Thứ Hai, 11 tháng 4, 2022

 Nhận thức và giải pháp thực hiện các đột phá chiến lược phát triển đất nước theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định ba đột phá chiến lược, có sự kế thừa, bổ sung các đột phá chiến lược trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020. Việc xác định rõ các đột phá chiến lược trong từng giai đoạn phát triển đất nước có ý nghĩa quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện mục tiêu mà Đại hội Đảng đã đề ra.

Nhận thức chung về tổ chức thực hiện ba đột phá chiến lược

Đại hội XIII của Đảng khẳng định, ba đột phá chiến lược vừa kế thừa ba đột phá chiến lược do Đại hội lần thứ XI, XII đã đề ra, vừa bổ sung, cụ thể hóa cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Ba đột phá chiến lược mà Nghị quyết Đại hội XIII đề ra(1) có nhiều nhận thức mới về cách tiếp cận, mục đích và nội dung.

Đột phá chiến lược thứ nhất về hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa... có nhiều nội dung mới: Thứ nhất, tại Đại hội XI, XII, đột phá chiến lược thứ nhất chỉ là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là mới chỉ đề cập đến hoàn thiện thể chế phát triển của lĩnh vực kinh tế. Đại hội XIII đề cập hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tức là thể chế phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... Ngay vấn đề hoàn thiện thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng chứa đựng điểm mới. Nếu ở Đại hội XII, việc hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế và quản lý nhà nước về kinh tế, thì Đại hội XIII nhấn mạnh mục đích “tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh”. Thứ hai, Đại hội XIII bổ sung nội dung đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính, hợp tác công - tư; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật.

Đột phá chiến lược thứ hai về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao... cũng có nhiều nội dung mới. Thứ nhất, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục - đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài; thứ hai, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; thứ ba, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đột phá chiến lược thứ ba về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu; chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số. Đây là một cách tiếp cận mới, rất thực tế, một phương hướng hợp lý, tích cực nhằm phát triển kinh tế - xã hội đất nước nhanh và bền vững.

Các nội dung mới của ba đột phá chiến lược cần được nhận thức đầy đủ, toàn diện, thống nhất để triển khai thực hiện thành công nhằm đạt được mục tiêu do Đại hội XIII của Đảng đề ra. Tuy nhiên, vấn đề nhận thức các đột phá chiến lược cũng còn một số vấn đề đặt ra:

Nội hàm đột phá chiến lược thứ nhất hiện còn nhiều câu hỏi đặt ra về mặt nhận thức cần được làm rõ thêm.

 Thứ nhất, vấn đề đầu tiên thuộc về chính các thuật ngữ sử dụng trong đột phá chiến lược thứ nhất. Cần phân biệt rõ thể chế phát triển và thể chế phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Về hình thức, rõ ràng thể chế phát triển là một khái niệm rộng hơn thể chế phát triển nền KTTT định hướng XHCN. Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển được hiểu là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển ở tất cả các lĩnh vực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...). Bên cạnh đó, cũng cần có sự thống nhất về sử dụng các thuật ngữ, bởi hiện nay khi sử dụng cụm từ “thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, khi lại sử dụng cụm từ “thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đây là vấn đề có thể gây nên sự khác biệt về nhận thức, cần phải làm rõ.

Thứ hai, cần làm rõ các câu hỏi: Đâu là bản chất của thể chế phát triển nền KTTT định hướng XHCN? Nội hàm của nó là gì? Điều này vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục làm rõ:

Một là, Đảng ta đã khẳng định và xác định xây dựng và phát triển xã hội XHCN là mục tiêu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả dân tộc. Vì vậy, phát triển nền KTTT định hướng XHCN chỉ là một giai đoạn phát triển để đạt tới mục tiêu này hay là phương thức, phương tiện, con đường để xây dựng chủ nghĩa xã hội? Trong thời kỳ trước khi có sự thừa nhận thể chế KTTT, ở nước ta đã áp dụng thể chế kinh tế “kế hoạch hóa tập trung” và hiện vẫn còn có những hệ lụy...

Việc phát triển nền KTTT định hướng XHCN không chỉ là vấn đề mang tính tất yếu của công cuộc đổi mới mà còn là sự đúng đắn về nguyên tắc, quan điểm của Đảng, đồng thời là đòi hỏi của thực tiễn phát triển đất nước; không chỉ là nền móng bảo đảm độc lập, tự chủ về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, mà còn là điều kiện căn bản và môi trường rộng mở tối ưu bảo đảm cho sự phát triển năng động, mạnh mẽ và bền vững của nền kinh tế gắn chặt với công bằng xã hội và vì mục tiêu tiến bộ xã hội, xét trên cả hai bình diện đối nội và hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động, hiệu quả. Đó cũng là sự thể hiện ưu thế tuyệt đối của chế độ xã hội ta khi xem KTTT chỉ là phương tiện, công cụ hữu hiệu để xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm phục vụ nhân dân so với các chế độ xã hội khác cũng phát triển KTTT.

Hai là, nền KTTT định hướng XHCN là một thể thống nhất bao gồm hai mặt gắn bó biện chứng hữu cơ với nhau; đó là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; đồng thời, bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nguồn lực phát triển... KTTT định hướng XHCN vừa vận động, phát triển tuân theo, chịu sự chi phối của những quy luật của KTTT, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối, hàm chứa, gắn với và hướng tới những giá trị cơ bản của các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển đồng bộ, toàn diện trong cả bốn khâu của quá trình tái sản xuất xã hội: Sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng; trên cả ba quan hệ cơ bản của quan hệ sản xuất xã hội theo định hướng XHCN: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, mang lại hạnh phúc cho người dân, chủ thể chính của xã hội, của nền kinh tế đó. Để làm việc này cần có sự can thiệp của Nhà nước (thiết chế được hình thành (từ xã hội) vào nền kinh tế để giải quyết các vấn đề của một xã hội mà trong đó nền kinh tế là nền tảng của xã hội đó).

Ba là, về góc độ lý luận kinh tế học hiện đại (từ lịch sử phát triển các học thuyết kinh tế), không có nền KTTT tự do thuần túy theo Adam Smith. Kinh tế học cổ điển mới cho rằng sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế là “tất yếu” trong xã hội hiện đại...

Thứ ba, khi đã làm rõ và thống nhất (tương đối) về bản chất của thể chế phát triển nền KTTT định hướng XHCN - rằng nền KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành theo nguyên tắc thị trường và có sự can thiệp của Nhà nước, câu hỏi đặt ra ở đây chính là: Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế như thế nào? Trực tiếp hay gián tiếp? Bằng công cụ nào? Hay nói cách khác (như một số học giả thường nói: Nhà nước nhiều hơn hay thị trường nhiều hơn?). Đây chính là những vấn đề về lý luận, học thuật cần phải tập trung giải quyết để làm rõ hơn và thống nhất về nhận thức: Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách... Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội...

Thứ tư, cụ thể hơn về nhận thức, cần giải quyết một số vấn đề sau:

Vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế (theo kinh tế học) chính là việc khai thác (huy động) và sử dụng các nguồn lực (rất khan hiếm, hữu hạn trong một không gian và thời gian nhất định - gắn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học - công nghệ nhất định) một cách hiệu quả nhất cho phát triển kinh tế. Nền kinh tế vận hành theo các nguyên tắc thị trường sẽ giải quyết vấn đề này. Thị trường (các nguyên tắc thị trường) sẽ huy động và phân bổ các nguồn lực (tài nguyên - resources) một cách hiệu quả nhất...

Khi đã nói đến KTTT, không thể không đề cập đến quan hệ cung và cầu. Ở tầm vĩ mô, trong một nền KTTT sẽ thiết lập cân bằng giữa cung, cầu và giá cả. Trước hết, xét về phía cung: sản lượng của một nền kinh tế (trong trường hợp ở đây là tổng sản phẩm quốc nội (GDP)) và tăng trưởng của nó phụ thuộc theo quan hệ: Y = F (K, L, A). Quan hệ này có thể thể hiện dưới nhiều dạng thức khác, cụ thể hơn. Quan hệ trên thể hiện mức tăng sản lượng (Y) phụ thuộc vào việc huy động và sử dụng nguồn lực vốn (hoặc tài nguyên khác), nguồn nhân lực (lao động) và các nhân tố tổng hợp. Thị trường sẽ huy động và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả nhất, vậy để tăng trưởng trên cơ sở sử dụng hiệu quả nguồn lực, việc đầu tiên cần phải làm là thiết lập và vận hành thị trường các nhân tố đầu vào (các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực vốn, nguồn nhân lực, các tài nguyên khác do con người tạo ra...). Vậy, về nhận thức cần làm rõ và thống nhất rằng phải thiết lập và vận hành, vận dụng các nguyên tắc thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực đầu vào cho nền kinh tế...

Xét về phía cầu, tổng cầu của nền kinh tế có vai trò dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, xét về tổng cầu là một việc khó khăn, phức tạp...

Cả cung và cầu, trong kinh tế học hiện đại đều có (hoặc đương nhiên có) sự can thiệp của nhà nước. Tuy nhiên, can thiệp vào phía cầu phức tạp hơn nhiều. Sự can thiệp của nhà nước ở đây có thể thể hiện ở việc phân phối sản phẩm, phúc lợi xã hội... và thể hiện rõ bản chất của một chế độ chính trị, kinh tế. Vì vậy, câu hỏi đặt ra (về nhận thức) là cơ chế hay các nguyên tắc thị trường ở đây được vận dụng như thế nào? Và cái gì bảo đảm cho các nguyên tắc ấy hoạt động hiệu quả và vẫn bảo đảm hướng tới mục tiêu giải quyết những vấn đề liên quan đến phúc lợi và sự phát triển của toàn xã hội? Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(2)...

Một vấn đề nữa cũng hết sức quan trọng về mặt nhận thức đó là khẳng định và làm rõ vai trò của kinh tế nhà nước. Trước hết, Nhà nước can thiệp gián tiếp vào nền kinh tế thông qua các cơ chế, chính sách kinh tế (được luật hóa). Tiếp đó, Nhà nước can thiệp trực tiếp bằng sử dụng các công cụ hành chính (công cụ thể hiện quyền lực trực tiếp); bằng nguồn lực tài chính (và các nguồn lực khác...) của Nhà nước. Nguồn lực tài chính của Nhà nước được sử dụng thông qua việc đầu tư hoặc chi trả cho giải quyết những vấn đề xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm quốc phòng, an ninh... và đầu tư vào nền kinh tế thông qua các doanh nghiệp nhà nước. Câu hỏi đặt ra ở đây là, nguồn lực tài chính nhà nước nên được đầu tư vào đâu, lĩnh vực nào? Và tương tự, doanh nghiệp nhà nước nên hiện diện ở đâu và vận hành thế nào (khi nói về vận dụng nguyên tắc thị trường trong phát triển kinh tế - xã hội)? Nói cách khác là cải cách doanh nghiệp nhà nước như thế nào trong phát triển nền KTTT (đầy đủ) định hướng XHCN?

Nội hàm của đột phá chiến lược thứ hai

Hiện nay, tầm quan trọng và vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao không còn là vấn đề phải tranh luận. Tuy nhiên, có thể thấy còn nhiều vấn đề cụ thể từ các quan niệm, thuật ngữ sử dụng trong đột phá này. Đồng thời, một trong những vấn đề quan trọng về nhận thức đối với đột phá này là ai là chủ thể của việc thực hiện đột phá cũng chưa thật rõ. Đây là những vấn đề làm cho việc tổ chức, triển khai thực hiện trong thực tiễn còn lúng túng. Cụ thể như sau:

Về phát triển nguồn nhân lực - có nhiều thuật ngữ chưa rõ về nội hàm vì vậy khó triển khai ngay trong thực tiễn và cần phải có nghiên cứu làm rõ:

Đột phá chiến lược thứ hai đề cập đến phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Trong nhiều năm và cho đến thời điểm hiện nay có thể nói chưa có một quan niệm rõ ràng, phù hợp, dễ vận dụng trong thực tiễn về “nhân lực chất lượng cao”. Đây là vấn đề mà ngay cả trong giới học thuật cũng như quản lý dường như có sự “đồng nhất” với năng lực học vấn (được xác nhận bằng bằng cấp, chứng chỉ...), thay vì nguồn nhân lực có kỹ năng thực sự ở nhiều cấp độ. Vì chưa có quan niệm rõ ràng nên việc đánh giá, đo lường, cụ thể hóa vào các chương trình phát triển gặp khó khăn, lúng túng...

Văn kiện ghi “ưu tiên phát triển nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt...”. Ở đây, cũng xuất hiện hai vấn đề cần phải làm rõ, gồm: 1- Nhân lực lãnh đạo, quản lý là một phạm trù “chung”, vậy phát triển nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp hay lãnh đạo, quản lý nhà nước, lãnh đạo, quản lý xã hội, phát triển xã hội; 2- Đâu là “lĩnh vực then chốt”.

Nội hàm của việc “chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo” cũng hết sức rộng và đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện đột phá này trong 10 năm qua có thể nói là chưa thành công. Vấn đề này cũng đã được thảo luận nhiều nhưng chưa có sự thống nhất và quan niệm cụ thể, vì vậy không có được thước đo, công cụ đánh giá để nhận rõ vấn đề và có hành động cụ thể. Quan niệm “toàn diện”, “cơ bản” làm khó khăn trong xác định trọng tâm, trọng điểm và hành động cụ thể trong phát triển giáo dục - đào tạo.

Phát triển giáo dục - đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo là chủ trương rất đúng và quan trọng. Tuy nhiên, ở đây cũng xuất hiện thuật ngữ “nhân tài” mà rất khó có thể có được quan niệm rõ ràng. Vấn đề tiếp theo là tầm quan trọng và vị trí của khoa học - công nghệ đã được đề cập nhiều, nhưng việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ còn nhiều hạn chế, chưa kể phải gắn với đổi mới sáng tạo - một thuật ngữ mới lần đầu tiên được đưa vào Văn kiện Đại hội XIII của Đảng - trong thời gian tới. Vì vậy, cũng sẽ khó xác định và triển khai các hành động cụ thể nhằm phát triển nhân lực nói chung, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ nói riêng...

Về đột phá chiến lược thứ ba, việc nâng cao nhận thức phát triển kết cấu hạ tầng chưa sâu, rộng.

Phát triển đồng bộ và hiện đại kết cấu hạ tầng là nhiệm vụ lâu dài, cần có lộ trình phù hợp với sự phát triển chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, việc xác định trình tự và cụ thể hóa các nhiệm vụ còn chưa tốt, một số nhiệm vụ đề ra được thực hiện ở mức thấp. Công tác phối hợp, theo dõi, giám sát và đánh giá thực hiện để có biện pháp xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh còn lúng túng.

Xuất phát từ việc chưa nhận thức rõ phát triển đồng bộ và hiện đại kết cấu hạ tầng là nhiệm vụ lâu dài, cùng với quan niệm “cứng nhắc” về tính đồng bộ và hiện đại của hệ thống kết cấu hạ tầng dẫn đến sự lúng túng trong xây dựng các chương trình, dự án đầu tư ở một số ngành, địa phương...

Cần nhận thức vấn đề đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng một cách có trọng tâm, trọng điểm để bảo đảm hiệu quả của các dự án (công trình) sớm hoàn thành, đi vào khai thác; đồng thời, sử dụng nguồn lực nhà nước có hiệu quả nhằm tạo ra thị trường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng hấp dẫn (sinh lời) để thu hút đầu tư của khu vực ngoài nhà nước.

Giải pháp thực hiện ba đột phá chiến lược

Đột phá chiến lược thứ nhất về hoàn thiện, đồng bộ thể chế.

Một là, về lý luận và nhận thức cần phân biệt rõ thể chế phát triển và thể chế phát triển nền KTTT định hướng XHCN; làm rõ và khẳng định bản chất của thể chế phát triển nền KTTT định hướng XHCN; nghiên cứu, làm rõ tiêu chí (các thuộc tính, nội hàm cụ thể) xã hội XHCN; làm rõ thêm cách thức Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế như thế nào? Trực tiếp hay gián tiếp? Bằng công cụ nào?; nghiên cứu, làm rõ và thống nhất cách thức thiết lập và vận hành, vận dụng các nguyên tắc thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực đầu vào cho nền kinh tế...; nghiên cứu làm rõ sự can thiệp của Nhà nước trong phân phối sản phẩm, phúc lợi xã hội và cơ chế hay các nguyên tắc thị trường ở đây được vận dụng như thế nào? Yếu tố bảo đảm cho các nguyên tắc ấy hoạt động hiệu quả và vẫn bảo đảm hướng tới mục tiêu giải quyết những vấn đề liên quan đến phúc lợi và sự phát triển của toàn xã hội; nghiên cứu và làm rõ vai trò của kinh tế nhà nước, sự hiện diện của kinh tế nhà nước (ở đâu, ngành, lĩnh vực nào?)...

Hai là, xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm nguyên tắc thị trường định hướng XHCN. Vấn đề quan trọng là từ lý luận, nhận thức tiến tới cụ thể hóa và pháp lý hóa các tư tưởng, đường lối và chủ trương, phát triển nền KTTT định hướng XHCN. Cụ thể, cần xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực xã hội theo hướng “tự do hóa” thị trường các nhân tố đầu vào (trong đó vẫn bảo đảm có sự quản lý của Nhà nước, với phương thức mới):

Sửa đổi các luật liên quan đến quản lý và khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bền vững, trong đó tài nguyên phải được “phân bổ” cho chủ thể có năng lực khai thác hiệu quả và bền vững...

Nghiên cứu, từ đó có quy định pháp lý cụ thể về thị trường lao động. Mặc dù Bộ luật Lao động năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2021) đã có những quy định quản lý nhà nước về lao động, trong đó có việc theo dõi, cung cấp thông tin về lao động, về thị trường lao động, tuy nhiên chưa có những quy định về tổ chức hoạt động của thị trường lao động để bảo đảm sự dịch chuyển, lựa chọn nghề một cách tự do, hiệu quả và bảo đảm thị trường dẫn dắt các hoạt động đào tạo nghề. Đồng thời, một số quy định về quản lý nhà nước về lao động chưa thật khả thi và phù hợp, chưa thể hiện rõ vai trò của thị trường và tính định hướng XHCN...

Nghiên cứu vận dụng các nguyên tắc thị trường trong huy động, phân bổ nguồn lực tài chính (vốn). Có quy định cụ thể hơn về phân bổ ngân sách nhà nước (trong chi đầu tư phát triển liên quan đến việc tập trung nguồn lực để giải quyết “dứt điểm” các công trình quan trọng; trong việc cấp vốn cho các doanh nghiệp nhà nước...) và các nguồn lực tài chính khác trong xã hội.

Nghiên cứu, rà soát các luật và văn bản quy phạm pháp luật khác nhằm quy định rõ hơn về phương thức quản lý (can thiệp) của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế - xã hội theo hướng: Tôn trọng quyền tự do kinh doanh; chỉ can thiệp khi các hoạt động sản xuất, kinh doanh có tác động tiêu cực ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng, dân cư, lợi ích quốc gia, dân tộc; khi xảy ra các tình huống phải can thiệp, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình tùy theo các mức độ ảnh hưởng. Đây là việc hết sức quan trọng, vì những quy định pháp lý liên quan nằm rải rác ở các luật, bộ luật khác nhau...

Nghiên cứu, xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai thực hiện một số luật mới phù hợp với bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, như: Luật Giao dịch điện tử và Kinh tế số (sửa đổi, bổ sung Luật Giao dịch điện tử năm 2005); Luật Chính phủ số; Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Du lịch số, Luật Y tế số...

Đột phá chiến lược thứ hai về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Phát triển nguồn nhân lực, phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ là nhiệm vụ hết sức quan trọng và đã có sự thống nhất nhận thức trong xã hội về vấn đề này. Tuy nhiên, đi sâu vào những vấn đề cụ thể còn có những khác biệt về nhận thức và hiểu biết chung và từ đó việc cụ thể hóa, pháp lý hóa chủ trương đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ còn gặp những khó khăn. Vì vậy để triển khai tốt đột phá thứ hai, cần tập trung thực hiện:

Một là, nâng cao nhận thức về đột phá chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Trước bối cảnh và tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực cũng thay đổi. Theo đó, nhân lực đòi hỏi phải có nhiều kỹ năng mới, trong đó đổi mới, sáng tạo là yếu tố quyết định. Vì vậy, chính sách bồi dưỡng và thu hút nhân tài cần được thực hiện căn cơ, bài bản, trên cơ sở nghiên cứu làm rõ các thuật ngữ đã nêu trong đột phá chiến lược để tạo ra sự thống nhất về cách hiểu, từ đó làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách, chương trình thực hiện đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, đồng thời tăng cường sự đồng thuận trong xã hội, tạo điều kiện triển khai trong thực tiễn có hiệu quả...

Xây dựng các tiêu chí, tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, theo hướng thay vì nặng về các tiêu chí liên quan đến bằng cấp, chứng chỉ như hiện nay, thì nên xuất phát từ phía cầu (mức độ đáp ứng nhu cầu về lao động, việc làm, ví dụ: tỷ lệ có việc làm và việc làm phù hợp sau khi được cấp chứng chỉ, văn bằng; hiệu quả, hiệu suất, năng suất làm việc...). Việc này kết hợp với cơ chế, chính sách tuyển dụng nhân lực (từ phía cầu) sẽ tạo ra sự chuyển biến nhận thức trong toàn xã hội về đào tạo, tự đào tạo trong phát triển nguồn nhân lực...

Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý: 1- Áp dụng chế độ “chức nghiệp thực tài”. Điều này đòi hỏi đổi mới cách thức tuyển dụng, đánh giá, trả lương, khen thưởng, đề bạt, bổ nhiệm. Cách thức tiến hành: công khai, minh bạch, dân chủ. Các hình thức này về cơ bản đã được nhiều nước áp dụng và rất có hiệu quả, có thể nghiên cứu vận dụng ngay được; 2- Đổi mới công tác đào tạo, ưu tiên đào tạo những kỹ năng mà thực tiễn đòi hỏi.

Tháo gỡ các nút thắt trong lĩnh vực phát triển nhân lực, gồm:

- Tạo chuyển biến rõ nét trong nhận thức từ coi trọng bằng cấp sang đánh giá dựa trên năng lực của người lao động. Nâng cao ý thức tôn trọng và tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy các hoạt động phát minh, sáng chế, phát huy năng lực sáng tạo của nguồn nhân lực.

- Thực hiện nguyên tắc giá cả sức lao động (tiền lương, tiền công) do thị trường quyết định và được phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, theo tài năng cống hiến. Đặc biệt là thực hiện một hệ thống phân phối tiền lương gắn với năng suất lao động, hiệu quả làm việc; thực hiện công bằng trong phân phối và khuyến khích, tôn vinh lao động sáng tạo, thúc đẩy phát triển nhân lực trình độ cao, trọng dụng nhân tài. Đổi mới có tính cách mạng về tuyển dụng, sử dụng, đánh giá và trả công lao động; gắn sử dụng, đánh giá với đào tạo nguồn nhân lực. Thay đổi quan niệm về “nhân tài” và có chế độ thu hút, đãi ngộ thỏa đáng. Hoàn thiện chính sách quản lý, tuyển dụng và sử dụng lao động, thu hút và giữ chân nhân tài, cũng như phương pháp đánh giá nhân viên, người lao động. Theo đó, cần chú trọng phát triển văn hóa cơ quan, doanh nghiệp và hệ thống chỉ số đánh giá lao động.

- Tăng cường hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, đa dạng hóa các hoạt động giao dịch việc làm, kết nối cung - cầu lao động. Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng của thị trường lao động (hướng nghiệp, dịch vụ việc làm, cơ sở dữ liệu thông tin, dự báo thị trường lao động...) và tổ chức nghiên cứu dự báo và cung cấp các dịch vụ công về việc làm có hiệu quả.

- Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế về phát triển nhân lực. Chủ động tham gia xây dựng, tiếp cận chuẩn đào tạo, tiêu chuẩn kỹ năng nghề, cũng như các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về các tiêu chuẩn kỹ năng nghề khu vực Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và toàn cầu. Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào giáo dục - đào tạo, tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế về kỹ thuật, đào tạo cán bộ và tài chính,... để tăng thêm nguồn lực đầu tư cho phát triển nhân lực.

- Cải cách thể chế giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh mới. Trong đó, tập trung tháo gỡ 4 nút thắt là: Giáo dục hướng nghiệp; mối quan hệ giữa các cơ sở giáo dục - đào tạo và doanh nghiệp trong giáo dục - đào tạo; trao quyền tự chủ thực sự cho các cơ sở giáo dục - đào tạo; chuẩn hóa chất lượng đào tạo theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

- Tăng cường kết nối đào tạo giữa trường đại học và doanh nghiệp cả trong nước và nước ngoài, tạo điều kiện về pháp lý để các trường và doanh nghiệp có thể hợp tác cùng đào tạo, đưa hợp tác trong đào tạo với các doanh nghiệp vào định hướng phát triển của trường đại học trong giai đoạn 2021 - 2025, và tầm nhìn đến năm 2030.

- Rà soát, quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục - đào tạo trên cả nước đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập và gắn với quy hoạch nguồn nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh công tác hướng nghiệp, phân luồng, liên thông trong giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu của xã hội. Tăng cường đào tạo thường xuyên và đào tạo lại cho người lao động.

 - Đẩy mạnh giáo dục kỹ năng, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, công nghệ  thông tin, công nghệ số trong giáo dục - đào tạo; thực hiện theo lộ trình phổ cập kỹ năng số, kỹ năng bảo đảm an toàn, an ninh mạng đạt trình độ cơ bản cho người dân. Tăng cường công tác kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục; xếp hạng các trường đại học. Quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, chú trọng các trường sư phạm, trường y; phát triển cơ sở giáo dục đại học chất lượng cao theo chuẩn khu vực và thế giới, ưu tiên nguồn lực phát triển các trường công nghệ. Nâng cao chất lượng dạy, học ngoại ngữ ở các cấp học và trình độ đào tạo; coi trọng dạy, học và sử dụng tiếng Anh. Phấn đấu duy trì chỉ số phát triển con người (HDI) thuộc nhóm cao của thế giới (trên 0,7); số sinh viên đại học đạt 270 sinh viên trên 1 vạn dân vào năm 2025.

- Tập trung hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống thông tin dự báo thị trường lao động và chất lượng dịch vụ việc làm. Xây dựng cơ chế, chính sách để định hướng dịch chuyển lao động thông thoáng, phân bố hợp lý lao động theo vùng. Cải cách tổng thể, đồng bộ chính sách tiền lương theo hướng tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động và quy luật khách quan của KTTT, lấy tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh làm cơ sở để tăng lương. Đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Hai là, thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù để khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu thực sự là động lực chính của tăng trưởng kinh tế, tạo bứt phá nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Xây dựng các chính sách và thể chế đột phá cho các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh, công nghệ mới. Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý ngân sách nhà nước về khoa học trên tinh thần tiết kiệm, hiệu quả, có tính đến rủi ro và tôn trọng, tôn vinh các nhà khoa học.

Thực hiện chuyển đổi số quốc gia trong quản trị quốc gia, quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, tổ chức xã hội và quản lý tài nguyên quốc gia; thực hiện chuyển đổi số trong các doanh nghiệp (quản trị doanh nghiệp, nguồn nhân lực, dây chuyền sản xuất,...), ứng dụng và phát triển công nghệ mới, tập trung phát triển công nghệ ưu tiên có khả năng ứng dụng cao, nhất là công nghệ số, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, cơ điện tử, tự động hóa, điện tử y sinh, sinh học, năng lượng sạch, công nghệ môi trường. Tiếp tục đầu tư và khai thác có hiệu quả các khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung theo mô hình tiên tiến trên thế giới.

Cơ cấu lại toàn diện hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ công lập. Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động các cơ sở nghiên cứu, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học - công nghệ trong các doanh nghiệp; tăng cường liên kết doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trường đại học và viện nghiên cứu là chủ thể nghiên cứu mạnh. Tiếp tục thúc đẩy, khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.

Thực thi hiệu quả chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng cán bộ khoa học - công nghệ, khơi dậy sức sáng tạo, nâng cao trách nhiệm và tôn trọng sự khác biệt trong công tác nghiên cứu. Tháo gỡ các vướng mắc trong chính sách đào tạo, thu hút và sử dụng nhân lực khoa học - công nghệ, đặc biệt là nhân lực có trình độ chuyên môn cao, nhà khoa học đầu ngành. Xây dựng, triển khai các chương trình cụ thể để thu hút và phát huy có hiệu quả các nhà khoa học, chuyên gia giỏi là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài.

Phát triển mạnh thị trường khoa học - công nghệ, đặc biệt là mạng lưới các tổ chức trung gian môi giới, đánh giá chuyển giao công nghệ, hỗ trợ nghiên cứu giải mã, làm chủ công nghệ được chuyển giao ở trong nước và từ nước ngoài. Tăng cường công tác bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Ba là, phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam và sức mạnh toàn dân tộc, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội.

Gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu về phát triển con người gắn kết chặt chẽ với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ giữa văn hóa và con người, nhấn mạnh vai trò của con người với tính chất là chủ thể và cũng là mục đích của phát triển nền văn hóa. Phát triển nền văn hóa chính là phát triển con người và ngược lại. Cùng với chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, sự tăng cường và gắn kết phát triển con người và nền văn hóa trong một thể thống nhất sẽ là cơ sở vững chắc để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, không chỉ làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, mà còn trở thành động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.

Khơi dậy tính cộng đồng, ý chí tự cường và khát vọng vươn lên. Tăng cường công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, các di tích lịch sử văn hóa. Phát triển đi đôi với giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, khắc phục tình trạng lạm dụng tiếng nước ngoài. Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc. Từng bước hạn chế, tiến tới xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu. Đề cao tính tiên phong, gương mẫu trong văn hóa ứng xử của người lãnh đạo, cán bộ, công chức và đảng viên; tăng cường giám sát việc thực hiện các chính sách văn hóa. Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hóa. Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền và các giai tầng xã hội. Hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa; phát triển những sản phẩm, loại hình văn hóa độc đáo có sức lan tỏa để quảng bá, giới thiệu ra thế giới.

Đột phá chiến lược thứ ba về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng.

Một là, đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, quán triệt chủ trương thực hiện đột phá chiến lược về phát triển kết cấu hạ tầng theo tinh thần phát triển đồng bộ và hiện đại kết cấu hạ tầng cả về kinh tế và xã hội là nhiệm vụ lâu dài, cần phải có lộ trình phù hợp với sự phát triển chung của toàn nền kinh tế, tạo ra sự thống nhất cao về nhận thức và hành động...

Hai là, xác lập và hoàn thiện thể chế thực hiện đột phá chiến lược về phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội, trong đó cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ:

Xây dựng đồng bộ, đầy đủ hệ thống văn bản luật, văn bản pháp quy dưới luật để hoàn thiện thể chế phát triển kết cấu hạ tầng. Kết cấu hạ tầng bao gồm nhiều ngành, lĩnh vực và chịu sự điều chỉnh của nhiều luật cũng như các văn bản pháp quy dưới luật. Hơn nữa đặt vấn đề phát triển đồng bộ, hiện đại, đòi hỏi phải có cách tiếp cận tổng thể, hệ thống, trước hết là ngay trong việc tạo lập môi trường thể chế cho phát triển kết cấu hạ tầng.

Thực hiện các giải pháp quyết liệt, đặc biệt các giải pháp về cơ chế, chính sách và huy động, phân bổ nguồn lực nhằm tập trung đầu tư xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước theo các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII đề ra. Cụ thể:

Tập trung hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư, đấu thầu, bảo đảm sự hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng kết cấu hạ tầng. Thực hiện giải pháp công khai, minh bạch thông tin và xây dựng cơ chế giám sát để các tầng lớp nhân dân tham gia giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương trong xây dựng kết cấu hạ tầng...

Xây dựng chính sách cụ thể, trên cơ sở Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) để huy động nguồn lực đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, trên cơ sở bảo đảm hiệu quả đầu tư, cân bằng lợi ích của các chủ thể...

Xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách tập trung nguồn lực từ ngân sách nhà nước đầu tư các công trình, dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh hoặc các công trình, dự án không kêu gọi, thu hút được các nhà đầu tư ngoài nhà nước... Đồng thời, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ tài sản công (theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công) tạo vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng...

Tăng cường kết nối với khu vực và thế giới. Phát triển mạnh hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo nền tảng phát triển kinh tế số. Để Việt Nam hội nhập sâu hơn, tiến xa hơn vào các thị trường thế giới, tiếp cận được nhiều thị trường, hạ tầng giao thông của Việt Nam phải tiếp tục kết nối với khu vực và thế giới. Hạ tầng công nghệ thông tin, tài nguyên, dữ liệu số phải phát triển tương xứng và đáp ứng xu hướng phát triển kinh tế số.

Ba là, thời gian tới cần tập trung rà soát danh mục các công trình, dự án kết cấu hạ tầng để tập trung ưu tiên đầu tư, trong đó có danh mục thu hút đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước để tiếp tục tập trung nguồn lực, đầu tư có trọng điểm, cấp bách và hoàn thành dứt điểm các công trình, dự án dở dang, các công trình, dự án trong kế hoạch... Ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Bốn là, rà soát lại tất cả những văn bản pháp luật liên quan để loại bỏ những nội dung mâu thuẫn, xung đột khi triển khai thực hiện các dự án xây dựng và vận hành các công trình kết cấu hạ tầng. Hiện vẫn còn nhiều vướng mắc trong các văn bản pháp luật về đầu tư công, đấu thầu, đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, thuế, tài nguyên, môi trường...

Tổ chức tốt việc lập quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng và các quy hoạch ngành liên quan đến lĩnh vực kết cấu hạ tầng (đường bộ, đường sắt, cảng biển, sân bay, năng lượng, phòng, chống thiên tai và thủy lợi...) theo yêu cầu của Luật Quy hoạch năm 2017. Trong đó, để bảo đảm nâng cao chất lượng quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, cần rà soát, hệ thống hóa, ban hành mới, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, suất đầu tư, đơn giá bảo đảm đồng bộ, đáp ứng yêu cầu quản lý theo cơ chế thị trường; tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Rà soát lại các quy định về đầu tư dự án PPP để đẩy mạnh thu hút các thành phần kinh tế, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thông qua cơ chế, chính sách thông thoáng, minh bạch, bảo đảm lợi ích thỏa đáng của nhà đầu tư và coi đây là giải pháp đột phá để thực hiện các mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng.

Hoàn thiện cơ chế phân cấp đầu tư, phân bổ nguồn vốn, thực hiện chế độ phân quyền, ủy quyền để phát huy tính chủ động, sáng tạo, đề cao trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong các quyết định đầu tư (hình thức lựa chọn nhà thầu, chất lượng, hiệu quả của dự án...) phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm sự quản lý thống nhất chung, đồng thời tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá đầu tư đối với các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật đánh giá chung đối với các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng gắn với đặc thù của vùng. Tăng cường phối hợp giám sát thực hiện đầu tư và đánh giá quá trình cũng như kết quả đầu tư, đặc biệt là các dự án tạo sự kết nối giữa các địa phương và liên vùng; xác định mô hình tổ chức phối hợp giám sát, đánh giá thực hiện đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng vùng./.

 

Giữ vững rường cột nước nhà

Tuổi trẻ cả nước đang tổ chức đại hội đoàn các cấp, hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027. Trong lúc đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) cả nước, với vai trò, vị thế là cánh tay đắc lực, đội dự bị tin cậy của Đảng, là rường cột của nước nhà, đang bước vào đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa sâu rộng, thì các thế lực thù địch cũng nhân cơ hội này đẩy mạnh các chiến dịch tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá... Ngụy biện thông tin, lèo lái dư luận Giới trẻ nói chung, ĐVTN nói riêng vừa là mục tiêu, đối tượng, vừa là công cụ được các thế lực thù địch triệt để khai thác, lợi dụng, tập trung chống phá. Các chiến dịch tuyên truyền, chống phá của các thế lực thù địch từ trước đến nay đều đặt giới trẻ ở vị trí trung tâm, trọng tâm. Mục tiêu của chúng là hủy hoại “cánh tay đắc lực của Đảng”, làm tan rã “đội dự bị tin cậy”, phá vỡ “rường cột” đất nước. Chúng muốn thanh niên Việt Nam bị mất phương hướng, bị kích động, quay lưng, phai nhạt lý tưởng của Đảng, đi theo con đường phản nước, hại dân... Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” xuyên suốt ấy, chúng thường bám vào các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và diễn biến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội theo dòng thời sự chủ lưu để tạo cớ đào rộng, khoét sâu, ngụy tạo chứng cứ gây nhiễu thông tin, nội công ngoại kích, lèo lái dư luận theo ý đồ, kịch bản đã được vạch sẵn. Bám vào đại hội đoàn các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII và kỷ niệm 91 năm truyền thống của Đoàn để đẩy mạnh chiến dịch công kích, xuyên tạc, chống phá là hoạt động nằm trong chuỗi chiến lược ấy. Bình tĩnh, sáng suốt nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn để có phương án đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch là trách nhiệm, bổn phận trước hết của mỗi tổ chức đoàn, mỗi ĐVTN yêu nước. Theo dõi tình hình, chúng ta thấy rõ, sau những chiến dịch truyền thông dồn dập trên không gian mạng chống phá Đại hội XIII của Đảng, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, xuyên tạc công tác phòng, chống dịch Covid-19... chiến dịch công kích, chống phá của các thế lực thù địch hiện nay đang chĩa mũi nhọn vào tuổi trẻ Việt Nam, vào tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Cụ thể những ngày gần đây, bám vào tình hình thời sự nóng bỏng từ cuộc xung đột vũ trang Nga-Ukraine, tình hình phức tạp trên Biển Đông và những vụ án, vụ việc tiêu cực trong nước... chúng lồng ghép thông tin, bình luận, ngụy biện, lèo lái dư luận xã hội nhằm phủ nhận vai trò của Đoàn đối với tuổi trẻ đất nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Bằng các hình thức “tọa đàm”, phỏng vấn, lấy ý kiến thế hệ trẻ Việt Nam, chúng sắp xếp sẵn những đối tượng thanh niên là người Việt Nam ở nước ngoài có tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước để gieo rắc, truyền tải tư tưởng phản động. Từ ý kiến cá nhân trên một số diễn đàn, chúng đòi xóa bỏ Huy hiệu Đoàn, kêu gọi tuổi trẻ tẩy chay tổ chức đoàn và các phong trào thanh niên. Từ việc ngụy biện cho rằng, Đoàn chỉ còn là “cái vỏ hình thức”, không còn phù hợp với tuổi trẻ thời hội nhập quốc tế, chúng kêu gọi thanh niên, trí thức trẻ đi theo trào lưu “cấp tiến”, tư tưởng “tự do”, “dân chủ”, tung hô những bạn trẻ lầm đường lạc lối là những “anh hùng”. Nhiều phương tiện truyền thông hải ngoại phát tiếng Việt gọi những đối tượng này bằng những danh xưng lộng ngôn, ngoa ngôn, kiểu như: “Nhà hoạt động dân chủ”, “nhà đấu tranh nhân quyền”, “nhà hoạt động xã hội”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà phản biện xã hội” v.v.., cổ xúy trào lưu lợi dụng tự do ngôn luận để “phản biện”, lôi kéo thanh niên rời xa Đảng. Thời gian qua, có không ít đối tượng núp bóng một số tổ chức phi chính phủ, lợi dụng các hoạt động từ thiện, bảo vệ môi trường để tập hợp, lôi kéo thanh niên tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài nhằm “tẩy não”, gieo rắc tư tưởng cực đoan, chống đối Đảng, Nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Trên thực tế, không ít bạn trẻ non kém bản lĩnh, nhẹ dạ cả tin, ăn phải thứ “bánh vẽ” ảo tưởng, đã tha hóa về nhân cách, trở thành công cụ đắc lực cho các thế lực thù địch lợi dụng. Có thể thấy, chiến lược, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm “tẩy não” giới trẻ Việt Nam đã và đang được điều chỉnh, thay đổi ngày càng tinh vi nhằm chuyển hóa tư tưởng, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến” ở thế hệ rường cột nước nhà. Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải luôn tỉnh táo, chú trọng các hình thức, giải pháp củng cố trận địa tư tưởng trong thanh niên, nhất là thanh niên giới trí thức và công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, giữ vững lực lượng rường cột nước nhà. Khắc phục “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” Phát biểu tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022, bên cạnh khẳng định thành tích của tuổi trẻ Việt Nam và Đoàn là rất to lớn và đáng tự hào, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ trách nhiệm của Đoàn trong định hướng giáo dục thanh niên là “tránh nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Sự chỉ đạo, lời căn dặn của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta rất súc tích, vừa mang tính khái quát cao, vừa cụ thể. Tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” xuất phát từ thực tế công tác Đoàn và phong trào thanh niên còn nhiều hạn chế, chậm đổi mới. Một số hoạt động của Đoàn còn nặng về bề nổi, dàn trải, hình thức, kết quả thiếu bền vững. Một bộ phận thanh niên giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng cách mạng, sống thực dụng, xa rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc... Sau 5 năm nhìn lại, với tinh thần khách quan, thẳng thắn, nghiêm túc, chúng ta thấy rằng, nhiều mặt hạn chế, bất cập trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên vẫn chậm được khắc phục. Tại các hội nghị góp ý xây dựng Văn kiện Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII do Trung ương Đoàn tổ chức, nhiều đại biểu đã kiến nghị các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” trong một bộ phận thanh niên hiện nay. Đại hội đoàn các cấp tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc nhiệm kỳ 2022-2027 là đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa sâu rộng, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với thanh niên cả nước. Đây cũng là giai đoạn thanh niên Việt Nam thể hiện sứ mệnh là lực lượng chủ lực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trọng tâm là công cuộc chuyển đổi số, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của đất nước ngày càng sâu rộng. Với phương châm “lấy xây để chống”, việc củng cố trận địa tư tưởng của Đảng trong thanh niên phải được coi trọng, đặt lên hàng đầu. Nghiên cứu, tìm kiếm các mô hình tập hợp, giáo dục thanh, thiếu niên phù hợp với nguyện vọng, mục tiêu phấn đấu của tuổi trẻ, tích cực, mạnh dạn, quyết liệt đổi mới để công tác Đoàn và phong trào thanh niên thực sự hấp dẫn, thu hút thanh niên, là những vấn đề đã và đang được Trung ương Đoàn lấy ý kiến rộng rãi. Với tư cách là “Đội dự bị tin cậy của Ðảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Ðảng, kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh”, thanh niên Việt Nam phải luôn là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong nhiệm vụ đấu tranh chống các quan điểm, khuynh hướng chính trị sai trái, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Để mỗi ĐVTN thực sự là một chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh phức tạp, nhiều thách thức này, tổ chức đoàn các cấp phải khắc phục tình trạng hình thức, hời hợt, thiếu bền vững trong các phong trào, chương trình hành động. Biến quy trình giáo dục thành tự giáo dục để ĐVTN có ý thức tự giác, tự chủ trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao ý thức, thái độ, kỹ năng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch trên không gian mạng là những mục tiêu, giải pháp tổ chức đoàn các cấp dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đoàn cần có các mô hình thực hiện một cách bài bản, kiên trì, hiệu quả. Thanh niên vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của không gian mạng. Khi ĐVTN được giáo dục, trang bị đầy đủ lý luận chính trị, được tập hợp, thống nhất dưới ngọn cờ Đoàn, sẽ tạo nên sức đề kháng mạnh mẽ, là bức tường thành vững chắc của trận địa tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi các khuynh hướng lệch lạc, giữ vững rường cột nước nhà. Giáo dục, vận động ĐVTN về thái độ sử dụng mạng xã hội, về văn hóa ứng xử trên không gian mạng để ngày hội lớn của tuổi trẻ cả nước trở thành sắc màu, nội dung chủ đạo trên các tài khoản cá nhân và các trang, nhóm trên mạng xã hội là điều cần làm của tổ chức đoàn các cấp trong giai đoạn hiện nay. Đó cũng là cách lấy xây để chống, ngăn chặn sự xâm nhập của các thông tin độc hại, phản động mà các thế lực thù địch đang hướng vào thanh niên.

Cảnh giác với luận điệu bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

Vào thời điểm Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang mở một đợt sinh hoạt chính trị, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt, sớm đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, vào thực tiễn cách mạng và hoạt động quân sự, thì những kẻ hiềm khích cùng thế lực thù địch, ráo riết triển khai một đợt cao điểm chống phá, hòng hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội. Chúng cố tình bôi nhọ, hạ bệ hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội và chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân-dân. Xét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là nhằm tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, chuyển hướng chính trị Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản. Cùng với đó, những thủ đoạn cũng chĩa mũi nhọn vào bôi đen những giá trị chuẩn mực đạo đức Bộ đội Cụ Hồ, tạo sự lệch chuẩn trong nhận thức và hành động của một số cán bộ, chiến sĩ ở các cơ quan, đơn vị. Từ đó, hòng làm cho bộ đội ta mất phương hướng chính trị, không phân biệt rõ bạn-thù, đối tượng-đối tác; xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; tha hóa về đạo đức, lối sống; rệu rã về mặt tổ chức, không còn là công cụ sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân. Để thực hiện mưu đồ đó, chúng tìm trăm phương nghìn kế để chống phá, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội trong thời gian dài, nhưng “xới lên” rầm rộ ở từng thời điểm, mà dịp Quân đội ta triển khai Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương như vừa qua là một ví dụ. Theo đó, các thế lực thù địch tập trung sự xuyên tạc vào những vấn đề cơ bản về chính trị, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đến những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, công tác cán bộ, vũ khí, trang bị, mối quan hệ đoàn kết quân dân, mối quan hệ cán bộ-chiến sĩ, tình trạng vi phạm kỷ luật của bộ đội... Các thế lực thù địch liên tục sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau, tung hỏa mù hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ lung lạc, mất phương hướng, không phân biệt được đúng-sai, khó nhận diện và đề phòng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá. bản chất với hiện tượng, nhằm xóa nhòa ranh giới giữa quân đội cách mạng với phản cách mạng; giữa xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị với sự thờ ơ, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, đứng ngoài các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; xóa nhòa cái đẹp, cái tốt của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ với những “mực thước” mà chúng tự bịa đặt về công lý, nhân quyền, hay sự lừa bịp “quân đội chỉ cần hiếu với dân, chứ không cần trung thành với Đảng”... Thế nhưng, dù mưu mô, thủ đoạn có nham hiểm, tinh vi thế nào, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam vẫn vững vàng trước thử thách, luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Thực tế cho thấy, dù không thể đạt mục đích và dã tâm đề ra, song mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch vẫn chưa bao giờ và không bao giờ thay đổi. Chúng tìm đủ mọi thủ đoạn, cách thức mới, thâm độc và xảo quyệt hơn, triệt để lợi dụng mọi cơ hội, điều kiện, kẽ hở... nhằm đạt cho bằng được mưu đồ bẩn thỉu; trong đó, bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội được cho là công cụ chủ đạo. Không khó để nhận ra nhiều bài viết trên các trang mạng xã hội thời gian gần đây đưa ra những luận điệu bịa đặt, cố tình suy diễn rằng “mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội đã thay đổi” nên bị “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển, đảo của nước ngoài”. Qua đó, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cổ xúy, kêu gọi “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Lợi dụng việc xử lý vi phạm kỷ luật một số cán bộ cấp cao trong quân đội vừa qua, chúng chủ ý xuyên tạc công tác quản lý, giáo dục, tạo kẽ hở cho cán bộ vi phạm; dựa trên một số thông tin, tư liệu trong các sự kiện, nhân chứng chưa được làm sáng tỏ để tán phát nhiều tin, bài, video clip, phóng sự, bình luận, suy diễn, áp đặt ý kiến chủ quan gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa cán bộ, sĩ quan quân đội với cựu chiến binh, giữa cựu chiến binh với nhân chứng lịch sử; phát động phong trào đòi xét lại lịch sử dân tộc, quân đội... Nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng những bức xúc cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư, gia đình... hòng “đánh tráo khái niệm”, “đổi trắng thay đen” cho đó thuộc phạm trù bản chất, truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ với chiến sĩ; từ đó, sử dụng chiêu trò “dương đông kích tây”, đưa thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng “tạo áp lực, yêu sách” với quân đội, nhen nhóm dư luận tiêu cực trong nhân dân nhằm tẩy chay, không cho con em nhập ngũ... Thông qua những sự việc này, chúng còn nói xấu, hạ thấp uy tín đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, làm phai nhạt hình tượng quân đội cách mạng được nhân dân tôn vinh, trân quý từ ngày thành lập đến nay, hòng dễ bề phân rã về tư tưởng, chia rẽ sự đoàn kết quân dân, làm phai nhạt phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong lòng nhân dân. Có thể nói, bất kỳ một sự việc, hiện tượng nào trong quân đội có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá theo kiểu “thổi tàn thành lửa” là chúng có thể tận dụng kỳ được, kích hoạt a dua, kéo bè kéo cánh, dùng mọi thủ đoạn để công kích, nói xấu, bội nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Quân đội ta. Đặc biệt, trong các đợt phòng, chống dịch Covid-19 hai năm vừa qua thì sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị càng thể hiện rõ dã tâm và không từ bỏ bất kỳ mưu mô, thủ đoạn nào. Từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ QĐND được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng về dịch bệnh tại nhiều địa phương trong cả nước. Với tinh thần: Giúp dân là mệnh lệnh trái tim của Bộ đội Cụ Hồ; ở đâu dân cần, ở đâu khó khăn thì ở đó có Bộ đội Cụ Hồ và quyết tâm thực hiện “ba nhất”: Nhận thức, trách nhiệm cao nhất; giúp đỡ nhân dân được nhiều nhất; chấp hành pháp luật, bảo đảm an toàn tốt nhất. Tất cả những việc làm đó góp phần làm giảm gánh nặng phòng, chống dịch cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương. Thế nhưng, trên mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân thù địch lại cố tình rêu rao, xuyên tạc, bôi đen nghĩa cử cao đẹp ấy của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Để tăng phần hấp dẫn những người nhẹ dạ cả tin, chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong giúp dân phòng, chống dịch. Một số kẻ đăng trên mạng xã hội nhiều bài viết có nội dung suy diễn, xuyên tạc chủ trương đưa quân đội, công an tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là “trái Hiến pháp, pháp luật”, là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch. Khi nói về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân thì họ suy diễn mang tính chủ quan, phiến diện, một chiều: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”, vì theo họ: “Bộ đội vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa...”... Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy của lực lượng thù địch, chống phá không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; bôi nhọ phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội ta. Lịch sử gần 78 năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam cho thấy, quân đội luôn đồng hành với dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh bại đế quốc, thực dân, đưa non sông thu về một mối và hiện nay đang giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, giúp nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Trải qua các giai đoạn cách mạng, trong bất luận mọi tình huống, trước mọi nhiệm vụ hay khó khăn, thử thách tột cùng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn tỏa sáng trên mọi lĩnh vực, vai trò của quân đội luôn được khẳng định, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, cùng bạn bè bốn bể, năm châu.

PHẢI CHĂNG TẤT CẢ ĐỀU "VÌ TIỀN"!

         Thật buồn khi một người như bà Hoàng Hường (Chẳng khá mấy so với Hoàng Kim Dung) mà lại lên Đài truyền hình quốc gia, cụ thể là kênh VTV1...

Cộng đồng mạng cũng nhanh chóng phát hiện cụ bà trong bản tin ngồi cùng nữ “doanh nhân” Hoàng Hường là một diễn viên nghiệp dư có tiếng trên nền tảng mạng xã hội Tiktok, chuyên quảng cáo thực phẩm chức năng “nổ” như thần dược. Ở một khung hình khác là nghệ sĩ Quang Tèo – người cũng chuyên quảng cáo thực phẩm chức năng “nổ” như thần dược.

Tới hơn 13 giờ cùng ngày, video về chương trình “Điểm tựa tương lai” đã được VTV gỡ bỏ khỏi web VTV.VN.

“Doanh nhân” tai tiếng
Hoàng Hường được nhiều người biết đến không phải bởi chất lượng sản phẩm, những giá trị cuộc sống nữ “doanh nhân” này tạo ra. Nữ “đại gia” này được nhiều người biết đến bởi không ít thị phi, những phát ngôn miệt thị vùng miền, “vung tay đốt nhà táng” cho quảng cáo trên các nền tảng mạng xã hội, khiến nhiều người dùng vô cùng bức xúc, mệt mỏi vì… chặn mãi không hết quảng cáo.

Năm 2021, nhiều cơ quan báo chí cũng lên tiếng phản ảnh về việc “doanh nhân” Hoàng Hường quảng cáo nước súc miệng như thuốc chữa bệnh. Thời điểm đó, trên các fanpage, youtube có tên: Nha khoa Quốc tế Hoàng Hường, Nhà thuốc Hoàng Hường, Dược phẩm Hoàng Hường, Hoàng Hường - Thẩm Mỹ 24, Hoàng Hường Số 1 Nha Khoa Đẹp… liên tục phát các video quay bà Hoàng Thị Hường quảng cáo sản phẩm nước súc miệng, họng Hoàng Hường Care Medic điều trị dứt điểm hôi miệng, viêm lợi... và nhiều bệnh lý răng miệng khác tại nhà.

Bà Hường đã sử dụng các từ ngữ "diệt", "đặc trị", "trị", "loại bỏ"...: “Chữa được hôi miệng lâu năm, hôi từ kiếp trước sang kiếp này, hôi miệng cỡ nào cũng hết”, hay có thể “điều trị viêm lợi, hôi miệng tại nhà”... để quảng cáo, thổi phồng công dụng sản phẩm khiến không ít người tiêu dùng “sập bẫy”.

Trước đó, phòng khám Nha khoa quốc tế Hoàng Hường Confident Smile ở Hà Nội của bà Hoàng Thị Hường cũng bị Sở Y tế TP Hà Nội quyết định thu hồi giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh do sử dụng nhân sự chưa được Sở Y tế phê duyệt để thực hiện khám, chữa bệnh và thay đổi điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế so với thời điểm thẩm định cấp giấy phép hoạt động khám, chữa bệnh./.
Môi Trường ST.

Không thể xuyên tạc hình tượng cao quý

Mặc dù các thế lực thù địch ra sức chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ, nhưng thực tế cho thấy: Bộ đội Cụ Hồ mãi là danh xưng bình dị, gần gũi mà cao quý; giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vẫn đặc biệt thiêng liêng, mãi trường tồn theo thời gian. Thực tiễn xã hội Việt Nam ở thời điểm hiện tại cho thấy, danh hiệu và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ đã thấm đẫm vào hàng triệu con tim, khối óc của người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế; trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng; luôn vận động, phát triển qua các giai đoạn cách mạng và yêu cầu xây dựng quân đội trong từng thời kỳ. Nói đến phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là nói đến những giá trị chuẩn mực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng, tựu trung lại là: Lý tưởng chiến đấu cao đẹp, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn; tình đoàn kết quân dân cá-nước, trách nhiệm với nhân dân, sẵn sàng hy sinh tính mạng vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy, phản ánh bản chất cách mạng, nhân cách và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng, chiến đấu và công tác của Quân đội ta. Từ thực tiễn công tác huấn luyện, SSCĐ, giúp dân phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ngày càng được thể hiện rõ nét, lan tỏa trên mọi lĩnh vực, có sức cảm hóa mãnh liệt trong đời sống xã hội. Nét nổi bật trong phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ là lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân. Tiếp thu học thuyết Mác-Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam từ các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng; thường xuyên được giáo dục, rèn luyện qua thực tiễn huấn luyện, công tác, SSCĐ và chiến đấu, bảo đảm cho quân đội luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; là công cụ bạo lực của Nhà nước, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và CNXH, được nhân dân suy tôn Bộ đội Cụ Hồ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng, thực sự là đội quân có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc, nhân dân và luôn có ý chí quyết tâm, sức mạnh chiến đấu cao trước mọi kẻ thù xâm lược. Sự trung thành của Bộ đội Cụ Hồ đối với Đảng, với Tổ quốc là vấn đề có tính nguyên tắc, bất di bất dịch, luôn song hành cùng nhau, dù trong hoàn cảnh, điều kiện nào cũng không thay đổi, nó thuộc về bản chất, truyền thống đã được hun đúc, bồi đắp trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Thực tế đó cho thấy, mọi mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch đòi: “Quân đội chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia, dân tộc”, “Tổ quốc trên hết”, “chuyên nghiệp hóa quân đội và công an càng sớm càng tốt”; “Quân đội và công an là của nhân dân nên không cần phải diễu võ dương oai”... là không có cơ sở và cũng không thể thực hiện được. Những luận điệu đó chỉ nhằm phục vụ mưu đồ của các thế lực thù địch muốn tách sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam với QĐND Việt Nam, làm lu mờ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ Ðảng, Nhà nước và nhân dân... mà sự nghiệp cách mạng của dân tộc đã trao cho QĐND Việt Nam-Bộ đội Cụ Hồ. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, Bộ đội Cụ Hồ luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân chở che, đùm bọc, kề vai sát cánh cả trong đấu tranh cách mạng cũng như trong thời bình. Tình quân dân đã trở thành mẫu mực trong đời sống của người dân đất Việt và được khẳng định trong thực tiễn thông qua công tác dân vận của quân đội. “Đi dân nhớ, ở dân thương”, “Quân với dân như cá với nước”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”... đã đi vào tiềm thức đẹp khi nói về mối quan hệ đoàn kết quân dân. Phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ được thể hiện rõ khi cán bộ, chiến sĩ quân đội tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, gắn bó với cấp ủy, chính quyền các cấp; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương; xây dựng bản làng văn hóa, bài trừ các hủ tục, lối sống lạc hậu. Đồng thời, tư vấn, hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn; giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; đưa chính sách của Đảng, Nhà nước đến với đồng bào các dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... Các binh đoàn, đoàn kinh tế-quốc phòng, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, tạo công ăn việc làm cho người dân, giúp dân chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, bao tiêu sản phẩm, nâng cao chất lượng cuộc sống, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn đóng quân. Bộ đội Cụ Hồ đã chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, để họ không mắc mưu trước âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết quân dân của các thế lực thù địch, tin tưởng cấp ủy, chính quyền địa phương, đoàn kết các dân tộc anh em và tình hữu nghị với các nước láng giềng. Càng trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ càng tỏa sáng, có sức thuyết phục, sống động, góp phần bồi dưỡng nhận thức, tư tưởng, tình cảm, khơi dậy và nhân lên mặt tích cực trong nhân dân. Điển hình là trong phòng, chống thiên tai, thảm họa môi trường và đại dịch Covid-19, quân đội đã khẳng định được vai trò là lực lượng xung kích, đi đầu; hoàn thành tốt chức năng “đội quân công tác”; được cấp ủy, chính quyền các cấp và nhân dân ghi nhận, biết ơn. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đã không hề do dự, tính toán thiệt hơn, có lệnh là lên đường làm nhiệm vụ; ở đâu xuất hiện điểm nóng về dịch Covid-19, những điểm sạt lở do bão lũ gây ra là cán bộ, chiến sĩ quân đội có mặt, xông pha trên tuyến đầu, không nề hà bất cứ công việc gì. Những suy nghĩ, cử chỉ, hành động, việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong phòng, chống thiên tai, đại dịch một lần nữa khẳng định tinh thần “vì nhân dân quên mình”, “vì nhân dân phục vụ”, kế thừa và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Một trong những phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ là “sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Ra đời trong các cuộc đấu tranh cách mạng, dù thời bình hay thời chiến, với chức năng, nhiệm vụ được giao, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay; làm tốt công tác tham mưu, chỉ đạo chiến lược về công tác quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Bộ đội luôn tích cực, hăng say, sáng tạo trong huấn luyện, diễn tập, SSCĐ và xử lý các tình huống quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thực thi pháp luật trên biển, tuần tra bảo vệ đường biên, mốc giới... không nề hà khó khăn, vất vả, hiểm nguy. Trong bất kỳ nhiệm vụ nào, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn được phát huy và tỏa sáng; nhân cách của quân đội cách mạng luôn được khẳng định trong thực tiễn; vị thế, vai trò của quân đội ngày càng thể hiện rõ nét. Hành động của Bộ đội Cụ Hồ trên hết, trước hết là vì nền độc lập, lợi ích quốc gia, dân tộc, vì CNXH và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Việc làm của họ tự thân đã khẳng định rằng những giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ đang tiếp tục được vun đắp mà không một thế lực nào có thể bôi nhọ, hạ bệ hay phủ nhận.

Không thể bác bỏ một chân lý hiển nhiên rằng, xây dựng pháp luật là công việc nội bộ của từng quốc gia, xuất phát từ nhu cầu, lợi ích của từng quốc gia

     Cần khẳng định rằng, dưới góc độ một nhà nước pháp quyền, một khi đạo luật đã được ban hành thì đạo luật đó phải được tôn trọng và thực thi. Không một quốc gia nào trên thế giới lại dung túng cho những hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ, không một quốc gia nào lại cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại cho hoạt động công quyền, thực thi công lý. Đồng thời, hậu quả do việc lợi dụng “bất tuân dân sự” để lại rất nặng nề, kéo dài không chỉ ảnh hưởng về kinh tế - xã hội, mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với chính quyền. Mặt khác, việc xây dựng và thực thi pháp luật là công việc nội bộ của từng quốc gia và phải phù hợp với điều kiện của từng quốc gia. Không ai có thể phản bác điều hiển nhiên này. Nhiều nhà tư tưởng nổi tiếng thế giới cũng chỉ rõ việc nghiên cứu về quốc gia, xây dựng và thực thi pháp luật phải căn cứ vào đặc điểm, điều kiện của từng quốc gia, khu vực, dân tộc. Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, Mông-te-xki-ơ, nhà bình luận xã hội và tư tưởng chính trị nổi tiếng người Pháp, chỉ rõ: “Khi tôi nghiên cứu về con người, tôi đã đi đến kết luận rằng, những sự khác biệt của pháp luật và của đạo lý loài người không phải do họ tự vẽ ra một cách tùy tiện. Các đạo luật phải nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các đặc điểm của dân tộc vì dân tộc đó mới cần làm ra những đạo luật này. Và chỉ có những trường hợp rất đặc biệt luật của dân tộc này mới có thể thích ứng với dân tộc khác(9). Hê-ghen, nhà triết học vĩ đại người Đức, cũng khẳng định điều tương tự: “Mỗi dân tộc có chế độ nhà nước của mình; chế độ nhà nước Anh quốc là của người Anh; và nếu như người ta tự dưng muốn chuyển cho người Phổ thì điều đó cực kỳ vô lý như là quyết định chuyển Nhà nước Phổ cho người Thổ Nhĩ Kỳ. Mỗi một chế độ nhà nước chỉ là sản phẩm, là sự thể hiện tinh thần của riêng một dân tộc và của trình độ phát triển của ý thức dân tộc của họ mà thôi. Sự phát triển đó đòi hỏi một sự vận động liên tục và nhiều bước trong đó không một bước nào có thể bị xóa bỏ”(10). Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”. Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 khẳng định: “1. Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa...”.
    Vì lẽ đó, việc xác định và lựa chọn ban hành đạo luật nào là quyền năng riêng của từng quốc gia. Ban hành Luật An ninh mạng là một ví dụ điển hình. Cần thấy rằng, luật (pháp luật) về an ninh mạng luôn được quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế trên toàn thế giới... Luật An ninh mạng rất cần thiết không chỉ để bảo vệ an ninh quốc gia mà còn nhằm bảo vệ người dân, để có môi trường xã hội phát triển lành mạnh trên không gian mạng. Các quy định trong dự thảo Luật An ninh mạng của Việt Nam được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, với sự tham gia đóng góp ý kiến của các bộ, ngành chức năng, cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, nhiều chuyên gia, tổ chức, tập đoàn kinh tế, viễn thông nước ngoài lớn (như Facebook, Google, Apple, Amazon, Hội đồng kinh doanh Mỹ - ASEAN, Hiệp hội điện toán đám mây châu Á; các cơ quan đại diện nước ngoài như Mỹ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a, Nhật Bản... và ý kiến rộng rãi của quần chúng nhân dân; sự thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng và An ninh, sự chỉnh lý của các đại biểu Quốc hội qua 2 kỳ họp thứ 4 và thứ 5, Quốc hội khóa XIV. Các quy định của Luật An ninh mạng cũng phù hợp với pháp luật các nước và thông lệ quốc tế. Quy định về tội phạm mạng trong Luật An ninh mạng không phải là điều xa lạ gì, bởi lẽ không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia cũng quy định về tội phạm mạng. Theo thống kê của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), đã có đến 154 quốc gia trong tổng số 194 quốc gia thành viên UNCTAD ban hành luật pháp về tội phạm mạng. Các quy định của Luật An ninh mạng về bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng cũng phù hợp với xu hướng chung trên toàn thế giới về bảo vệ thông tin cá nhân. Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã ban hành Luật về bảo vệ thông tin cá nhân dưới nhiều tên gọi khác nhau như Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Bảo vệ dữ liệu, Luật Bảo vệ thông tin cá nhân, Luật về bảo vệ các mối quan hệ không công khai... Theo thống kê của UNCTAD, 128 trong tổng số 194 quốc gia thành viên của UNCTAD đã ban hành luật để bảo đảm việc bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư. An ninh quốc gia cũng là một ngoại lệ trong các điều ước quốc tế quan trọng về thương mại quốc tế. Điều này thể hiện tầm quan trọng và ý nghĩa sống còn của vấn đề an ninh quốc gia đối với tất cả các nước trên thế giới.

SỰ THẬT VỀ "TU VIỆN BÁT NHÃ" (BẢO LỘC) VÀ SƯ ÔNG "THÍCH NHẤT HẠNH"!

     Một vị sư mà chúng tôi gặp gỡ lúc đang vun xới mấy luống hoa, cho biết: "Khởi đầu, chính điện của Tu viện chỉ là một ngôi nhà nhỏ. Về sau, khi xây xong, ngôi nhà ấy được dùng làm nhà trẻ và lớp mẫu giáo cho con em đồng bào nghèo trong vùng". Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết vị sư trị sự đầu tiên của Tu viện là Thượng tọa Thích Đồng Quang - một đại đệ tử của Thượng tọa Đức Nghi, đã có công rất lớn trong việc phát triển Tu viện. Tất cả những tăng ni tại Tu viện Bát Nhã mà chúng tôi gặp gỡ, đều chung nhận định, rằng: "Thầy Đồng Quang là người đạo hạnh, được bà con trong vùng - không riêng gì bà con Phật tử - kính mến". 

Tháng 2/2005, trong chuyến về Việt Nam lần đầu tiên của Sư ông Thích Nhất Hạnh, Thượng tọa Đức Nghi đã cúng dường Tu viện Bát Nhã cho Sư ông Thích Nhất Hạnh để xây dựng Bát Nhã thành một trung tâm tu học theo Pháp môn Làng Mai tại Việt Nam. Tháng 5/2005, "xóm" Bếp lửa hồng được thành lập, làm nơi tu tập cho các sư cô. Tháng 10/2005, "xóm" Rừng phương bối ra đời, làm nơi tu tập cho các sư ông. Đến năm 2007, xuất hiện thêm "xóm" Mây đầu núi, với số tu sinh lên đến hơn 400 người.

Vài nét về pháp môn làng mai

Trước khi nói tiếp chuyện Tu viện Bát Nhã, thì cũng cần nhắc sơ qua người đã khai sinh ra Pháp môn Làng Mai, rồi đưa về Bảo Lộc để tu sinh tu tập: Đó là Sư ông Thích Nhất Hạnh. Chào đời ngày 11/10/1926 tại Thừa Thiên - Huế, Sư ông Thích Nhất Hạnh có thế danh là Nguyễn Xuân Bảo. Năm 16 tuổi, ông xuất gia vào tu tại chùa Từ Hiếu, Huế. Sau khi tốt nghiệp Viện Phật học Bảo quốc, ông theo phái tu thiền rồi trở thành thiền sư.

Năm 1966, ông bị chính quyền Sài Gòn buộc phải rời miền Nam Việt Nam. Sang Pháp, đầu năm 1982, ông thành lập Tu viện Làng Mai ở vùng Dordogne, miền Nam nước Pháp (còn gọi là Đạo tràng Mai thôn). Trong suốt thời gian ở nước ngoài, Sư ông Thích Nhất Hạnh đã đi thuyết giảng ở nhiều nơi, tổ chức nhiều khóa tu tập và trở thành một nhân vật tôn giáo có uy tín quốc tế.

Sau ngày đất nước thống nhất, từ năm 1997 đến 2003, Sư ông Thích Nhất Hạnh nhiều lần đặt vấn đề trở lại Việt Nam để hoạt động tôn giáo - nhưng ông lại không muốn thông qua Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN). Mãi đến năm 2004, khi thấy có cơ hội ông mới về theo lời mời của GHPGVN, và được Nhà nước đồng ý.

Ngày 12/1/2005, Sư ông Thích Nhất Hạnh cùng một đoàn gồm 190 người với gần 30 quốc tịch khác nhau, xuống Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất. Mục đích của chuyến đi này được ông giới thiệu, là thuần túy hoạt động tôn giáo, thăm các công trình Phật giáo, thăm các danh thắng văn hóa, lịch sử ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam, tổ chức các lễ nghi tôn giáo. Vẫn theo ông, chuyến đi ấy tuyệt nhiên không đề cập đến các vấn đề chính trị, cũng như không đề cập đến cái gọi là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất" - là tổ chức không được pháp luật Việt Nam thừa nhận.

Ngày 11/4/2005, đoàn Sư ông Thích Nhất Hạnh rời Việt Nam. Trong suốt 90 ngày, ông cùng đoàn đã được Nhà nước Việt Nam, GHPGVN tạo mọi điều kiện thuận lợi, để tận mắt nhìn thấy, tận tai nghe thấy không khí sinh hoạt tôn giáo - đặc biệt là Phật giáo. Những phát biểu công khai của Sư ông Thích Nhất Hạnh thời điểm ấy đã tác động tích cực đến dư luận người Việt hải ngoại, tạo ra những quan hệ thuận lợi giữa Làng Mai và GHPGVN.

Tuy nhiên, có điều phía sau lưng mà ít ai biết, là thông qua chuyến về Việt Nam, Sư ông Thích Nhất Hạnh có ý tranh thủ Nhà nước, tranh thủ GHPGVN để tạo chỗ đứng cho Pháp môn Làng Mai. Hơn nữa, ý đồ chính trị của ông còn được thể hiện khi ông trao cho lãnh đạo Nhà nước Việt Nam bản kiến nghị 7 điểm.

Để tạo chỗ đứng cho Pháp môn Làng Mai ở Việt Nam, sau chuyến về nước lần thứ nhất, Sư ông Thích Nhất Hạnh thường xuyên cử người về dưới danh nghĩa thăm thân nhân, du lịch, để giảng dạy và hướng dẫn các khóa tu thiền cho các tu sinh tại nhiều cơ sở trong nước. Bên cạnh đó, để thu phục giới trẻ, Sư ông Thích Nhất Hạnh đặt ra một chương trình, gọi là "Hiểu và Thương". Chỉ trong 3 năm, "Hiểu và Thương" đã quy tụ được vài trăm thanh, thiếu niên, với 60 người tham gia giảng dạy.

Và những ý đồ của sư ông Thích Nhất Hạnh

Ngày 20/2/2007, Sư ông Thích Nhất Hạnh cùng đoàn gồm 150 người với gần 30 quốc tịch khác nhau về Việt Nam lần thứ hai. Lần này, ý đồ mượn tôn giáo để làm chính trị của ông bắt đầu thể hiện rõ nét qua việc ông tổ chức "trai đàn chẩn tế" ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Lợi dụng GHPGVN, Sư ông Thích Nhất Hạnh cho phát tán tài liệu, đề cao, khuếch trương Pháp môn tu tập Làng Mai, phủ nhận những đóng góp rất nhiệt tình và tích cực của GHPGVN trong việc tổ chức "trai đàn chẩn tế", cứ y như không có ông, thì "trai đàn" chẳng bao giờ được hình thành.

Có lẽ ai đã xem hình ảnh Sư ông Thích Nhất Hạnh xuất hiện tại các "trai đàn chẩn tế" trên báo chí, truyền hình, hoặc xem trực tiếp, cũng đều thấy chướng. Chỉ là một "thiền sư", đứng đầu một môn phái, mà ông đi dưới lọng vàng, cạnh ông là sư nữ Thích Nữ Chân Không - y như vua và hoàng hậu! Thiên hạ đồn rằng ông với bà Chân Không có “quan hệ” rất gần gũi, chẳng biết thật hay không, nhưng năm 2006, khi một phái đoàn của GHPGVN sang Pháp, thăm Làng Mai, đã phải gửi Sư ông Thích Nhất Hạnh một bức thư, trong đó đề nghị: "Xin sư ông về ở với tăng, sư nữ Chân Không về ở với ni để tránh dư luận".

Và mặc dù ông tuyên bố không can thiệp, không phát biểu những vấn đề liên quan đến chính trị, nhưng khi được lãnh đạo Nhà nước Việt Nam tiếp kiến, Sư ông Thích Nhất Hạnh liền đưa ra đề nghị 10 điểm, trong đó có những điểm như: "Đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam, giải thể Ban Tôn giáo chính phủ...". Nhìn nét mặt tự mãn của ông, hầu hết tăng ni thuộc GHPGVN - xưa kia vẫn kính nể ông qua những cuốn sách ông đã viết, như “Đường xưa mây trắng”, "Nói với tuổi hai mươi", "Bông hồng cài áo", "Nẻo về của Ý", hoặc những bài thuyết giảng của ông ở Trường đại học Vạn Hạnh bao nhiêu thì bây giờ, tăng, ni lại càng cảm thấy thất vọng về ông bấy nhiêu, nhất là khi ông tuyên bố: "Pháp môn Làng Mai tự bổ nhiệm truyền giới, tấn phong, bầu trụ trì, viện chủ, phó viện chủ mới mà không cần phải thông qua Nhà nước và GHPGVN".

Sau khi được lãnh đạo Nhà nước Việt Nam giải thích thỏa đáng về kiến nghị 10 điểm do Sư ông Thích Nhất Hạnh đưa ra, ngày 9/5/2007, Sư ông Thích Nhất Hạnh cùng đoàn tăng thân Làng Mai rời Việt Nam, về Pháp. Trước lúc lên máy bay, ông công khai tuyên bố, khẳng định "Pháp môn Làng Mai là một giáo hội độc lập với GHPGVN, việc nội bộ của Làng Mai không thuộc thẩm quyền của Nhà nước và GHPGVN". Ôi trời! Ông đưa người của ông vào nhà người ta, ông quây lấy một góc, nấu nướng, ăn uống, ngủ nghê, tắm giặt... rồi ông bảo "góc" của ông là góc độc lập, chuyện sinh hoạt của ông là chuyện "nội bộ", chủ nhà không có quyền can thiệp thì ai chịu nổi!

Đoàn sư ông Thích Nhất Hạnh lần đầu về Việt Nam

Ngày 22/4/2008, Sư ông Thích Nhất Hạnh về Việt Nam lần thứ ba để tham dự Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc. Cùng đi với ông là 450 người, gồm 41 quốc tịch. Lần này, ông công khai tổ chức nhiều khóa tu tập tại chùa Bằng, Hà Nội, Tu viện Bát Nhã, Lâm Đồng. Điều đáng nói là trước lúc về, Sư ông Thích Nhất Hạnh cho tán phát "Lá thư Làng Mai số 31", nội dung nêu ra những vấn đề không đúng sự thật về tình hình Việt Nam, đồng thời bộc lộ ý đồ xin lại ngôi chùa cũ, là nơi xưa kia ông ta tu hành. Lúc ấy, vì chưa nhận ra chân tướng của Sư ông Thích Nhất Hạnh, nên Thượng tọa Thích Đức Nghi, trụ trì Tu viện Bát Nhã đã đồng ý cho Sư ông Thích Nhất Hạnh dùng Tu viện Bát Nhã làm nơi tu tập Pháp môn Làng Mai, đồng thời ký đơn bảo lãnh cho gần 400 tu sinh đăng ký tạm trú với chính quyền.

Sự thật về những chuyện xảy ra ở Tu viện Bát Nhã

Được sự bảo lãnh của Thượng tọa Đức Nghi, số tăng sinh tu tập theo Pháp môn Làng Mai tại Tu viện Bát Nhã từ năm 2005 đến tháng 6/2009, khoảng 400 người - trong đó có một số Giáo thọ là người quốc tịch nước ngoài, và hơn 2/3 là những người từ các địa phương khác đến.

Để tạo thuận lợi cho tu sinh, Tu viện Bát Nhã đã đồng ý cho tu sinh thành lập những "xóm", gọi là "Mây đầu núi", "Bếp lửa hồng", "Rừng phương bối"... Tại những "xóm" này, mọi sinh hoạt riêng tư đều được tôn trọng mặc dù Nhà nước Việt Nam chỉ công nhận khóa tu theo Pháp môn Làng Mai, chứ chưa công nhận Giáo hội Làng Mai - Pháp quốc tại Việt Nam. Riêng GHPGVN, Hòa thượng Thích Hiển Pháp - là Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký, Trưởng ban Phật giáo quốc tế Trung ương Giáo hội, chỉ ký cho phép tổ chức khóa tu theo giới hạn của từng khóa tu là 3 tháng, hết hạn phải xin phép tổ chức lại, chứ không phải đến năm 2010 như Pháp môn Làng Mai đã tuyên truyền.
Thích Nhất Hạnh là kẻ từng đòi xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam và Giáo hội Phật giáo Việt Nam./.
Yêu nước ST.

“Bảo bối” giúp Đảng trong sạch, đội ngũ vững mạnh

Kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương (NQTƯ) 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần quan trọng tạo bước chuyển biến toàn diện đối với công tác hệ trọng bậc nhất của Đảng. Đó có thể ví như “bảo bối” để giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng như niềm tin vững bền của nhân dân với Đảng. Bài 2: Không còn “trên nóng, dưới lạnh” Không có vùng cấm, không có ngoại lệ NQTƯ 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ rõ tồn tại: “Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật của Đảng chưa nghiêm, còn có biểu hiện “nhẹ trên, nặng dưới". Công tác quản lý cán bộ, đảng viên còn thiếu chặt chẽ. Nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm... Sự phối hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử chưa chặt chẽ, xử lý chưa đủ nghiêm minh”. Trên cơ sở nhận diện rõ, tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, thực tiễn triển khai thực hiện nghị quyết 5 năm qua đã minh chứng sự quyết tâm, quyết liệt của Đảng ta trong việc chấn chỉnh đội ngũ và làm cho tổ chức đảng thêm trong sạch vững mạnh. Có thể khẳng định, chưa bao giờ có số lượng lớn cán bộ bị xử lý kỷ luật như nhiệm kỳ qua. Hàng loạt cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước như bí thư, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố, thứ trưởng, bộ trưởng, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang, đến Ủy viên Bộ Chính trị vi phạm nghiêm trọng kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước đã bị xử lý nghiêm minh. Đây là bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng. Cụ thể, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang (trong đó có 18 cán bộ diện Trung ương quản lý bị xử lý hình sự). Có cả những người trước kia được phong danh hiệu anh hùng, nhưng khi vi phạm vẫn bị Đảng ta xử lý nghiêm khắc, đúng như lời răn dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho các đồng chí đó”. Không chỉ có cán bộ cấp cao đương chức, mà cả những cán bộ lãnh đạo cấp cao đã nghỉ hưu cũng bị truy tố trách nhiệm, xử lý nghiêm khắc khi vi phạm kỷ luật, nguyên tắc Đảng trong thời gian công tác. Chính bởi cách làm nghiêm minh này đã loại bỏ được “tư duy nhiệm kỳ” của một bộ phận cán bộ-một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà nghị quyết chỉ ra: Vướng vào "tư duy nhiệm kỳ", chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích. Trong xử lý cán bộ vi phạm, Đảng ta nhất quán và quyết liệt thực hiện phương châm không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào; càng trên cao, càng giữ trọng trách thì càng phải xử lý nghiêm để nêu gương. Kết quả đó đã góp phần dập tan dư luận, cũng như khắc phục tồn tại “nhẹ trên, nặng dưới” trong xử lý cán bộ vi phạm mà NQTƯ 4, khóa XII chỉ rõ. Sự hoài nghi về “một bộ phận không nhỏ” được làm sáng tỏ, là cơ sở vững chắc để toàn Đảng, toàn dân tiếp tục quét sạch chủ nghĩa cá nhân, làm trong sạch đội ngũ, vững mạnh tổ chức. Tại Phiên họp thứ 20 Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (tháng 8-2021), các đại biểu bày tỏ sự đồng thuận rất cao, khẳng định: Công tác xây dựng Đảng và phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua tiếp tục được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả quan trọng. Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế về xây dựng Đảng, quản lý kinh tế-xã hội và phòng, chống tham nhũng, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được đẩy mạnh, góp phần tạo cơ sở chính trị-pháp lý đồng bộ, khả thi để phòng, chống tiêu cực một cách đồng bộ, hiệu quả. Đánh giá đó là hết sức đúng đắn, sát thực tiễn và hợp lòng dân. Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Viện Dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương) thực hiện tháng 8-2020, có 93% người dân bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; khiến cho mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch đều trở nên trơ trẽn, nực cười. Qua kết quả khảo sát của Báo Quân đội nhân dân tại 16 đảng bộ cấp huyện thuộc đảng bộ 5 tỉnh, thành phố (Cần Thơ, Đồng Tháp, Đà Nẵng, Điện Biên, Quảng Ngãi), cũng cho thấy, niềm tin của nhân dân dành cho tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ cơ sở được tăng cường theo hướng tích cực sau 5 năm thực hiện NQTƯ 4, khóa XII. Đó là một thành công lớn, một dấu ấn quan trọng, khẳng định uy tín lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng trong điều kiện mới. Phá điểm yếu ở “khâu then chốt” NQTƯ 4, khóa XII đã khẳng định hiệu lực, hiệu quả từ việc hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm bị xử lý nghiêm minh. Nhưng cần khẳng định rằng, Đảng ta không lấy kỷ luật cán bộ là mục tiêu hàng đầu, mà thông qua đó để răn đe, giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, ngăn ngừa sai phạm. Việc kết hợp giữa “xây” và “chống” trên tinh thần lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lấy “chống” là nhiệm vụ thường xuyên thông qua kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện NQTƯ 4, khóa XII với Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong 5 năm qua tạo ra những thay đổi tích cực trong toàn hệ thống chính trị. Việc xây dựng cam kết, kế hoạch rèn luyện, tu dưỡng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với trách nhiệm nêu gương được triển khai đồng bộ, sâu rộng, ngày càng trở thành việc làm chủ động, thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Ông Nguyễn Đức Hà, nguyên Vụ trưởng Vụ Cơ sở đảng, Ban Tổ chức Trung ương tâm đắc: Điểm mới là trong tự phê bình và phê bình gắn với NQTƯ 4, khóa XII, chúng ta không làm từ trên xuống, không làm từ dưới lên, cũng không làm từ giữa ra mà tiến hành đồng thời ở các cấp, nghĩa là các cấp cùng tiến hành nhưng ở cấp nào cũng lựa chọn những trọng tâm, trọng điểm. Khi các cấp ủy chọn được trọng tâm, trọng điểm thì nhất thiết phải có gợi ý kiểm điểm sâu và cấp ủy phải chỉ đạo theo dõi sát sao. Ví dụ, Bộ Chính trị gợi ý kiểm điểm cho một số ban thường vụ tỉnh ủy. Tất cả những nơi được Bộ Chính trị gợi ý đều phân công một đồng chí ủy viên Bộ Chính trị về dự chỉ đạo, theo dõi và có các cơ quan Đảng chỉ đạo, giám sát. Ở các địa phương, tất cả vấn đề lớn, vấn đề nổi cộm, vấn đề được báo chí, dư luận công luận bức xúc, lên án đều được đưa vào chương trình kiểm điểm gắn với việc thực hiện NQTƯ 4, khóa XII. Các tỉnh ủy, thành ủy có quy định rõ, hằng tháng chi bộ sinh hoạt thì các đảng viên phải đối chiếu với 27 biểu hiện để tự phê bình và phê bình. Đến nay, 27 biểu hiện được hầu hết cán bộ, đảng viên nắm chắc để tự soi chiếu vào mình, từ đó phòng tránh, ngăn ngừa, đấu tranh. Nhận định về sự chuyển biến tích cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương từng nhiều lần tâm huyết: Việc thực hiện NQTƯ 4, khóa XII không chỉ giúp tầm soát, thanh lọc đội ngũ, mà còn là dấu ấn rõ nét, tạo bước đột phá về nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên, thực hành đạo đức công vụ, từng bước xóa bỏ tình trạng nhũng nhiễu, hành dân, tham nhũng vặt... Về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Cùng với phòng, chống các biểu hiện suy thoái, Đảng ta đặc biệt chú trọng công tác bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ. Thực tiễn cho thấy, nhiều nhiệm kỳ, Đảng nhận thức rất rõ vai trò của cán bộ và công tác cán bộ, nhưng vấn đề cán bộ luôn phức tạp, nhạy cảm, dễ xảy ra tiêu cực và khó phát hiện, xử lý. Công tác cán bộ vẫn là khâu yếu và luôn là một trong những vấn đề bức xúc nhất mà dư luận xã hội quan tâm. Tại nhiều hội nghị, diễn đàn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Phải coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc thường xuyên của Đảng. Từ những hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ đã được NQTƯ 4, khóa XII nêu ra, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tập trung rất cao để lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện việc rà soát, bổ sung, sửa đổi, ban hành hệ thống quy định, quy chuẩn, nguyên tắc, cách thức chấn chỉnh và đổi mới toàn diện về công tác cán bộ, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm số một, là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành gần 130 văn bản quan trọng để lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó có nhiều nghị quyết, quy định, quy chế, quy trình, hướng dẫn... về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Để cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết của Trung ương, các cấp ủy cấp tỉnh ban hành hơn 6.200 văn bản các loại, trong đó có nhiều văn bản về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Việc ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết của Trung ương và cấp ủy các cấp đã từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ để thực hiện, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao trong thời kỳ phát triển mới của đất nước. Nhìn lại kết quả lựa chọn cán bộ từ đại hội đảng các cấp vừa qua cho thấy, trong công tác cán bộ, nhân sự, Đảng ta áp dụng rất nhiều điểm mới quan trọng so với các nhiệm kỳ trước, trong đó có quy định tiêu chuẩn nhân sự tham gia cấp ủy, quy trình công tác nhân sự và đặc biệt là thực hiện giảm 5% số lượng cấp ủy viên cấp tỉnh, cấp huyện. Qua thực hiện cho thấy cấp tỉnh giảm 6,2%, cấp huyện giảm 11,6%, cấp cơ sở giảm 12,5% và qua đó góp phần giảm chi ngân sách hàng trăm tỷ đồng/năm. Điểm đáng chú ý, dù giảm số lượng cấp ủy nhưng chất lượng, hiệu quả lãnh đạo lại tăng lên nhiều. Bởi chúng ta mở rộng dân chủ, tăng cường trách nhiệm của các cá nhân, tập thể trong lựa chọn giới thiệu người tham gia cấp ủy, có sự thẩm định, giám sát của nhiều bên. Rút kinh nghiệm từ những hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ, việc chuẩn bị, giới thiệu nhân sự tham gia vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII được tiến hành chặt chẽ hơn. Qua nhiều lần quy hoạch, bổ sung, điều chỉnh, Trung ương đã bỏ phiếu kín giới thiệu và đưa vào quy hoạch cán bộ cấp chiến lược. Việc quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2021-2026 được tiến hành từng bước thận trọng theo quy trình chặt chẽ, dân chủ. Đây là kết quả của cả quá trình đổi mới công tác cán bộ một cách bài bản, đúng hướng trên tinh thần bám sát cương lĩnh, nghị quyết, Điều lệ Đảng. Kiên quyết không để lọt vào cấp ủy các cấp những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, phẩm chất năng lực kém, thiếu gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, chạy chức chạy quyền, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm.

Bất tuân dân sự - góc nhìn, quan điểm và một số biểu hiện biến tướng

 Thuật ngữ “bất tuân dân sự” lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Hen-ri Đây-vít Thơ-râu, nhà văn, nhà triết học người Mỹ, người bị chính quyền bang Ma-sa-chu-sét bắt do hành vi không đóng thuế vào cuối tháng 7 năm 1846, với nhan đề “Về bổn phận bất tuân dân sự” vào tháng 5-1849. Quan điểm của Thơ-râu sau đó được phát triển bởi một số học giả khác, chẳng hạn Gin-Sáp, Giáo sư chính trị học tại trường Đại học Massachusetts Dartmouth (Mỹ).

Khái niệm bất tuân dân sự đã phát triển trong một thời gian dài, được rút ra từ các giai đoạn lịch sử khác nhau và từ các nền văn hóa khác nhau. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu, đưa ra quan điểm, cách nhìn để nhận diện bất tuân dân sự. Theo Giôn-Ron, nhà triết học chính trị nổi tiếng của Mỹ trong thế kỷ XX, định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động công khai, bất bạo động, triệt để nhưng có tính chính trị trái với luật pháp nhằm mục đích thay đổi luật pháp hoặc chính sách. Hu-gô A-đam Bê-đâu, Giáo sư triết học của Đại học Tufts (Mỹ) định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động bất hợp pháp, được thực hiện một cách công khai, không mang tính bạo lực và thực hiện một cách cố ý, trong khuôn khổ pháp quyền và với ý định phản kháng hoặc phản đối một số luật, chính sách hoặc quyết định của chính phủ hoặc một số công chức của chính phủ. Ki-li và Ba-mu-lơ định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động có chủ ý, công khai và bất bạo động vi phạm luật mà người đó phải chịu trách nhiệm và chế tài. Xờ-mít quan niệm rằng bất tuân dân sự là một cuộc phản đối công khai, bất hợp pháp và mang tính chính trị được thực hiện chống lại nhà nước hoặc chính sách. Sen-đơn trong cuốn Bách khoa toàn thư về tư tưởng chính trị định nghĩa bất tuân dân sự là bất tuân hoặc vi phạm pháp luật vì các lý do đạo đức, tôn giáo hoặc các lý do khác, bởi một cá nhân hoặc một nhóm có tổ chức.

Bất tuân dân sự có nhiều hình thức và cách biểu hiện khác nhau. Ví dụ, có cách tiếp cận cho rằng bất tuân dân sự có 5 hình thức biểu hiện: Một là, tuần hành muối do Ma-hát-ma Gan-đi lãnh đạo (dẫn đầu đoàn 78 người đi bộ trong 24 ngày để phản đối chính sách độc quyền muối do chính quyền Anh áp đặt); hai là, chiến dịch Extremadura  - một phong trào cải cách ruộng đất ở Tây Ban Nha; ba là, tuần hành ủng hộ và phong trào bất di chuyển ở Mỹ; bốn là, loại bỏ các doanh nghiệp không mong muốn (phong trào chống toàn cầu hóa ở Pháp); năm là, phong trào vận động không đóng thuế ở Luân đôn năm 1990.

Mặc dù là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “bất tuân dân sự”, nhưng ở thời điểm ra đời, tác phẩm của Hen-ri Đây-vít Thơ-râu không gây được ảnh hưởng. Tuy nhiên, sang thế kỷ 20, tư tưởng về một cuộc “cách mạng hòa bình” của Thơ-râu được một số nhà hoạt động chính trị phát triển thành phương pháp đấu tranh bất bạo động như phong trào “Satyagraha” của Ma-hát-ma Gan-đi đấu tranh giành độc lập dân tộc cho Ấn Độ từ thực dân Anh (năm 1947); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc ở Mỹ của mục sư Mác-tin Lu-thơ Kinh (thập niên 60 thế kỷ 20); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc (chủ nghĩa A-pác-thai) ở Nam Phi của Nen-xơn Man-đê-la... Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc ra đời với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa. Từ đó, chiêu bài “bất tuân dân sự” đã bị chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế lợi dụng và từng bước trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Các cuộc “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Cộng hòa Dân chủ Đức; “cách mạng ca hát” ở các nước vùng Ban-tích (thuộc Liên Xô) vào những năm cuối thế kỷ XX; các cuộc “cách mạng màu” ở một số nước trong không gian hậu Xô-viết; “cách mạng hoa nhài” (“Mùa xuân Ả Rập”) ở một số nước Bắc Phi, Trung Đông cuối năm 2010, đầu năm 2011; phong trào biểu tình nhằm lật đổ Chính phủ Bô-li-va ở Vê-nê-xu-ê-la (từ năm 2014); phong trào “cách mạng dù” của sinh viên vùng lãnh thổ Hồng Kông (Trung Quốc) năm 2014, các cuộc biểu tình phản đối việc sửa đổi Dự luật dẫn độ ở vùng lãnh thổ Hồng Kông (Trung Quốc) vào các năm 2019 và 2020... đều có dấu ấn của thủ đoạn kích động bất tuân dân sự, nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây trở ngại đến hoạt động công quyền, thực thi công lý, gây ra những hiểm họa khôn lường, thậm chí khủng hoảng toàn diện, sâu sắc cho nhiều vùng lãnh thổ và quốc gia trên thế giới.

Ở Việt Nam, hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành “phong trào” gây nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội nếu không được nhận diện và đấu tranh kịp thời.

Các thế lực phản động, thù địch đã tiến hành nhiều hoạt động lợi dụng danh nghĩa dân chủ, phát động cái gọi là bất tuân dân sự để chống đối chính quyền, gây trở ngại cho hoạt động công quyền với nhiều hoạt động dưới nhiều dạng thức và hành động như lợi dụng việc Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng, dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước, các đối tượng phản động, thù địch đã kích động, lôi kéo người dân tham gia tuần hành, biểu tình, chống người thi hành công vụ, đập phá tài sản các trụ sở chính quyền, gây thiệt hại lớn về tài sản, kinh tế, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; vụ đình công phản đối Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 diễn ra tại một số tỉnh, thành phố; lợi dụng phản đối trạm BOT Cai Lậy ở tỉnh Tiền Giang năm 2017, trong đó một số lái xe quá khích đã đưa xe đến giữa trạm rồi bỏ đi; đốt phá Đông Đô Đại Phố ở tỉnh Bình Dương; lợi dụng sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại thềm lục địa Việt Nam tháng 5-2014 để kích động biểu tình, tuần hành, đập phá các doanh nghiệp ở 8 tỉnh, thành phố; khoét sâu, thêm tình tiết và thổi phồng các vấn đề nóng như sự cố môi trường, lũ lụt trên địa bàn một số tỉnh để kích động người dân gây mất an ninh, trật tự, đập phá tài sản; lợi dụng chống tiêu cực, tham nhũng, cưỡng chế đất đai, giải phóng mặt bằng để kích động hành vi bất tuân dân sự; lợi dụng tôn giáo để thực hiện mưu đồ xấu, công kích, chống phá... Các thế lực phản động, thù địch còn xuyên tạc trắng trợn rằng, việc xử lý những người vi phạm pháp luật là “đàn áp” những người biểu tình ôn hòa, yêu nước, kêu gọi đưa vấn đề ra Liên hợp quốc và kêu gọi các tổ chức quốc tế vào cuộc; xuyên tạc trắng trợn rằng các đạo luật trên là vi hiến, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống người dân. Nham hiểm hơn, các thế lực phản động, thù địch còn kêu gọi người dân không chỉ dùng Facebook mà dùng nhiều mạng xã hội khác để “đấu tranh”...

NHÌN THẲNG, NÓI THẬT


Bất cứ ai trong chúng ta, ở bất cứ thời điểm nào, dù hiện hữu hay lẩn khuất đâu đó trong ý nghĩ, cũng đều có những nỗi sợ. Và một trong những nỗi sợ phổ biến trong cuộc sống hiện đại ngày nay, đó là sợ bị... chửi!


Rất nhiều người nổi tiếng, mỗi khi đời sống cá nhân gặp biến động theo chiều hướng không tốt, việc đầu tiên họ thường làm là khóa tài khoản cá nhân trên mạng xã hội (MXH). Khóa để tránh bị nhòm ngó, khóa để hạn chế bị khai thác đời tư, và quan trọng hơn cả là khóa để tránh bị...chửi!


Mấy hôm nay, dư luận truyền thông và MXH dồn sự chú ý vào việc, một số nhân vật có tiếng tăm trong đời sống xã hội vướng vòng lao lý. Họ bị bắt vì các hành vi phạm tội và sẽ bị xử lý bằng các chế tài pháp luật. Nếu nhìn nhận vấn đề một cách khách quan thì ai cũng thấy, người nào làm sai người đó phải chịu.


Đó chính là sự công bằng, nghiêm minh của luật pháp. Tuy nhiên, trên không gian mạng thì vấn đề không dừng lại ở đó. Bên cạnh việc chia sẻ thông tin, tham gia bình luận về các vụ việc gắn với con người cụ thể, là trào lưu “ném đá”. Hằng hà sa số những lời chửi bới, thóa mạ, mạt sát... không chỉ nhằm vào cá nhân người phạm tội, mà còn hướng đến gia đình, người thân, thậm chí là cả bạn bè, đối tác của họ...


Chửi, dường như đã trở thành hội chứng của một bộ phận không nhỏ người dùng MXH. Một học sinh tự tử chưa rõ nguyên nhân, lập tức các bậc phụ huynh, gia đình phải gánh chịu nỗi đau chất chồng từ muôn lời chỉ trích, lên án. Vị trọng tài gặp sai sót trong một trận bóng đá, lập tức hứng chịu vô số ngôn từ thóa mạ...


Áp lực tiêu cực từ không gian mạng trong những trường hợp tương tự như vậy là vô cùng khủng khiếp. Nó khủng khiếp đến mức, một số chuyên gia tâm lý đã phải thốt lên trên các diễn đàn rằng, sẽ ra sao nếu một ngày nào đó chính ta, vì một lý do nào đó lại trở thành nạn nhân của hội chứng "khủng khiếp" này?


Vâng! Rất khó nói, bởi trong xã hội hiện đại, không ai dám khẳng định mình không có sai sót, không ai có thể nắm tay từ tối đến sáng. Không gian mạng đang trở thành thế giới thứ hai của cuộc sống con người. Về mặt tích cực, có thể thấy áp lực từ dư luận trên không gian mạng có tác động rất mạnh, góp phần cảnh tỉnh, điều chỉnh hành vi con người.


Tuy nhiên, nó chỉ thực sự có ích cho đời sống tinh thần khi người ta sử dụng nó như một công cụ, phương tiện để tham gia điều chỉnh hành vi xã hội theo hướng tích cực. Ngược lại, sự chửi bới chính là tác nhân gây rối, làm lệch chuẩn đạo đức xã hội.


Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Hạnh phúc của con người không phải chỉ ở chỗ nhiều tiền, lắm của, ăn ngon, mặc đẹp, mà còn ở sự phong phú về tâm hồn, được sống giữa tình thương và lòng nhân ái, lẽ phải và công bằng...”.


Quan niệm của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta đã thể hiện một cách vừa khái quát, vừa cụ thể mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa toàn dân của Đảng. Để mỗi người, mỗi gia đình được sống giữa tình thương và lòng nhân ái, lẽ phải và công bằng thì bản thân mỗi thành tố trong đời sống xã hội phải có bổn phận vun đắp cho tình thương, lòng nhân ái, lẽ phải và công bằng ấy.


Thế nên, trước khi có ý định chửi người khác, hãy bình tâm đặt mình vào vị trí của nạn nhân, hẳn sẽ có cách để kìm nén cơn giận. Bởi, chửi bới hoàn toàn không phải là biện pháp đấu tranh như không ít người vẫn lầm tưởng hoặc cố tình ảo tưởng. Đấu tranh phê bình, phản biện là giải pháp thúc đẩy phát triển, còn chửi bới, thóa mạ, lăng nhục... là tác nhân gây hận thù.


Nó là hành vi trái đạo đức, phản văn hóa! Càng nguy hiểm hơn nếu ai đó lại tự cho mình cái quyền đứng trên dư luận để công khai chửi bới, thóa mạ, làm nhục người khác. Đó không chỉ là hành vi phản văn hóa mà còn vi phạm pháp luật, nên trước sau cũng bị pháp luật nghiêm trị.


Mỗi công dân vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của chính môi trường sống mà mình tạo ra. Chửi người được thì ắt sẽ có lúc bị người chửi. Ông bà ta đã đúc kết: “Cười người chớ vội cười lâu/ Cười người hôm trước hôm sau người cười” là thế.

Hải Đăng ST

ĂN MÀY DĨ VÃNG!

         Bùi Tiến Lợi, kẻ đã bị kỷ luật đuổi khỏi Đảng, tước quân hàm sĩ quan về vườn đuổi gà, giờ hắn đang lợi dụng những hình ảnh cũ nhắm lừa thiên hạ, nguy hiểm ở chỗ, hắn chế ảnh TT Nga Putin, để làm ảnh hưởng uy tín giảng viên QĐND Việt Nam bởi vì, các đồng chí quân nhân không ai có phát ngôn mất dạy như hắn. 
Đề nghị Cục AN Quân đội, ANM xử lý nick này.

P/S: Kể từ lúc hắn "đầu quân" cho Ukraina và khốn nạn xúc phạm TT PUTIN y như cái cách mà truyền thông Mỹ và Phương Tây đang làm thì hắn đã hết anh em bạn bè ủng hộ, giờ chỉ còn lèo tèo vài nick cực đoan giống hắn, nên hắn ra sức gây ảnh hưởng và lôi kéo sự quan tâm của mọi người bằng cách hèn hạ mà những kẻ hèn hạ nhất hay làm là đánh phá những ace đã từng ủng hộ hắn khi cùng chiến tuyến, vì sót thương hắn nên đã bảo vệ hắn, nhưng mục đích của hắn đều được đọc vị và chẳng ai cần quan tâm, cái người ta quan tâm là hắn sẽ phải trả giá sau tất cả những gì hắn làm để ảnh hưởng đến QĐNDVN mà thôi./.




Yêu nước ST.

Thăng quân hàm đối với đồng chí Thái Ngô Hiếu vì dũng cảm cứu người đuối nước tại Bà Rịa - Vũng Tàu

 

Ngày 11-4, Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định thăng cấp bậc hàm sĩ quan nghiệp vụ từ Trung úy lên Đại úy đối với đồng chí Thái Ngô Hiếu, cán bộ Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an tỉnh Đồng Nai vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc.

Lãnh đạo Bộ Công an được báo cáo: Ngày 10-4-2022, trong lúc tắm biển tại bãi tắm khu Resort Zenna thuộc xã Phước Tỉnh, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đồng chí Trung úy Thái Ngô Hiếu, sinh năm 1989, cán bộ Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ khu vực Trảng Bom, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an tỉnh Đồng Nai nghe có người dân kêu cứu và phát hiện một nhóm thanh niên xảy ra đuối nước tập thể tại khu vực nước rất sâu, chảy xiết và sóng biển lớn.

Thăng quân hàm đối với đồng chí Thái Ngô Hiếu vì dũng cảm cứu người đuối nước tại Bà Rịa - Vũng Tàu
Đồng chí Thái Ngô Hiếu. 

Sự việc xảy ra vô cùng nhanh chóng, khiến những người dân hoảng loạn và không thể ứng cứu kịp thời, song với tinh thần dũng cảm, ngay lập tức, đồng chí Hiếu đã nhanh chóng bơi ra khu vực bị nạn, chiến đấu với cơn sóng lớn để cứu người, trực tiếp đưa được nhóm người vào bờ. Sau đó, bằng kỹ năng nghiệp vụ, đồng chí Hiếu đã thực hiện sơ cứu tại chỗ, cứu sống các nạn nhân, rồi tiếp tục phối hợp với lực lượng chức năng và nhân dân sở tại tổ chức tìm kiếm được thi thể nạn nhân còn lại.

Trong quá trình công tác, đồng chí Hiếu đã tham gia 39 lượt cứu nạn, cứu hộ và đã cứu sống được 11 người, tìm kiếm được 37 thi thể nạn nhân, tham gia di chuyển hơn 50 hộ dân bị ngập lụt đến nơi an toàn…

Với những thành tích đã đạt được, đặc biệt là hành động hết sức dũng cảm, không sợ hiểm nguy, gian khổ, xả thân chấp nhận hy sinh đến tính mạng để cứu người dân bị đuối nước, thể hiện tinh thần, trách nhiệm với nhân dân, để lại hình ảnh đẹp về người chiến sĩ công an trong lòng nhân dân.

Sáng cùng ngày, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã biểu dương, khen ngợi đồng chí Thái Ngô Hiếu vì đã có hành động dũng cảm, cứu được nhiều người đang bị đuối nước.

Nguồn: QĐND.

LƯƠNG TRI, CÔNG LÝ LÀ SỰ THẬT, LÀ LẼ PHẢI CHỨ KHÔNG PHẢI THỨ A DUA VỚI ĐÁM ĂN CƯỚP VÀ LŨ ĐẦU ĐƯỜNG XÓ CHỢ...!


          Đấy là câu trả lời cho câu hỏi của chị Đại biện lâm thời Ukraina khi nghe tin Việt Nam bỏ phiếu phản đối đề xuất rút Nga ra khỏi Hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc.

          Tôi biết với vai trò là đại diện cho lợi ích của Ukraina ở nước ngoài, chị tỏ thái độ thất vọng với quan điểm của phía Việt Nam liên quan đến sự việc lần này. Nhưng khi chị nói đến lương tri, công lý, thì xin lỗi, chị chưa có tuổi để chê trách Việt Nam.

          Việc rút Nga ra khỏi Hội đồng nhân quyền, phía nước chị phải có những chứng cứ rõ nét để chứng tỏ rằng Nga vi phạm nhân quyền, chứ không thể bằng những video cắt ghép, dàn dựng, sương đến mức mà người chê.t vẫn có thể cử động được như công bố vừa qua. Chưa kể, chị tố cáo Nga vi phạm nhân quyền, vậy mà chỉ toàn thấy video binh lính Ukraina tra tấn tù binh, bắn giết họ để làm thú vui,... Vậy lấy cái gì để chúng tôi có thể tin những gì chị cung cấp đây.   Nếu nói về lương tri, công lý, các anh chị ở đâu khi đài truyền hình số 1 ở Ukraina đăng tải video xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở đâu khi người Việt ở làng Sen bị cảnh sát Ukraina ùa vào cướp bóc tài sản... Nếu trả được câu hỏi đó thì hãy đặt vấn đề lương tri, đạo đức với chúng tôi.

          Còn với chúng tôi lương tri, công lý là sự thật, là chính nghĩa, lẽ phải, chứ ko phải thứ a dua với đám ăn cướp và lũ đầu đường xó chợ như nhà chị nhé!

LÁ CỜ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN BẰNG GỐM LỚN NHẤT VIỆT NAM TẠI ĐẢO TRƯỜNG SA!

          Tại đảo Trường Sa lớn, quần đảo Trường Sa, Khánh Hòa có bức tranh bằng gốm in hình lá cờ Việt Nam với kích thước kỷ lục (12,4m x 25m) 310m2. Quốc kỳ Việt Nam bằng gốm thực hiện trên mái tòa nhà hội trường của đảo Trường Sa lớn, được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam công nhận là cờ Tổ quốc bằng gốm lớn nhất Việt Nam.

          Đây là sản phẩm từ ý tưởng của họa sỹ Nguyễn Thu Thủy - tác giả công trình Con đường gốm sứ ven sông Hồng tại Hà Nội, công dân ưu tú của Thủ đô Hà Nội.

          Họa sĩ Thu Thủy cho biết, sau hai cuộc họp và thảo luận, Bộ Tư lệnh Hải quân nhất trí nên đưa lá cờ bằng gốm lên nóc tòa nhà hội trường ở trung tâm đảo Trường Sa. Khi chụp ảnh từ vệ tinh hay search Google Earth, lá cờ sẽ xuất hiện ở vị trí trung tâm đảo Trường Sa lớn.

          Mái tòa nhà hội trường có kích thước 14m x 30m là mái bằng có lợp tôn bên trên. Khi thi công, lá cờ gắn bằng gốm trên nóc nhà có kích thước 14m x 21m. Gốm phủ men nặng lửa màu đỏ tươi sẽ đảm bảo chịu được mưa nắng ngoài trời, độ mặn của muối biển và không bị bay màu.

          Trung tâm bức tranh là bản đồ Việt Nam với ngôi sao vàng ở vị trí Thủ đô Hà Nội tỏa ánh hào quang ra bốn phương trời đất nước. Hình ảnh mang tính biểu trưng với hình rồng thời Lý cùng Khuê Văn Các, Chùa Một Cột của Hà Nội, chùa Thiên Mụ của Huế, Tháp Chàm Mỹ Sơn, Bến cảng Nhà Rồng và tượng đài Bác Hồ.

          Phía tiền cảnh diễn tả lịch sử lâu đời của dân tộc Việt Nam gắn với biển Đông từ hình thuyền Đông Sơn thời các vua Hùng dựng nước, thuyền buồm lớn trải qua các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc đến thời đại Hồ Chí Minh.

          Một chiến sĩ công tác tại đảo Trường Sa tâm sự: “Khi nhìn thấy lá cờ bằng gốm trên nóc nhà văn hóa của đảo thật rất tự hào, gần gũi. Bởi vì gốm sứ là chất liệu truyền thống có từ lâu rồi, chịu được sóng gió Trường Sa và khẳng định được chủ quyền ở biển đảo từ trên không. Lá cờ Tổ quốc bay trên nóc nhà văn hóa là mãi mãi. Rất tự hào khi có lá cờ to như thế. Lá cờ có độ dốc 5 độ, tàu ở phía xa cũng nhìn thấy lá cờ”.