Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế trong tình hình hiện nay

 - Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sức khỏe của nhân dân là vốn quý báu nhất của dân tộc, có quan hệ chặt chẽ với thắng lợi của cách mạng. Vì vậy, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân là trách nhiệm của Đảng, của hệ thống chính trị, của toàn dân, trong đó Ngành Y tế có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Để Ngành Y tế đảm đương được sứ mệnh vẻ vang, đòi hỏi phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ có đức, có tài, xứng danh “Lương y như từ mẫu”, trong đó có nội dung cốt lõi là vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ này trước Đảng, trước nhân dân. 

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế trong tình hình hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) - Ảnh tư liệu, nguồn: TTXVN

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Là nhà tư tưởng lỗi lạc, lãnh tụ vĩ đại kính yêu của Đảng và dân tộc Việt Nam, Người dành sự quan tâm hàng đầu cho công tác cán bộ, trong đó có đội ngũ cán bộ Ngành Y tế, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ y tế nước ta có đức và có tài, luôn thực hành gương sáng về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân - một nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. 

Cả trong hoạt động lý luận và thực tiễn lãnh đạo xây dựng, phát triển Ngành y tế Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quan điểm vô cùng phong phú, hệ thống và sâu sắc về đoàn kết và nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ y tế Việt Nam trong chế độ mới.

Nghề y là một nghề hết sức cao quý và đặc biệt, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người, được xã hội tôn vinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”(1)

Theo Người, trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, sức khỏe của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng gần thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công. Song, để người dân có được sức khỏe “khang cường” cả về thể chất và tinh thần, có quan hệ mật thiết đến vai trò của người cán bộ y tế. Bởi vậy, Người coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ y tế toàn diện, cả về y đức, y thuật, y lý. Người nhấn mạnh quan điểm cán bộ phải luôn đoàn kết và thanh khiết, luôn nêu cao trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Quan điểm đó được thể hiện sâu sắc và toàn diện trong nhiều bức thư, bài viết, bài nói chuyện trong những dịp Người thăm và làm việc với ngành y hoặc cơ sở, cán bộ y tế. 

Người chỉ dẫn, căn dặn đội ngũ cán bộ y tế phải nêu cao tinh thần trách nhiệm và lòng nhân ái, tận tụy, đức hy sinh, vì nhân dân phục vụ: “Về chuyên môn: Cần thường xuyên học tập nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ. Về chính trị: Cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác"(2)

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”, vì thế “một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền"(3). Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc nǎm 1953, Người cǎn dặn cán bộ y tế phải: “Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân(4)

Trong Thư gửi hội nghị cán bộ Y tế, đăng trên Báo Nhân dân số 362 ngày 27 - 2 - 1955, Người nhấn mạnh: “Thương yêu người bệnh - Người bệnh phó thác tính mạng nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh, em ruột thịt của mình coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. "Lương y phải như từ mẫu" câu nói ấy rất đúng”(5)

Để giữ trọn thanh danh cao quý của người thầy thuốc, cán bộ ngành y, một mặt, Người nhấn mạnh đến tài năng, đề ra yêu cầu cán bộ y tế "phải có chí chịu khó, chịu khổ, phải giàu lòng bác ái, hy sinh"(6). Mặt khác, để có thể hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang trước Đảng, trước nhân dân, đội ngũ cán bộ y tế phải chính tâm và đoàn kết, đoàn kết để tin tưởng, đoàn kết để tiến bộ thêm, đoàn kết để đi đến thành công trong sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. 

Đoàn kết là một vấn đề chiến lược trong xây dựng ngành cũng như đội ngũ cán bộ y tế. Ngành y và nghề y mang tính đặc thù cao, gắn liền với sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Sức khỏe nhân dân có quan hệ đến “sức mạnh tổng hợp của quốc gia”, vì “dân cường thì nước thịnh”. Do đó, để ngành y đảm đương được vai trò, chức năng của mình, rất cần sức mạnh nội tại của nguồn nhân lực, nhất là của đội ngũ cán bộ y tế. Nếu không có sự đoàn kết nhất trí trong đội ngũ cán bộ thì mọi chiến lược, chủ trương, kế hoạch phát triển của ngành y sẽ gặp khó khăn, thậm chí sai lầm, trả giá. 

Hồ Chí Minh đã từng nêu một luận điểm mang tính chân lý: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”(7); “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”(8); “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”(9); “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”(10). Người coi mục đích của Đảng là đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc. 

Muốn cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và phát triển ngành y tế ngang tầm đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, thì trong từng tổ chức Đảng, bộ máy và đội ngũ cán bộ ngành y cũng như trong toàn hệ thống chính trị nói chung phải ra sức chăm lo xây dựng khối đoàn kết thống nhất nội bộ. 

Người nhấn mạnh: "Trước hết là phải thật thà đoàn kết - Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích. Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân"(11).

Khi cán bộ ngành y tế đang cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đội ngũ cán bộ y tế phải: “Đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng, về chuyên môn kỹ thuật. Luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh, tích cực nâng cao sức khỏe của bộ đội, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”(12)

Theo Người, phải nêu cao tinh thần đại đoàn kết ở mọi lúc, mọi nơi, mọi cá nhân, mọi tổ chức và cộng đồng, vì lợi ích chung là độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Cán bộ ngành y cũng như người cán bộ cách mạng nói chung, trong thực hành đoàn kết, phải lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân (mà sức khỏe là vốn quý hàng đầu) làm nền tảng, đồng thời quan tâm tới lợi ích chính đáng của cá nhân. Song, tôn trọng cái riêng thì đồng thời phải nêu cao tinh thần đoàn kết vì mục tiêu chung của ngành và của cách mạng. 

Hồ Chí Minh nói tới đoàn kết, đại đoàn kết cũng chính là giải quyết hài hòa các mối quan hệ về vấn đề lợi ích, như: cá nhân - tập thể; gia đình - xã hội; bộ phận - toàn cục. Chỉ dẫn đó của Người là cơ sở, nền tảng để ngành y và mỗi cán bộ y tế xây dựng văn hóa công sở, văn hóa công vụ, văn hóa đoàn kết trong giai đoạn hiện nay. 

Mỗi cá nhân, mỗi tổ chức trong hệ thống ngành y tế nước ta, có chức năng, nhiệm vụ khác nhau do tính đặc thù quy định. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế là tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá chất lượng của đội ngũ này. Có trình độ chuyên môn tốt mới bảo đảm cho cán bộ ngành y hoàn thành công việc được giao. 

Trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học - công nghệ y tế phát triển và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đội ngũ cán bộ y tế phải có trình độ về công nghệ, làm chủ khoa học - công nghệ trong lĩnh vực y tế, đồng thời phải có khả năng thích linh hoạt để đáp ứng được những thay đổi và yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong bối cảnh mới, phải nêu cao quyết tâm, tín tâm và tinh thần phụng sự. 

Cùng với nhấn mạnh vấn đề quan trọng hàng đầu là đoàn kết-một cội nguồn của thắng lợi, Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, đối với người cán bộ nói chung, cán bộ ngành y tế nói riêng, cần phải hội tụ được phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp. Phẩm chất đạo đức ấy phải được thể hiện rõ ở lòng trung thành, nhiệt tình cách mạng, ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân; ít lòng tham muốn về vật chất,… thể hiện qua sự tự giác và ý thức nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của ngành ytế, ở tinh thần trách nhiệm rất cao trước Đảng, trước nhân dân.

Người luận giải: “Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy là không có tinh thần trách nhiệm.

… Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ.

… Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân. 

Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm. 

Tách rời chính sách ra một đường, nhiệm vụ ra một đường là sai lầm. Tách rời chính sách và nhiệm vụ ra một đường, và đường lối quần chúng ra một đường cũng là sai lầm. Tinh thần trách nhiệm là gắn liền chính sách và đường lối quần chúng, để làm trọn nhiệm vụ. 

… Công việc kháng chiến kiến quốc ngày càng nhiều, càng mới, càng to, càng phức tạp. Cán bộ ta không khỏi vấp khuyết điểm trong tiến bộ. Nhưng với sự giáo dục của Đảng, của Chính phủ và của quần chúng, cùng với lòng kiên quyết dùi mài tinh thần trách nhiệm của cán bộ, chúng ta nhất định chiến thắng khuyết điểm”(13)

Trong bối cảnh hiện nay, nâng cao tinh thần trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đây được xem là một trong những yêu cầu hàng đầu và là yếu tố đặc biệt quan trọng để cán bộ ngành y “nâng cao sức đề kháng”, miễn nhiễm với mọi sự tha hóa, biến chất, không sa vào chủ nghĩa cá nhân, không bị tác động, ảnh hưởng của những yếu tố tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, của những “viên đạn bọc đường”, của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu cao tỉnh thần đoàn kết và tinh thần trách nhiệm của người cán bộ y tế trước Đảng, trước nhân dân có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong xây dựng ngành y tế Việt Nam và đội ngũ cán bộ y tế cách mạng qua các thời kỳ, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Tư tưởng của Người hướng dẫn hành động cho mỗi cán bộ ngành y, nhắc nhở mỗi người, mỗi tổ chức, nhất là cấp ủy Đảng phải luôn thường trực tư tưởng và hành động đoàn kết thống nhất, trách nhiệm cao vì lợi ích chung của cách mạng.

Đất nước ta đã trải qua hơn 35 năm đổi mới. Chưa bao giờ đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Thành tựu to lớn mang tầm vóc lịch sử đó sự đóng góp quan trọng của ngành y tế, trực tiếp nhất là đội ngũ cán bộ. Nhờ đó, như Đảng đã đánh giá, khẳng định: “Hệ thống tổ chức y tế tiếp tục được kiện toàn. Quy mô, năng lực, chất lượng y tế dự phòng, khám, chữa bệnh, phòng, chống dịch, chăm sóc sức khỏe nhân dân có bước phát triển, tiếp cận được nhiều kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, đạt nhiều kết quả quan trọng, nhất là trong phòng, chống đại dịch Covid-19”(14).

Tuy nhiên, trong bối cảnh mới của ngành y tế hiện nay, vẫn nổi lên những hạn chế, khuyết điểm, bất cập, với nhiều khó khăn thách thức, nhất là trước sự công phá dữ dội của “giông tố” Covid-19, được coi là một phép thử khắc nghiệt đối với ngành y và mỗi cán bộ y tế nước nhà. 

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác khám và chữa bệnh cho nhân dân, phòng, chống dịch bệnh Covid-19 có hiệu quả, rất cần phải tăng cường giáo dục cán bộ, nhân viên y tế về tinh thần đoàn kết và trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, để phát huy sức mạnh tổng hợp và thái độ, tinh thần phục vụ. Câu nói của Người: "Thầy thuốc phải như mẹ hiền" vừa là danh hiệu cao quý mà Người dành tặng, vừa là một yêu cầu, đòi hỏi, là tiêu chuẩn, tiêu chí đối với phẩm chất và tài năng của đội ngũ cán bộ y tế nước ta, cả trong kháng chiến, cũng như trong hòa bình, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Trong điều kiện hiện nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm, đòi hỏi ngành y tế và mỗi cán bộ y tế phải tiếp tục nhận thức và quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 23 - 2 - 2005 của Bộ Chính trị Về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới; Nghị quyết Hội Nghị Trung ương 6 khóa XII (Nghị quyết Số 20-NQ/TW ngày 25 - 10 - 2017) Về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, trong đó thấu suốt quan điểm của Đảng: Nghề y là một nghề đặc biệt; nhân lực y tế phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn và y đức; cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. Mỗi cán bộ, nhân viên y tế phải không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn vững vàng, tiếp cận trình độ quốc tế, xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của Đảng, Nhà nước và xã hội: "Thầy thuốc phải như mẹ hiền". Điều đó lại càng đòi hỏi hơn bao giờ hết tinh thần phát huy dân chủ, ra sức tự phê bình và phê bình trong công tác và sinh hoạt hằng ngày như mỗi ngày “phải rửa mặt”, để tăng cường sự đoàn kết thống nhất và tinh thần trách nhiệm trong toàn ngành và của mỗi cán bộ y tế; thắp sáng truyền thống vẻ vang, niềm tự hào về danh dự, phẩm giá, lương tri của nghề y, ngành y, của người cán bộ y tế cách mạng. 

Quá trình đó đòi hỏi phải nêu cao bản lĩnh, dũng khí, phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để xây dựng đội ngũ cán bộ y tế thật sự “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, ngành ytế phải quán triệt thực hiện nghiêm túc, sâu sắc tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Tập trung xây dựng đội cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(15)

Trong quá trình quán triệt thực hiện, bài học về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn luôn là “chìa khóa” để đội ngũ cán bộ y tế nước ta hoàn thành tốt nhiệm vụ và sứ mệnh vẻ vang, cao quý mà Đảng và nhân dân ta đã tin tưởng giao phó.

Kỷ niệm Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2 năm nay diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và ngànhytế, mỗi cán bộ y tế nước ta đang nỗ lực phấn đấu đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, với ý chí và khát vọng xây dựng và phát triển nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Ý thức đầy đủ vinh dự, niềm tự hào chính đáng và nêu cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của người cán bộ y tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chính là một biểu hiện cao quý về đạo đức cách mạng của người cán bộ y tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là tiếp tục kiểm soát phòng, chống dịch bệnh, “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19” để phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững hơn, đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, vì “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước.

 - Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ chủ trương về hội nhập quốc tế, nhất là chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong bối cảnh mới. Bài viết tập trung làm rõ cơ sở khoa học, giải pháp thúc đẩy thực hiện chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng của Việt Nam nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước

Việt Nam chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng - Ảnh: dangcongsan.vn

1. Chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”(1)

Đảng ta xác định chủ trương trên xuất phát từ những cơ sở khoa học, khách quan sau:

Một là, xuất phát từ nhận thức chung về thời đại, về tình hình thế giới và khu vực ngày càng rõ hơn và đầy đủ hơn. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH, Đảng ta nhận rõ tính chất phức tạp và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội, nên cần có nhận thức đúng, thấy rõ những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất thời đại trong giai đoạn hiện nay và tương lai.

Về môi trường quốc tế, Đảng ta đã nhận thức rõ việc các nước không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển, cùng tồn tại hòa bình, hợp tác và đấu tranh vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Đảng ta nhận định “cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm”(2) ngày càng rõ hơn. Các nước lớn thay đổi chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến tình hình thế giới và các khu vực. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt, chủ nghĩa thực dụng ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế. Các nước đang phát triển, nhất là những nước vừa và nhỏ đang đứng trước những cơ hội mới và cả những thách thức, khó khăn mới trên con đường phát triển.

Hai là, sau 35 năm đổi mới trong lĩnh vực đối ngoại và mở rộng hội nhập quốc tế, chúng ta đã giành được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”(3), cùng những bài học kinh nghiệm sâu sắc. Mở rộng quan hệ đối ngoại, chúng ta đã giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ XHCN, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; đã phá được thế bị bao vây, cấm vận; bình thường hóa, thiết lập quan hệ ổn định, lâu dài với các nước; tạo lập và giữ được môi trường hòa bình, tranh thủ yếu tố thuận lợi của môi trường quốc tế để phát triển.

Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu. Mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị; tiếp tục từng bước đưa quan hệ với các đối tác quan trọng đi vào chiều sâu, ổn định hơn. Cùng với việc tăng cường ngoại giao Nhà nước, quan hệ đối ngoại Đảng và đối ngoại nhân dân được mở rộng, đã nâng cao vị thế, uy tín của nước ta tại các diễn đàn đa phương.

Ba là, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Trong những năm tới, tình hình thế giới sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng “hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn”(4), quá trình “toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển”(5), hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng; “cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc”(6).

Tình hình chính trị, an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh mạng, chiến tranh cục bộ... tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực. Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới và các khu vực. Các nước đang phát triển, nhất là những nước vừa và nhỏ đang đứng trước những cơ hội và khó khăn, thách thức lớn trên con đường phát triển; “những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp”(7).

 2. Giải pháp thực hiện chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng

Để thực hiện thắng lợi chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(8), từ nay đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, cần tập trung quán triệt một số nguyên tắc và giải pháp sau: 

Về nguyên tắc: (i) Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; (ii) Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất; (iii) Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia(9). Độc lập, tự chủ là cơ sở, tạo ra sức mạnh nội sinh để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; (iv) Hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; (v) Hội nhập quốc tế là quá trình, vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu; không tham gia vào các tập hợp lực lượng, các liên minh của bên này chống bên kia; (vi) Tuân thủ nghiêm các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất các sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.  

Về giải pháp: 

Một là, đối với hội nhập chính trị.

Xây dựng quan hệ toàn diện, sâu rộng. Với tinh thần của Đại hội XIII về việc nâng tầm hội nhập chính trị lên một mức cao hơn, đó là toàn diện, đi vào chiều sâu, đối ngoại để phục vụ đối nội, mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, cải cách thể chế, luật pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho thúc đẩy hội nhập chính trị, thiết lập các thỏa thuận hợp tác về chính trị. Rà soát hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, chỉnh sửa, bổ sung, xây dựng và ban hành mới các văn bản nhằm bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, khả thi, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Tăng cường cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các kênh, các cấp và các cơ quan đối ngoại, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

- “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy”(10). Tiến hành rà soát việc thực hiện các khuôn khổ, đề án phát triển quan hệ với các nước láng giềng, khu vực tiểu vùng sông Mê Công, ASEAN, châu Á - Thái Bình Dương, các nước lớn và các đối tác quan trọng; nâng cấp và mở rộng quan hệ song phương phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế; đưa ra các phương án cụ thể, các nhiệm vụ ưu tiên để thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là các chương trình, dự án hợp tác lớn, đồng thời giải quyết sớm những vướng mắc, tồn tại, góp phần đưa các khuôn khổ quan hệ đã được xác lập với các nước đi vào thực chất, tạo sự đan xen, gắn kết lợi ích giữa nước ta với các đối tác(11)

Chú trọng chủ động, tích cực hợp tác về chính trị trong các vấn đề an ninh phi truyền thống theo định hướng của Đại hội XIII là “chủ động, tích cực chia sẻ thông tin, phối hợp nghiên cứu, quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên, bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng”(12). Xây dựng chương trình, đề án nhằm “mở rộng quan hệ và đẩy mạnh hợp tác với các lực lượng chính trị, xã hội và nhân dân các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội”(13)

- Chủ động, tích cực tham gia và phát huy vai trò định hình, “nòng cốt, dẫn dắt và hòa giải” trong các cơ chế đa phương; nghiên cứu tham gia xây dựng định hình các thể chế, định chế, luật lệ, chuẩn mực về chính trị; kết hợp chặt chẽ và hiệu quả với song phương.

- Tăng cường hoạt động tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu về các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, chính sách, chiến lược của Chính phủ về các cam kết về hội nhập chính trị; “Đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại, bảo hộ công dân, triển khai toàn diện và mạnh mẽ hơn công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; chủ động thích ứng trước chuyển biến của tình hình”(14).

Hai là, đối với hội nhập lĩnh vực kinh tế.

Các giải pháp chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện trên lĩnh vực kinh tế nhằm góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài”(15)

- Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, cải cách thể chế, luật pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho thúc đẩy hội nhập kinh tế theo hướng phù hợp với các cam kết quốc tế và điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước. Tập trung xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện các luật, dự án luật liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế. Tiến hành rà soát, đánh giá kết quả hợp tác, cập nhật và thực hiện các chiến lược, kế hoạch về hội nhập kinh tế quốc tế.

- Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả quan hệ hợp tác kinh tế, đầu tư và thương mại song phương với các đối tác, thiết lập các khuôn khổ hợp tác, nhất là những lĩnh vực mới như kinh tế số, kinh tế xanh; “thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn”(16)

- Thúc đẩy quan hệ kinh tế đa phương, phát huy vai trò định hình, xây dựng thể chế, cơ chế và luật lệ mới tại các cơ chế kinh tế đa phương; kết hợp chặt chẽ và hiệu quả với song phương. 

Trong đó, ở cấp khu vực/liên khu vực thực hiện rà soát, cập nhật các hiệp định đã ký kết, nghiên cứu tham gia các FTA giữa ASEAN và đối tác như EU, Anh; chú trọng tham gia xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN, tham gia tích cực hơn vào quá trình định hình cấu trúc, các thể chế đa phương khu vực trong ASEAN, hợp tác Mê Công; chủ động tham gia xây dựng các khuôn khổ, quy định quản trị kinh tế ở tầm khu vực, liên khu vực (như APEC), thúc đẩy các lĩnh vực mà Việt Nam có lợi ích; thực hiện các cam kết như EVFTA và EVIPA để đẩy mạnh xuất khẩu sang EU, thu hút làn sóng đầu tư mới từ EU, tận dụng nguồn tài trợ phát triển kinh tế bền vững, kinh tế miền núi, nông thôn.  

Ở cấp toàn cầu, tiếp tục phát huy hiệu quả hợp tác trong Liên hợp quốc nhằm huy động nguồn lực hỗ trợ về chính sách, tài chính và kỹ thuật cho các hoạt động phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực như cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, đổi mới sáng tạo, thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển xanh, chuyển đổi xanh, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn, duy trì chuỗi cung ứng toàn cầu, phát triển bền vững kinh tế biển, thúc đẩy ngoại giao vắcxin, công nghệ, vật tư y tế cho phòng, chống và điều trị Covid-19.

- Tổ chức đào tạo, thông tin tuyên truyền, phổ biến kiến thức, nâng cao năng lực nghiên cứu về tình hình hội nhập kinh tế quốc tế và các xu hướng mới trong phát triển (chuyển đổi số, sự chuyển dịch các chuỗi cung ứng, sản xuất và đầu tư; phát triển xanh, bền vững, bao trùm; kinh tế tuần hoàn ...) và tận dụng triển khai các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam; “tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ am hiểu sâu về luật pháp quốc tế, thương mại, đầu tư quốc tế, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, trước hết là cán bộ trực tiếp làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tế”(17).

Ba là, đối với hội nhập lĩnh vực quốc phòng, an ninh. 

Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh nhằm góp phần “giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương”(18), “chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”(19).

- Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, thể chế pháp luật, rà soát thực hiện các đề án, chiến lược, chương trình, kế hoạch nhằm thúc đẩy hội nhập quốc phòng, an ninh phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Rà soát, đánh giá, thúc đẩy triển khai thực hiện các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc phòng, an ninh theo tinh thần của Đại hội XIII; Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 08-8-2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Nghị quyết số 806-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”; đề án “Hội nhập quốc tế về quốc phòng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”(20).

- Chủ động, tích cực mở rộng toàn diện và đưa vào chiều sâu các nội dung hội nhập an ninh, quốc phòng song phương; thiết lập các thỏa thuận về quốc phòng - an ninh. Tiếp tục duy trì và giữ vững mối quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng, các nước lớn, ASEAN và các nước bạn bè truyền thống(21). Chú trọng mở rộng, đa dạng hóa phương thức thực hiện các nội dung hợp tác với các đối tác quan trọng chiến lược, trong đó ưu tiên các lĩnh vực như khắc phục hậu quả chiến tranh; tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, quân y, đào tạo, nghiên cứu chiến lược, an ninh biển, đối ngoại biên giới(22), phòng, chống dịch Covid-19, phối hợp bảo vệ biên giới, tăng cường hợp tác quân y, hỗ trợ trang thiết bị y tế(23), thông qua trao đổi các đoàn quân sự các cấp, tham vấn - đối thoại quốc phòng, nhằm tăng cường hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, xây dựng lòng tin và ngăn ngừa xung đột(24). Tăng cường hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, tiếp thu các công nghệ mới để tiến tới làm chủ công nghệ hiện đại, sản xuất được các loại vũ khí thiết bị công nghệ cao, mang tính răn đe, đồng thời quảng bá, tiêu thụ sản phẩm quốc phòng(25)

- Chủ động, tích tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, nghiên cứu tham gia xây dựng định hình các thể chế, định chế, chuẩn mực luật lệ về quốc phòng, an ninh; “chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng đoàn kết, vững mạnh, giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực”(26). Đa dạng hóa các hình thức, phương pháp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, đào tạo đội ngũ giáo viên, giảng viên, phổ biến kiến thức quốc phòng, nhất là về hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh, làm thay đổi, chuyển biến nhận thức của người dân cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên(27).

Bốn là, đối với hội nhập lĩnh vực văn hóa.

Hội nhập quốc tế về văn hóa nhằm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế”(28), “phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”(29)

- Đẩy mạnh quan hệ song phương về văn hóa, phát huy hiệu quả tích cực yếu tố văn hóa để thúc đẩy quan hệ chính trị và kinh tế. Đẩy mạnh hợp tác với các đối tác truyền thống như Lào, Nga và các đối tác tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, EU, Hoa Kỳ. Đa dạng hóa về hình thức và nội dung giao lưu văn hóa, phim ảnh, thời trang, đẩy mạnh kết hợp văn hóa du lịch, cập nhật các vấn đề mới như chuyển giao trí thức, công nghệ quản lý, hỗ trợ kỹ thuật về hoạch định chính sách, xây dựng văn bản pháp luật trong các lĩnh vực lao động, việc làm, phát triển nguồn nhân lực, an sinh xã hội. Đổi mới tư duy, sáng tạo trong hội nhập văn hóa, nhất là đa dạng hình thức như trực tuyến, chú trọng tới văn hóa số, xã hội số... đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số đang được đẩy nhanh trong và sau Covid-19. 

- “Mở rộng và nâng cao hiệu quả ngoại giao văn hóa, đóng góp thiết thực vào quảng bá hình ảnh, thương hiệu quốc gia và tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước”(30). Công tác quảng bá lịch sử, phát huy văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam gắn liền với phát triển kinh tế du lịch, xuất bản các ấn phẩm, thực hiện các hoạt động giao lưu văn hóa như các sự kiện văn hóa Festival, xuất bản các ấn phẩm, tác phẩm nghệ thuật có giá trị của Việt Nam, các làng nghề truyền thống, danh lam thắng cảnh, các tác phẩm văn học nghệ thuật, âm nhạc, hội họa, điện ảnh, nhiếp ảnh, kiến trúc...; tích cực tham gia các hoạt động sáng tạo các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, khoa học... trên thế giới.  

Năm là, đối với hội nhập lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo.

Hội nhập trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo nhằm “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững”(31). Theo đó, một số biện pháp được đề xuất như sau:

- Xây dựng, củng cố, hoàn thiện hệ thống luật pháp, thể chế thúc đẩy đổi mới hệ thống khoa học, công nghệ quốc gia, đổi mới sáng tạo, giáo dục - đào tạo, hỗ trợ cho Việt Nam thực hiện các điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Thúc đẩy phát triển nền tảng đổi mới sáng tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế(32), đồng thời “đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”(33). Tích cực triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến năm 2030 để mở rộng hợp tác quốc tế và hội nhập về khoa học và công nghệ, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ ưu tiên. Xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển khoa học công nghệ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Xây dựng và triển khai Đề án hội nhập quốc tế về giáo dục và dạy nghề đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

- Tăng cường các chương trình hợp tác song phương, ký kết các thỏa thuận với các đối tác đi đầu về khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo. Đa dạng hóa hợp tác quốc tế, ký kết và thực hiện có hiệu quả các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, hiệp định hợp tác song phương trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học và công nghệ, nhất là ưu tiên hợp tác với các đối tác chiến lược. 

- Phát huy vai trò chủ động và tích cực trong các thể chế/diễn đàn đa phương về khoa học, công nghệ; tham gia định hình, xây dựng các thể chế, cơ chế, quản trị, luật lệ, chuẩn mực toàn cầu về khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo. Tiếp tục tăng cường tham gia các khuôn khổ đa phương về khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo để tranh thủ nguồn lực tri thức, công nghệ, trang thiết bị, tài liệu và đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ Việt Nam. Chú trọng đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực y tế, phòng chống dịch, nghiên cứu và sản xuất vắcxin, tham gia chủ động và tích cực vào các thiết chế toàn cầu về quản trị y tế, an ninh y tế và hỗ trợ nhân đạo.

Xây dựng tòa án điện tử, một nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp trong tòa án nhân dân.

 - Hiện nay, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin đã mang lại nhiều cơ hội cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị quốc gia và thực thi công lý trên thế giới. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển không ngừng của công nghệ số đã và đang làm thay đổi sâu sắc hoạt động của tòa án. Trong bối cảnh đó, tòa án Việt Nam chủ trương đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác tối đa các cơ hội mà cuộc cách mạng công nghệ mang lại để xây dựng tòa án điện tử - một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp trong tòa án nhân dân nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và xây dựng tòa án hiện đại như yêu cầu tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Xây dựng tòa án điện tử, một nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp trong tòa án nhân dân

Ký kết Chương trình phối hợp giữa Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Thông tin và Truyền thông trong công tác chuyển đổi số và xây dựng tòa án điện tử - Ảnh: toaan.gov.vn

1. Nhận thức về tòa án điện tử

Bản chất của tòa án điện tử là chuyển một phần hoạt động của tòa án từ không gian thực lên không gian số, trong đó, cốt lõi là việc tiến hành, tối ưu và phát triển trên nền tảng số một số hoạt động: quản trị nội bộ tòa án; công khai hoạt động của tòa án; cung ứng cho người dân các dịch vụ tư pháp công; hỗ trợ các tiện ích nâng cao hiệu quả hoạt động của các chức danh tư pháp; kết nối và khai thác cơ sở dữ liệu của các nền tảng số quốc gia; đặc biệt là tiến hành các hoạt động tố tụng điện tử. 

Tòa án điện tử mang đến nhiều lợi ích to lớn cho tòa án, người dân và xã hội, cụ thể là:

Thứ nhất, giúp tăng năng suất lao động của tòa án. Nhiều hoạt động tố tụng đang được thực hiện theo phương thức truyền thống vốn tốn kém về thời gian và nhân lực, khi thực hiện thông qua nền tảng số sẽ được tự động hóa hoặc tiến hành trực tuyến (từ khâu thụ lý đơn khởi kiện, tiếp nhận hồ sơ vụ án cho đến kết thúc vụ án). Qua đó, vừa tăng năng suất lao động của tòa án, vừa tiết kiệm nhân lực và thời gian. Đây cũng chính là giải pháp để khắc phục một phần khó khăn, áp lực khi số lượng các vụ án gia tăng không ngừng nhưng phải giảm biên chế theo yêu cầu chung.

Thứ hai, hỗ trợ thẩm phán ra phán quyết chính xác. Thay vì phải lập hồ sơ vụ án, tra cứu văn bản pháp luật và tiến hành các tác nghiệp một cách thủ công, tòa án điện tử với ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) sẽ giúp thẩm phán và thư ký tòa án xử lý hồ sơ nhanh hơn, thuận tiện hơn trong việc tra cứu văn bản pháp luật và án lệ liên quan, tìm kiếm các vụ án có tình huống pháp lý tương tự. Thậm chí, công nghệ trí tuệ nhân tạo còn cho phép thiết lập “Trợ lý ảo” hỗ trợ đắc lực cho thẩm phán trong quá trình nghiên cứu để tham khảo và đưa ra phán quyết đúng pháp luật, nhanh chóng, chính xác.

Thứ ba, tiết kiệm công sức, thời gian và chi phí của người dân. Thay vì phải trực tiếp đến trụ sở tòa án trong giờ làm việc, tòa án điện tử tạo điều kiện cho người dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng ở mọi nơi, mọi thời điểm thông qua nền tảng số (nộp đơn khởi kiện, cung cấp chứng cứ trực tuyến...). Người dân còn có thể sử dụng các dịch vụ tra cứu các bản án, hỗ trợ phân tích và dự đoán kết quả tố tụng... từ đó quyết định khởi kiện hoặc không khởi kiện, tránh lãng phí thời gian, công sức và chi phí khi có các khiếu kiện, tranh chấp cần tòa án giải quyết.

Thứ tư, xử lý một cách nhân văn các tình huống đặc biệt của tố tụng. Tòa án điện tử tạo điều kiện cho các đương sự, nhân chứng, luật sư vì nhiều lý do khác nhau như dịch bệnh, bệnh tật, ở xa, khó khăn về kinh tế... không có điều kiện trực tiếp có mặt tại trụ sở tòa án vẫn có thể tham gia phiên tòa. Đặc biệt, với những vụ án xâm hại tình dục trẻ em, sẽ không triệu tập các em đến phòng xử án, toàn bộ việc khai báo của các em sẽ được tiến hành trực tuyến nhằm tránh phải tiếp xúc trực tiếp với bị cáo, bảo đảm bí mật đời tư, tránh cho trẻ em những tổn thương tiếp theo về tâm lý, nhân cách, danh dự.

Thứ năm, công khai, minh bạch hoạt động của tòa án. Công khai, minh bạch là một trong những thuộc tính của xét xử. Tòa án điện tử sẽ hỗ trợ đắc lực việc công khai, minh bạch toàn bộ hoạt động, tiến độ và kết quả xét xử, tạo điều kiện để người dân theo dõi, giám sát quá trình giải quyết vụ án của tòa án. Khẳng định uy tín của tòa án với nhân dân.

Thứ sáu, tăng năng lực quản lý và giám sát trong hệ thống tòa án. Tòa án điện tử sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, chỉ đạo của tòa án nhân dân (TAND) tối cao với toàn hệ thống tòa án, của tòa án cấp trên với tòa án cấp dưới. Đặc biệt góp phần hữu hiệu tăng năng lực giám sát tiến độ thụ lý án trong nội bộ hệ thống tòa án, giúp tăng tính minh bạch, góp phần phòng ngừa tiêu cực. 

Thứ bảy, tiết kiệm cho ngân sách. Tòa án điện tử với việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin (CNTT) sẽ giúp tiết kiệm đáng kể ngân sách. Theo tính toán của các chuyên gia, việc triển khai tòa án điện tử sẽ tiết kiệm từ 10% đến 15% chi phí hoạt động của tòa án. Việc tổ chức trực tuyến đến nhiều điểm cầu các hội nghị, hội thảo, tập huấn chuyên môn sẽ tạo điều kiện mở rộng thành phần tham dự tới thẩm phán, cán bộ tòa án toàn quốc để trao đổi nghiệp vụ, nâng cao trình độ mà không làm phát sinh chí phí đi lại, công tác phí, tiết kiệm thời gian...

2. Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng tòa án điện tử

Xây dựng tòa án điện tử đã trở thành xu thế toàn cầu. Thực tiễn quốc tế cho thấy, nhiều nước chú trọng ứng dụng CNTT vào hoạt động tư pháp từ sớm và đã đạt được những thành tựu lớn trong xây dựng tòa án điện tử (như Mỹ, Ôxtrâylia, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Xinhgapo, Trung Quốc...). Từ cung cấp dịch vụ hành chính tư pháp trực tuyến, tống đạt điện tử, cung cấp và tiếp nhận chứng cứ trực tuyến đến xét xử trực tuyến... đều được các quốc gia này thực hiện một cách thường xuyên và đang dần thay thế hoạt động tố tụng truyền thống. 

Tòa án các nước đã triển khai nhiều phần mềm tố tụng điện tử với tính năng hiện đại để hỗ trợ người dân thực hiện các hoạt động tố tụng trên nền tảng số (từ khâu nộp đơn khởi kiện, cung cấp chứng cứ trực tuyến cho đến khi xét xử xong). Các phần mềm này cũng cho phép người dân giám sát tiến độ giải quyết án của tòa án, qua đó, tăng sự thuận lợi, niềm tin và hài lòng của người dân. Cùng với đó, tòa án các nước triển khai nhiều phần mềm tố tụng thông minh để hỗ trợ tối đa cho Thẩm phán trong quá trình nghiên cứu, xử lý vụ án (như: tự động lập hồ sơ vụ án; tìm kiếm, tra cứu các văn bản pháp luật; tự tạo các văn bản pháp lý; tống đạt các quyết định tố tụng; hỗ trợ xác minh thông tin; hỗ trợ viết bản án...). Ở những nước xây dựng được tòa án điện tử hiện đại đã giúp giảm khoảng 50% thời gian xử lý vụ án. Tòa án các nước cũng tận dụng tối đa thành tựu của CNTT vào phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành; hàng loạt phần mềm quản lý đã được thiết lập và triển khai, qua đó giúp cho công tác quản lý trong toàn hệ thống tòa án được thông suốt, kịp thời và khoa học. Tính năng hiện đại của tòa án điện tử đã được các nước ứng dụng mạnh mẽ vào công tác quản lý nhân sự, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho thẩm phán. Theo đó, toàn bộ thông tin của thẩm phán, cán bộ tòa án từ khi được tuyển dụng, bổ nhiệm, nâng ngạch và trong suốt quá trình công tác được lưu trữ, cập nhật thường xuyên để phục vụ công tác quản lý và đánh giá cán bộ. 

Rõ ràng, ứng dụng CNTT, xây dựng tòa án điện tử đã trở thành nhu cầu và xu thế không thể đảo ngược của tòa án tất cả các nước trên thế giới. Đây cũng là đòi hỏi khách quan của tiến trình phát triển nền tư pháp ở mọi quốc gia trong bối cảnh hiện nay.

3. Định hướng xây dựng tòa án điện tử ở Việt Nam

- Xây dựng tòa án điện tử hướng tới thực thi và nâng cao năng lực quản trị tòa án trên nền tảng số 

Xây dựng tòa án điện tử để thực thi quản trị tòa án trên nền tảng số (hệ thống), qua đó nâng cao hiệu quả quản trị nội bộ tòa án. Ứng dụng công nghệ số, tòa án quản lý những lĩnh vực sau:

Thứ nhất, quản lý hoạt động tố tụng. Mọi hoạt động tố tụng từ khi tiếp nhận đơn khởi kiện, thụ lý hồ sơ vụ án, phân công giải quyết án cho đến khi giải quyết, xét xử xong sẽ được tự động cập nhật trên hệ thống. Hệ thống này không chỉ có tính năng lưu trữ, theo dõi, mà còn kịp thời đưa ra những cảnh báo, nhắc việc giúp thẩm phán và người quản lý tránh nguy cơ vi phạm, sai sót (thí dụ: chưa tống đạt văn bản tố tụng hoặc sắp hết thời hạn tố tụng, vi phạm thời hạn tố tụng...).

Thứ hai, quản lý nhân sự. Mọi thông tin về nhân sự từ khâu tuyển dụng, bổ nhiệm và trong suốt quá trình công tác sẽ được tự động cập nhật trên hệ thống. Xây dựng và ứng dụng các phần mềm giám sát, đánh giá thẩm phán (dựa trên bộ tiêu chí đánh giá chất lượng thẩm phán). Định kỳ 6 tháng hoặc hằng năm, nền tảng giám sát tự động này sẽ đánh giá thẩm phán và gửi thông báo đến lãnh đạo để phục vụ công tác quản lý, điều hành; đồng thời gửi đến từng thẩm phán để biết mình đang được xếp hạng ở mức nào, bị hạ điểm ở những tiêu chí nào và có phương án khắc phục.

Thứ ba, quản lý và lưu trữ hồ sơ. Toàn bộ hồ sơ gốc sẽ được quản lý và lưu trữ trên cơ sở dữ liệu lớn của nền tảng số, trước mắt ưu tiên số hóa hồ sơ tố tụng. Việc cập nhật thường xuyên hồ sơ lưu trữ trên nền tảng số sẽ giúp lưu giữ hồ sơ nguyên vẹn, lâu dài, tiết kiệm nhân lực, vật lực, đóng vai trò quyết định trong công tác quản lý, sử dụng, phân tích và dự báo sử dụng công nghệ AI.

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. CNTT cho phép tổ chức trực tuyến các hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo, bồi dưỡng trong hệ thống tòa án, vừa giúp mở rộng thành phần tham dự, vừa tiết kiệm thời gian, chi phí. Khối lượng tri thức đồ sộ lưu trữ trong tòa án điện tử cũng là nguồn tư liệu quý giá cho việc tự đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý của cán bộ tòa án. Công tác đào tạo có thể được thực hiện trên nền tảng đào tạo số, bảo đảm các tiêu chí năng suất - chất lượng - hiệu quả trên quy mô toàn quốc cho toàn bộ cán bộ và sinh viên hệ thống tòa án.

Thứ năm, phục vụ công tác thống kê. Ứng dụng công nghệ số để phục vụ báo cáo định kỳ và đột xuất, phân tích và xử lý dữ liệu thống kê nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý. Quá trình chuyển đổi số sẽ hình thành các kho dữ liệu lớn của TAND, phục vụ cho việc tổng kết thực tiễn xét xử, phát hiện những lỗ hổng pháp lý, các vi phạm phổ biến, quy luật hoạt động của tội phạm, đánh giá hiệu quả công tác phòng chống vi phạm và tội phạm, vừa giúp tiết kiệm thời gian, nhân lực và đem lại hiệu quả rất lớn.

Thứ sáu, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính trong hệ thống tòa án, nhằm quản lý chặt chẽ, đúng quy định pháp luật, phát huy hiệu quả sử dụng, tránh lãng phí hoặc thất thoát.

- Xây dựng tòa án điện tử, cung cấp các dịch vụ tư pháp công để phục vụ người dân tốt hơn

Một trong những mục tiêu quan trọng của tòa án điện tử là hướng tới phục vụ người dân, cung ứng cho nhân dân các dịch vụ tư pháp công hiện đại, thuận lợi và tiết kiệm; đặc biệt là các loại dịch vụ công sau:

Thứ nhất, gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và thực hiện cấp, tống đạt, thông báo văn bản của tòa án thông qua phương tiện điện tử. Sau khi hoàn thành việc nộp hồ sơ, hệ thống sẽ cung cấp mã số tiếp nhận để người dân, doanh nghiệp dễ dàng theo dõi quá trình thụ lý, giải quyết của tòa án. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản của tòa án có thể thực hiện thông qua thiết bị điện tử cá nhân như điện thoại, máy tính... một cách nhanh chóng và tiện lợi.

Thứ hai, đăng ký trực tuyến cấp sao bản án và tài liệu trong hồ sơ vụ án. Theo đó, các cơ quan, tổ chức, người dân không cần phải đến trụ sở tòa án mà có thể đăng ký đề nghị cấp sao bản án và tài liệu trong hồ sơ vụ án ở bất kỳ thời gian, địa điểm nào. 

Thứ ba, nộp án phí, lệ phí, tiền phạt trực tuyến. Thông qua hệ thống này, người tham gia tố tụng có thể nộp án phí, lệ phí, tiền phạt trực tuyến theo quy định của pháp luật hoặc quyết định trong các bản án mà không cần đến kho bạc nhà nước.

Thứ tư, tra cứu các thông tin về vụ án như thông báo thụ lý vụ án, vụ việc; quyết định phân công thẩm phán thụ lý; lịch mở phiên tòa, phiên họp; tiến trình tố tụng và các thông tin khác.

Thứ năm, cung cấp các bản án đã được xét xử để người dân tham khảo, phân tích các tình huống pháp lý tương tự từ đó đưa ra các quyết định tư pháp, đoán định tư pháp sáng suốt, đúng pháp luật. Trên cơ sở đó, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân như quyền khởi kiện, kháng cáo, tố cáo... tham gia hữu hiệu vào hoạt động giám sát tư pháp.

Thứ sáu, cung ứng dịch vụ tư vấn pháp lý. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo để xây dựng “Nhà tư vấn ảo” giúp nhân dân tra cứu hệ thống pháp luật, giải đáp các câu hỏi về quy trình, thủ tục giải quyết án. Tiếp tục phát triển các dịch vụ công trực truyến khác của tòa án và triển khai mở rộng các kênh tương tác trực tuyến để người dân tham gia, giám sát hoạt động giải quyết, xét xử của tòa án và gửi ý kiến phản hồi cho tòa án.

- Xây dựng tòa án điện tử hỗ trợ thẩm phán nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động

Xây dựng tòa án điện tử ứng dụng mạnh mẽ CNTT, trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ thẩm phán giải quyết án chính xác và giảm bớt áp lực công việc. Xét cho cùng, chất lượng của tòa án do chính các thẩm phán quyết định, nên yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động của thẩm phán là nhiệm vụ rất quan trọng. Hiện nay, TAND tối cao đã đưa vào sử dụng “trợ lý ảo” cung cấp các dịch vụ thông minh hỗ trợ thẩm phán. Trợ lý ảo đóng vai trò như một thư ký riêng, được lập trình am hiểu pháp luật và chuyên môn nghiệp vụ của tòa án, làm việc 24/7 và luôn bên cạnh thẩm phán, giao tiếp với thẩm phán bằng ngôn ngữ nói hoặc chữ viết thông qua điện thoại di động, máy tính cá nhân nên nhanh chóng, tiện ích. Trợ lý ảo được kỳ vọng là điểm sáng của nền tư pháp trong thời đại 4.0 và là công cụ giúp việc đắc lực cho thẩm phán. Trợ lý ảo hỗ trợ thẩm phán thông qua các tính năng:

Thứ nhất, giới thiệu hệ thống pháp luật có liên quan để giải quyết vụ án. Theo đó, trợ lý ảo giới thiệu các luật, pháp lệnh, thông tư, nghị định... chính xác đến từng điều, khoản của văn bản pháp quy và thời điểm có hiệu lực của văn bản phù hợp với thời gian xảy ra vụ án.

Thứ hai, giới thiệu các tình huống pháp lý tương tự đã được hội đồng thẩm phán TAND tối cao tổng kết thực tiễn xét xử và đưa ra câu trả lời.

Thứ ba, giới thiệu các án lệ liên quan.

Thứ tư, giới thiệu các bản án tương tự đã có hiệu lực pháp luật. Các bản án được giới thiệu để tham khảo theo thứ tự ưu tiên: án giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, án giám đốc thẩm của 3 TAND cấp cao, các bản án khác.

Thứ năm, hỗ trợ lập kế hoạch giải quyết án, tạo lập và quản lý hồ sơ án điện tử, số hóa và sắp xếp hồ sơ theo từng loại tài liệu của vụ án để thuận tiện nghiên cứu; hỗ trợ quản lý công việc, đưa ra các cảnh báo, thông báo, nhắc việc.

Thứ sáu, tự động tạo các tài liệu pháp lý mẫu theo quy định của pháp luật tố tụng (như giấy triệu tập, quyết định tạm giam, quyết định đưa vụ án ra xét xử...), hỗ trợ viết một phần nội dung bản án, qua đó giúp giảm 30% khối lượng công việc so với thao tác truyền thống.

Thứ bảy, hỗ trợ phân tích dữ liệu, xác minh thông tin và phát hiện các sai sót trong các bản án, quyết định của tòa án. Hệ thống này phân tích sâu thông tin vụ án, tham chiếu chéo và kiểm tra các thông tin vụ án, hỗ trợ kiểm tra chứng cứ; phát hiện các yêu cầu tố tụng bị bỏ sót; phát hiện các lỗi trích dẫn điều luật; phân tích bản án và sửa lỗi kỹ thuật; phát hiện các lỗi về mặt logic trong văn bản mà bằng trực quan khó phát hiện được.

Thứ tám, ở giai đoạn phát triển tiếp theo, trợ lý ảo có khả năng phân tích, suy luận và đưa ra các gợi ý đoán định pháp luật tương đối chính xác, hỗ trợ thẩm phán ra quyết định nhanh chóng và thống nhất trên toàn quốc.

Thứ chín, mã hóa, đăng tải bản án, quyết định lên cổng thông tin điện tử của tòa án và nhiều tính năng khác.

- Xây dựng tòa án điện tử để triển khai các hoạt động tố tụng trực tuyến

Cốt lõi của việc xây dựng tòa án điện tử chính là chuyển đổi số các hoạt động tố tụng để hình thành một phương thức tố tụng mới trên nền tảng số. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho thấy, một số nước có nền tư pháp phát triển và công nghệ hiện đại đã ban hành đạo luật về tố tụng điện tử (Pháp, Đức, Mỹ...) và triển khai nhiều hoạt động tố tụng trên nền tảng số (từ khi thụ lý vụ án đến khi hoàn thành xét xử). 

Ở nước ta, các luật về tố tụng đã có một số quy định về tố tụng điện tử, tố tụng trực tuyến trong giai đoạn xét xử. Đặc biệt, tại Kỳ họp thứ hai vừa qua, trên cơ sở đề xuất của TAND tối cao, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết cho phép xét xử theo hình thức trực tuyến. Tuy vậy, chừng đó những quy định là chưa đủ và chưa khai thác hết tiềm năng của CNTT trong hoạt động tư pháp. Những hoạt động tố tụng có thể tiến hành trực tuyến là:

- Nộp đơn khởi kiện, cung cấp chứng cứ, khai báo trực tuyến.

- Nộp án phí, lệ phí, tiền phạt vi phạm trực tuyến.

- Tổ chức trực tuyến các phiên hòa giải trong vụ án dân sự và đối thoại trong vụ án hành chính.

- Xét xử trực tuyến sơ thẩm và phúc thẩm các vụ án hình sự, dân sự, hành chính.

- Tổ chức trực tuyến các phiên họp để giải quyết các việc dân sự (như các yêu cầu về công nhận cha mẹ cho con, hạn chế quyền của cha mẹ với con cái, chấm dứt việc nuôi con nuôi...).

- Sao chụp hồ sơ, tài liệu tố tụng và tống đạt, thông báo trực tuyến các văn bản tố tụng.

- Tiến hành trực tuyến các hoạt động tố tụng khác.

- Xây dựng tòa án điện tử góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của tòa án

Công khai là thuộc tính của hoạt động xét xử, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, là phương thức hữu hiệu để kiểm soát quyền lực, đồng thời là cơ chế đề cao trách nhiệm của thẩm phán trong thực thi quyền tư pháp. Với ý nghĩa như vậy, công khai trong hoạt động của tòa án là nguyên tắc căn cốt đã được quy định trong Hiến pháp. Theo đó, pháp luật quy định mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa; Thông tư của Chánh án TAND tối cao về phòng xử án còn có các quy định cụ thể tạo điều kiện cho cơ quan truyền thông tham dự và đưa tin về phiên tòa, đây là quy định không phải nước nào cũng có. Tòa án điện tử cho phép tăng cường hơn nữa tính công khai, minh bạch của hoạt động tòa án. Trên nền tảng số, tòa án phải phấn đấu thực hiện tốt 7 nội dung công khai sau:

Thứ nhất, công khai hệ thống pháp luật, các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao, các án lệ, các văn bản hướng dẫn, các giải đáp pháp luật. Qua đó, giúp người dân, các giảng viên, sinh viên luật, các nhà nghiên cứu... nhanh chóng và thuận lợi tra cứu, tìm kiếm văn bản. 

Thứ hai, công khai việc phân công cán bộ thụ lý án. Qua đó, vừa tạo cơ chế giám sát bên trong việc phân công án trong nội bộ hệ thống tòa án; vừa giúp các đương sự và những người tham gia tố tụng giám sát từ bên ngoài, đồng thời thuận tiện khi thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ (như đề nghị, kiến nghị, cung cấp bổ sung chứng cứ...).

Thứ ba, công khai tiến độ thụ lý và giải quyết án. Qua đó, tạo điều kiện để người dân và lãnh đạo tòa án giám sát, buộc mỗi thẩm phán nỗ lực để hoàn thành việc giải quyết án đúng thời hạn luật định.

Thứ tư, công khai quá trình xét xử tại phiên tòa (trừ những trường hợp pháp luật quy định cấm công khai), qua đó để người dân theo dõi và góp phần phổ biến, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật.

Thứ năm, công khai kết quả xét xử. Theo đó, công khai các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để người dân giám sát, tham khảo. Việc công khai bản án, quyết định của tòa án đã đề cao trách nhiệm của mỗi thẩm phán từ đó phải nâng cao chất lượng xét xử và chất lượng xây dựng bản án.

Thứ sáu, công khai quá trình và kết quả thi hành án. Qua đó, tạo điều kiện để người dân và xã hội giám sát quá trình thi hành án, bảo đảm công lý được thực thi đến cùng.

Thứ bảy, công khai quá trình và kết quả xét miễn, giảm án. Theo đó, toàn bộ quá trình và kết quả xét miễn, giảm án, tạm đình chỉ thi hành án, hoãn thi hành án, tha tù trước thời hạn có điều kiện đều được công khai trên nền tảng số để người dân giám sát.

- Xây dựng tòa án điện tử để kết nối với các nền tảng số khác

Xây dựng tòa án điện tử còn hướng đến kết nối với các nền tảng số của quốc gia và các bộ ngành khác như Cổng dịch vụ công quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thống kê, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao... Việc kết nối giữa các nền tảng số cho phép tòa án khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ tốt hơn nhiệm vụ của mình, đồng thời chia sẻ, phát huy tối đa hữu ích cơ sở dữ liệu của TAND phục vụ cho tiến trình xây dựng xã hội số, kinh tế số, nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành, quản trị quốc gia.

4. Một số nhiệm vụ cần triển khai thời gian tới

Để xây dựng thành công tòa án điện tử cần có nhận thức đúng, quyết tâm cao, giải pháp đồng bộ, nguồn lực cần thiết, điều hành quyết liệt. Trước mắt, phải thực hiện 05 nhiệm vụ chính sau đây:

- Xây dựng Chiến lược tổng thể về chuyển đổi số trong hệ thống tòa án 

Đảng, Nhà nước ta chủ trương tăng cường, phát triển khoa học công nghệ và xem đây là một động lực tăng trưởng quan trọng. Trong Chiến lược phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số(1). Đây là cơ sở chính trị quan trọng để xây dựng tòa án điện tử. Trong tiến trình hội nhập quốc tế, TAND tối cao Việt Nam cũng đã cam kết hoàn tất việc xây dựng và vận hành tòa án điện tử vào năm 2025. Vì vậy, TAND tối cao phải khẩn trương xây dựng và triển khai Chiến lược tổng thể về chuyển đổi số trong hệ thống tòa án đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

 Chiến lược phải đặt ra các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể, phải tạo ra nhận thức đầy đủ trong hệ thống tòa án về tầm quan trọng của chuyển đổi số và xây dựng tòa án điện tử. Đây vừa là xu thế tất yếu của dòng chảy số quốc gia, vừa là cơ hội để phát triển tòa án. Chiến lược này phải xác định rõ những định hướng chính để xây dựng tòa án điện tử và những nhiệm vụ cần tập trung triển khai trong thời gian tới; xác định lộ trình và bước đi phù hợp với từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện kinh tế, trình độ công nghệ... Do công nghệ phát triển, thay đổi nhanh chóng hằng ngày, nên việc xây dựng Chiến lược tổng thể về chuyển đổi số phải có tầm nhìn dài hạn, linh hoạt thích ứng để đi tắt, đón đầu, vượt lên về công nghệ, tiết kiệm chi phí và thời gian.

- Hoàn thiện các quy định pháp luật

Vận hành tòa án điện tử phải có hệ thống pháp luật hoàn thiện, đồng bộ, thích ứng với công nghệ số. Hạ tầng pháp lý chính yếu của tòa án điện tử bao gồm: (1) Pháp luật về tố tụng điện tử; (2) Pháp luật về công nghệ thông tin, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo; (3) Pháp luật về tổ chức bộ máy của TAND và các cơ quan tiến hành tố tụng. Ngoài ra còn những đạo luật liên quan khác.

Hệ thống pháp luật nêu trên được hoàn thiện theo hướng cho phép tiến hành các hoạt động tố tụng trực tuyến; quy định về chứng cứ điện tử; cơ sở khoa học và tính pháp lý của các phần mềm phục hồi chứng cứ điện tử; an ninh an toàn mạng; tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tiến hành tố tụng điện tử; vai trò, quyền tham gia tố tụng của các kỹ sư công nghệ thông tin...

- Phát triển hạ tầng số hiện đại

Hạ tầng CNTT, công nghệ số đóng vai trò quan trọng trong phát triển tòa án điện tử. TAND tối cao cần xây dựng đề án trang bị cơ sở vật chất cho tòa án điện tử. Nội dung chủ yếu của đề án nhằm trang bị: (1) Hạ tầng kỹ thuật số, bao gồm các thiết bị số đầu cuối, đường truyền tốc độ cao ổn định, trung tâm lưu trữ dữ liệu lớn và trung tâm điều hành; (2) Các nền tảng số vận hành tòa án và trợ lý ảo ứng dụng  trí tuệ nhân tạo tương ứng với từng nhiệm vụ hoạt động của tòa án; (3) Chương trình đào tạo cho quản lý, vận hành và ứng dụng tòa án điện tử.

Đây là một đề án cần đầu tư thỏa đáng về kinh phí nên (1) Cần phải có lộ trình thích hợp cho cả trước mắt, cả trung hạn và dài hạn, tùy thuộc vào tiềm năng của nền kinh tế và trình độ phát triển của công nghệ; (2) Huy động đa dạng các nguồn lực, từ ngân sách nhà nước, từ hợp tác quốc tế và cả từ xã hội hóa; (3) Đầu tư thiết bị công nghệ phải bảo đảm các yêu cầu: hiện đại, an ninh an toàn, tiện lợi và cân nhắc đi tắt đón đầu.

- Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin

Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của chuyển đổi số và xây dựng tòa án điện tử. Phát triển nguồn nhân lực để tòa án điện tử thực thi trong thực tiễn phải đồng bộ cả nhân lực quản lý, vận hành và ứng dụng công nghệ số. Theo đó, bao gồm: (1) Đội ngũ kỹ sư CNTT, công nghệ số; (2) Đội ngũ thẩm phán, các chức danh tư pháp và nhân viên tòa án các cấp; (3) Người dân khi có việc cần tòa án giải quyết.

Các kỹ sư CNTT phải vừa có kiến thức cập nhật về công nghệ số, vừa hiểu biết pháp luật và hoạt động của tòa án. Cần phải hình thành tổ chức bộ máy từ TAND tối cao đến các TAND cấp tỉnh để vận hành hệ thống công nghệ số. Chế độ đãi ngộ hiện tại đang là điểm nghẽn để thu hút nguồn nhân lực này. Tuy vậy, rất cần thiết phải đổi mới và có cơ chế phù hợp. Thẩm phán, cán bộ tòa án phải được đào tạo lại để nhận thức đầy đủ về tòa án điện tử và thay đổi thói quen làm việc từ môi trường truyền thống chuyển sang làm việc trên không gian mạng. Nền tảng số của tòa án điện tử phải trở thành nền tảng làm việc chung của toàn hệ thống gần 800 tòa án; cán bộ tòa án không vào nền tảng này sẽ không làm việc được. Chỉ có như vậy tòa án điện tử mới thực sự thành công.

- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế

Đến nay, nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đã có những bước tiến dài trong xây dựng tòa án điện tử. Thời gian qua, tòa án Việt Nam đã tích cực triển khai nhiệm vụ xây dựng tòa án điện tử và đã đạt được một số kết quả bước đầu, song vẫn còn khiêm tốn. Hợp tác quốc tế là con đường ngắn nhất để xây dựng tòa án điện tử, cho phép tiếp cận ngay với các thành tựu tiên tiến của công nghệ số trên thế giới cũng như việc ứng dụng trong tòa án. Qua đó, không tốn kém về thời gian, công sức, kinh phí để tìm tòi, nghiên cứu, đồng thời khắc phục được những bất cập, hạn chế khi thực hiện. Hợp tác quốc tế còn tranh thủ được các nguồn lực tài chính cho xây dựng tòa án điện tử. Hợp tác với những nước đã xây dựng được tòa án điện tử hiện đại sẽ chia sẻ được kinh nghiệm, đồng thời tiến tới kết nối hạ tầng số để “thu hẹp khoảng cách số” giữa các nền tư pháp, sớm về đích nhiệm vụ xây dựng tòa án điện tử và chuyển đổi số trong hệ thống tòa án. 

Đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số và hoàn thành việc xây dựng tòa án điện tử phải trở thành khát vọng của toàn hệ thống tòa án và của từng cán bộ, thẩm phán. Đây là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay cần cụ thể hóa để quyết liệt hoàn thành sớm. Đây là cơ hội để tòa án tiếp tục nâng cao niềm tin công lý của người dân, nâng cao hiệu quả hoạt động của tòa án và xây dựng tòa án hiện đại như yêu cầu tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Nhất định công cuộc chuyển đổi số và xây dựng tòa án điện tử sẽ tạo ra những giá trị lớn lao, đóng góp quan trọng vào thành công của sự nghiệp cải cách tư pháp nước nhà, bắt kịp với xu hướng của tư pháp tiến bộ trên thế giới.

_________________

(1) Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27-9-2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.