 chuyến bay, đưa hơn 200.000 công dân từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ về nước. Khi các chuyến bay được mở, nhiều người dân phải mua vé rất đắt và thủ tục rườm rà.

Những sai phạm này có thể được ví như tội ác, bởi chúng tấn công vào đúng thời điểm người dân gặp hoạn nạn trong đại dịch và đang không biết bấu víu vào đâu. Nhiều đồng bào vì thế đã “hai lần đau” bởi hành động vô cảm của những nhóm người chỉ biết thu vén lợi ích cá nhân, sẵn sàng chà đạp lên đạo đức và pháp luật để trục lợi cho bản thân mình.

Vụ án tại Cục Lãnh sự cũng như vụ án Việt Á đã tiếp tục cho thấy sự xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức cán bộ, đạo đức công vụ ở một số mắt xích của cơ quan công quyền, đồng thời cho thấy biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyến hóa” ở một số cán bộ, đảng viên. Ở đó cũng thấy những lỗ hổng trong công tác quản lý, kiểm tra, giám sát tại không ít cơ quan công quyền, với trách nhiệm cao nhất của người đứng đầu. Cùng với đó, với việc khởi tố, bắt tạm giam các chủ tịch tập đoàn lớn, từng góp mặt trong top những người giàu nhất thị trường chứng khoán Việt Nam đã gửi đi một thông điệp mạnh mẽ: Bất cứ ai phạm pháp và gây rối loạn thị trường rồi cũng sẽ bị trừng trị.

Các vụ khởi tố còn thể hiện rõ sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong công cuộc phòng chống tham nhũng tiêu cực trong thời gian qua.

Điển hình là tinh thần chỉ đạo của Tổng bí thư Nguyễn Phú trọng về việc xử lý nghiêm minh nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Quan điểm chỉ đạo của Tổng bí thư cũng rất rõ ràng khi chỉ đạo thực hiện: “không có vùng cấm, không có ngoại lệ,” “không chịu bất kỳ sức ép không trong sáng của tổ chức, cá nhân nào.”

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn theo sát và chỉ đạo các vụ việc cụ thể. Tại cuộc họp lãnh đạo chủ chốt 10/3/2022, Tổng bí thư đã yêu cầu sớm xét xử các vụ án trọng điểm, như vụ án nâng giá bộ sinh phẩm xét nghiệm tại Công ty Việt Á; vụ nhận hối lộ để xét duyệt cấp phép cho các công ty thực hiện chuyến bay đưa công dân Việt Nam từ nước ngoài về nước nhằm trục lợi cá nhân xảy ra tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao); điều tra sai phạm về đấu giá đất, chứng khoán...

Cùng với đó, trong 1 năm của nhiệm kỳ Chính phủ mới, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ cũng đã quyết tâm trong việc xử lý các vấn đề tồn đọng hay nỗ lực vào cuộc để lành mạnh hóa thị trường.

Trong quá trình điều hành, Chính phủ, Thủ tướng luôn bám sát tình hình để kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh đột xuất, phức tạp. Ngay từ cuối tháng 12/2021, trước một số trường hợp giá trúng đấu giá đất cao gấp nhiều lần so với giá khởi điểm (có trường hợp cao bất thường), Thủ tướng đã ban hành Công điện 1767/CĐ-TTg, yêu cầu kịp thời ngăn chặn, phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng đấu giá để gây nhiễu loạn thị trường, trục lợi.

Cũng trong tháng 12/2021, Thủ tướng có Công điện số 8857/CĐ-VPCP yêu cầu Bộ Tài chính khẩn trương thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật về phát hành và sử dụng vốn thu được từ phát hành trái phiếu, nhất là phát hành trái phiếu riêng lẻ của các doanh nghiệp bất động sản, của tổ chức tín dụng có liên quan đến doanh nghiệp bất động sản, các doanh nghiệp có khối lượng phát hành lớn, lãi suất cao, các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh thua lỗ, các doanh nghiệp phát hành không có tài sản bảo đảm…

Tại Hội nghị trực tuyến của Thường trực Chính phủ với các địa phương ngày 5/4/2022 về tình hình kinh tế-xã hội tháng Ba và 3 tháng năm 2022, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chỉ rõ: Một vấn đề có tính quy luật là với các vi phạm liên quan tới phát hành trái phiếu doanh nghiệp, thị trường chứng khoán, bất động sản, dòng tiền đều tìm đến nơi "trú ẩn" cuối cùng là bất động sản. Các cơ quan liên quan cần lưu ý nội dung này để có giải pháp phù hợp. Chỉ đạo của Thủ tướng cho thấy rõ, thời gian tới Chính phủ và các bộ, ngành địa phương sẽ tiếp tục tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra các vi phạm trong lĩnh vực bất động sản, thị trường chứng khoán…

Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trong năm 2021, cả nước đã khởi tố, điều tra 390 vụ án/1.011 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ. Qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị xử lý tài chính, thu hồi 81.290 tỷ đồng và 811ha đất; kiến nghị xử lý hành chính 2.286 tập thể và 6.132 cá nhân.

Trong năm 2022, Đảng và Nhà nước tiếp tục kiên định và quyết liệt với cuộc chiến chống tham nhũng. Kết quả không chỉ là những con số xử phạt, thu hồi, mà quan trọng hơn là kiên quyết loại bỏ những "con sâu," "mầm bệnh" trong bộ máy quản lý Nhà nước và trong cộng đồng doanh nghiệp, từ đó "thanh lọc máu" cho nền kinh tế và xã hội./.

NGA - MỘT ĐẤT NƯỚC BÍ HIỂM


Trong rất nhiều cuộc thăm dò dư luận độc lập về tín nhiệm của dân chúng đối với tổng thống Putin nhiều năm qua đều cho thấy: Tỉ lệ tín nhiệm của người dân Nga đối với tổng thống Putin luôn xoay quanh ở mức 60-78 % - thậm chí có thời điểm thấp nhất cũng là 59,9% ...Ấy vậy mà khi nước Nga bước vào cuộc xung đột với chính quyền thân phương tây Ukraina ... tỷ lệ người dân tín nhiệm với tổng thống Putin lại tăng ngoạn mục, tăng cao nhất từ trước đến nay... 83,2% người dân được hỏi ủng hộ và tin tưởng vào những quyết định đối với tổng thống của họ ... 

HIỂU ĐÚNG VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO SÁNG TÁC Ở VIỆT NAM

 

Gần đây các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn đã đăng tải nhiều bài viết cho rằng ở Việt Nam không có hạnh phúc. Chúng dẫn lời các đối tượng là văn nghệ sĩ bất mãn, thường xuyên có những lời nói, bài viết, hành động gây rối, kích động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa như Tuấn Khanh, Mai Khôi, Nguyễn Hữu Vinh… rồi quy chụp, xuyên tạc về hạnh phúc của người dân, nhất là tự do ngôn luận, tự do sáng tác ở Việt Nam.

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

 

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước Việt Nam hướng đến là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ).

Như vậy, đã phát triển kinh tế thị trường thì phải tuân theo sự vận động của các quy luật thị trường. Những người tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh cùng đón nhận những cơ hội lẫn thách thức phải đương đầu; có cơ may thành công lẫn nguy cơ thất bại; giàu lên hay nghèo đi có thể xảy ra. Phát triển kinh tế thị trường vừa tạo ra động lực, phát huy mọi nguồn lực để phát triển nền kinh tế nhanh, mạnh; vừa làm cho xã hội phân hóa, phân tầng theo các tầng/lớp khác nhau về tài sản, mức sống, điều kiện sống, lối sống, văn hóa… Nếu để cho quá trình này diễn ra tự nhiên thì xã hội ngày càng bị phân hóa, phân cực giàu - nghèo gay gắt; các tầng lớp yếu thế trong xã hội càng gặp khó khăn, cùng quẫn; nguy cơ bất ổn xã hội ngày càng cao.

Để định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước có ý nghĩa quyết định. Một trong những công cụ cơ bản nhất, đó là thực thi các chính sách xã hội. Với việc thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách xã hội theo phương châm: khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với nhiệm vụ giúp đỡ, tạo điều kiện cho người nghèo cùng vươn lên trong cuộc sống bằng việc thực thi hàng loạt các chính sách hỗ trợ về giáo dục - đào tạo, y tế, lao động, việc làm,vv... là cách làm giúp cho các giai tầng xã hội xích lại gần nhau, góp phần giảm thiểu khoảng cách chênh lệch giữa các tầng/lớp người trong xã hội; hướng đến mục tiêu bình đẳng, tiến bộ, phát triển toàn diện…

Ngay từ khi đề ra đường lối đổi mới toàn diện, Đảng đã rất chú trọng đến việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách xã hội để hướng đến mục tiêu công bằng, bình đẳng và tiến bộ xã hội; đặc biệt, đến Đại hội XIII, lần đầu tiên trong Văn kiện, Đảng đã xác định rõ, chính sách xã hội là phương tiện/công cụ định hướng xã hội chủ nghĩa, với quan điểm: “Nhận thức đầy đủ và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội”.

Trong bài viết luận bàn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, đã luận giải rằng:“Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”.

Vậy là, trong hoạch định và thực thi các chính sách thì phải đặc biệt chú ý đến đặc điểm cơ bản của mối quan hệ giữa chính sách xã hội với chính sách kinh tế là sự thống nhất biện chứng của chúng. Chính sách xã hội và chính sách kinh tế tuy có mục tiêu riêng - mục tiêu tự thân của nó, song lại có chung mục tiêu là nhằm phát triển xã hội. Vì vậy, mọi chính sách xã hội và chính sách kinh tế đều hướng vào mục tiêu trung tâm là phát triển con người, phát huy nhân tố con người, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho con người. Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Có chính sách phát triển kinh tế đúng đắn, hợp lý sẽ tạo ra điều kiện, tiền đề vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội. Chính sách xã hội được xây dựng mà không tính đến khả năng của nền kinh tế, hoặc không quan tâm đến lợi ích kinh tế thì sẽ cản trở kinh tế phát triển, triệt tiêu yếu tố kinh tế. Nhưng nếu lấy tăng trưởng kinh tế làm mục tiêu tối thượng thì dẫn đến chỗ khoét sâu những ngăn cách xã hội. Tăng trưởng kinh tế tự nó không thể giải quyết được tất cả các vấn đề xã hội và dẫn tới tiến bộ xã hội. Để đạt đến mục tiêu tiến bộ xã hội thì phải thông qua chính sách xã hội, phải kết hợp chính sách kinh tế với chính sách xã hội.

Vì vậy, phải xác lập mối quan hệ hợp lý giữa chính sách xã hội với chính sách kinh tế làm sao để hai mặt đó trở thành tiền đề của nhau. Văn kiện qua các kỳ Đại hội của Đảng đều khẳng định: Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Không phát triển kinh tế với bất cứ giá nào, bất chấp hậu quả xã hội ra sao. Thông thường, sai lầm về kinh tế có thể khắc phục được sau một thời gian ngắn, có thể sau một vài chu kỳ sản xuất; nhưng những hậu quả về mặt xã hội có thể đánh đổi hàng trăm năm chưa chắc khắc phục được.

Xuyên suốt các kỳ đại hội, nghị quyết của Đảng đều nhất quán quan điểm chỉ đạo: “Gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước”.

Như vậy, chủ trương “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của Đảng và Nhà nước Việt Nam không phải là một giải pháp mang tính tình thế, một ý tưởng nhất thời mà là đường lối phát triển đất nước được hoạch định và trù liệu công phu, kỹ lưỡng, được dựa trên cơ sở lý luận vững chắc và phù hợp với tình hình thực tiễn. Là một mô hình phát triển mới lạ nhưng qua tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng và Chính phủ đã ngày càng nhận thức đúng đắn hơn, sâu sắc hơn và đề ra quyết sách chính xác hơn.

Là một nước đi ra từ các cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dài vô cùng tàn khốc, với xuất phát điểm nghèo nàn, lạc hậu (thuộc nhóm nước chậm phát triển), nhờ thực hiện đường lối: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Trong 35 năm đổi mới vừa qua, kinh tế tăng trưởng liên tục, trung bình khoảng 7% mỗi năm; tỉ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn dưới 3% năm 2020 theo tiêu chuẩn nghèo đa chiều. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết; người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi đều được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020. Hiện Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng Internet, thuộc nhóm nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới; chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2019 của Việt Nam đạt mức 0,704 (so với các nước có cùng trình độ phát triển thì nước ta thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới), lần đầu tiên vào nhóm các nước phát triển con người cao và xếp thứ 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo Báo cáo phát triển bền vững 2020, Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á duy nhất đạt được năm mục tiêu hành động của Liên hiệp quốc (trong đó có các biện pháp giảm khí thải CO2, thúc đẩy năng lượng tái tạo và nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu). Đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; các mặt chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được bảo đảm…

“Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Khi đại dịch Covid -19 diễn biến phức tạp, nhất là biến chủng Delta lây lan với tốc độ nhanh trên nhiều tỉnh/thành của cả nước thì Đảng và Chính phủ đã đưa ra các quyết sách trên tinh thần nhân văn cao cả, đó là hi sinh tăng trưởng kinh tế để cứu người. Nếu không thẩm thấu tinh thần, lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa xã hội thì không có những chủ trương, quyết sách thấm đẫm tinh thần nhân văn, nhân bản vì con người như vậy.

Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội nói trên vừa khẳng định đường lối đúng đắn cùng sự lãnh đạo, quản lý tài tình của Đảng và Nhà nước; vừa là minh chứng để đập tan mọi loại quan điểm sai trái, thù địch.

Đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực sự là một đột phá tư duy rất cơ bản và sáng tạo của Ðảng, là thành quả phát triển lý luận và thực tiễn của Việt Nam qua quá trình đổi mới toàn diện đất nước.

HAIVAN

NHẬN THỨC VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

Về nền kinh tế thị trường, đã được hình thành và phát triển từ lâu trong lịch sử nhân loại. Theo quan điểm chủ nghĩa Mác, kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trải qua để đạt tới nấc thang cao hơn trên con đường phát triển; và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa chính là nền kinh tế thị trường phát triển đến trình độ phổ biến và hoàn chỉnh. Nấc thang cao hơn chính là nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, kinh tế thị trường là một nấc thang tất yếu, mang tính phổ biến cho mọi quốc gia trong tiến trình phát triển, là thành quả của văn minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm riêng có của tư bản chủ nghĩa như một số ý kiến ngộ nhận. Kinh tế thị trường đã phát triển không duy nhất một mô hình mà đã phát triển theo các mô hình như: (1) Mô hình kinh tế thị trường tự do, phổ biến ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ; (2) Mô hình kinh tế thị trường - xã hội, phổ biến ở một số nước ở Tây - Bắc Âu như Đức, Thụy Điển, Na uy, phần Lan…; (3) Mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc và định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Dù phát triển theo mô hình nào thì nền kinh tế thị trường đều gắn với những quy luật mang tính đặc trưng sau đây:

Quy luật giá trị quy định việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết; trao đổi theo nguyên tắc ngang giá. Giá trị của sản phẩm/dịch vụ đều do thị trường định đoạt. Người sản xuất kinh doanh nào có chi phí lao động xã hội cho một đơn vị sản phẩm thấp hơn trung bình thì người đó có lợi nhất.

Quy luật cung - cầu là sự điều chỉnh của thị trường với một mức giá cân bằng và một lượng giao dịch cân bằng sẽ được xác định. Ở đâu có thị trường thì ở đó có quy luật cung – cầu tồn tại và hoạt động một cách khách quan. Cầu xác định cung, những hàng hoá nào được tiêu thụ thì mới được tái sản xuất. Cung cũng tạo ra cầu, kích thích tăng cầu thông qua phát triển số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá, hình thức, quy cách và giá cả của nó.

Quy luật cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể, các tổ chức kinh tế trong việc giành giật thị trường và khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường. Kết quả cạnh tranh sẽ loại bỏ được các các cơ sở sản xuất, kinh doanh yếu kém và giúp phát triển các cơ sở làm ăn có hiệu quả hơn.

Những quy luật nói trên của nền kinh tế thị trường vừa tạo ra động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vừa làm cho xã hội phân hóa thành những tầng/lớp giàu nghèo khác nhau. Tầng lớp giàu có nắm giữ lợi thế tiếp cận mọi nhu cầu, lợi ích của xã hội; tầng lớp nghèo khó chịu nhiều thua thiệt trong việc thụ hưởng các nhu cầu cuộc sống.

Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước Việt Nam là phát triển nền kinh tế thị trường để phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, giải phóng sức sản xuất nhằm tạo tăng trưởng kinh tế không ngừng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng, được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Đây là hệ giá trị có tính bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa, nó thể hiện sự tiến bộ hơn hẳn của chế độ xã hội chủ nghĩa so với các chế độ xã hội trước đó. Chẳng hạn, xã hội tư bản có thể có điều kiện sống vật chất, tiện nghi rất cao; dân có thể giàu, nước có thể mạnh, nhưng từ trong bản chất của chế độ xã hội tư bản, ở đó không thể có công bằng và dân chủ: nhà nước là nhà nước tư sản; giàu có là cho nhà tư bản; sự giàu mạnh có được bằng quan hệ bóc lột. Trong xã hội như vậy, người dân không thể là chủ và làm chủ xã hội.

HAIVAN

Lời Bác dạy ngày này năm xưa: "Thanh niên phải xung phong làm gương mẫu”...

 

 Sinh thời, Bác Hồ luôn dành tình cảm đặc biệt và sự quan tâm ân cần đến sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam. Bác dành rất nhiều tâm huyết cho việc tổ chức, dẫn dắt các thế hệ thanh niên đến với cách mạng, tham gia vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…

Trong thư gửi thanh niên Việt Nam, tháng 4-1951, Bác viết: “… Thanh niên phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng”

Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của thanh niên và có nhiều nghị quyết, chỉ thị, chính sách tạo điều kiện để phát triển toàn diện thanh niên Việt Nam. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và tuổi trẻ Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành cùng sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, hun đúc nên truyền thống vẻ vang; được Đảng, Nhà nước ghi nhận, xã hội đánh giá cao; xứng đáng là trường học XHCN của tuổi trẻ, là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tiếp nối truyền thống của lớp lớp thế hệ cha anh đi trước, thế hệ thanh niên Việt Nam ngày nay trung thành tuyệt đối và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao lòng yêu nước, sẵn sàng dấn thân vì sự nghiệp cách mạng, tình nguyện vì cộng đồng, đến những nơi khó khăn, đảm nhận những việc mới, việc khó, tiên phong trong ứng dụng khoa học-công nghệ, xung kích trong xây dựng xã hội học tập, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Là một bộ phận quan trọng của thanh niên Việt Nam, thanh niên quân đội có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị. Do đó, sức mạnh tổng hợp, trình độ SSCĐ, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của quân đội liên quan mật thiết đến chất lượng và khả năng tập hợp, phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên quân đội. Muốn vậy, tổ chức đoàn phải tuân thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, hướng dẫn của cơ quan chính trị các cấp; quan tâm, chăm lo đến nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của thanh niên; tạo điều kiện để thanh niên có cơ hội cống hiến và trưởng thành. Ban Chấp hành Đoàn, đội ngũ cán bộ, đoàn viên, thanh niên quân đội nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực học tập, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, phẩm chất, đạo đức, lối sống trong sáng, động cơ, thái độ, trách nhiệm đúng đắn; có tri thức, trình độ kỹ chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ và sức khỏe tốt, thực sự là lực lượng xung kích, nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

HAIVAN

GẦN NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC BÀN ĐÔI ĐIỀU VỀ CÁI NGỮ "MIỀN BẮC XÂM LƯỢC MIỀN NAM"!

     Có một số người không hiểu biết cho rằng "Miền Bắc xâm lược Miền Nam, trong khi đó "Miền Nam hiền hòa thân thiện không gây chiến tranh với Miền Bắc", nhưng họ đã lầm to!

Thứ nhất, họ không hiểu thế nào là "xâm lược" từ này chỉ dành cho nước này đem quân vào nước khác chiếm đóng bất hợp pháp, còn Miền Nam và Miền Bắc là một nước Việt Nam, cùng chung cội nguồn. Đây chỉ là cuộc đấu tranh để thống nhất nước nhà mà thôi.Gọi là "đế quốc Mỹ xâm lược" chứ ai gọi "Việt Nam Cộng Hòa" xâm lược hay ngược lại Miền Bắc xâm lược Miền Nam!

Thứ hai, thời kỳ ngụy quyền do Ngô Đình Diệm làm tổng thống, trên phương tiện truyền thông đại chúng họ ra rả tuyên truyền "Lấp sông Bến Hải" và "Bắc tiến" nhưng giấc mộng trưa hè của họ Ngô không thực hiện được bởi vì lực bất tòng tâm. Một đội quân "gươm giáo han rỉ, cờ xí rách nát" làm sao đủ lực ra Miền Bắc được, ngay ở Miền Nam còn bị đánh te tua khắp nơi, sau này xung quanh Sài Gòn thường xuyên có 4 trung đoàn đặc công đánh phá liên tục. 

Trung ương cục Miền Nam ở Tây Ninh tính theo đường chim bay chưa đến 100 km, Củ Chi thì sát nách....

Thứ ba, việc thống nhất nước nhà là hợp với lòng dân 2 miền, vì thế mới được nhiều người ủng hộ như vậy, ngoài Miền Bắc ủng hộ khoảng 99,99 % còn Miền Nam thì cứ lấy rẻ là 50 % đi thì cũng có hơn 80% nhân dân cả nước ủng hộ công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tại sao có con số 80% bởi vì dân số Miền Bắc ngày đó đông hơn dân số Miền Nam gần chục triệu.

Bác Hồ đã kêu gọi "Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn chúng ta vẫn phải dành cho được độc lập", phải thống nhất nước nhà. Với lòng quyết tâm cao như thế sao mà không thành công!

Còn nói về cái chế độ tay sai bị nhân dân Việt Nam đào mộ chôn chặt vào trưa ngày 30/4 thì có gì phải hối tiếc!
 Cái đám tay sai, lũ bán nước, rước voi về giày mả tổ , gây ra sự chia cắt, gây biết bao tội lỗi cho quê hương, chúng nó đi ngược ý nguyện công lao của cha ông từng khai thiên lập địa để 2 miền Nam - Bắc về chung một nhà, những kẻ phản bội dân tộc, bán rẻ non sông thì cái giá phải trả là chịu sự trừng trị, diệt vong là tất yếu, chứ đâu có chuyện "Miền Bắc xâm lược Miền Nam"!. 

Chính phủ bù nhìn của ngụy quyền Ngô Đình Diệm thì lấy bài hát "Thanh niên hành khúc" là một ca khúc của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sử dụng một cách bất hợp pháp, không được sự đồng ý của tác giả rồi sửa lời đổi thành bài hát "Tiếng gọi công dân" làm quốc ca của "Quốc gia Miền Nam", rồi lấy bài hát "Tiến về Hà Nội" của cố Nhạc sĩ Văn Cao để cổ súy đám ô hoepj ngụy quân "bắc tiến" tiêu diệt Cộng sản cho Mỹ. Như thế thì lấy gì để làm nền tảng chính trị chính nghĩa mà "giải phóng Miền Bắc".

Tóm lại là, Quốc ca thì "ăn cắp" của người Cộng sản. Kinh phí thì đi xin viện trợ từ Mỹ bố thí. "Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập”. 

Để duy trì một thứ "quân đội" chủ yếu là chờ viện trợ và viện trợ của Mỹ. Lính tráng lúc đói thì không chịu ăn khoai mà đòi sữa, bánh mỳ, thịt hộp mới đi đánh... 

Còn bộ đội Cộng sản và những người dân theo Cộng sản từ Bắc chí Nam thì "mỗi ngày làm việc bằng hai", củ sắn, củ khoai, rau rừng, cháo bẹ đi đánh Mỹ... Như thế thì nhân danh cái gì để thống nhất non sông?!

Có lẽ vì thực tế bọn ngụy quân, ngụy quyền tổng thể là một đám lưu manh, v.ô .lại tinh ăn mù làm, vô dụng chỉ "ngồi chờ sung rụng" nên họ nghĩ "Miền Bắc xâm lược Miền Nam" cũng là điều dễ hiểu. Còn với người Việt Nam yêu nước không bao giờ nghĩ "Miền Bắc xâm lược Miền Nam" mà đó là một cuộc chiến tranh chống xâm lược Mỹ và tay sai của Mỹ do những người mang khát vọng thống nhất non sông tiến hành. Và chính nghĩa đã làm nên chiến thắng. 

Gần đến ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, cả nước hân hoan hát khúc khải hoàn ca mừng đất nước thái bình thì bắt đầu lại có một lớp người gọi là "thây ma, xác sống" trong nước và bên kia nửa bán cầu Tây chuẩn bị đội mồ đứng dậy hô vang khẩu hiệu "Miền Bắc xâm lược Miền Nam" cho mà xem. 

Không tin các bác, các ace cứ tìm mấy trang gọi là loa rè hải ngoại như BBC, RFA, RFI, VOA... và chúa hề Việt tân sẽ lên giàn đồng ca "Miền Nam là một quốc gia", Miền Bắc xâm lược Miền Nam", "Cộng sản cướp miền Nam"... nhưng có một chân lý không bao giờ bị phủ nhận, đó là miền Nam là máu thịt của Việt Nam, miền Bắc cũng là máu thịt cùng 1 cội nguồn của Tổ quốc Việt Nam chứ không phải Miền Bắc là Tây hay Tàu để mà cướp và xâm lược!

MIỀN BẮC XÂM LƯỢC MIỀN NAM? CÂU CHUYỆN CỦA NHỮNG CÁI ĐẦU KHÔNG DÙNG ĐÚNG CHỨC NĂNG
VỐN CÓ.

Mọi người vẫn thỉnh thoảng nghe câu chuyện về một số kẻ tay sai còn xót lại, hay đám ngụy ckn le ve ép thứ n chạy theo Mỹ và tây lôn phía bên kia vẫn thỉnh thoảng chõ mỏ nói càn về việc giải phóng Miền Nam Việt Nam là hành động Miền Bắc Việt Nam xâm lược miền Nam Việt Nam.

Chẳng biết ai công nhận Nam Việt Nam là một quốc gia ly khai vậy? 
Nếu xét theo hiệp định Giơnever thì năm 1954 mới quy định tạm thời chia cắt hai miền từ vĩ tuyến 17 trở vào là Nam Việt Nam và từ vĩ tuyến 17 đổ ra là Bắc Việt Nam để đến năm 1956 tổng tuyển cử toàn quốc chọn ra một chính quyền thống nhất toàn dân tộc.

 Nhưng sau này, cuộc chia cắt ngỡ chỉ 2 năm biến thành cuộc chia ly kéo dài đằng đẵng hơn 20 năm cũng vì bọn bán nước hại dân, tay sai ngụy quyền do Ngô Đình Diệm cầm đầu đảo chính cướp ghế của Bảo Đại theo kế hoạch ngầm giữa Mỹ và Pháp để rồi Ngô Đình Diệm đứng ra xé nát hiệp định Giơnever và bày trò bầu cử với số phiếu trúng cử nhiều hơn cả số cử tri lúc bấy giờ. 

Âm mưu thâm hiểm của lỹ cướp nước và bè lũ bán nước càng lộ rõ khi nhiều lần ngụy quyền Việt Nam Cộng Hòa được Mỹ và Phương Tây hậu thuẫn yêu cầu LHQ phê chuẩn thành quốc gia độc lập nhưng đều bị bác bỏ hoàn toàn bởi LHQ cho rằng Việt Nam chỉ có 1 quốc gia duy nhất phía Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa - phía Nam là Việt Nam Cộng Hòa ...

Nhận thấy âm mưu thâm hiểm chia cắt đất nước của Mỹ, ngụy, trước sự tráo trở của chúng, người dân miền Nam đứng lên biểu tình đòi ngụy quyền Ngô Đình Diệm tôn trọng hiệp định Giơnever dẫn đến các cuộc đàn áp đẫm máu leo thang - đỉnh điểm là dồn dân vào ấp chiến lược và tìm diệt Cộng sản tại Miền Nam dẫn đến sự ra đời của những phong trào đấu tranh trong đó có Mặt trận giải phóng Miền Nam...

 Bản chất tàn bạo của ngụy quyền lên đến đỉnh điểm với việc thi hành luật 10-59 của ngụy quyền Ngô Đình Diệm.
Không thể ngồi yên khi thấy đồng bào miền Nam ruột thịt phải sống dưới ách đô hộ, đàn áp...bóc lột của bọn đế quốc thực dân cùng tay sai, quân dân Miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã chính thức đoàn kết một lòng cùng đồng bào Miền Nam đánh đuổi bọn cướp nước cùng tay sai ra khỏi bờ cõi, thống nhất non sông về một mối.

Chuyên quân dân một nước cùng nhau đán giặc giữ nước, tiêu d.i.ệ.t lũ bán nước là chuyện phải làm, ấy vậy mà một số kẻ lại bảo rằng Miền Bắc xâm lược Miền Nam- câu chuyện nghe lạ đời khi cùng đất nước lại gọi là “xâm lược“ nhau thì quả là câu chuyện hài dở tệ của những kẻ từng là tay sai, đang mơ kiếp tay sai và bọn thiếu hiểu biết a dua a tòng...

Nhưng câu chuyện hài hước của đám tay sai lon ton kia vẫn chưa nực cười bằng câu chuyện của Mỹ, Pháp trước đó, từ những năm 1954 - Mỹ và phương tây cũng từng đăng tải báo chí truyền thông lên án chính quyền Việt Minh xâm lược Điện Biên Phủ nơi quân đội Pháp đang đồn trú.

Đấy nói đến đây chắc bây giờ nhiều người đã hiểu tại sao một số kẻ lại bảo Miền Bắc xâm lược Miền Nam ở đâu ra rồi chứ ? 
Đó chẳng phải từ cái lò Mỹ và Phương Tây với những câu chuyện lạ đời người Việt Nam xâm lược Việt Nam sao?
Yêu nước ST.

TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG CÁC VUA HÙNG NHƯ MỘT ĐIỂM TỰA TÂM LINH VỮNG CHẮC, CỐ KẾT TINH THẦN DÂN TỘC VIỆT!

         Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước,
Thưa các vị đại biểu, khách quý,
Thưa toàn thể đồng chí, đồng bào.

Hôm nay, trong tiết Thanh minh ấm áp đầu xuân năm mới Nhâm Dần, hòa trong không khí cả nước đang hướng tới ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10-3, tôi cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và toàn thể khách quý vui mừng đến dự Lễ khánh thành công trình Đền thờ Vua Hùng TP Cần Thơ và xin gửi đến các vị đại biểu cùng toàn thể đồng bào, đồng chí lời thăm hỏi thân ái và tình cảm nồng nhiệt nhất.

Trong không khí trang nghiêm, thành kính của buổi lễ hôm nay, chúng ta nhớ lời của các bậc tiền nhân: “Con người có tổ, có tông/ Như cây có cội, như sông có nguồn”. Bao đời nay, từ trong tâm thức của mỗi người dân Việt đã coi các Vua Hùng là Quốc Tổ có công dựng nên nhà nước đầu tiên của đất nước Việt Nam và là tổ tiên chung của cả dân tộc. Đó là một giá trị truyền thống riêng có của nước Việt ta.

Có thể nói, tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng đã trở thành bản sắc văn hóa sâu sắc, đạo lý truyền thống bền vững nối tiếp qua nhiều thế hệ người Việt ta; là sự thể hiện lòng thành kính, biết ơn của các thế hệ con cháu với công đức của tổ tiên trong dựng nước và giữ nước. Đồng thời, đây là hoạt động tâm linh, cầu mong Quốc Tổ phù hộ cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, đất nước yên vui, thanh bình, thịnh vượng và mang ý nghĩa sâu xa về sự gắn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau của cộng đồng dân tộc Việt, những người có chung một cội, cùng chung một nguồn.

Trải qua biết bao thăng trầm trong lịch sử dân tộc hàng nghìn năm, tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng vẫn được bền bỉ trao truyền, vun đắp qua bao thế hệ, như một điểm tựa tâm linh vững chắc, cố kết tinh thần dân tộc Việt, là nguồn gốc tạo nên sức mạnh để dân tộc ta luôn đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, thử thách, độc lập, trường tồn với “sông núi nước Nam, vua Nam ở” và gìn giữ thái bình, không ngừng mở mang, hợp tác phát triển. Tại Giỗ Tổ Hùng Vương năm 1946, sau khi nước ta mới giành được độc lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã thay mặt Chính phủ tế lễ, dâng tấm bản đồ Tổ quốc Việt Nam để cáo với tổ tiên về ý chí quyết giữ trọn vẹn non sông.

Từ bao đời nay, Đền Hùng tại núi Nghĩa Lĩnh, tỉnh Phú Thọ là nơi thực hành các nghi lễ trang nghiêm thờ cúng các Vua Hùng. Ngoài ra còn có hàng trăm đình, đền, miếu... nơi người dân thành kính thờ cúng các Vua Hùng và các tướng lĩnh ở Phú Thọ và nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Đặc biệt là cộng đồng người Việt ta ở nhiều nước trên thế giới cũng luôn luôn thành kính thờ cúng Quốc Tổ như một gắn kết thiêng liêng với tổ tông, với quê hương. Tiếp nối truyền thống tốt đẹp, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tôn tạo không gian thờ cúng trang nghiêm; đưa truyền thuyết Hùng Vương vào chương trình giảng dạy thế hệ trẻ; tiếp nối Sắc lệnh tháng 2-1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm là Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, để mọi người dân "Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng 10 tháng 3" và cùng thành tâm hướng về cội nguồn của dân tộc.

Vươn xa đi khắp năm châu, cách đây 10 năm, năm 2012, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi danh tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; trở thành niềm tự hào của cả quốc gia, dân tộc, của mỗi người con mang dòng máu Lạc Hồng.  

Thưa các vị đại biểu, khách quý,
Thưa toàn thể đồng bào, đồng chí,

Tục lệ thờ cúng Vua Hùng luôn được con cháu người Việt giữ gìn và thành kính, tôn nghiêm. Thấu hiểu, trân trọng nguyện vọng, tình cảm và lòng mong mỏi thiết tha của Đảng bộ, nhân dân TP Cần Thơ và đồng bào vùng Đồng bằng sông Cửu Long, lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã thống nhất chủ trương xây dựng Đền thờ Vua Hùng TP Cần Thơ. Sau hơn hai năm nỗ lực với tinh thần trách nhiệm cao, hôm nay, chúng ta vui mừng khánh thành công trình Đền thờ Hùng Vương TP Cần Thơ. Đây là điểm hội tụ tâm linh tại vùng đất phương Nam, vùng đất chín rồng anh dũng quật cường.

Tôi tin rằng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Cần Thơ tiếp tục kế thừa phát huy truyền thống cách mạng, bản lĩnh kiên cường, đoàn kết, năng động, sáng tạo, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ TP Cần Thơ lần thứ XIV, cùng cả nước thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, hiện đại hóa đất nước; đồng thời đưa TP Cần Thơ sớm trở thành thành phố sinh thái, văn minh, hiện đại, mang đậm bản sắc hào sảng, nghĩa tình miền sông nước Cửu Long...

Cùng với vinh dự là nơi đặt Đền thờ Hùng Vương tại TP Cần Thơ, tôi đề nghị thành phố làm tốt việc quản lý, giữ gìn và phát huy công trình này một cách hiệu quả, thiết thực. Công trình Đền thờ Vua Hùng tại vùng đất phương Nam này sẽ là một điểm kết nối linh thiêng với Đền Hùng đất Bắc, như mạch nguồn Nam-Bắc một nhà và trở thành điểm nhấn trung tâm tại khu vực, lan tỏa kết nối với mạng lưới các di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh, phục vụ du khách tham quan, chiêm bái, tưởng niệm.

Chúng ta xây dựng Đền thờ Vua Hùng tại nơi đây không chỉ là tôn vinh Quốc Tổ, nhắc nhở đạo lý "uống nước nhớ nguồn" mà còn khẳng định nền độc lập, tự cường, tự chủ toàn diện của dân tộc ta. Điều này càng có ý nghĩa trong bối cảnh nước ta hội nhập quốc tế sâu rộng đi cùng với yêu cầu đặt ra là hội nhập mà không hòa tan.

Trong không khí kính lễ trang nghiêm hôm nay, trước anh linh các Vua Hùng, chúng ta hãy cùng nhau kết đoàn, nối nghiệp các bậc tiên tổ, như lời Bác Hồ dạy: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Lời dạy thiêng liêng của Bác không chỉ là lời căn dặn về quyết tâm bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc mà với Đồng bằng sông Cửu Long, chúng ta còn có thêm sứ mệnh gìn giữ vùng đất màu mỡ trước các tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu khắc nghiệt.

Với việc "phải cùng nhau giữ lấy nước" cũng chính là đoàn kết quyết tâm thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 vừa được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ngày 2-4-2022.
Một lần nữa, tôi xin kính chúc các vị đại biểu, các vị khách quý cùng toàn thể đồng bào, đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công!
Xin trân trọng cảm ơn!
Yêu nước ST.

70 NĂM NATO - MỘT TỔ CHỨC GIẾT NGƯỜI HỢP PHÁP!

     Ngày 4 tháng 4 năm 2019, NATO (Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương) kỷ niệm 70 năm giết người của nó. Tổ chức kinh dị này được khai sinh bởi ký kết ở Washington DC. Sự tồn tại của nó hoàn toàn phi đạo đức nhưng lại hoàn toàn hợp pháp ở phương tây - nghĩa là chúng ta, phương tây, đã đưa ra luật cho chiến tranh, được áp dụng bởi NATO do Lầu Năm Góc điều khiển. Ước tính, NATO đã trực tiếp giết chết ít nhất hơn 20 triệu người trong lịch sử tồn tại của nó, kể từ khi kết thúc Thế chiến II, chưa kể số người bị các chư hầu của nó sát hại.

Đây là lời kêu gọi tất cả các thành viên NATO thoát khỏi NATO - để chọn hòa bình và thoát khỏi NATO! Để ngăn chặn các cuộc chiến tranh - để giải phóng chính mình khỏi xiềng xích của NATO.

Có phải là giả vờ giả tạo và hoàn toàn sai lầm, như chúng ta biết ngày nay, Chiến tranh Lạnh, bắt đầu ngay sau Thế chiến thứ hai và kéo dài cho đến khi Liên Xô sụp đổ năm 1991 - là thời kỳ hòa bình? - Hay đó là thời kỳ đe dọa chiến tranh liên tục, thời kỳ vũ trang của phương tây, thời kỳ tối đa hóa lợi nhuận cho khu liên hợp công nghiệp quân sự (chủ yếu của Mỹ) - một giai đoạn, để tiêu diệt bất kỳ cơ hội nào cho Liên Xô có thể tiến lên về kinh tế, khi cuộc chạy đua vũ trang khiến Liên Xô, quốc gia cứu thế giới khỏi Thế chiến II, không thể tập trung phát triển sau khi đã mất 27 triệu sinh mạng và cơ sở hạ tầng sản xuất cơ bản.

Đúng vậy, chính Liên Xô - chứ không phải là Mỹ, Anh và Pháp đã giải phóng thế giới vào thời điểm đó khỏi sự thống trị của Đức Quốc xã. Vâng, sách lịch sử phương Tây đã kể cho bạn một câu chuyện khác. Sách lịch sử phương Tây không bao giờ đáng được tin tưởng.

NATO hoàn toàn do Lầu Năm Góc điều hành với 29 quốc gia thành viên, 2 ở Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada), 26 ở châu Âu và 1 ở châu Á (Thổ Nhĩ Kỳ). Thêm vào đó, có một số thành viên liên kết, như Ukraine, Israel - và trong những tháng gần đây, Colombia ở Nam Mỹ đã gia nhập NATO thông qua cái gọi là Thỏa thuận hợp tác, từ năm 2013 - và Brazil có lẽ là ứng cử viên tiếp theo. Hoa Kỳ muốn kiểm soát lại sân sau của họ, bằng cách áp dụng lại Học thuyết Monroe (mà theo nó, không có thế lực nước ngoài nào khác, ngoài Mỹ, được phép có mặt ở Mỹ Latinh).

Venezuela và dầu lửa của họ cùng những quốc gia giàu khoáng sản khác là mục tiêu chính hiện nay cho sự hiện diện của NATO ở Colombia và Brazil. Chính phủ Venezuela được bầu cử dân chủ nhất trên thế giới. Venezuela có một liên minh chiến lược, kinh tế và quân sự vững chắc với Nga và Trung Quốc. Bất chấp tất cả những kẻ phá hoại khét tiếng Trump-Pompeo-Bolton, Nga và Trung Quốc đang vạch ra đường giới hạn đỏ cho Mỹ và NATO, một lời cảnh cáo đanh thép đối với Học thuyết Monroe. Thời đại đang thay đổi.

Hoa Kỳ/NATO - tất cả được cai trị bởi Lầu năm góc - có khoảng 800 - và theo một số ước tính khác, là hơn 1.000 căn cứ quân sự ở khoảng 100 quốc gia. Không phải tất cả đều được công chúng biết đến. Các khoản tiền được sử dụng để trang bị và duy trì các căn cứ là tiền nộp thuế của các bạn.

Trong khi sản xuất vũ khí cho cỗ máy giết người NATO, những chiếc máy bay không dành cho giáo dục và chăm sóc sức khỏe, xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản ở các quốc gia. Tất nhiên, nó chưa bao giờ là ưu tiên hàng đầu của giới thượng lưu phương Tây - những người khổng lồ về tài chính-quân sự và tuyên truyền dối trá - nhà nước phát xít đen tối đó giả vờ chăm sóc sức khỏe cho mọi người, và một phần ít hơn như vậy, dành cho giáo dục của mọi người, bởi những người có học thức là mối nguy hiểm đối với những tên trùm độc ác, tham lam bất chính này.

Hãy lưu ý! Mọi người trên khắp thế giới, giáo dục của bạn không được quan tâm. Thay vào đó là tiền - TIỀN CỦA BẠN - chính phủ của bạn giả vờ dành cho bạn một nền giáo dục đàng hoàng để bạn có thể kiếm được một cuộc sống kha khá và được hiểu biết - nhưng ngược lại, những khoản tiền này - TIỀN CỦA BẠN - được dùng để trang bị cho các căn cứ của NATO, để thực dân hóa bạn và các quốc gia của bạn, biến bạn thành nô lệ trong một trật tự thế giới dưới quyền bá chủ tài chính, thống trị của đồng đô la phương Tây.

Họ đã có tất cả các công cụ: Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, Ngân hàng Thế giới WB, Tổ chức Thương mại Thế giới WTO - tất cả đều là công cụ của NATO. Hãy thoát ra khỏi chúng! Chúng là công cụ ưu tú (vì thiếu một thuật ngữ rõ hơn) khiến bạn nghẹt thở vì nợ nần - vì vậy bạn sẽ thấy được họ thương xót và bạn sẽ bán hết cho họ tài nguyên của mình để lấy tiền. 

Hãy tạo ra nền kinh tế của riêng bạn, bên ngoài lãnh địa của TOÀN CẦU HOÁ, của chủ nghĩa tân cổ điển, với biểu hiện ngày nay được gọi là chủ nghĩa tân tự do. Hãy thoát khỏi NATO - và phần còn lại sẽ làm theo bạn!

Tất cả những gì châu Âu đã được trở thành là: Thuộc địa của Mỹ-NATO-Lầu năm góc. Các quốc gia châu Âu - bạn nghĩ vì bạn là thành viên của NATO, bạn có tiếng nói trong các quyết định của NATO? - Tốt hơn hãy nên nghĩ lại. Bạn biết đấy, bạn không có tiếng nói gì trong NATO cả. Không gì rõ ràng hơn rằng Lầu năm góc đang tạo ra các cảnh quay dối trá. Trump và các tay sai của ông ta, thay mặt cho Lầu năm góc và, tất nhiên, thay mặt cho các đầu sỏ công nghiệp quân sự, đang đe dọa bạn - bạn là thành viên châu Âu, vậy tốt hơn hết là hãy đóng tiền cho NATO, hoặc nếu không thì bất cứ điều gì khác cũng có thể xảy đến với bạn. 

Bạn biết đấy, là các lãnh đạo (shit) của các thành viên được gọi là EU, bạn đã bị buộc phải tuân theo điều đó. Ủy ban châu Âu không được bầu của bạn (EC) đã bị Washington mua đứt. EU không gì khác ngoài một con rối của Washington và được điều hành bởi NATO.

Ngoài ra, những gì bạn có thể mong đợi, Liên minh châu Âu chưa bao giờ là một ý tưởng của người châu Âu. Đó là một ý tưởng do CIA sinh ra trong Thế chiến II - sau đó được cấy ghép cho một số người châu Âu, với lời hứa của NATO rằng sẽ bảo vệ bạn khỏi Liên Xô tà ác. Và, thật trớ trêu, sự sợ hãi màu đỏ đã làm tốt điều đó, thông qua Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Joseph McCarthyera, với lý thuyết về “làn sóng đỏ”.

Từng biết. Nó nhằm mục đích kết nối mọi người, không tách rời họ. Nó nhằm mục đích bình đẳng và công bằng, bao gồm cả những người bị bỏ lại phía sau, vì một thế giới hòa bình. Như đại biểu Trung Quốc tham dự một hội nghị quốc tế gần đây đã nói - chúng tôi đang xây dựng những cây cầu để kết nối mọi người, trong khi phương tây đang xây dựng những bức tường.
Đã đến lúc cho một kỷ nguyên hòa bình mới. Bảy mươi năm của NATO, là lịch sử giết người, thống trị và tham lam - đã quá đủ rồi! Hãy chặn NATO lại! Thoát khỏi NATO! Xóa bỏ NATO!
Yêu nước ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA


Sinh thời, Bác Hồ luôn dành tình cảm đặc biệt và sự quan tâm ân cần đến sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam. Bác đã dành rất nhiều tâm huyết cho việc tổ chức, dẫn dắt các thế hệ thanh niên đến với cách mạng, tham gia vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Trong thư gửi Thanh niên Việt Nam, tháng 4 năm 1951 Bác viết:“…Thanh niên phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng”
Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước luôn đề cao vai trò của thanh niên Việt Nam và có nhiều nghị quyết, chỉ thị, chính sách tạo điều kiện để phát triển toàn diện thanh niên Việt Nam. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và tuổi trẻ Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành cùng sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, hun đúc nên truyền thống vẻ vang, được Đảng, Nhà nước ghi nhận, xã hội đánh giá cao, xứng đáng là trường học xã hội chủ nghĩa của tuổi trẻ, là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tiếp nối truyền thống của lớp lớp các thế hệ cha anh đi trước, thế hệ thanh niên Việt Nam ngày nay luôn trung thành tuyệt đối và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao lòng yêu nước, sẵn sàng dấn thân vì sự nghiệp cách mạng, tình nguyện vì cộng đồng, đến những nơi khó khăn, đảm nhận những việc mới, việc khó, tiên phong trong ứng dụng khoa học - công nghệ, xung kích trong xây dựng xã hội học tập, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Là một bộ phận quan trọng của thanh niên Việt Nam, thanh niên Quân đội có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị. Do đó, sức mạnh tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến đấu, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của Quân đội liên quan mật thiết đến chất lượng và khả năng tập hợp, phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên Quân đội. Muốn vậy, tổ chức Đoàn phải tuân thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, hướng dẫn của cơ quan chính trị các cấp; quan tâm, chăm lo đến nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của thanh niên; tạo điều kiện để thanh niên có cơ hội cống hiến và trưởng thành. Ban Chấp hành Đoàn, đội ngũ cán bộ, đoàn viên, thanh niên Quân đội cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực học tập, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, phẩm chất, đạo đức, lối ống trong sáng, động cơ, thái độ, trách nhiệm đúng đắn; có tri thức, trình độ kỹ chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ và sức khoẻ tốt, thực sự là lực lượng xung kích, nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.