Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

Lợi dụng diễn biến hai vụ án “nóng” để xuyên tạc, bôi nhọ thể chế

 Những ngày cuối tháng 3, cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra hai vụ án hình sự liên quan đến những cá nhân nổi tiếng cả về kinh tế và sự ảnh hưởng trong đời sống xã hội, dư luận đặc biệt quan tâm.

Cụ thể, ngày 29/3, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Tập đoàn FLC.

Trước đó, ngày 24/3, Cơ quan CSĐT Công an TP Hồ Chí Minh đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, quy định tại Điều 331, BLHS, đồng thời khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, SN 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam, về hành vi nêu trên.

Đây là hai cá nhân nổi tiếng trước hết đến từ sự giàu có và các hoạt động kinh doanh trên thương trường. Với bị can Trịnh Văn Quyết, ngoài danh tiếng Tập đoàn FLC mà ông với vai trò Chủ tịch HĐQT thì khối tài sản đồ sộ của cá nhân thuộc top đầu cả nước, trong đó đỉnh điểm năm 2016, thị trường chứng khoán Việt Nam diễn ra sự kiện hoán đổi vị trí người giàu nhất Việt Nam và ông Trịnh Văn Quyết vươn lên dẫn đầu (thời điểm đó, khối tài sản của ông Quyết vào khoảng 34.000 tỉ đồng đến từ 289,6 triệu cổ phiếu ROS (tương đương 67,34% cổ phần FLC Faros) và 114,2 triệu cổ phiếu FLC (tương đương 17,9% cổ phần), chưa kể khối tài sản động sản, bất động sản ở các vùng miền.

Với bà Nguyễn Phương Hằng, Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc điều hành CTCP Đại Nam cũng sở hữu khối tài sản rất lớn và bà từng tiết lộ qua livestream: “Nếu nói về tài sản thì 500, 700 triệu đô đến 1 tỷ đô tôi có... Mỗi lần tôi xuất hiện sẽ có một bộ trang sức khác. Kim cương của tôi lên đến hàng ký… Tôi đi những chiếc xe 40, 50 chục tỷ, có đến vài chiếc là chuyện bình thường. Tôi ở bao nhiêu căn nhà mặt tiền, sổ đỏ tôi cân ký”…

Sau khi hai cá nhân trên bị khởi tố, bắt tạm giam, trên nhiều trang mạng hải ngoại, các tổ chức và cá nhân chống phá đã đặt ra những câu hỏi nhằm đánh tráo bản chất, hướng lái vụ án sang chiều hướng tiêu cực. Thủ đoạn của các đối tượng là:

Thứ nhất, xuyên tạc việc khởi tố, điều tra các bị can trên là “nhắm vào giới doanh nhân, giới siêu giàu”. Trang Việt Tân rêu rao “Chiến dịch đánh tư sản bắt đầu”, từ đó suy diễn: “Nhiều tỷ phú lần lượt bị bắt giam, một số khác đang được dự đoán sẽ xộ khám trong thời gian tới. Trong bối cảnh kinh tế đất nước đang lâm vào cảnh khánh kiệt, nhiều đồn đoán về chiến dịch đánh tư sản tại Việt Nam”!

Nguy hiểm hơn, bài viết bịa ra chuyện Nhà nước “khánh kiệt” tài sản sau đại dịch COVID-19, nói rằng trong 3 năm tới phải trả 1,2 triệu tỷ nợ công nên “đó là lý do giới nhà giàu lên thớt”! Từ việc đưa ra những lời lẽ trên, bài viết nhắm vào việc thu hút các bình luận chỉ trích Đảng, Nhà nước, cho rằng đang có chủ trương “đánh” vào doanh nhân, tập đoàn, công ty tư nhân để “răn đe” và “cướp vốn”. Đây là kiểu xuyên tạc nguy hiểm, cố tình đánh tráo bản chất vụ án, hướng lái sang vấn đề chính trị, từ đó kích động chống phá.

Thứ hai, các đối tượng bịa ra chuyện “đang có đấu đá quyền lực”, cho rằng những cá nhân bị khởi tố là các quân bài bị đưa ra mổ xẻ. Trong một bài viết có tên “Những con mồi của Đảng không thể bỏ qua” đăng trên trang Việt Tân, người viết đã tráo trở biến việc khởi tố các bị can thành “hai đại gia về bất động sản Nguyễn Phương Hằng và Trịnh Văn Quyết đã trở thành miếng mồi ngon của những thế lực đang đấu đá với nhau”, từ đó miệt thị “sống dưới chế độ độc tài cộng sản hiện nay, những đại gia, tài phiệt hoặc người giàu có tài sản đều là những người nằm trong tầm ngắm của các lãnh đạo Đảng Cộng sản, cho dù họ làm ăn chân chính cũng không thoát khỏi”! Một số bình luận cũng cổ suý cho luận điệu này, quy kết việc khởi tố, bắt tạm giam các bị can là “có ý đồ chính trị” để hướng lái, xuyên tạc vụ án hình sự sang “nghi vấn đấu đá nội bộ”.

Thứ ba, các đối tượng tiếp tục chỉ trích tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, quy định tại Điều 331, BLHS, từ đó xuyên tạc rằng việc khởi tố, bắt tạm giam bị can Nguyễn Phương Hằng là tuỳ tiện, bóp nghẹt dân chủ. Một số bài viết xâu chuỗi những vụ án trước đây cùng tội danh này để đưa ra bức tranh xám về tự do, dân chủ ở Việt Nam, cho rằng Điều 331-BLHS “chỉ nhằm phục vụ đảng”, bỏ tù những ai “đảng không thích”.

Thứ tư, từ việc đưa ra những nghi vấn thiếu cơ sở để suy diễn, chỉ trích cơ quan tiến hành tố tụng, chỉ trích Đảng, Nhà nước. Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với bị can Trịnh Văn Quyết về hành vi thao túng thị trường chứng khoán. Theo cơ quan điều tra, ông Quyết bị khởi tố, bắt giam để làm rõ những sai phạm liên quan đến việc bán “chui” 74,8 triệu cổ phiếu FLC trước đó. Cũng liên quan đến vụ bán “chui” cổ phiếu này, ông Quyết đã bị phạt hành chính 1,5 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động chứng khoán 5 tháng bởi quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “không báo cáo về giao dịch dự kiến” từ Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Về vụ việc này, có người đặt câu hỏi: Vì sao UBCKNN đã ra quyết định xử phạt ông Trịnh Văn Quyết 1,5 tỷ đồng và đình chỉ hoạt động chứng khoán 5 tháng nhưng vẫn bị khởi tố? Từ đó cho rằng, một hành vi vừa xử lý hành chính lại xử lý hình sự là thể hiện sự “lộng quyền”, hình sự hoá vấn đề hành chính. Qua đó, suy diễn vụ án là bị đẩy lên hình sự để phục vụ mục đích, ý đồ khác!

Luận điệu trên có thể khiến những người thiếu hiểu biết bị các đối tượng đánh lạc hướng, cho rằng đang có khuất tất phía sau vụ án, cơ quan CSĐT phạm luật. Thực tế, vấn đề này đã được Cơ quan CSĐT Bộ Công an giải thích rõ. Thiếu tướng Lê Văn Tân, Phó Chánh Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an cho biết, tháng 1/2022, ông Quyết bị xử phạt hành chính về hành vi không báo cáo, không công bố thông tin trước khi thực hiện giao dịch theo Nghị định 128/2020/NĐ-CP về xử phạt trong lĩnh vực chứng khoán.

Sau khi vào cuộc xác minh, điều tra, cơ quan chức năng phát hiện trong vụ việc bán chui cổ phiếu ngày 10/1/2022, ông Quyết đã có nhiều thủ đoạn, mánh khóe tinh vi để tạo cung, cầu giả, đẩy giá cổ phiếu nhằm thu lời bất chính số tiền từ 500 triệu đồng trở lên. Do đó, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố về hành vi thao túng thị trường chứng khoán.

“Trong trường hợp cơ quan chức năng đã xử phạt hành chính mà sau đó xác định hành vi vi phạm đủ cấu thành tội phạm, phải xử lý hình sự thì cơ quan điều tra sẽ khởi tố để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Theo đó, sau khi bị khởi tố, điều tra thì toàn bộ quyết định xử phạt hành chính trước đây đều không có hiệu lực” – Thiếu tướng Lê Văn Tân nêu rõ.

Theo CQĐT, hành vi thao túng thị trường chứng khoán của ông Quyết tác động tiêu cực tới thị trường và gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư. Ngoài ông Quyết đã bị khởi tố, bắt tạm giam, hiện nay, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đang tích cực điều tra những cá nhân giúp sức tích cực để bị can thực hiện hành vi vi phạm. Trong quá trình xác minh điều tra, cơ quan Công an sẽ xem xét, làm rõ mục đích, vai trò của từng người để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Nếu những người đó thực hiện hành vi dưới danh nghĩa công ty (pháp nhân) nhằm trục lợi bất chính cho đơn vị thì tùy theo mức độ thiệt hại gây ra cho nhà đầu tư và số tiền thu lợi bất chính, pháp nhân này có thể bị phạt tiền từ 2- 10 tỷ đồng.

Trường hợp người thực hiện hành vi dưới danh nghĩa cá nhân, tiếp tay làm lũng đoạn thị trường nhằm tư lợi bất chính, gây thiệt hại cho nhà đầu tư, nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm sẽ bị xử lý hình sự. Ngoài ra, những đối tượng này còn phải bồi thường dân sự cho những nhà đầu tư bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Như vậy, không có chuyện một hành vi “thích thì xử lý hành chính, không thích thì hình sự hoá” và không phải một hành vi bị xử lý cả hành chính lẫn hình sự. Lý giải này đã được Cơ quan CSĐT giải thích rõ nhưng một số đối tượng vẫn tỏ ra “không biết” để tìm cách bôi nhọ, chỉ trích.

Ở đây, chúng ta cần thấy rằng, hai vụ án trên dư luận đặc biệt quan tâm vì chủ thể tội phạm là những cá nhân có vị thế kinh tế giàu có cùng những ảnh hưởng trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, tính chất đó của chủ thể tội phạm không làm thay đổi bản chất vụ án. Việc khởi tố, điều tra là căn cứ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có các hành vi phạm vào tội danh quy định trong BLHS, như với ông Quyết là sai phạm về hoạt động chứng khoán, với bà Hằng là sai phạm về lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Sai phạm đó đủ yếu tố cấu thành tội phạm và cơ quan CSĐT khởi tố để điều tra, làm rõ. Không thể viện bất cứ lý do nào để hướng lái vụ án sang vấn đề chính trị, không thể lấy lý do bị can là những doanh nhân giàu có để xuyên tạc thành “chiến dịch đánh tư sản”, “tấn công vào kinh tế tư nhân”. Mọi bị can khi bị khởi tố, điều tra đều căn cứ vào hành vi, khách thể bị xâm hại, các yếu tố lỗi, không có bất cứ lý do nào để ngụy biện thành việc phân biệt kinh tế tư nhân với các thành phần kinh tế khác.

Mọi thành phần kinh tế đều được tạo điều kiện phát triển, trong đó kinh tế tư nhân đã được Đảng ta xác định “thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế”. Đây là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng vừa thúc đẩy kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển, vừa phát huy vai trò của thành phần kinh tế này trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng. Những thành công đạt được của Tập đoàn FLC cũng như vai trò cá nhân của ông Trịnh Văn Quyết có được là nhờ chủ trương nhất quán đó của Đảng, được tạo điều kiện để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, tất cả đều có hành lang pháp lý điều chỉnh, hành vi nào xâm phạm vào quy định của pháp luật hình sự, gây nguy hiểm cho xã hội thì sẽ bị điều tra, xử lý theo quy định và việc xử lý không phân biệt chủ thể phạm pháp thuộc thành phần kinh tế nào, dù là tỷ phú, triệu phú hay ở các tầng lớp khác. Do đó, không thể bôi nhọ rồi xuyên tạc, đánh lận bản chất vụ án.

Giữ gìn nhân phẩm, danh dự người đảng viên

 

Giữ gìn nhân phẩm, danh dự người đảng viên

Trong các mối quan hệ xã hội, nhân phẩm và danh dự là hai yếu tố tạo nên giá trị, cốt cách của mỗi người. Nhân phẩm, danh dự, uy tín không bỗng dưng hoặc trong một chốc lát có được, mà phải trải qua quá trình tu dưỡng, rèn luyện, dày công vun đắp, được thử thách qua thực tiễn cuộc sống hằng ngày. Với đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng, nhân phẩm, danh dự và uy tín “là điều thiêng liêng, cao quý nhất” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh. Ấy thế nhưng thời gian qua, nhiều người đã tự mình tước bỏ những điều thiêng liêng, cao quý ấy.

1. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XI đến nay, liên tục hơn một thập kỷ qua, toàn Đảng, toàn dân ta được chứng kiến những bước tiến vượt bậc, thành quả to lớn với thay đổi về chất trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, việc Đảng ta quyết tâm đương đầu chống “giặc nội xâm”-nạn tham nhũng-một cách quyết liệt, triệt để được các chuyên gia ví như một cuộc đại chỉnh đốn chưa từng có trong lịch sử xây dựng, phát triển của Đảng ta.

Đặc biệt, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, Trung ương đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để tiếp tục khẳng định quyết tâm làm trong sạch đội ngũ. Trong đó, để tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; không cho lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, Trung ương đã ban hành Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 về những điều đảng viên không được làm. 

Mặc dù vậy, nhìn vào những vụ việc vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước của cán bộ, đảng viên bị phát hiện, xử lý chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay khiến nhiều người chưa thể yên tâm. Nhất là suốt hơn hai năm qua, trong khi cả nước đang gồng mình vượt qua đại dịch, lại có không ít trường hợp cán bộ, đảng viên đã bất chấp liêm sỉ, bất chấp luật pháp và đạo đức xã hội để trục lợi, khiến dư luận xã hội dè bỉu, phẫn nộ. 

2. Chúng ta biết rằng, có không ít trường hợp cán bộ, đảng viên lúc đương chức, khi phát biểu trong hội nghị, trả lời báo chí thì tỏ ra mình liêm khiết, chí công vô tư để đánh bóng uy tín, tên tuổi. Thế nhưng khi tay đã “vấy bẩn” thì những lời phát biểu ấy càng trở nên lố bịch, làm trò cười cho dư luận. Sự nghiệp chính trị, danh dự, uy tín mà biết bao nỗ lực, phấn đấu bền bỉ không dễ gì có được cũng theo đó mà lụi tàn. Thậm chí, những cán bộ, đảng viên “hai mặt” ấy còn làm xói mòn nghiêm trọng niềm tin nơi quần chúng vào Đảng, bởi họ đều là những người đã từng một thời được quần chúng hết mực tin yêu. Niềm tin là thứ không dễ gì có được, nhưng một khi đã đánh mất niềm tin nơi quần chúng thì cũng không dễ gì lấy lại được. 

Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Người khẳng định: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn mỗi đảng viên không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho đất nước hoàn toàn độc lập, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Phải biết đặt lợi ích của dân tộc, của giai cấp lên trên lợi ích cá nhân, vững vàng trước mọi khó khăn, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Người chỉ rõ, mỗi đảng viên phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nếu để cho chủ nghĩa cá nhân ám ảnh, chi phối, người đảng viên sẽ mất dần tư cách, đi tới tự tước bỏ danh hiệu cao quý của mình. Vì vậy, muốn giữ được tư cách, đảng viên nhất thiết “phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu... sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải”.

Những chỉ dạy của Người vẫn còn nguyên giá trị. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của một người không phải bỗng dưng mà có được, không thể mua được bằng tiền bạc hay địa vị mà “do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố"... Ngày hôm qua anh là người tốt, có ích cho xã hội, nhưng nếu không thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện thì chưa hẳn hôm nay anh còn là người tốt, thậm chí còn gây tổn hại cho uy tín, thanh danh của tổ chức, gây họa cho xã hội... Thực tế cho thấy, trong giai đoạn 2013-2020, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131.000 đảng viên, có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực. Không chỉ bị kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước trừng trị thích đáng mà hơn cả là tòa án lương tâm, dư luận lên án, bị “xã hội tiến bộ sa thải”. Cái mất lớn nhất vẫn là phẩm giá, thanh danh, bởi một khi đã bị vấy bẩn thì không dễ gì gột rửa.

3. Danh dự làm nên phẩm hạnh con người, là thước đo giá trị của mỗi người trong xã hội. Với một người bình thường, danh dự đã là cao quý. Là cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, quản lý, danh dự càng cao quý, thiêng liêng. Bác Hồ vẫn thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn giữ gìn, bồi đắp đạo đức, nhân cách. Người căn dặn: "Hạnh dục phương", nghĩa là đức hạnh, đạo đức phải vuông vắn, ngay thẳng, không làm điều gì khuất tất. Phải tránh xa những thói xấu “lười biếng, gian giảo, tham ô”. Phải biết sống “ngay thẳng, không có việc gì phải giấu Đảng”, “không tham địa vị. Không tham tiền tài”... Đó là phẩm chất, đức hạnh, danh dự của người cộng sản. Cán bộ, đảng viên phải biết giữ “thanh danh của Đảng” và “danh giá của mình”. 

Trong nhiều bài viết và nhiều lần phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở, phân tích sâu sắc về tư cách, đạo đức cách mạng, về liêm sỉ và danh dự của người cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ thanh liêm, giữ liêm sỉ và danh dự của người đảng viên. "Nếu không liêm thì của gì cũng cả gan lấy. Không sỉ thì việc gì cũng bất chấp làm. Người mà đến như thế không chỉ rước họa làm “thân bại danh liệt” và thử hỏi còn tai họa nào mà chẳng đến. Huống chi, kẻ làm quan mà cái gì cũng rắp tâm mưu đoạt, việc gì cũng bằng mọi thủ đoạn mà làm thì sao mà thiên hạ không loạn, quốc gia không mất cho được. Khi không có tài đức mà dám cầm trọng trách để cho cơ đồ tan hoang, đổ vỡ. Khi mình đã ở cấp lãnh đạo mà không làm cho đạo đức được thi hành, quốc pháp được tuân thủ. Những người chuyên sống xảo trá, quỷ quyệt, ăn cắp quốc khố là vô hình trung đã vứt bỏ mất danh dự, liêm sỉ, tức là lòng hổ thẹn của mình rồi”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Chỉ tính riêng trong năm 2021, các cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra 390 vụ án và hơn 1.000 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ. Nhiều cán bộ cấp cao vi phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đã bị xử lý kỷ luật (tăng 15 trường hợp so với năm 2020). Nhìn vào số lượng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực khiến nhiều người không khỏi lo lắng. Các chuyên gia cho rằng, kết quả chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua mới chỉ là “phần nổi của tảng băng trôi”. Trong nhiều vụ việc, kết quả xử lý những "mảng chìm tiêu cực" mới chỉ được một phần rất nhỏ. 

Những con số nêu ra trên đây là những trường hợp đã bị phát hiện, xử lý, nhưng trên thực tế, vẫn còn một phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang tự đánh mất phẩm giá, làm hoen ố danh dự của người cộng sản. Họ đã không kiên tâm, bền chí nuôi dưỡng, bồi đắp và bảo toàn danh dự hai tiếng “đảng viên”; không vượt qua được cám dỗ “mồi phú quý, bả vinh hoa”. Cũng bởi thế, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, trong nhiều bài viết, bài phát biểu của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh đến lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên là phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân làm cho không ít cán bộ nảy sinh căn bệnh tham ô, tư túi, đặt lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích tập thể, trên cả lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Những bài học đau đớn, xót xa từ rất nhiều cán bộ, đảng viên chỉ vì chút lợi ích vật chất tầm thường mà đánh mất phẩm giá, danh dự, uy tín vẫn còn nguyên giá trị, là tấm gương để chúng ta tự mình soi chiếu, tự mình suy ngẫm và có hành động đúng đắn. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải luôn khắc cốt ghi tâm rằng, một khi đánh mất nhân phẩm và danh dự là mất đi giá trị làm người. Hơn thế, giữ gìn phẩm giá, danh dự, uy tín của một người đảng viên không chỉ là giữ gìn cho mình mà đó còn là giữ gìn và bảo vệ danh thơm, tiếng tốt của Đảng một cách bền vững nhất.

Để mãi là hình tượng đẹp, biểu trưng văn hóa của dân tộc

 

Để tiếp tục gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới, một mặt, chúng ta phải tích cực nhận diện, đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, chống phá; mặt khác, phải thường xuyên giáo dục tinh thần tự giác học tập và tổ chức rèn luyện để mỗi cán bộ, chiến sĩ đề cao trách nhiệm, tự giác tu dưỡng, làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mãi trở thành hình tượng đẹp-biểu trưng văn hóa của dân tộc Việt Nam.Thực hiện mục tiêu, yêu cầu đó, trong nhiều năm qua, Thường vụ Quân ủy Trung ương chỉ thị toàn quân tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, phấn đấu giữ vững danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ với 5 chuẩn mực: Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao; hai là, có đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; ba là, có văn hóa, tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe tốt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; bốn là, đẩy mạnh thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; năm là, tích cực chăm lo xây dựng đoàn kết nội bộ tốt, tôn trọng, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, có tinh thần quốc tế trong sáng. Đặc biệt, yêu cầu cấp thiết phải bảo vệ, gìn giữ, phát triển các giá trị Bộ đội Cụ Hồ được chỉ rõ hơn, sâu sắc hơn trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (sau đây gọi là Nghị quyết 847). Theo đó, Quân ủy Trung ương xác định 5 đặc trưng cơ bản phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mà mỗi cán bộ, chiến sĩ phải phấn đấu xây dựng, hướng tới; đồng thời "điểm mặt" 10 biểu hiện chủ nghĩa cá nhân để mỗi tổ chức, cá nhân nhận diện, đấu tranh, đẩy lùi.

Những chủ trương trên thể hiện tinh thần hết sức nghiêm túc, trách nhiệm trong quán triệt, cụ thể hóa Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, khóa XII và Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội; là cơ sở chính trị, động lực tinh thần, phương châm hành động để cán bộ, chiến sĩ phấn đấu, rèn luyện, cống hiến xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động và nghiên cứu, sớm đưa Nghị quyết 847 vào cuộc sống là giải pháp tốt nhất để danh xưng Bộ đội Cụ Hồ, truyền thống của Quân đội ta được lưu danh mãi với thời gian, thấm sâu vào suy nghĩ, hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ, người dân. Đây cũng là phương cách hữu hiệu nhằm tạo đề kháng, sức miễn dịch cho bộ đội trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch.  

Để cán bộ, chiến sĩ không ngừng phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới, trước hết, các cấp cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong toàn quân về giá trị, ý nghĩa của Nghị quyết 847 đối với việc lưu giữ và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ-giá trị văn hóa quân sự bền vững được hình thành và phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Việc làm này phải được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều biện pháp, hình thức, phương tiện, nhất là hệ thống thông tin đại chúng, phòng truyền thống, nhân chứng lịch sử; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn, xây dựng môi trường văn hóa quân sự tốt đẹp, phong phú, lành mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, tinh thần lạc quan cách mạng, đạo đức, lối sống trong sáng, lề lối, tác phong khoa học, bám sát cơ sở, địa bàn, gắn bó mật thiết với nhân dân. Từ nhận thức đúng, đề cao ý thức trách nhiệm của các cấp ủy và cán bộ, đảng viên, quần chúng trong phấn đấu, rèn luyện, cống hiến tài năng cho sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc theo phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu chống phá của các thế lực thù địch; đồng thời chủ động phát hiện, khắc phục kịp thời mọi biểu hiện tư tưởng lệch lạc, thiếu ý thức trách nhiệm trong công việc, làm việc cầm chừng, vô cảm trước khó khăn, hoạn nạn của nhân dân, “dĩ hòa vi quý”, thấy đúng không bảo vệ, sai không đấu tranh, phê bình, vi phạm kỷ luật quân đội, làm ảnh hưởng đến quan hệ đoàn kết quân-dân...

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng, bảo đảm cho tinh thần của Nghị quyết 847 đi đúng quỹ đạo đề ra; xác định rõ chỉ tiêu, yêu cầu, nội dung, giải pháp cụ thể với từng cấp, từng đối tượng và loại hình đơn vị; duy trì thường xuyên, liên tục, có kiểm tra, rút kinh nghiệm, đánh giá kết quả, tránh việc "trên nóng, dưới lạnh", “phát mà không động”, “đánh trống bỏ dùi”, làm cho sức sống và giá trị của nghị quyết bị suy giảm, bị "uốn cong" trong quá trình triển khai thực hiện. Đồng thời, phải gắn kết chặt chẽ giữa thực hiện Nghị quyết 847 với Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị, khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Phong trào Thi đua Quyết thắng và các cuộc vận động cách mạng; tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Hướng dẫn số 202/HD-CT, ngày 3-2-2015 của Tổng cục Chính trị về “Thực hiện nội dung xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới”, bảo đảm nghiêm túc, thiết thực, chặt chẽ, gắn với nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của mỗi cá nhân. Các tổ chức quần chúng đẩy mạnh hoạt động xung kích, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác của cán bộ, hội viên, đoàn viên, bảo đảm cho nội dung xứng danh Bộ đội Cụ Hồ đi vào cuộc sống, hoạt động của các tổ chức, lực lượng, phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, nhất là những việc mới, việc khó, đòi hỏi ý chí, nghị lực cao. Qua đó, tạo sức mạnh tổng hợp, không khí thi đua sôi nổi làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, vai trò, vị thế của Quân đội ta ngày càng tỏa sáng, có sức cảm hóa mãnh liệt trong toàn quân và toàn xã hội.

Tăng cường đưa bộ đội vào hoạt động thực tiễn, xử lý các tình huống quân sự, quốc phòng, là giải pháp quan trọng để phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được phát huy trong điều kiện mới. Cần cụ thể hóa Nghị quyết 847 bằng các phong trào, mô hình cụ thể ở cơ sở, sát với đặc thù từng ngành, từng lĩnh vực. Bởi lẽ, thực tiễn phong trào cách mạng càng phong phú, sinh động, thiết thực thì phẩm chất quân nhân cách mạng-Bộ đội Cụ Hồ càng được rèn giũa và thể hiện sâu sắc. Thông qua hoạt động thực tiễn, đề cao tinh thần tích cực, chủ động, tìm tòi, đổi mới, nâng cao hiệu quả công việc; cống hiến tài năng, sức sáng tạo, khả năng làm chủ vũ khí, trang bị, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao đối với từng cán bộ, chiến sĩ...

Quá trình tổ chức các hoạt động thực tiễn cho bộ đội phải phát huy vai trò nêu gương, mẫu mực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ trì các cấp trong phấn đấu, rèn luyện xứng danh Bộ đội Cụ Hồ. Sự mẫu mực, mô phạm, nói đi đôi với làm của cán bộ các cấp là mệnh lệnh không lời, có sức thuyết phục cao đối với bộ đội. Nêu gương và làm gương của người đứng đầu cơ quan, đơn vị sẽ tạo sức lan tỏa mạnh mẽ cho đảng viên, quần chúng noi theo. Bởi vậy, cán bộ, đảng viên luôn phấn đấu để hoàn thiện mình, từ nhận thức đến hành động, từ lời nói đến việc làm phải thật sự chuẩn mực, có sức cảm hóa, thu hút cấp dưới và chiến sĩ làm theo. Cán bộ, đảng viên giữ cương vị càng cao, càng phải nêu gương cho cấp dưới, với tinh thần: “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”; phải thật sự gắn mình với đơn vị, sâu sát, gần gũi với quần chúng, công tâm trong xử lý các công việc, thực sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong hoạt động; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Quá trình thực hiện phải đề cao tính chiến đấu, tự phê bình và phê bình, “tự soi, tự sửa”; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chủ động thông tin tích cực, kịp thời định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Giải quyết tốt các mối quan hệ, tình đoàn kết giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, sự đồng thuận trong các cơ quan, đơn vị, tất cả hướng tới mục tiêu chung là xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu". 

Đấu tranh làm thất bại mưu đồ bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tiếp tục phát huy những giá trị cao quý, thiêng liêng của quân nhân cách mạng trong thời kỳ mới là trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam. Nếu mỗi cá nhân biết tự tu rèn, đắp bồi nhân cách cho chính mình một cách tích cực sẽ góp phần giữ vững và tỏa sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, góp phần xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Văn học, nghệ thuật và thế hệ bộ đội hôm nay

 

Cả thế giới đang bước vào kỷ nguyên cách mạng 4.0 với sự phát triển chóng mặt về kinh tế, khoa học, y tế...

Là thời của vi điện tử, của kết nối vạn vật, của người máy... nên con người đứng trước cơ hội được thụ hưởng những văn minh mới mẻ nhưng cũng phải đối mặt với những thử thách ghê gớm: Nạn thất nghiệp, ô nhiễm môi sinh, dịch bệnh... Trước sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng lớn, tiền đề cho sự giao lưu văn hóa diễn ra như một tất yếu và ngày càng sâu sắc. Quá trình đó cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn trong giáo dục, rèn luyện bản lĩnh, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới...

Con người liên văn hóa 

Có thể hình dung mỗi nhà văn hóa như một cây xanh cắm sâu chùm rễ khỏe khoắn vào các mảnh đất truyền thống dân tộc và nhân loại rồi vươn cao lá cành quang hợp ánh sáng tư tưởng của thời đại, nên lẽ tự nhiên, những trái cây tác phẩm của họ đã kết tinh trong nó những giá trị tinh hoa. Lại có thể hình dung liên văn hóa như cấu trúc một tòa lâu đài có nền móng vững chắc là văn hóa dân tộc, cái thân lầu là tư tưởng, tâm hồn, trí tuệ nhà văn được trổ nhiều cửa sổ ngôn ngữ để đón các luồng gió văn hóa bốn phương, có nhiều cửa chính đón độc giả từ khắp nơi ghé thăm, chiêm ngưỡng, học tập... Hình dung như vậy để khẳng định càng là tác giả lớn tính liên văn hóa càng rõ.

Bước vào thời toàn cầu hóa, liên văn hóa được mở rộng, khái quát thành trào lưu triết học liên văn hóa (the intercultural philosophy) hướng đến những điểm tương đồng trên nền tảng những khác biệt văn hóa. Trong nghệ thuật, liên văn hóa cũng là một xu hướng tất yếu, không chỉ là nhận thức đời sống từ cái nhìn dân tộc mà đa chiều hơn, hướng đến những giá trị phổ quát, nhân loại, hay được gọi là mẫu số chung của văn hóa toàn cầu.

Xét theo nghĩa hẹp, liên văn hóa có trong một nền văn hóa (quan hệ chiều dọc truyền thống-hiện đại), còn gọi là giao tiếp nội văn hóa (intracultural communication). Theo nghĩa rộng là sự mở ra giao tiếp với các nền văn hóa khác. Liên văn hóa hiện nay chủ yếu hiểu theo quan niệm là sự giao tiếp giữa những nền văn hóa khác nhau.Đặc trưng phổ quát của triết học con người trong văn hóa nhân loại hôm nay là con người liên văn hóa!

Sống trong bối cảnh toàn cầu hóa, số hóa, tự động hóa, như một lẽ tự nhiên, con người (theo nghĩa phổ biến), nhất là giới trẻ được tiếp xúc, hít thở, hấp thụ mọi luồng văn hóa trên khắp thế giới. Họ có ngoại ngữ, sử dụng công nghệ thông tin ở mức phổ thông (điện thoại thông minh) là đủ để có thể “truy cập” vào mọi ngõ ngách văn hóa khắp thế giới. Con người liên văn hóa hiểu biết nhiều, thông minh, là điều kiện để trở thành công dân toàn cầu. Mặt trái là nếu không được trang bị tinh thần dân tộc, thiếu bản lĩnh sẽ có xu hướng dời xa cội rễ Tổ quốc dẫn tới lai căng. Một bộ phận thanh niên ta biết sử nước ngoài, biết tên cầu thủ, danh ca, hoa hậu... quốc tế hơn nhiều sử nước nhà, các tấm gương anh hùng tổ tiên... là hiện tượng vừa bất thường, vừa bình thường. 

Thông tin từ báo chí cho biết, tính riêng đợt tuyển quân năm 2022, ở Hà Nội có 3.662 thanh niên nhập ngũ, đạt 104,6%, trong đó có 25,6% viết đơn tình nguyện, trình độ từ cao đẳng, đại học chiếm 20,7%, 1.635 thanh niên là đối tượng Đảng. Nhiều tờ báo phản ánh, ở các địa phương, chất lượng thanh niên nhập ngũ năm sau luôn cao hơn năm trước. Điều này cho thấy trình độ bộ đội có nhận thức chính trị và học vấn khá cao. Đây là tiền đề cơ bản để giáo dục bản lĩnh, nhân cách, cũng là sự đòi hỏi các cấp ủy Đảng phải có phương pháp giáo dục, rèn luyện tương ứng, phù hợp, thích hợp. Phải luôn đổi mới và hiện đại hóa biện pháp.

Người lính hôm nay yêu nước, có ý chí, quyết tâm, tinh thần dân tộc cao nhưng trong không gian liên văn hóa khó có thể nói ý thức kỷ luật nhìn chung là tốt. Họ đã và đang học tập miệt mài làm chủ vũ khí, khí tài hiện đại. Họ cũng suy tư về cuộc sống gia đình, cá nhân không bắt kịp với tư duy, bước tiến và bước nhảy của kinh tế thị trường. Họ trăn trở ở trong quân ngũ phục vụ suốt đời thì cuộc sống của họ và gia đình sẽ ra sao? Hết thời gian tại ngũ, xuất ngũ sẽ làm gì? Họ băn khoăn trước các giá trị văn hóa bị đảo lộn, xuống cấp...

Những giải pháp chung giáo dục bản lĩnh, nhân cách bộ đội

Một là, về lãnh đạo, chỉ đạo. Người Việt sống trọng tình, trọng niềm tin. Dân ta rất thiết tha với Đảng, yêu Đảng và vì Đảng. Họ kỳ vọng nóng bỏng vào Đảng là việc chống tham nhũng triệt để và hiệu quả hơn nữa. Mà tham nhũng thì chỉ có ở những người có chức, có quyền. Triết lý muôn đời trước nay, ở bất kỳ thể chế chính trị nào thì cũng “nhà dột từ nóc”. Không chỉ đục khoét tài sản của Nhà nước và nhân dân, nguy hiểm hơn, tham nhũng đục khoét lòng tin của dân ta với Đảng, đục khoét vào các giá trị đạo lý, đạo đức, trách nhiệm, bổn phận... Đảng phải lựa chọn cán bộ thực sự là “đầy tớ”, là “công bộc” của dân. Đấy là cách chủ yếu để trong sạch Đảng, có như vậy mới có thể nói được với dân, thuyết phục, tuyên truyền, kêu gọi được dân.

Hai là, về sự kế thừa, quản lý. Những giá trị văn hóa có từ ngàn năm trong việc giáo dục đạo lý con người cần được nghiên cứu kế thừa, phổ biến. Ví như tác phẩm “Hậu tự huấn” (Nguyễn Trãi viết giúp vua Lê Thái Tổ để răn dạy các thái tử) hay “Nhị thập tứ huấn điều” (năm 1470) do vua Lê Thánh Tông cho công bố để huấn thị quan lại từ trung ương đến làng xã, rất cần để cán bộ, đảng viên hôm nay tham khảo, học tập, tu dưỡng. Rồi “Gia huấn ca” (tương truyền của Nguyễn Trãi) là những bài học về đạo lý làm người trong gia đình... Thời nhà Lê cực thịnh có sự góp phần không nhỏ của những tác phẩm văn học-nghệ thuật.

Cần làm sống lại những giá trị văn hóa cổ truyền, phục hồi các hương ước tiến bộ, phù hợp với hôm nay. Văn hóa truyền thống ngấm rất sâu, biểu hiện rất tinh tế ở nghệ thuật truyền thống. Nên đưa vào chương trình giảng dạy một số bộ môn nghệ thuật dân tộc cơ bản (chèo, tuồng...). Đó là cách cơ bản góp phần tỏa sáng viên ngọc đạo lý của cha ông để soi sáng thêm cho ngày hôm nay.

Phải có những giải pháp chặt chẽ về mặt Nhà nước, sớm luật hóa lễ hội, có những văn bản pháp quy dưới luật làm căn cứ để xử lý những vi phạm... Tích cực đấu tranh với những biểu hiện lai căng, những sản phẩm độc hại, những hành vi phi văn hóa, góp phần bảo vệ, giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Những cái gì bất cập, không phù hợp với văn hóa hôm nay cần nghiên cứu loại bỏ, kết hợp với việc làm mới những giá trị truyền thống.

Ba là, về giáo dục. Thế giới đang hướng theo khẩu hiệu “Học để biết, học để sống, học để chung sống, học để làm, học để sáng tạo”, tức là sự cụ thể hóa triết lý học để làm người. Phải tạo ra được một môi trường giáo dục lành mạnh, lấy việc xây dựng môi trường giáo dục gia đình làm căn bản. Vì mỗi cá nhân từ ấu thơ đến lúc trư­ởng thành đều thấm nhuần các chuẩn mực giá trị văn hóa truyền thống từ gia đình. Cách giáo dục tốt nhất là nêu gương. Phải biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục ở mỗi cá nhân, bởi bản thân mỗi người vừa là chủ thể, vừa là khách thể trong quá trình tự giáo dục, điều chỉnh lẽ sống, hành vi. Giáo dục một ý thức văn hóa tự làm chủ bản thân mỗi người là rất quan trọng. Cần quan tâm hơn nữa đến việc dạy người trước rồi mới dạy chữ. Cần có luật về internet, trẻ em chỉ được sử dụng không gian mạng riêng, không thể tự do như hiện thời!

 “Không thầy đố mày làm nên”. Thời nào thì nhà trường và người thầy cũng quyết định chất lượng giáo dục. Đầu tư cho giáo dục thì trọng điểm là đầu tư cho việc giáo dục người thầy, tức nâng cấp hệ thống các trường sư phạm một cách căn bản. Khuyến khích người tài vào ngành giáo dục. Từng bước nâng cao đời sống giáo viên.

Bốn là, về hành chính. Trong xã hội hiện đại, con người điều chỉnh suy nghĩ, hành vi của mình theo luật pháp. Thiếu niềm tin vào pháp luật sẽ dẫn đến thiếu tôn trọng luật, dễ có hành động chệch khỏi các chuẩn mực pháp lý. Pháp luật bắt nguồn từ đạo đức. Đạo đức là gốc của nhân cách nên cũng là gốc của pháp luật. Do vậy, nâng cao ý thức pháp luật cũng là cách bồi dưỡng, giáo dục đạo đức. Luật phải đi vào đời sống mới có giá trị. Việc giảng dạy pháp luật ở nhà trường phổ thông và việc tuyên truyền giáo dục pháp luật thường xuyên ở các đơn vị hành chính cơ sở phải rất được coi trọng.

Nhóm giải pháp cụ thể với bộ đội hôm nay

Một là, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh một cách thực chất, thường xuyên, liên tục. Thực tế cho thấy, chúng ta đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị là đúng đắn, cần lan tỏa sâu rộng hơn nữa vào mọi tầng lớp nhân dân. Đấy cũng là một cách thiết thực ngăn ngừa tác hại mưu đồ của những kẻ xấu hòng bôi nhọ, hạ bệ thần tượng Bác Hồ. Sinh thời, được học sâu văn hóa truyền thống dân tộc, đi hầu khắp thế giới, biết rất nhiều ngoại ngữ, tiếp xúc với nhiều chủ nghĩa, tôn giáo, với nhiều chính khách, văn nghệ sĩ... nên Bác Hồ trở thành một hiện tượng liên văn hóa rất tiêu biểu của thế giới. Nghiên cứu, học tập về Bác rất phù hợp với giới trẻ, nhất là về phương diện lý tưởng.

Là nhà cách mạng thực tiễn, nhà triết học hành động, Bác sống ở trong dân, không ở trên dân, Bác là người sống đúng nhất với chân lý “một tấm gương sống hơn cả trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Là cán bộ, đảng viên, đoàn viên, tất cả là học trò của Bác, học theo Bác, nhất là học tính liêm chính của Người thì dân sẽ tin và không một tư tưởng phản động nào, dù được ngụy trang bằng thứ nghệ thuật nguy hiểm, thâm độc nào có thể lung lay được. Tăng cường hơn nữa tuyên truyền, quảng bá những tác phẩm văn học, nghệ thuật chân chính về Chủ tịch Hồ Chí Minh vì Bác Hồ là một hiện tượng văn hóa mang tầm nhân loại với tầm vóc tư tưởng và nghệ thuật lớn lao để sáng tạo đến khôn cùng!

Hai là, đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu một cách thiết thực, hiệu quả Chủ nghĩa Mác-Lênin-một trí tuệ lớn lao, một tài sản văn hóa tinh thần vô giá của nhân loại. Cần chứng minh sự gặp gỡ với các chủ nghĩa, các trào lưu tư tưởng lớn khác trên thế giới xưa nay để thấy được giá trị, chiều sâu và ý nghĩa phổ quát của Chủ nghĩa Mác. Cần khắc phục thực tế ở một số trường đại học hiện nay, dạy và học Chủ nghĩa Mác-Lênin còn đại khái, hình thức.

Ba là, khai thác thế mạnh truyền thống là hình tượng người lính trong lịch sử giữ nước theo con đường liên văn hóa được thể hiện sinh động trong văn học, nghệ thuật (người lính thời Lý, Trần, Lê, thời đánh Pháp, Mỹ). Chính sách “ngụ binh ư nông” là một “nội văn hóa” rất rõ trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, trong thơ thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp. Nên có đề tài khoa học nghiên cứu về vấn đề này!

Bốn là, tạo ra các cuộc thi sáng tác chung quanh cuộc sống người lính hôm nay dưới nhiều hình thức (báo tường, hò vè, thơ truyện, kịch, tiểu phẩm...) ở nhiều môi trường sinh hoạt (cả chuyên lẫn không chuyên). Với giới chuyên nghiệp nên khuyến khích lối tiếp cận mới mẻ, giản dị, phù hợp văn hóa và tâm lý tiếp nhận lứa tuổi, nghề nghiệp.

Năm là, tạo ra diễn đàn tranh luận, trao đổi trên báo chí... để người lính được nói lên những suy nghĩ thật nhất, tươi mới nhất. Tâm lý học hiện đại thời toàn cầu hóa rất đề cao tiếng nói đối thoại ở khía cạnh chia sẻ, nói ra được những băn khoăn cũng là một cách giải tỏa những băn khoăn!

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội tham gia thực hiện công tác tôn giáo.

 Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo (với 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được cấp phép hoạt động và có tổng số hơn 26 triệu tín đồ). Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có tinh thần yêu nước, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng ta khẳng định, thực hiện công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Trong đó, Quân đội nhân dân Việt Nam có vai trò đặc biệt trong thực hiện công tác tôn giáo của Đảng, nhất là trong đấu tranh với những âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ tham gia thực hiện công tác tôn giáo là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết hiện nay.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội tham gia thực hiện công tác tôn giáo

 

Trung tướng Trần Hoài Trung, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 7, trao quà của Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình cho các đại biểu chức sắc tôn giáo.

Từ khóa: cán bộ, chiến sĩ Quân đội; công tác tôn giáo.

Quân đội ta là quân đội kiểu mới, quân đội của dân, do dân và vì dân; thực hiện đồng thời 3 nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Những năm qua, quán triệt quan điểm của Đảng, chỉ thị của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, từng đơn vị và cá nhân mỗi cán bộ, chiến sĩ đã nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về công tác tôn giáo của Đảng và vai trò, trách nhiệm trong tham gia thực hiện công tác này, nhất là trong đấu tranh với âm mư­u, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ cơ bản nhận thức đúng về vấn đề tôn giáo, phân biệt rõ các hoạt động tôn giáo thuần túy, với những thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để thực hiện mục đích chính trị phản động của các thế lực thù địch. Phân biệt đư­ợc những hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước với hoạt động tôn giáo trái pháp luật. Nhờ đó, nhiều đơn vị đã tham gia có hiệu quả công tác đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, các đơn vị quân đội cũng đã thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động chức sắc, tín đồ, người có uy tín trong các tôn giáo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia hỗ trợ đồng bào các tôn giáo phát triển kinh tế; xóa đói, giảm nghèo; nâng cao dân trí; khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh; xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; giúp đỡ đồng bào phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, v.v..

Các hình thức tham gia công tác tôn giáo của Quân đội khá phong phú, mang lại hiệu quả thiết thực. Trong đó, nổi bật là việc thực hiện các phong trào: “Hành quân dã ngoại làm công tác dân vận”; giúp đồng bào các tôn giáo phát triển kinh tế hộ gia đình,“Xóa một hộ đói, giảm một hộ nghèo”; “Cảnh sát biển với đồng bào dân tộc, tôn giáo”; “Gắn kết yêu thương, giữa lương và giáo”,v.v.. Cùng với đó, các đơn vị quân đội còn thực hiện tốt công tác quản lý, rèn luyện, giáo dục, bồi dưỡng quân nhân theo các tôn giáo thực hiện nghiêm điều lệnh quản lý bộ đội; tạo điều kiện cho quân nhân theo các tôn giáo phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị... Những hoạt động nêu trên đã góp phần tạo sự đồng thuận, niềm tin của các chức sắc, tín đồ và nhân dân theo các tôn giáo vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào có tôn giáo; tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở. Đồng thời, làm cho quần chúng nhân dân hiểu rõ và nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng nước ta.

Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, việc phát huy vai trò của quân đội trong tham gia thực hiện công tác tôn giáo của Đảng còn tồn tại những hạn chế nhất định. Trong đó, nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế đó là chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện công tác này còn chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ và thực tiễn sự vận động, biến đổi của tình hình thực tiễn, chư­a thư­ờng xuyên, thậm chí còn có nhận thức xem nhẹ, hoặc chư­a chú trọng đến các nội dung cụ thể. Chính điều này đã dẫn đến còn tình trạng một số cán bộ, chiến sĩ nhận thức chư­a đầy đủ, thiếu kiến thức cần thiết về tôn giáo và công tác tôn giáo nên hiệu quả tham gia công tác vận động đồng bào có tôn giáo còn có những hạn chế nhất định; cá biệt còn có biểu hiện mất cảnh giác, cứng nhắc, hoặc giản đơn.

Dự báo trong những năm tới, tình hình tôn giáo trên thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, các hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện và được truyền bá nhanh chóng, nhất là việc ứng dụng công nghệ thông tin để đẩy mạnh việc phát triển tín đồ. Ở trong nước, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng đất nước, tiềm ẩn những yếu tố khó lường, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Những vấn đề nêu trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện công tác tôn giáo của Đảng nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình tham gia thực hiện. Trong điều kiện cụ thể hiện nay, cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp là:

Một là, nâng cao năng lực của cấp ủy, người chỉ huy các đơn vị quân đội trong tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ tham gia thực hiện công tác tôn giáo.

Hiệu quả trong thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện công tác tôn giáo phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, vai trò, năng lực, trình độ của cấp ủy đảng và người chỉ huy đơn vị có vị trí quan trọng. Vai trò của cấp ủy đảng và người chỉ huy thể hiện trong việc quán triệt các chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên về công tác tuyên truyền, giáo dục; có nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo và kế hoạch tổ chức thực hiện phù hợp với tình hình thực tế đơn vị và địa bàn.

Các cấp ủy đảng, người chỉ huy đơn vị cần xác định rõ mục đích, yêu cầu lãnh đạo việc thực hiện quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta nói chung, công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nói riêng về nhiệm vụ này. Theo đó, cần khẳng định đây là một trong những vấn đề quan trọng trong công tác lãnh đạo đơn vị; phải thường xuyên quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng trong thực hiện công tác tôn giáo hiện nay như: Chỉ thị số 1006-CT/QUTW ngày 27-9-2019 của Quân ủy Trung ương “Về tiếp tục đổi mới và tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo Quân đội thực hiện công tác tôn giáo trong tình hình mới”; Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 10-1-2018 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo trong tình hình mới”; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Nghị định số 162/2017/NĐ-CP, ngày 30-12-2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo,... Đồng thời, có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, bảo đảm cho công tác tuyên truyền, vận động quần chúng trong đơn vị, cũng như với đồng bào có đạo trên địa bàn theo đúng quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đối với người chỉ huy đơn vị, phải quán triệt tốt chủ trương của cấp ủy đảng, tổ chức lực lượng, triển khai giao nhiệm vụ cụ thể đến từng người, từng bộ phận và tổ chức chỉ huy đơn vị tiến hành tuyên truyền, giáo dục. Đồng thời, luôn bám sát tình hình cơ sở địa phương, kiểm tra đôn đốc đơn vị, kịp thời chấn chỉnh bổ sung những biện pháp phù hợp, phát hiện và uốn nắn những việc sai trái, những biểu hiện lệch lạc, chủ quan để chỉ đạo đơn vị thực hiện tốt công tác giáo dục, tuyên truyền.

Hai là, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải có chương trình, kế hoạch cụ thể trong thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ về tham gia thực hiện công tác tôn giáo.

Cấp ủy đảng, người chỉ huy phải nắm chắc tình hình tôn giáo và nhiệm vụ, khả năng thực lực của đơn vị, có nghị quyết lãnh đạo, đề ra kế hoạch chi tiết để tổ chức đơn vị thực hiện tốt việc giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong tham gia thực hiện công tác tôn giáo tại địa bàn. Trong tổ chức thực hiện phải phát huy vai trò của người chỉ huy, cơ quan chức năng, của mọi cán bộ, chiến sĩ.

Cần thường xuyên bám sát chủ trương của Đảng, Nhà nước, kế hoạch, hướng dẫn về công tác tôn giáo của cấp trên cũng như chính quyền địa phương để kịp thời triển khai thực hiện. Lựa chọn, cử cán bộ, chiến sĩ tham gia các khóa đào tạo, đào tạo lại, các lớp bồi dưỡng, cập nhật thông tin, kiến thức liên quan đến tôn giáo do các cơ quan chuyên môn tổ chức nhằm kịp thời bổ sung những kiến thức về vấn đề tôn giáo còn khuyết thiếu để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra.

Trong quá trình lãnh đạo và tổ chức thực hiện tuyên truyền, phải tăng cường công tác đôn đốc, kiểm tra, kịp thời tổ chức rút kinh nghiệm trong đơn vị, phát hiện, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực hiện, bổ sung những biện pháp vào công tác tuyên truyền, giáo dục báo cáo hoặc xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên.

Ba là, phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo.

Để tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, từng đơn vị phải có sự lựa chọn, tổ chức bồi dưỡng và sử dụng tốt đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên làm công tác tuyên truyền, giáo dục những kiến thức về công tác tôn giáo đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Việc lựa chọn, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên này có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công tác giáo dục, tuyên truyền. Cho nên, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, chiến sĩ làm công tác này không chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, hiểu biết sâu sắc về quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, mà còn phải am hiểu sâu rộng các vấn đề xã hội, có năng lực và phương pháp công tác tốt, linh hoạt xử lý các tình huống xảy ra.

Ngoài ra, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên về công tác tôn giáo còn cần có các yêu cầu cụ thể như: Có trình độ văn hóa, năng lực công tác và phẩm chất tốt, có khả năng giao tiếp, vận động thuyết phục, nhiệt tình, chịu khó, tận tâm với công việc, không sợ khó ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, nhanh nhẹn, hoạt bát khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ theo chức trách được phân công. Có kiến thức tuyên truyền và phong tục, tập quán ở địa phương. Là người luôn gương mẫu và tự giác chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, quy định của đơn vị, nhất là kỷ luật quan hệ, tiếp xúc với nhân dân, được tất cả cán bộ, đảng viên và quân nhân khác tín nhiệm.

Sau khi đã lựa chọn được đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên về công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước, cần phải tạo mọi điều kiện tốt nhất để họ phát huy được vị trí, vai trò và nhiệm vụ của mình. Cùng với việc lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của cấp ủy đảng, chỉ huy đơn vị, phải thường xuyên hướng dẫn, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ cho bộ phận này. Thực hiện đúng tinh thần Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 10-1-2018 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Trong đó, khẳng định: “Sắp xếp hợp lý, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo; tăng cường cán bộ làm công tác tôn giáo..., tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác tôn giáo để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn, nâng cao năng lực quản lý, thực thi pháp luật; bảo đảm kinh phí hoạt động và có chế độ, chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ làm công tác tôn giáo”.

Bốn là, sử dụng đa dạng, phong phú hình thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ về thực hiện công tác tôn giáo.

Cần đưa các nội dung tuyên truyền, giáo dục về công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước vào các chương trình học tập chính trị tại đơn vị hàng năm; gắn kết giữa huấn luyện quân sự với việc giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc, đoàn kết quân dân, đoàn kết lương - giáo, làm rõ sức mạnh to lớn và vai trò của nhân dân (trong đó có đồng bào các tôn giáo) đối với sự nghiệp cách mạng để mọi cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị thấy rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc là vô địch, là cội nguồn của mọi thắng lợi và cũng là cội nguồn sức mạnh và những chiến thắng của Quân đội. Từ đó, giúp cán bộ, chiến sĩ tự giác nhận thức vai trò, trách nhiệm trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

Cần đặc biệt chú trọng sử dụng hình thức tổ chức các hoạt động diễn đàn, tọa đàm, trao đổi với chủ đề xung quanh nhận thức về công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu quan điểm về tôn giáo và công tác tôn giáo trong tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước ta; thi tìm hiểu về truyền thống đấu tranh anh dũng của Quân đội trước các hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng đất nước cũng như những tấm gương tiêu biểu của cán bộ, chiến sĩ Quân đội trong công tác vận động, giúp đỡ đồng bào có tôn giáo phát triển kinh tế, văn hóa,... Từ đó, khơi dậy lòng tự hào, giúp mỗi cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ hơn về ý thức, trách nhiệm cá nhân trong tham gia thực hiện công tác tôn giáo trên cương vị, chức trách nhiệm vụ được giao.

Cần kết hợp song song giữa học tập, tuyên truyền, giáo dục nhận thức vể quan điểm, chủ trương, đường lối công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước cho cán bộ, chiến sĩ với việc giữ nghiêm kỷ luật trong quan hệ với nhân dân, nhất là quan hệ đối với đồng bào có tôn giáo; giữ gìn truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân” và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, không ngừng bồi đắp tình cảm yêu mến, trân trọng của đồng bào cả nước nói chung, của đồng bào có tôn giáo nói riêng đối với Quân đội. Quá trình giáo dục cần sử dụng nhiều kênh thông tin, các phương tiện nghe, nhìn như: Báo chí, đài phát thanh, truyền hình, thông qua mạng xã hội, qua sinh hoạt tập trung,... với nội dung thiết thực, bổ ích để giáo dục. Phối hợp nhiều lực lượng như: Tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức đoàn thể, mời các chuyên gia, người giàu kinh nghiệm về công tác tôn giáo cùng tham gia tuyên truyền, giáo dục. Có như vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ về công tác tôn giáo mới thiết thực, đạt hiệu quả.

Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, công tác tôn giáo được xác định là nhân tố quan trọng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Tham gia thực hiện công tác tôn giáo của Đảng là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của Quân đội trong tình hình mới. Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong tham gia thực hiện công tác tôn giáo, đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ các giải pháp. Trong đó, phải luôn bám sát tình hình thực tiễn để có sự điều chỉnh một cách phù hợp. Có như vậy mới mang lại hiệu quả cao trong quá trình tổ chức thực hiện, đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác tôn giáo trong tình hình mới.

Tư duy mới của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

 - Tư duy mới của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc thể hiện trong đường lối, chủ trương, chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đặt ra vừa cấp bách vừa có tính chiến lược lâu dài. Bởi vậy, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cần được quán triệt, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo trong giai đoạn cách mạng mới.

Tư duy mới của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc

1. Tầm nhìn và quan điểm chỉ đạo của Đảng

Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Trước tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, chúng ta đã coi trọng củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh, chủ động xử lý thành công các tình huống, không để bị động, bất ngờ. An ninh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia - dân tộc”(1). Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày càng nặng nề, phức tạp hơn. Đảng ta nhấn mạnh: trong những năm tới “tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, có quyết tâm chính trị cao, dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình, chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống, nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được, đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”(2). Đây là sự bổ sung, phát triển tư duy lý luận mới trong việc xác định sức mạnh của quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc khi tình hình khu vực và quốc tế dự báo sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường.

Quốc phòng, an ninh mang bản chất chính trị, giai cấp sâu sắc. Đó là bản chất của giai cấp công nhân, do Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thực hiện, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quốc phòng, an ninh là lĩnh vực trực tiếp diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc quyết liệt, phức tạp. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, bản chất đó được biểu hiện ở mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương”(3). Đây vừa là định hướng chiến lược, vừa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Điều đó thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với đặc điểm nổi bật là: tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, biên giới, biển đảo, nhất là ở biển Đông diễn ra gay gắt; các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng nước ta bằng những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt,...

Trong khi đó, các tình huống quốc phòng, an ninh cùng những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đối với nước ta ngày một gia tăng, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch. Trong bối cảnh đó, tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh càng có ý nghĩa quan trọng, với những nhiệm vụ mới, cần được nghiên cứu, quán triệt sâu sắc, làm cơ sở để triển khai thực hiện có hiệu quả.

Với quan điểm: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng ta nhấn mạnh: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mạnh mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(4).

2. Về nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc

Phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh thời đại để bảo vệ Tổ quốc, “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân”(5). Quán triệt và thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, trong những năm qua, sự nghiệp quốc phòng, an ninh nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường; sức mạnh về mọi mặt của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân không ngừng được nâng cao. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật”(6). Vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được tăng cường, tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố; thế trận quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được xây dựng vững chắc. Thế bố trí chiến lược quốc phòng, an ninh được quy hoạch, điều chỉnh phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Năng lực công nghiệp quốc phòng, an ninh của đất nước không ngừng phát triển toàn diện, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu...

Bên cạnh những thuận lợi, sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc của chúng ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Nhận thức về quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa đầy đủ. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng nước ta, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Vấn đề giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước đang đặt ra nhiều vấn đề mới phải giải quyết. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số mặt hạn chế”(7).

Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong khi luôn đặt lên hàng đầu phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta phải thường xuyên coi trọng nhiệm vụ giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số, quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(8); kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta về quốc phòng, an ninh qua các kỳ Đại hội của Đảng.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”(9). Đây vừa là định hướng chiến lược quốc phòng, an ninh, vừa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao là sự cụ thể hóa mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ chiến lược. Điều đó thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

3. Giải pháp cơ bản tăng cường quốc phòng, an ninh

Để tiếp tục tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn cách mạng mới, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, tập trung vào những giải pháp cơ bản sau:

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đây vừa là giải pháp cơ bản, vừa là định hướng chỉ đạo giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh là giải pháp có ý nghĩa quyết định để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, toàn dân, toàn diện, sức mạnh quốc phòng, an ninh của Việt Nam, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, phải thường xuyên quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào thực hiện nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh. Điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống, cơ cấu tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thống nhất từ Trung ương đến các địa phương. Tiếp tục hoàn chỉnh cơ chế lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các cấp, các ngành, mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh. Đây vừa là giải pháp, vừa là yêu cầu tiếp tục đổi mới, nâng cao tính thiết thực, chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên truyền, giáo dục, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các cấp, các ngành, mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho toàn dân, trước hết là cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị và học sinh, sinh viên. Phổ cập những vấn đề cơ bản về xây dựng, hoạt động của khu vực phòng thủ cho các đối tượng, nhất là cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, huyện. Đẩy mạnh tuyên truyền, coi trọng phổ biến kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả của các địa phương; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong cả hệ thống chính trị và toàn dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, có sức chiến đấu cao. Đây là giải pháp có tính nguyên tắc trong công tác tổ chức. Triển khai đồng bộ, thống nhất sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh, gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững chắc. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, nhất là xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, “thế trận lòng dân”; kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Chuẩn bị chu đáo các phương án động viên nhân tài, vật lực cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khi cần thiết. Xây dựng kế hoạch bảo đảm quốc phòng, an ninh thống nhất, đồng bộ từ thời bình, kịp thời điều chỉnh khi có chiến tranh; sẵn sàng chuyển nền kinh tế sang thời chiến. Nâng cao chất lượng xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc toàn diện. Phát triển sâu rộng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, củng cố thế trận an ninh nhân dân. Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nâng cao sức mạnh chiến đấu, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ “vững mạnh, rộng khắp”. Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và các ngành, các địa phương trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đây vừa là giải pháp, vừa là nhiệm vụ kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh phải được thể hiện ngay trong chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển trong từng lĩnh vực, từng vùng. Xây dựng kế hoạch bảo đảm quốc phòng, an ninh thống nhất, đồng bộ từ thời bình và kịp thời điều chỉnh khi có nguy cơ chiến tranh, sẵn sàng huy động mọi tiềm năng, nguồn lực của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tăng cường công tác bảo đảm an ninh kinh tế, đặc biệt là an ninh tài chính - tiền tệ, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an toàn thực phẩm. Chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, các tầng lớp dân cư, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, dân tộc, tôn giáo tại các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, biên giới, hải đảo. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, phòng, chống các loại tệ nạn xã hội, tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự.

Đảng ta chỉ rõ: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở. Xây dựng, củng cố đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các lực lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, biển, đảo”(10). Cùng với đó, “Tiếp tục nghiên cứu phát triển lý luận về quốc phòng, quân sự, an ninh, nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội trong tình hình mới. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”(11). Thường xuyên bổ sung, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh và những vấn đề liên quan đến quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Đây là sự kế thừa những bài học kinh nghiệm quý, kế sách giữ nước đặc sắc của dân tộc và được bổ sung phát triển đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.

Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, an ninh hiện đại, lưỡng dụng. Đây là giải pháp quan trọng. Để “xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội”, cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc chủ trương, quan điểm của Đảng về phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh: Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22-3-2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Thông báo kết luận số 25-TB/TW ngày 11-4-2017 của Bộ Chính trị về Đề án đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị định số 63/2020/NĐ-CP ngày 8-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về công nghiệp an ninh.

Tập trung xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia theo hướng độc lập, tự chủ, làm chủ được khoa học, công nghệ hiện đại và phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh việc ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong hoạt động nghiên cứu, phát triển, tạo bước chuyển biến và hình thành các sản phẩm có tính đột phá về khoa học, công nghệ; đổi mới công nghệ sản xuất, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa vũ khí trang bị kỹ thuật.

Tiếp tục bổ sung, điều chỉnh cơ chế, chính sách, chiến lược phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh; tăng cường đầu tư đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng, an ninh chất lượng cao. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, liên doanh, liên kết, chuyển giao công nghệ, từng bước hình thành thị trường công nghiệp quốc phòng, an ninh; đồng thời tiếp tục sắp xếp lại các doanh nghiệp, đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp tạo nguồn kinh phí phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh.