Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022

Đúng quy trình

 Tại buổi gặp gỡ, tiếp xúc cử tri để vận động bầu cử ở huyện X, sau khi nghe ứng viên (hiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện) trình bày kế hoạch, phương hướng, chương trình hành động, nêu quyết tâm…, một cử tri chất vấn:

- Khi tiếp xúc cử tri trước ngày bầu đại biểu hội đồng nhân dân mấy năm trước, chúng tôi đã rất ấn tượng việc đồng chí hứa sẽ cùng tập thể Huyện ủy chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện các mục tiêu đột phá đã nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010-2015. Điểm lại, ngoài kết cấu hạ tầng, chính sách an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới có bước cải thiện, bảo đảm... còn ba mục tiêu đột phá, là giải quyết việc làm; tìm đầu ra cho nông sản; nâng cao mức sống người dân, thì chưa được là bao?

- Việc thực hiện các khâu đột phá nhưng kết quả chưa như mong muốn, là do nhiều nguyên nhân. Chính vì thế, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX tiếp tục đặt ra với những giải pháp đồng bộ, với quan điểm chỉ đạo cả hệ thống chính trị dồn sức tập trung thực hiện, đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện đứng lên trả lời.


- Đồng chí có thể minh chứng về chuyển động của các khâu đột phá ấy, kể từ sau Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ (2015-2020) đến nay? - Thêm một cử tri có ý kiến.


- Kính thưa các đồng chí, thưa bà con, Nghị quyết Ban Chấp hành Đảng bộ huyện được xây dựng trên cơ sở căn cứ vào các chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, và để thực hiện thì cần phải cụ thể hóa bằng các nghị quyết chuyên đề. Trong xây dựng chương trình làm việc toàn khóa, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện cũng đặt ra kế hoạch hành động rất cụ thể cho từng tháng, từng năm. Chẳng hạn, tháng hai và tháng ba, sau khi chuẩn bị xong các thủ tục, tháng tư mới đây huyện đã họp bàn, xây dựng kế hoạch để sau bầu cử sẽ tập trung thực hiện các mục tiêu đột phá về giải quyết việc làm; tìm đầu ra cho nông sản; phát triển du lịch - dịch vụ. Tôi trả lời thế, các đồng chí và bà con đã thấy rõ trình tự của các bước được huyện triển khai chưa ạ? Nếu bà con ủng hộ thì sau bầu cử chúng ta sẽ tập trung thực hiện các mục tiêu tiếp theo.


Buổi tiếp xúc cử tri kết thúc, mà các cử tri trong lòng vẫn còn những băn khoăn. Với vai trò, chức năng lãnh đạo và định hướng cho việc phát triển cơ quan, đơn vị, địa phương, vậy nhưng nghị quyết đại hội đảng bộ, với cung cách triển khai thực hiện như ở huyện nói trên và ở không ít địa phương như hiện nay, thì thật đáng lo ngại. Là năm đầu tiên thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, năm 2016 còn là tiền đề, có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. Nghị quyết bắt nguồn từ cuộc sống, bám sát thực tiễn và chỉ đạo thực tiễn, vì thế, sau khi triển khai quán triệt nghị quyết, mỗi cấp ủy phải nhanh chóng xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết, cụ thể hóa nghị quyết của đảng bộ cấp trên và nghị quyết của chi, đảng bộ mình với những mục tiêu, giải pháp cụ thể và phải khẩn trương tổ chức thực hiện, đưa nhanh nghị quyết vào cuộc sống./.

Đừng tự sụp đổ dưới chân mình!

 

 Đã sống trong cuộc đời này, ai chả từng nhận được lời khen và cũng thích được khen.

Nói một cách giản dị, khen là cảm giác thuận ý, vừa lòng của người này dành cho người khác. Khen không chỉ là một nghệ thuật trong giao tiếp ứng xử để khích lệ, động viên nhau trong cuộc sống, mà còn là một phương thức giáo dục hiệu quả trong học tập, lao động, công tác. Lời khen đúng đắn, chân thành, tinh tế, đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng và đúng mực chính là “thuốc bổ tinh thần” cho người được khen.

Nhưng thời nay, có phải người ta “quá chuộng” lời khen hay không mà lời khen nhiều khi bị lạm dụng thái quá. Hơn thế nữa, đối tượng đáng lẽ được tiếp nhận lời khen nhiều hơn (quần chúng, cấp dưới, nhân viên, chiến sĩ - gọi chung là “người dưới”) thì lại ít được khen hơn; ngược lại, đối tượng đáng ra nên khen vừa phải (lãnh đạo, cấp trên, cán bộ, chỉ huy - gọi chung là “người trên”) thì lại được hưởng thụ “hơi bị” nhiều lời khen.

Bây giờ, khi đến một tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nào, nếu tinh mắt để ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc giao tiếp, có thể thấy quần chúng xem ra thích nói ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ trưởng, chiến sĩ ca ngợi chỉ huy. Trong giao tiếp đời thường là vậy và trong sinh hoạt đảng, chính quyền, đoàn thể, cũng như vậy.

Tại sao lại có hiện tượng trên? Bởi một phần vì “người dưới” mang tâm lý cả nể những người có tuổi tác, chức sắc, vị thế công tác hơn mình, nhưng phần khác, cũng do tâm lý ưa thích, thậm chí do cái sự “nghiện” lời khen của những “người trên”. Mà khi “người dưới” khen thì nhiều khi “khen cho được việc”, cố khen cho “mát mặt người trên”, để lấy lòng “người trên” chứ chưa hẳn là khen đúng lòng mình. Hay nói cách khác, đó là những lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” hơn là một lời khen thật sự ý nghĩa, giá trị.

Phải chăng, do tâm lý “làm quan” của hàng nghìn năm phong kiến kéo dài dai dẳng đến nay mà trong xã hội hiện thời, không ít “người trên” luôn muốn những “người dưới” “vuốt ve” mình bằng những lời “có cánh”? Để rồi mỗi khi bị “người dưới” có lời “không phải” với mình thì cho ngay rằng họ đã làm cho “tinh thần mình bị tổn thương”, “lòng tự trọng của mình bị xâm hại”, từ đó sẽ dễ sinh ra giận dỗi, không vừa ý, thậm chí là nảy sinh thành kiến cá nhân rồi từ từ tìm thời cơ… “xử lý”.

“Người trên” cũng là con người, cũng có quyền được khen như bất cứ người nào khác, nhưng quan trọng là lời khen đó phải là hợp tình, hợp lý. Tuy vậy, mong những “người trên” luôn nên tỉnh táo và ghi nhớ một điều: Nếu ỷ vào vị thế chức vụ được giao để tự cho mình cái quyền được tiếp nhận, hưởng thụ quá nhiều lời khen của “người dưới” cũng có nghĩa là anh đang đòi “hối lộ tinh thần” ở cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nếu cứ sống, sinh hoạt, làm việc trong những lời khen, mà nhiều khi lại chỉ là những lời khen giả tạo của những “người dưới”, thì theo ngày ngày tháng tháng, những biểu hiện quan liêu, chuyên quyền, độc đoán cũng sẽ dần “lớn lên” trong thái độ, tư tưởng, tính cách của “người trên”. Đó là thứ để hình thành, tạo ra “uy tín giả” - một “cái bẫy” có thể làm “người trên” tự sụp đổ ngay dưới chân mình.

Danh ngôn có câu “Đừng thấy cái bóng trên vách to mà tưởng mình vĩ đại”. Cứ thích “đắm chìm” trong những lời khen ngọt ngào rồi lúc nào cũng tưởng tượng ra mình là “người khổng lồ” trong “đám đông tí ton” - đó là mầm mống của thói “đặc ân, đặc lợi tinh thần” - một hiểm họa không thể xem thường đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý./.

 Vận dụng tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của     Hồ Chí Minh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 Hệ thống lý luận và phương châm hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu hành động. Và, với Người “dĩ bất biến, ứng vạn biến” đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo tư tưởng và phương châm ứng xử trong hành động.

TƯ TƯỞNG, PHONG CÁCH, PHƯƠNG PHÁP HỒ CHÍ MINH VỀ “DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN”

“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” - đó là câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh vào thời điểm tháng 5 năm 1946 trước khi Người đi sang Pháp để “tìm kiếm một giải pháp hòa bình” để xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ và đưa đất nước vượt qua hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Câu nói của Người đã thể hiện quan điểm kết hợp nhuần nhuyễn, chặt chẽ giữa nguyên tắc của mục tiêu chiến lược với tính linh hoạt, uyển chuyển của sách lược, giữa đường lối cách mạng và sách lược cách mạng. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến là sự cô đúc tất cả tư tưởng, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh”. Đối với Người, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; “Nước ta là một, dân tộc ta là một”; “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam” là cái bất biến. Để thực hiện được cái bất biến ấy, trong những tình thế hiểm nghèo, gian nan thử thách, người cách mạng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, dũng cảm, sáng suốt và mưu lược để áp dụng muôn vàn cái “vạn biến” trong đường đi nước bước mà hoàn cảnh đặt ra và đỏi hỏi phải giải quyết.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - “dĩ bất biến” trong tư tưởng, phong cách, phương pháp Hồ Chí Minh. Theo Người, “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc… Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Cả cuộc đời hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và cuộc sống hạnh phúc, ấm no của nhân dân, đặc biệt là từ sau khi đến với Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác - Lênin thì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là giá trị bất biến trong tư tưởng và hành động của Người. Với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” cho nêndù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành được độc lập “Kiên quyết bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai được xâm phạm đến quyền thiêng liêng ấy của nhân dân ta”. Đối với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Theo Người, chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất để giải phóng dân tộc, để xây dựng một xã hội phát triển cao hơn và tốt đẹp hơn, con người được giải phóng toàn diện. Bởi vì, “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Chính vì vậy, Người luôn kiên định: “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”. Với tư tưởng “Độc lập dân tộc kết hợp với chủ nghĩa xã hội”, Hồ Chí Minh đã tìm ra quy luật vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam - một quy luật “Thuận với chiều hướng tiến hóa của nhân loại”, phù hợp với yêu cầu giải phóng của xã hội Việt Nam nói chung và của mỗi con người nói riêng và vì vậy, Người đã mở ra thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.

Mềm dẻo, linh hoạt về sách lược - “ứng vạn biến” trong tư tưởng, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh. “Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo”, tư tưởng, phong cách của Người được hình thành và không ngừng hoàn thiện thông qua quá trình rèn luyện, trải nghiệm qua hành động thực tế, đúc rút, tổng kết thành lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt. Các công tác phải phối hợp và liên hệ với nhau, bộ phận phối hợp với toàn cục, v.v.. Mỗi công tác phải hợp với từng nơi, từng lúc, từng hoàn cảnh”. Để thực hiện “dĩ vạn biến” thì phải luôn mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo trong sách lược, trong từng thời điểm và trên mọi lĩnh vực của cuộc đấu tranh cách mạng. Người đã kết hợp nhuần nhuyễn và xử lí một cách hoàn hảo mối quan hệ giữa hai vấn đề tưởng chừng đối lập: tính kiên định về nguyên tắc, lý tưởng, niềm tin và tính linh hoạt, uyển chuyển trong phương pháp tư duy và hành động. Điều đó làm nên phong cách Hồ Chí Minh: vô cùng linh hoạt, uyển chuyển nhưng không xa rời nguyên tắc; vô cùng cương nghị, cứng rắn về những vấn đề nguyên tắc, nhưng không sơ cứng, sáo mòn.

 Hồ Chí Minh đã từng nói: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”, đó là quá trình lịch sử - tự nhiên. Tư tưởng, phong cách, phương pháp “dĩ bất biến, ứng vạn biến” luôn trong quá trình vận động - “vạn biến” và xoay quanh trục “bất biến”. Với Người, mối quan hệ biện chứng giữa “bất biến” và “vạn biến” đã được Người nhận thức và giải quyết triệt để, nhất quán và đầy sáng tạo trong các giai đoạn lịch sử cách mạng khác nhau. Mục tiêu chiến lược là bất di bất dịch; nhưng tùy hoàn cảnh cụ thể ở trong nước và quốc tế, tùy từng giai đoạn lịch sử mà đề ra những sách lược uyển chuyển, phù hợp.

VẬN DỤNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Với sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp phong trào thi đua yêu nước với cuộc vận động chống tham ô, lãng phí, quan liêu, làm cho mọi người thấm nhuần ý thức làm chủ nước nhà và tinh thần cần kiệm xây dựng Tổ quốc, thì chúng ta nhất định thắng lợi”, chúng ta tiếp tục kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới; kiên định mục tiêu độc lâp dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, trong các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể chúng ta luôn nêu cao cảnh giác cách mạng, khôn khéo, linh hoạt, mềm dẻo trong đối sách nhằm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại”, luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích nhân dân lên trên hết, trước hết. Trong đó, cần kiên định những nguyên tắc, mục tiêu “bất biến” và mềm dẻo, sáng tạo “vạn biến” những phương pháp, cách thức xử lý phù hợp với thực tiễn. Cụ thể là:

Một là, tiếp tục kiên định mục tiêu, nguyên tắc “bất biến” của cách mạng Việt Nam.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”. Để thực hiện nguyên tắc “bất biến” này đòi hỏi chúng ta phải:

Trước hết, tiếp tục kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Độc lập dân tộc gắn liền với là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Trong bối cảnh, tình hình mới Đảng ta xác định, tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Trong đó, cần chú trọng hơn đến bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong nhận thức và giải quyết các quan hệ lớn. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lâp, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đại hội XIII của Đảng, xác định: “Xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, trật tự, kỷ cương, an toàn, bảo đảm hạnh phúc của người dân”. Đây vừa là chủ trương chỉ đạo chiến lược vừa thể hiện sự kiên định mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Để đạt mục tiêu đó, phải luôn quán triệt và thực hiện nghiêm túc quan điểm nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, củng cố; tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phải đẩy mạnh thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cơ chế dân chủ được khẳng định trong thực tiễn đời sống xã hội; vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ luôn được phát huy.

Thứ hai, giữ vững và nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Quán triệt và thực hiện quan điểm Đại hội XIII của Đảng: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”.Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm. Các tổ chức của Đảng và đảng viên, phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nắm vững, kiên định và chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng. Cán bộ, đảng viên luôn để cao trách nhiệm nêu gương trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ ba, kiên định quan điểm lấy dân làm gốc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, xử lý kịp thời, nghiêm minh tổ chức, cá nhân vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân. Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức; động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế; quản lý và tự quản xã hội; xây dựng, quản lý, thụ hưởng văn hoá; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, ngoại giao nhân dân gắn với thế trận quôc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân. Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân.

Thứ tư, kiên định đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, "tự diễn biến”, “tự chuyển hóa ” trong nội bộ. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, với quyết tâm chính trị cao hơn, mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn, đồng bộ các biện pháp cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự; gắn phòng, chống tham nhũng với phòng, chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng. Quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng; kiểm soát hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.

 

Hai là, “vạn biến”, linh hoạt, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

 

Trước hết, vạn biến”, linh hoạt, sáng tạo trong xây dựng Đảng về tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Kinh nghiệm hơn 90 năm của Đảng ta đã chỉ ra: Đảng thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn giúp Đảng luôn có bản lĩnh chính trị kiên cường, tầm tư duy sáng suốt, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, làm cho Đảng đoàn kết, trong sạch, vững mạnh hơn, niềm tin của nhân dân đối với Đảng được tăng cường luôn là nhiệm vụ then chốt. Cùng với thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, cần phải linh hoạt, sáng tạo, đề cao trách nhiệm nêu gương và chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên. Việc xử lý kỷ luật nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa giúp mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh hành vi, tích cực rèn luyện đạo đức, lối sống, tác phong công tác.

 

Thứ hai, quán triệt và thực hiện quan điểm Đại hội XIII của Đảng: “Lấy hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập và thực thi pháp luật hiệu lực, hiệu quả là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển đất nước”. Tập trung sửa đổi những quy định không thống nhất, mâu thuẫn, chồng chéo, cản trở phát triển kinh tế xã hội. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền điện tử; đổi mới phân cấp, phân quyền, ủy quyền và nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các cấp, các ngành, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo. Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, thực hiện nhiều hình thức hội nhập quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác.

Thứ ba, tập trung hoàn thiện và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với phát huy ý chí, khát vọng phát triển và sức mạnh của con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hoá Việt Nam; xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý, văn hoá công sở, văn hoá doanh nghiệp, doanh nhân. Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình thông tin trên internet; kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục; nâng cao sức đề kháng của nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hoá, tích cực tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại phù hợp với thực tiễn, từng bước xây dựng Việt Nam thành địa chỉ hấp dẫn về giao lưu văn hóa quốc tế.


Thứ tư,
 thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ. Phát biểu tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Chúng ta đã xây dựng nên trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh. Đây là trường phái riêng” - “ngoại giao cây tre”. Đó là sự mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tuỳ cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”.

Thứ năm, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là quan điểm “bất biến” của Đảng ta, song trong từng thời điểm, bước ngoặt của cách mạng đều có sự vận dụng phù hợp, sáng tạo để thực hiện tốt quan điểm này. Đại hội XIII, Đảng ta xác định: Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân gắn kết với nền an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững ổn định chính trị an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống. Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, có thể gây đột biến. Chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh quốc gia, an toàn thông tin, an ninh mạng,... giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.

Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước có cả những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải có cách nhìn nhận, ứng xử hết sức khoa học, khôn khéo, mềm dẻo để “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn “dĩ bất biến”, “ứng vạn biến” trong lãnh đạo chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Điều đó khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, trách nhiệm của Đảng, thể hiện ý Đảng thuận lòng dân trước sự phát triển toàn diện của đất nước.

 

Đọc và học

  Trước khi viết bài báo này, tôi nhập từ khóa “đọc sách”, trong 0,44 giây tìm kiếm trên mạng google có khoảng 1.510.000 kết quả, và từ khóa “văn hóa đọc” thì trong 0,49 giây có khoảng 791.000 kết quả. Như vậy, có thể nói, “đọc sách” và “văn hóa đọc” đã và đang rất được quan tâm theo những lý do và bình diện khác nhau. Đọc được xem như một chiến lược trên hành trình tiếp cận những tài nguyên tri thức tiềm ẩn.

Sách, báo và người đọc

Hơn một thế kỷ trước đây, “vào 6 giờ 30 sáng ngày 15-5-1862, dân chúng Pa-ri bao vây phố Xen, tấn công vào hiệu sách Pan-nhe để cướp lấy tập 2 và tập 3 của cuốn truyện “Những người khốn khổ” thì đó là lúc mà độc giả của nhà văn Pháp nổi tiếng V. Huy-gô còn say mê theo dõi số phận của nhân vật Giăng Van-giăng với hàng loạt câu hỏi: “Liệu y có thoát khỏi tay mật thám Gia-ve không? Liệu y có cứu được nàng Cô-dét không?”. Sâu hơn nữa, đó là niềm hy vọng không tưởng của người tiểu tư sản muốn được nhìn thấy trong cuốn tiểu thuyết một điều mà trong cuộc sống thực, họ không thấy có: đó là một nhân vật anh hùng cứu vớt những người khốn khổ, những cô gái nghèo và những trẻ mồ côi, lập lại công lý trên thế gian này” (Đặng Thị Hạnh - Tạp chí Văn học nước ngoài, số 4/2001). Nhiệt thành và tin tưởng những điều được viết trong sách, những độc giả của đại văn hào V. Huy-gô khi ấy dường như đã gắn liền việc đọc với khát vọng đổi thay xã hội.

Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng kiệt xuất của mình, Bác Hồ là một người đọc vĩ đại. “Luận cương đến Bác Hồ/Và Người đã khóc/Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lê-nin/Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp/Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin” (Chế Lan Viên). “Mỗi ngày, Cụ xem chừng 25 tờ báo. Báo sáng, báo chiều, báo hàng tuần, báo ngoại quốc. Báo có gì hay, Cụ lấy bút chì đỏ làm dấu vào, rồi bảo anh em xem” (Cứu Quốc, số 420/1946). Người từng khuyên: “Muốn có nhiều tài liệu phải xem cho rộng”, “Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu trong sách. Có vấn đề thông suốt thì mạnh dạn đề ra cho vỡ lẽ, đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt ra câu hỏi “Vì sao”, đều phải suy nghĩ kỹ càng, xem nó có hợp với thực tế hay không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo một cách xuôi chiều”. Với Bác, muốn làm được việc gì cũng phải đọc sách, báo.

G. V. Ph. Hê-ghen, trong công trình “Mỹ học” nổi tiếng của mình đã khái quát: Con người có những đòi hỏi, những mong muốn mà tự nhiên không thể thỏa mãn được. Anh ta phải chiếm hữu những đối tượng của tự nhiên, sửa chữa nó, biến đổi nó, gạt bỏ khỏi đường đi của mình tất cả những gì cản trở, bằng cách sử dụng một cách có ý thức những hiểu biết mà mình có được, và như vậy là biến đổi cái bên ngoài thành một phương tiện mà anh ta sử dụng để có thể thể hiện chính mình trong mọi mục đích của mình. Đọc là một hình thái tồn tại và phát triển của tư duy nhằm không chỉ trau dồi nhận thức mà còn phát triển phương pháp tiếp cận và chiếm lĩnh thế giới là vì vậy.

Đọc như là mục tiêu chiến lược

Mở đầu cuốn sách nổi tiếng “Dạy trẻ biết đọc sớm”, G. Đô-man - người sáng lập Viện Nghiên cứu thành tựu tiềm năng con người tại bang Pen-sin-va-ni-a, tác giả của cuốn sách bán chạy nhất ở Mỹ - đã nhắn gửi: Nhiều vị phụ huynh chia sẻ rằng được ở với con, dạy con học và nhìn thấy con lớn lên từng ngày là sự trải nghiệm tuyệt vời nhất trong cuộc đời họ. Nếu yêu thương, quan tâm đến trẻ hết mực và dạy chúng đọc thì liệu chúng có thể đáng yêu, nhạy cảm, thông minh hơn và có năng lực hơn các trẻ khác? Câu trả lời là có. Phải chăng vì thế mà cuốn sách này xuất bản lần đầu năm 1964, và nay đã phổ biến rộng rãi trên 22 quốc gia và đạt trên 5 triệu bản.

Đọc - một vấn đề từng “nóng bỏng” ở nhiều quốc gia - kể cả các nước phát triển. Theo kết quả điều tra (năm 2001) của Bộ Giáo dục Mỹ, 70% học sinh lớp 4 ở nước này gặp khó khăn về đọc, vì thế, G. W. Bu-sơ đã mở đầu nhiệm kỳ Tổng thống của mình bằng một chiến lược đột phá đối với ngành giáo dục không phải là không có lý do. Dự án cải cách giáo dục mà Tổng thống G. Bu-sơ trình Quốc hội Mỹ chứa đựng nhiều nội dung đổi mới, trong đó là việc áp dụng một số môn thi trắc nghiệm bắt buộc nhằm kiểm tra kiến thức - chủ yếu là kiến thức toán học và khả năng đọc của học sinh từ lớp 4 đến lớp 8, chi riêng cho kế hoạch nâng cao trình độ đọc là 5 tỷ USD. Còn ở nước Anh, việc hướng dẫn cách đọc được đặc biệt chú trọng ngay từ bậc tiểu học, nhằm tạo ra “những viễn cảnh cho thế hệ mới” (perspectives for a new generation) và như thế, đọc ở đây được xem như điểm khởi đầu cho các năng lực khác (Đen-ni Các-tơ, 1998).

Đọc đồng thời là trải nghiệm. Nhưng nếu chỉ nhằm vào nhu cầu tức thời, mục tiêu cụ thể định sẵn của việc đọc, sẽ dễ bỏ qua “hiệu ứng kép” (bản chất, mang tính đặc thù trong hoạt động “giải mã” văn bản) của việc đọc. Pa-xcan Qui-nhắc cho rằng: Trong đọc có một sự chờ đợi không tìm được kết quả. Đọc, đó chính là lang thang. Việc đọc là lang thang (cố nhiên, đó là sự “lang thang” của những khát vọng khôn cùng, đặng dấn thân trên con đường mải mê đánh thức vùng tiềm năng vô tận của người đọc). Có lẽ đó cũng là điều mà nhà văn Pháp, người đạt giải thưởng Goncount 2002 này đã gặp gỡ với ý tưởng của Mai-cơn - một nhà văn Đan Mạch đương đại, rằng: Nếu bạn biết mình đang tìm kiếm điều gì, bạn sẽ tự hạn chế mình. Nhưng nếu bạn đi tìm một điều chưa biết, bạn sẽ khám phá được một điều gì to lớn hơn. Điều này ngỡ tưởng vô lý nhưng thực sự có lý, như Ô-xô - học giả nổi tiếng người Ấn Độ lý giải trong “Sáng tạo - bừng cháy sức mạnh bên trong” (Creativity - Unleashing the forces within): Nếu bạn bước vào vườn của tôi với suy nghĩ rằng sẽ tìm thấy kim cương và có thế khu vườn mới xinh đẹp thì khi không tìm thấy kim cương, anh ta sẽ bảo khu vườn thật vô giá trị dù trong vườn có vô số hoa đẹp, chim chóc đua hót, khắp nơi rực rỡ những sắc màu, còn gió thì thổi rì rào qua những rặng thông và khắp nơi rêu phủ xanh rì những tảng đá. Anh ta không thể nhận ra giá trị của khu vườn bởi anh đã mặc định trong đầu là phải tìm thấy kim cương, và chỉ khi đó mọi thứ ở đây mới có ý nghĩa. Anh ta đã bỏ lỡ ý nghĩa cuộc sống bởi chính suy nghĩ của mình. Bởi vậy, việc đào tạo người đọc mà cốt lõi là rèn phương pháp đọc (tâm thế, cảm xúc, thái độ, động lực, ý chí, kỹ thuật,...) từ đọc trên dòng đến đọc giữa dòng và cao hơn là đọc vượt dòng (như trường hợp nhà văn Nguyễn Kiên kể lại: Bài văn, từ những con chữ ngủ trên trang giấy, trở thành một cái gì đó cựa quậy trong đầu óc chúng tôi, trước hết là nhờ công thầy giáo đánh thức những con chữ ấy dậy và khơi lên trong chúng tôi niềm say mê tìm đến chúng; hay khi nhà văn G. Goóc-ki đọc cuốn “Một tấm lòng giản dị” của Phlô-béc đã phải nhiều lần đem soi những trang giấy ra ánh sáng “như thể cố tìm giữa các dòng chữ lời giải đáp”).

Điều đó cũng có nghĩa: việc đọc ban đầu có thể chỉ để tiếp nhận giá trị nội dung tường minh của thông tin, nhưng cao hơn là khám phá giá trị tiềm ẩn của thông tin - đọc đồng thời cũng là học - từ học nghệ thuật diễn đạt (lập luận, phân tích, khái quát, suy luận) đến rèn luyện tư duy phản biện (critical of thinking), phát hiện sự độc đáo của cấu trúc thông tin để phát triển tư duy phức hợp (pensée complexe - chữ dùng của E. Mô-rin).

Và một phương cách trong chiến lược học tập suốt đời

“Sự thật là một đứa trẻ bắt đầu học ngay từ khi sinh ra” (Glen Đô-man). Theo đó, trước khi vào trường mầm non và tiểu học, trẻ em đã biết được khá nhiều điều về bản thân mình và gia đình, về hàng xóm và các mối quan hệ với cuộc sống xung quanh và những mối liên quan cùng biết bao sự kiện. Có được điều đó, một phần do các em nghe kể, các em nhìn thấy, nhưng yếu tố rất quan trọng là do các em được người lớn hướng dẫn đọc trong sách, báo, tạp chí.

Hưởng ứng “Ngày thế giới đọc sách” (ngày 23-4), ngày 24-02-2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 284/QĐ-TTg lấy ngày 21-4 hằng năm là Ngày Sách Việt Nam nhằm khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng, nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc nâng cao kiến thức và kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; tôn vinh giá trị của sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh người đọc và những người tham gia sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách; đồng thời, nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam.

“Vấn đề” bức thiết đặt ra cho chúng ta hiện nay là nhận thức và xây dựng hình ảnh “người đọc”, có kế hoạch đồng bộ đào luyện các thế hệ người đọc đáp ứng chiến lược tự học và học tập suốt đời. Nên chăng, các phương tiện thông tin đại chúng cần thường xuyên khuyến cáo ấn tượng, quyết liệt hơn, kiểu như “Những con số biết nói”: Hiện nay ở các nước phát triển như Pháp, Nhật Bản, trung bình 1 người dân đọc từ 20 cuốn sách/1 năm. Các nước trong khu vực như Ma-lai-xi-a: 14 cuốn/1 năm, Xin-ga-po: 10 cuốn/1 năm,... và Việt Nam: 04 cuốn/năm (trong đó 2,8 cuốn là sách giáo khoa, chỉ có 1,2 cuốn là sách khác)./.

THÀNH TỰU CỦA ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ XÂY DỰNG, BẢO VỆ TỔ QUỐC

          Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quán triệt và thực hiện chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng: “cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới”, “giúp bạn là tự giúp mình”, đối ngoại quốc phòng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong liên minh chiến đấu với hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia để chống kẻ thù chung trên bán đảo Đông Dương, góp phần củng cố sức mạnh đoàn kết chiến đấu giữa Quân đội ta với Quân đội nhân dân Lào, Cam-pu-chia. Cùng với đó, đối ngoại quốc phòng cũng trở thành kênh quan trọng để tiếp nhận sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và một số nước bạn bè, anh em trên thế giới, từ trang bị vũ khí, khí tài, hậu cần, quân y đến cử cán bộ sang các nước học tập kinh nghiệm chiến đấu, nâng cao trình độ lý luận chính trị quân sự và phương pháp tác chiến, đóng góp quan trọng vào việc xây dựng và phát triển Quân đội ta, kịp thời đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của kháng chiến. Thời kỳ này, Quân đội ta tổ chức giới thiệu kinh nghiệm xây dựng lực lượng, kinh nghiệm đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân với quân đội nhiều nước trên thế giới, qua đó mở rộng quan hệ về quân sự, quốc phòng và làm tăng uy tín, vị thế của Quân đội nhân dân Việt Nam với bạn bè quốc tế. Thông qua đối ngoại quốc phòng, chúng ta không những tranh thủ và phát huy hiệu quả sức mạnh đoàn kết quốc tế, mà còn góp phần tích cực củng cố, tăng cường đoàn kết trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp đánh thắng quân xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

          Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là sau năm 1986, dưới ánh sáng đổi mới của Đại hội VI của Đảng, với đường lối đối ngoại “rộng mở”, chúng ta mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng với nhiều nước. Đối ngoại quốc phòng thời kỳ này tiếp tục là kênh ngoại giao quan trọng, có nhiều đổi mới, góp phần cùng với ngoại giao nhà nước phá thế bao vây cấm vận, thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước, tăng cường tiềm lực quốc phòng.

          Trong giai đoạn hội nhập quốc tế, quán triệt và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng qua các kỳ Đại hội, thực thi Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, ngày 25-10-2013, “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế” và Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, công tác đối ngoại quốc phòng tiếp tục triển khai “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hợp tác quốc tế và đối ngoại quốc phòng tiếp tục mở rộng và phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu, trở thành một nội dung quan trọng trong đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nhằm phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp - nền tảng vững chắc để thực hiện kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

          Những kết quả, thành công quan trọng của đối ngoại quốc phòng đã đóng góp thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; nâng cao uy tín và vị thế của đất nước nói chung, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế; góp phần vào việc giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị; kết hợp linh hoạt giữa hợp tác và đấu tranh, xử lý tốt mối quan hệ quốc phòng với các nước trong và ngoài khu vực, đặc biệt là các nước lớn, tạo thế đan xen lợi ích, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ xung đột và chiến tranh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và hiện đại; nâng cao hiệu quả kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

          Thực hiện quan điểm của Đảng “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”, đối ngoại quốc phòng chủ động mở rộng quan hệ song phương với các nước trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 100 quốc gia, bao gồm 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cường quốc trên thế giới. Hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và các nước ngày càng đi vào chiều sâu với các nội dung, lĩnh vực hợp tác thiết thực, phù hợp với điều kiện, nhu cầu và lợi ích của ta và các nước đối tác, tập trung vào các lĩnh vực như trao đổi đoàn, các cơ chế tham vấn, đối thoại, đào tạo, hợp tác quân binh chủng, công nghiệp quốc phòng, quân y, cứu hộ - cứu nạn, tuần tra chung biên giới trên bộ, trên biển, giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới; chủ động tham gia và tổ chức đăng cai các hội thao quân sự quốc tế, như Army Games, Hội thao Quân sự ASEAN; đạt được hiệu quả cao trong hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh; xử lý ô nhiễm bom, mìn và chất độc da cam/đi-ô-xin, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều địa bàn trọng điểm trên cả nước.

          Về đối ngoại quốc phòng đa phương, Việt Nam tích cực tham gia có trách nhiệm và từng bước chủ động đóng góp xây dựng và hoạch định chính sách, đề xuất nhiều sáng kiến có giá trị tại các cơ chế hợp tác về quốc phòng, an ninh của khu vực và quốc tế như: Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF), Đối thoại Shangri-La, Hội nghị An ninh quốc tế Mát-xcơ-va, Diễn đàn Hương Sơn - Bắc Kinh, Đối thoại Quốc phòng Xơ-un,...

          Đặc biệt, thành công của năm Chủ tịch ASEAN 2020 trên kênh quốc phòng, quân sự là một dấu son của đối ngoại quốc phòng. Bằng những nỗ lực vượt bậc, những biện pháp linh hoạt, sáng tạo, khắc phục những khó khăn, trở ngại do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, chúng ta đã hoàn thành thắng lợi tất cả các nội dung, hoạt động quốc phòng, quân sự, bảo đảm hiệu quả, thực chất về nội dung, trọng thị, chu đáo về lễ tân, tuyệt đối an toàn về an ninh, y tế, an ninh mạng. Kết quả tốt đẹp của các hội nghị quân sự, quốc phòng năm Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN, nổi bật là Hội nghị ADMM-14, ADMM+ lần thứ 7 và Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập ADMM+, một lần nữa khẳng định vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam nói chung, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trong khu vực và trên trường quốc tế.

          Trong khuôn khổ Liên hợp quốc, từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã cử hơn 250 lượt cán bộ, nhân viên với ba lượt bệnh viện dã chiến đến phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Xu-đăng, Cộng hòa Trung Phi và trụ sở Liên hợp quốc; đang hoàn tất các công tác chuẩn bị để triển khai Đội Công binh tới Phái bộ UNISFA tại Xu-đăng. Qua đó, khẳng định trách nhiệm của Việt Nam trong việc thực hiện các nghĩa vụ của quốc gia thành viên Liên hợp quốc, tích cực đóng góp vào nền hòa bình thế giới.

          Những thành tựu của đối ngoại quốc phòng thời gian qua bắt nguồn từ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các bộ, ban, ngành, địa phương, các kênh đối ngoại và ý chí quyết tâm, nỗ lực vượt bậc của đội ngũ cán bộ, nhân viên thực hiện nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng với tinh thần “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”. Những thành tựu đó tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc thêm bài học về nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; vận dụng sáng tạo, linh hoạt và hiệu quả quan điểm đoàn kết quốc tế của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, tư tưởng, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh và truyền thống ngoại giao Việt Nam vào điều kiện mới của đất nước./.

Bố trí kiêm nhiệm hợp lý

 Sáp nhập thôn, xóm, bố trí kiêm nhiệm chức danh nhằm tinh gọn đội ngũ, tiết kiệm ngân sách, cải thiện phụ cấp cho người hoạt động không chuyên trách cấp xã, thôn, tổ dân phố là việc làm không sai … nhưng cần căn cứ từng trường hợp cụ thể, phù hợp, để phát huy năng lực và sở trường của người hoạt động không chuyên trách, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Trong lúc bà con ở thôn X và thôn Y giãi bày ý kiến với nhau về các ứng viên trước ngày bầu trưởng thôn sau khi sáp nhập, thì bỗng các ứng viên có đơn xin rút, với lý do sức khỏe và hoàn cảnh gia đình…

- Thôn mới bây giờ diện tích lớn hơn, số hộ, số dân đông hơn, công việc của cán bộ, nhất là của trưởng thôn nhiều hơn trước, nhưng phụ cấp không tăng, nếu là tôi, tôi cũng xin rút. - Bác Sơn, người của thôn X thẳng thắn.

- Các bác ấy đều có tuổi, bao năm nay không còn làm nông nghiệp. Biết khó đáp ứng nếu làm trưởng thôn kiêm khuyến nông và thú y, theo chủ trương kiêm nhiệm chức danh của xã, thì xin rút cũng là lẽ thường. - Một người thêm vào.

- Tôi cũng không thấy lý do các ứng viên đưa ra là đúng thực tế. Bởi vì, trước khi sáp nhập, một người đang làm trưởng thôn rồi, một người là phó bí thư chi bộ. Kinh tế gia đình họ đều ổn định, con cái thành đạt. Chiều qua tôi còn thấy các bác ấy chơi bóng bàn, đánh cầu lông ở nhà văn hóa. - Một người khác nhận xét.

Sáp nhập thôn, xóm, bố trí thêm chức danh là cách làm nhằm tinh gọn đội ngũ, tiết kiệm ngân sách, cải thiện phụ cấp cho người hoạt động không chuyên trách cấp xã, thôn, tổ dân phố… Thực tế nhiều nơi cho thấy, một số người hoạt động không chuyên trách ở thôn, xóm, kể cả bí thư chi bộ, trưởng thôn là cán bộ, công chức nghỉ hưu, nhiều người từ lâu không gắn bó với chăn nuôi, trồng trọt. Do đó, cấp ủy chi bộ, đảng ủy cơ sở cần làm tốt công tư tưởng, công tác cán bộ để khi giới thiệu nhân sự cho việc bầu trưởng thôn, bầu các chức danh trong cấp ủy, rồi đến việc thực hiện tinh gọn bộ máy, bố trí thêm các chức danh cần căn cứ từng trường hợp cụ thể, phù hợp, nhằm phát huy năng lực và sở trường của người thêm chức danh, vừa đáp ứng yêu cầu mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra. Chẳng hạn: bí thư chi bộ kiêm trưởng ban công tác mặt trận; phó bí thư chi bộ kiêm thôn trưởng; phó bí thư chi đoàn kiêm công an viên;… Trưởng thôn (làm nghề nông), thì bố trí kiêm nhiệm thu y, khuyến nông, là phù hợp./.

NỖI NHỚ THÁNG TƯ

Có một tháng Tư khắc vào nỗi nhớ
Đồng đội ơi! Các anh ở nơi nào?
Những hoan hỉ của ngày vui thống nhất
Không thể lấp bù năm tháng khuyết hao

Có một tháng Tư… các anh ngã xuống
Cho khúc khải hoàn giải phóng miền Nam
Trong đội ngũ của đoàn quân chiến thắng
Có bóng anh trong phấp phới sao vàng

Có một tháng Tư chạm vào nỗi nhớ
Đồng đội ơi xin hãy cứ yên lòng
Dù tháng Tư các anh không về kịp
Nơi quê nhà mẹ khắc khoải chờ mong

Có một tháng Tư rợp màu cờ đỏ
Chiến tranh đi qua kẻ mất người còn
Máu đã đổ… cho hòa bình độc lập
Trang sử oai hùng rạng rỡ nước non!/(03)
------'
PT-TG.st