Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022
SÀI GÒN THỜI PHÁP, MỸ LÀ "HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG", "KINH ĐÔ HOA LỆ"? VIỆT NAM ĐÃ ĐÁNH ĐUỔI NỀN VĂN MINH NHÂN LOẠI?
MỘT SỐ TỔ CHỨC BÌNH PHONG CỦA CIA CHUYÊN VỀ CÁCH MẠNG MÀU VÀ BẠO LOẠN LẬT ĐỔ
1. USAID (United States Agency for International Development)
Mặc dù trên website của tổ chức này có những lời tự giới thiệu rất thiện chí
là tiến bộ: thúc đẩy phồn vinh thịnh vượng chung; tăng cường dân chủ và quản
trị tốt; bảo vệ nhân quyền; cải thiện y tế toàn cầu; theo đuổi an ninh lương
thực và nông nghiệp; cải thiện ổn định bền vững môi trường; giáo dục đào tạo từ
xa; giúp đỡ các tầng lớp xã hội ngăn chặn và khôi phục từ các cuộc xung đột…
Nhưng thực chất là công cụ của chính quyền Mỹ để can thiệp và gây rối vào
công việc nội bộ các quốc gia Mỹ không ưa.
Là "tổ chức dân sự" dạy các đảng phái, phe đối lập muốn làm CM
phương pháp quảng cáo, tiếp thị quần chúng, lập báo cáo tin tức, tìm chủ đề CM,
tổ chức biểu tình, tổ chức nổi loạn quần chúng. Dưới vỏ bọc “hỗ trợ dân sự”,
“trợ giúp phát triển” cho nước ngoài và hoạt động khắp thế giới. Tổ chức này
vừa bị đóng cửa ở Nga vì tiền sử cung cấp tiền bạc và kích động phe đối lập.
USAID do TT Kennedy lập năm 1961, mặc dù mang tiếng là tổ chức độc lập, nhưng
không hề che đậy hoạt động dưới sự dẫn dắt của TT Mỹ, bộ ngoại giao và Hội đồng
an ninh quốc gia Mỹ.
2. IRI (International Republican Institute)
Viện cộng hòa quốc tế, lãnh đạo là quí ông lướt sóng hồ Trúc Bạch, diều hâu
John McCain. IRI do TT Reagan thành lập năm 1982 nhằm phổ biến dân chủ, được
cấp vốn từ chính phủ Mỹ cho các chương trình chính trị, các dự án dân chủ hóa.
Có bề dày thành tích gây bạo loạn và lật đổ, ví dụ như phế bỏ TT dân bầu
Aristide của Haiti, lập bù nhìn thân Mỹ, hay bạo loạn “mùa xuân Arabia” vừa
qua, lật đổ TT Mubarak. Phần lớn tiền tài trợ IRI đến từ USAID, bộ ngoại giao
và NED.
Hoạt động của IRI bao gồm cả đào tạo các “nhà dân chủ”, đặc biệt là Ai Cập
và Tunisia. Trích wiki: "Một số các nhóm và các cá nhân trực tiếp tham gia
vào các cuộc nổi dậy và những cải cách sâu rộng trong khu vực, trong đó có
Phong trào thanh niên Ai Cập, Trung tâm Bahrain vì nhân quyền và các nhà hoạt
động cơ sở như Entsar Qadhi, một thủ lĩnh trẻ ở Yemen, được đào tạo và cấp tiền
từ IRI, NDI, FH… là các NGO có trụ sở tại Washington.”
Báo cáo của Bộ tư pháp về tài trợ nước ngoài của các tổ chức NGO ở Ai Cập đã
tiết lộ rằng IRI ở Ai Cập đã nhận được tài trợ của khoảng 7 triệu đô la của
USAID cho bầu cử Ai Cập 2011-2012. Các nhà lãnh đạo quân sự của Ai Cập coi tài
trợ của IRI là can thiệp vào công việc nội của nước này.
3. NDI (National Democratic Insitute for International affairs)
Viện dân chủ quốc gia về quan hệ quốc tế có lãnh đạo là quí bà ngoại trưởng
Medeleine Albright. Rõ ràng nhất là NDI cùng NED tài trợ phe đối lập Chavez
cũng như bạo loạn hiện nay ở Venezuela. NDI từng đóng vai trò quan trọng trong
việc Liên bang Nam Tư tan rã và bạo loạn Kosovo. NDI hoạt động ở cả Nga và
Trung Quốc.
NGO này có trụ sở ở Washington và được thành lập bởi chính quyền Mỹ năm 1983
theo cùng 1 cách thức như NED để phổ biến dân chủ toàn cầu.
Theo sứ mệnh được tuyên, "NDI cung cấp hỗ trợ thực hành cho các lãnh
đạo chính trị và dân sự để phát triển giá trị, thực hành và tổ chức dân chủ.”
Nếu như IRI thuộc phe Cộng hòa thì NDI thuộc phe Dân chủ, mặc dù ranh giới
nhiều khi không thật rõ ràng. Triển khai sứ mệnh, NDI bảo trợ hoạt động cho cả
các tổ chức chính trị và dân sự ở 125 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm giám
sát các cuộc bầu cử, cổ súy dân chúng các nước lập các đảng phái đối lập, các
NGO thúc đẩy chính sách mở cửa, và chính phủ đa đảng phái. Sáu nhiệm vụ chính
của NDI: sự can dự của công dân vào chính quyền, tiến bộ bầu cử, đảng phái chính
trị, phụ nữ trong chính sách, dân chủ và công nghệ dân chủ, quản trị dân chủ.
Các nhà tài trợ rót tiền cho viện này là USAID và NED, là các đại gia dầu
mỏ: Chevron, Exxon, Texaco and Enron. Dân chủ là công cụ để gây hỗn loạn và làm
suy yếu các quốc gia độc lập để trục lợi, theo cách hiểu từ hoạt động của Viện
dân chủ, không phải theo tuyên bố.
4. NED (National Endowment for Democracy)
Quĩ bảo trợ dân chủ quốc gia được Quốc hội Mỹ thành lập năm 1983 với sứ mệnh
“phổ biến dân chủ”. Một trong những lãnh đạo NED là Vin Weber, cựu nghị sĩ tân
diều hâu, người sáng lập "Empower America" với quan điểm chính trị
đơn giản: Mỹ phải chiếm ưu thế tuyệt đối về sức mạnh quân sự để giải quyết các
tranh chấp. NED cầm đầu các tổ chức khác như IRI, NDI, CIPE (Chamber of
Commerce's Center for International Private Enterprise), ACLS (American Council
of Learned Societies) hay AFL-CIO (American Center for International Labor
Solidarity).
Tất cả số đó đều có quan hệ mật thiết với các tổ chức Phi chính phủ NGO khác.
Chúng hoạt động trải rộng ở các nước thuộc thế giới thứ 3: Việt Nam, Myanmar,
Cambodia, China, Nga… Năm 1980, bọn chúng can thiệp vào bầu cử Pháp, tài trợ
nhóm cực hữu NIU và dùng chúng tấn công phe tả. Nhưng hoạt động của NED được
biết rõ nhất là dưới sự điều khiển của CIA, người ta ví NED là con ngựa gỗ
(Trojan Horse) của CIA. Allen Weinstein, một lãnh đạo NED phát biểu năm 1991:
"Vô số những gì NED làm ngày hôm nay đã được CIA làm vụng trộm 25 năm
qua." Bush tăng ngân sách gấp đôi cho NED năm 2004.
Phạm vi hoạt động của NED và các chi nhánh của nó rất rộng, gây ảnh hưởng
đến các tiến trình chính trị các quốc gia, từ gây tác động xã hội dân sự,
truyền thông, nuôi dưỡng các nhóm doanh nhân, nuôi ăn các nhóm nhân quyền, cấp
tiền và thuê mướn các lực lượng ủng hộ các đảng phái chính trị, các chính
khách, theo dõi và tung tin đồn bầu cử gian lận nếu không vừa lòng. Đặc biệt
NED thường o bế bảo kê giới đầu sỏ, doanh nhân, những kẻ theo đường hướng tân
tự do, mở cửa.
Tuy nhiên, NED hầu hết cấp tiền qua các tổ chức trung gian như kể trên. Từ
xung đột Kosovo – Nam Tư, cho đến các cuộc cách mạng màu: Hoa hồng ở Gruzia,
cách mạng Cam ở Ukraine, Hoa Tuy-lip ở Kyrgyzstan, bạo loạn Tân Cương – Trung
Quốc... đều được NED cấp tiền hết sức dồi dào.
Thành viên Ban quản trị NED hầu hết là các nhân vật đứng đầu chính quyền Mỹ:
Henry Kissinger, Madeleine Albright, Frank Carlucci, Zbigniew Brzezinski,
Wesley Clark, cựu giám đốc WB Paul Wolfowitz, thượng nghị, đại diện thương mại
Bill Brock…
5. Freedom House
Hội đoàn quyền tự do, lãnh đạo là cựu CIA James Woolsey, một tân diều hâu.
Freedom House tự tuyên truyền mình là “tiếng nói trong sạch vì tự do dân chủ
khắp thế giới”. Là tổ chức già đời được thành lập cách đây hơn 60 năm bởi
Wendell Willkie và Eleanor Roosevelt (vợ) , 2 thủ lĩnh liberals Mỹ. Hội đoàn tự
do cổ vũ mạnh giá trị dân chủ và kiên quyết chống cả cực tả lẫn cực hữu. Nó
bênh vực kế hoạch Marshall tái thiết châu Âu sau WW-II, các phong trào dân sự ở
Mỹ thập kỷ 50 và thuyền nhân Việt Nam cuối thập kỷ 70, phong trào Đoàn kết ở Ba
Lan và phe đối lập dân chủ ở Phillippines thập kỷ 80 cùng rất nhiều phong trào
dân chủ khác. Đặc biệt Freedom House chống lại độc tài Pinoche, tay sai bù nhìn
Mỹ ở Chile, chủ nghĩa apartheid ở Nam Phi, đàn áp Mùa xuân Praha, LX đưa quân vào
Afghan, vi phạm nhân quyền ở Cuba, Burma, China, và Iraq.
Freedom House bênh vực mạnh cho các hoạt động dân chủ, tự do tôn giáo, tự do
báo chí, các liên minh thương mại và tự do thị trường.
6. Open Society Institute
Viện xã hội Mở của tài phiệt George Soros. Hắn còn lập một số tổ chức để tài
trợ các viện tự do, các nhà báo, sinh viên, các đoàn thể chuyên nghề biểu tình,
các hội thảo "khoa học" xã hội... Viện xã hội mở của Soros đã chi
tiêu và hoạt động mạnh ở Đông Âu thập kỷ 80-90. Ngoài ra, Soros còn cấp tiền và
thao túng Human Right Watch, bản thân hắn là giám đốc điều hành HRW.
7. CMD (Center for Media and Democracy)
Trung tâm Truyền Thông và Dân Chủ thì lộ rõ là "Can thiệp dân chủ"
như Ron Paul buộc tội, chúng tác động đến các kết quả và các tiến trình CT ở
các quốc gia bằng con đường vừa công khai vừa vụng trộm. Trung tâm này và nhiều
tổ chức kể trên lại không được phép hoạt động trên đất Mỹ.
Hầu hết các nhà thuyết giáo Dân Chủ, là cỗ máy tuyên truyền, cỗ máy ăn tiền
được CIA cấp vốn, thường là trực tiếp từ quyền lực tối cao Washington. Chỉ có
Viện xã hội Mở của George Soros là độc lập với Washington nhưng chức năng thì
tương tự: tuyên truyền quảng cáo những cái dơ dáy bẩn thỉu đểu giả DÂN CHỦ MỸ
được tô trát son phấn đẹp đẽ và xức nước hoa thơm lừng.
VẬY NÊN:
- Hãy cẩn trọng với các Tổ chức phi chính phủ hoạt động phi lợi nhuận vì các
mục tiêu cộng đồng, xã hội, dân sự!
- Đừng thấy đỏ mà tưởng chín! Đừng thấy ngon ăn mà tưởng bở, đừng vì lợi ích
trước mắt mà mờ mắt để rồi sập bẫy tai họa, hối không kịp!
- Nhớ rằng chiếc áo không làm nên thầy tu!
- Không có người dốt, chỉ có kẻ lười học, lười tư duy.
- Đừng a dua theo hội chứng đám đông một cách mù quáng và thiếu tư duy./.
MỘT SỐ SỰ THẬT VỀ CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ Ở VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ XX...
* Lượng bom Mỹ ném xuống Việt Nam trong cả cuộc chiến là 7,85 triệu tấn, gấp
gần 3 lần tổng số bom mà tất cả các nước đã sử dụng trong Chiến tranh thế giới
thứ II và tương đương sức công phá của 250 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống
Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản.
* Tính bình quân mỗi người Việt Nam thời đó phải chịu đựng trên dưới 250 kg
bom của Mỹ.
* Nếu tính cả bom, đạn dùng trên mặt đất (lựu đạn, mìn, đạn pháo, chất
nổ...) thì Mỹ đã dùng tổng cộng trên 15,35 triệu tấn bom đạn ở Việt Nam. Kết
cấu hạ tầng ở cả hai miền Việt Nam bị phá hủy nặng nề. Sau chiến tranh, Việt
Nam là một trong những nước có tình trạng ô nhiễm bom, mìn nặng nề nhất trên
thế giới. Gần 800.000 tấn bom mìn chưa phát nổ còn sót lại trong lòng đất vẫn
tiếp tục gây tai nạn, làm hơn 42.000 người chết, 62.000 người bị thương từ 1975
đến 2014, gây ô nhiễm 6,6 triệu ha đất (chiếm gần 18% diện tích Việt Nam),
khiến chính phủ Việt Nam phải chi mỗi năm khoảng 100 triệu USD để khắc phục hậu
quả bom mìn.
* Chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam là một chiến tranh ác liệt
với quy mô lớn kéo dài gần 20 năm. Đây cũng là lần đầu tiên, hậu quả tàn khốc
của vũ khí chiến tranh được xuất hiện trên sóng TV trực tiếp của các nước tiên
tiến.
* Chỉ tính riêng trong 81 ngày đêm ngắn ngủi giao tranh xảy ra ở Quảng Trị,
báo chí nước ngoài đã thống kê, Thành cổ Quảng Trị đã hứng chịu 328.000 tấn bom
đạn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống
Hirosima và Nagasaki hồi Chiến tranh thế giới thứ II.
* Đế quốc Mỹ đã áp dụng hầu hết các vũ khí tân tiến nhất thời điểm đó (chỉ
trừ vũ khí hạt nhân). Một loạt các loại vũ khí đã được sử dụng bởi các quân đội
khác nhau hoạt động trong Chiến tranh ở Việt Nam, bao gồm quân đội của Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa (Quân đội Nhân dân Việt Nam) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam Việt Nam (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam); tất cả các đơn vị của
quân đội Mỹ; các đồng minh của mỹ là Quân lực ng.ụy Sài Gòn, Hàn Quốc,
Australia, New Zealand, Thái Lan và Philippines...
*Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có ít binh
sĩ và vũ khí hơn, trong khi đó Quân đội Mỹ được trang bị vũ khí hiện đại bậc
nhất thế giới. Ở thời kỳ cao điểm năm 1968, quân Mỹ và đồng minh có số lượng
quân sĩ gấp bốn lần và gấp hàng chục lần về thiết bị vũ khí. Ngay cả ở thời
điểm cuối năm 1975, khi Mỹ đã rút quân về nước, họ vẫn trang bị cho quân ng.ụy
Sài Gòn mạnh gấp 2 lần về quân số và gấp vài lần về trang bị so với Quân đội
Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, chiến thắng
chung cuộc lại thuộc về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam, bên yếu thế hơn nhiều về quân sự. Đây là điều để lại
nhiều bài học về chiến lược chính trị và quân sự cho các nhà nghiên cứu, các
tướng lĩnh quân sự sau này.
Trong cuộc chiến tranh phá hoại ở Việt Nam của Đế quốc Mỹ, khả năng tác
chiến công nghệ cao của không quân và hải quân là ưu thế chính của Mỹ, ở thời
kỳ cao điểm Mỹ đã huy động 60% không quân và 40% hải quân để tham chiến ở Việt
Nam. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Liên Xô viện trợ cho một số vũ khí như
MiG-21 và SAM-2 để chống lại, nhưng số lượng khá ít và đây cũng không phải là
những vũ khí hiện đại nhất của Liên Xô khi đó. Tuy nhiên, Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa đã sáng tạo ra những chiến thuật mới, phát huy hiệu quả số lượng trang bị
ít ỏi của mình. Tham mưu trưởng Không quân Mỹ Conwell viết: “Lực lượng phòng
không của Việt Nam là thứ đáng sợ nhất và hoàn chỉnh nhất mà những phi công Mỹ
đã từng gặp” Đại tá James G. Zumwalt nhận xét: “Đối với nhiều người Việt Nam,
cuộc chiến với Mỹ là một ván cờ. Mỗi khi người Mỹ tung ra nước đi khó bằng cách
áp dụng công nghệ mới vào chiến trường, phía Việt Nam lại sử dụng sự khéo léo
để đáp trả”.
* Tổng cộng trong 20 năm, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh này 6,6 triệu
lượt quân nhân Mỹ (chiếm 15% nam thanh niên toàn nước Mỹ) – vào thời điểm cao
nhất (năm 1968–1969) có tới 628.000 quân Mỹ hiện diện trên chiến trường – bằng tổng
số lục quân của cả năm nước Anh, Tây Ban Nha, Bỉ, Canada, Australia và chiếm
70% tổng số lực lượng lục quân Mỹ lúc bấy giờ, với những sư đoàn thiện chiến
nhất như Kỵ binh bay, Tia chớp nhiệt đới, Anh cả đỏ, Thuỷ quân lục chiến… Cùng
với lục quân, Mỹ huy động 60% không quân chiến lược, chiến thuật với 2.300 máy
bay, trong đó có 46% pháo đài bay B-52 với hơn 200 chiếc, 42% lực lượng hải
quân với hàng trăm tàu chiến trong đó có 15/18 hàng không mẫu hạm, tuần dương
hạm, 3.000 xe tăng - xe thiết giáp; 2.000 khẩu pháo hạng nặng từ 120 đến 175mm.
Ngoài ra, Mỹ đã đổ tiền của xây dựng Quân lực ng.ụy Sai Gòn với trang bị 1.800
máy bay, 2.000 xe tăng – thiết giáp, 1.500 khẩu pháo, 2 triệu khẩu súng các
loại, 50.000 xe cơ giới quân sự, hàng trăm tàu, thuyền chiến đấu.
* Các vụ hãm hiếp phụ nữ do lính Mỹ và đồng minh thực hiện diễn ra rất
thường xuyên trong chiến tranh và ít khi bị trừng phạt, nếu bị xử thì cũng rất
nhẹ, và đặc biệt Mỹ đã đem loại văn hóa hưởng thụ và trụy lạc thừa thải vào
Việt Nam, tiếp tục phát triển cái gọi là "Hòn Ngọc Viễn Đông"
giả tạo và lớp phụ nữ trẻ theo chế độ tay sai làm gái điếm lên tới hơn
nửa triệu người, điều trơ trẽn, đáng xấu hổ nhất là phụ nữ theo chế độ ng.ụy
Sài Gòn lúc ấy rất tự hào "Làm mẹ thế giới" với sản phẩm cho ra là
gần 150.000 con lai !
Hiện nay có hơn hàng vạn nạn nhân chất độc hóa học tại Việt Nam. Một nửa
diện tích rừng của Việt Nam bị phá hủy. Mỹ đã rải ở miền Nam Việt Nam 45.260
tấn (khoảng 80 triệu lít) chất độc hóa học, sự tàn phá môi trường do Mỹ gây ra
lớn đến mức đã khai sinh một từ tiếng Anh mới "Ecocide" - Thuốc hủy
diệt sinh thái.
* Quân lực ng.ụy Sài Gòn là một quân đội hiện đại, tốn kém, đòi hỏi kinh phí
hoạt động gần 3 tỷ USD Mỹ mỗi năm. Nền kinh kế ng.ụy Sài Gòn không thể cáng
đáng được kinh phí này, nên ng.ụy Sài Gòn đã gần như phải dựa hoàn toàn vào
viện trợ kinh tế của Mỹ để có thể thực hiện phòng thủ quốc gia. Khi Mỹ giảm
viện trợ xuống còn 1,1 tỷ USD vào năm 1974, nền kinh tế lâm vào khủng hoảng với
lạm phát ở mức 200%, Quân lực ng.ụy không còn đủ kinh phí hoạt động, tình trạng
thiếu đạn dược, vũ khí, xăng dầu đã dẫn đến hỏa lực yếu và giảm tính cơ động.
Nguồn: Andrew A. Wiest, The Vietnam War, 1956-1975, 2002, Osprey Publishing,
tr. 80).
THƯ GỬI CÁC BÁC, CÁC CHÚ LÀ TƯỚNG LĨNH ĐÃ NGHỈ HƯU!
SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ-TINH THẦN TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC
Suốt chiều dài lịch sử, sức mạnh
chính trị - tinh thần là ưu thế tuyệt đối, có vai trò rất lớn trong công cuộc
dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Sức mạnh của nhân tố chính trị - tinh
thần là sức mạnh tổng hợp của nhân tố chính trị, gắn liền với nhân tố tinh
thần, dựa trên nền tảng chính trị của một giai cấp nhất định gắn bó chặt chẽ
với nhận thức, tình cảm, ý chí, quyết tâm…của mỗi thành viên trong xã hội và
hướng theo những lợi ích, định hướng chính trị nhất định. Các thế hệ cha anh
luôn nhận thức đúng và quan tâm đến việc xây dựng và phát huy sức mạnh chính
trị - tinh thần, đặc biệt là trong những cuộc chiến tranh giải phóng và trong
công cuộc bảo vệ đất nước. Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ ra rằng, sức mạnh chính
trị - tinh thần nếu được phát huy thì không một khó khăn, trở ngại nào chúng ta
không vượt qua. Không một kẻ thù nào chúng ta không đánh thắng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức
mạnh chính trị - tinh thần của dân tộc ta được phát huy cao độ với nội dung và
chất lượng mới, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng và phát huy sức mạnh
chính trị - tinh thần luôn là vấn đề chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam. Sức mạnh chính trị - tinh thần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
hiện nay là tổng thể những khả năng về chính trị - tinh thần có thể huy động
nhằm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, thể hiện ở hệ tư tưởng
chính trị,chế độ xã hội, các chính sách đối nội, đối ngoại; ở lòng yêu nước,
niềm tin, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết…dưới sự lãnh đạo của Đảng
trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Để bảo vệ vững chắc
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phải chú trọng xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp
của toàn dân tộc, trong đó, lấy xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần là nhân
tố hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp củng cố quốc
phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ-TINH THẦN TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC
Suốt chiều dài lịch sử, sức mạnh
chính trị - tinh thần là ưu thế tuyệt đối, có vai trò rất lớn trong công cuộc
dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Sức mạnh của nhân tố chính trị - tinh
thần là sức mạnh tổng hợp của nhân tố chính trị, gắn liền với nhân tố tinh
thần, dựa trên nền tảng chính trị của một giai cấp nhất định gắn bó chặt chẽ
với nhận thức, tình cảm, ý chí, quyết tâm…của mỗi thành viên trong xã hội và
hướng theo những lợi ích, định hướng chính trị nhất định. Các thế hệ cha anh
luôn nhận thức đúng và quan tâm đến việc xây dựng và phát huy sức mạnh chính
trị - tinh thần, đặc biệt là trong những cuộc chiến tranh giải phóng và trong
công cuộc bảo vệ đất nước. Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ ra rằng, sức mạnh chính
trị - tinh thần nếu được phát huy thì không một khó khăn, trở ngại nào chúng ta
không vượt qua. Không một kẻ thù nào chúng ta không đánh thắng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức
mạnh chính trị - tinh thần của dân tộc ta được phát huy cao độ với nội dung và
chất lượng mới, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng và phát huy sức mạnh
chính trị - tinh thần luôn là vấn đề chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam. Sức mạnh chính trị - tinh thần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
hiện nay là tổng thể những khả năng về chính trị - tinh thần có thể huy động
nhằm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, thể hiện ở hệ tư tưởng
chính trị,chế độ xã hội, các chính sách đối nội, đối ngoại; ở lòng yêu nước,
niềm tin, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết…dưới sự lãnh đạo của Đảng
trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Để bảo vệ vững chắc
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phải chú trọng xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp
của toàn dân tộc, trong đó, lấy xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần là nhân
tố hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp củng cố quốc
phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN CÔNG LAO TO LỚN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Không
ai có thể phủ nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng
Việt Nam vì chính Người đã làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc ta từ thân phận
một dân tộc nô lệ thành một đất nước độc lập, tự do. Với thế giới, Người đã
“góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(1).
Ngay
từ khi mới 20 tuổi, do nhận thấy những bế tắc về đường lối và phương pháp cách
mạng của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, Nguyễn Ái Quốc đã rời Tổ quốc để
ra đi tìm đường cứu nước. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã tìm
ra con đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Việc truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam tự nó chưa nói lên sự trường tồn của chủ nghĩa
Mác - Lênin với cách mạng nước ta. Vấn đề cốt lõi nhất là ở khả năng dẫn đường,
hấp dẫn, lôi cuốn của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cả một đất nước đang vươn
lên để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Sức sống chủ nghĩa Mác -
Lênin chỉ thực sự được tỏa sáng ở Việt Nam khi Hồ Chí Minh đã vận dụng nó để
lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nên những thắng lợi vẻ vang
ở thế kỷ XX mà không chỉ bạn bè quốc tế ghi nhận mà ngay cả kẻ thù cũng phải nể
phục. Do đó, chỉ những kẻ cố tình “nhắm mắt làm ngơ”, “có mặt như mù” mới có
thể phủ nhận được công lao to lớn của Người với cách mạng Việt Nam. Vì vậy,
“không ai có quyền phỉ báng vào hiện thực lịch sử, quy cho Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh là có tội với lịch sử dân tộc bởi chính Nguyễn Ái Quốc là người đầu
tiên tiếp nhận và phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng
vô sản”(2).
Không
chỉ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, Người còn trực tiếp lãnh đạo
nhân dân ta đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, khai sinh và xây dựng Nhà nước
Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Điều quan trọng hơn cả là khi vận dụng chủ nghĩa Mác
- Lênin, Người đã không bê nguyên xi lý luận của các bậc tiền bối mà đã vận
dụng linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người đã
biến hệ thống lý luận với những nguyên lý, quy luật, phạm trù mang tính phổ
quát của chủ nghĩa Mác - Lênin thành những triết lý giản đơn, dễ hiểu để tuyên
truyền, giải thích cho nhân dân, hướng dẫn nhân dân làm theo.
Tư
tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại
mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin
chính là nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh. Về logic, tư tưởng Hồ
Chí Minh kế thừa, phát triển, làm phong phú, sâu sắc chủ nghĩa
Mác - Lênin; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào
điều kiện cụ thể Việt Nam. Vì thế, trong tác phẩm “Đường kách
mệnh” (viết năm 1927), ngay ở trang đầu tiên, Hồ Chí Minh đã trích
lời của Lênin: Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động,…
chỉ có theo lý luận cách mệnh tiên phong Đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm
cách mệnh tiên phong để nêu bật tầm quan trọng của chủ nghĩa
Mác - Lênin đối với Đảng: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm
cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà
không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.
Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất,
chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(3). Điều này
đã được Người nhấn mạnh lại trong bài trả
lời phỏng vấn nhà báo Sác-lơ Phuốc-ni-ô, phóng viên
Báo L'humanité (Pháp) ngày 15/7/1969: “…chính là do cố gắng vận
dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với
thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng
lợi to lớn như đồng chí đã biết. Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều
nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng… chúng tôi giành được những thắng
lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa
Mác - Lênin”(4).
Có thể
nhận thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin
ở bản chất khoa học và cách mạng, ở lý tưởng và mục tiêu nhân văn vì con người,
vì giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại. Chủ nghĩa Mác - Lênin
là khoa học về những quy luật phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư
duy; về cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống mọi sự
áp bức, bất công; về xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa
Mác - Lênin ra đời trên mảnh đất hiện thực là thực tiễn đấu tranh
cách mạng của giai cấp công nhân - lực lượng xã hội đại biểu cho phương thức
sản xuất tiên tiến nhất của lịch sử phát triển nền sản xuất vật chất của nhân loại.
Đồng thời, là sự tổng hòa từ nhiều nguồn tri thức của loài người, thu nhận tinh
túy từ các tư tưởng tiến bộ và không ngừng được bổ sung bằng những kinh nghiệm
từ thực tiễn lịch sử được khái quát lên tầm lý luận. Sự hình thành và phát
triển của chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời vì mục tiêu cải tạo
thế giới, hướng đến giá trị nhân văn cao cả là giải phóng giai cấp, giải phóng
xã hội, giải phóng con người.
Như
vậy, về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa
Mác - Lênin chứ không hề có sự khác biệt, đối trọng nhau như các thế
lực thù địch vẫn rêu rao. Có được điều đó
là do chính Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu, kế tục, phát triển nó lên tầm cao mới,
vận dụng sát đúng với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh
và chủ nghĩa Mác - Lênin nằm trong sự thống nhất hữu cơ; cả hai đều là cấu phần quan trọng
trong nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân
ta. Chúng ta không thể lấy chủ nghĩa Mác - Lênin thay cho tư tưởng Hồ Chí Minh và ngược lại, cũng như
không thể hiểu và quán triệt, vận dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không
nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin.
(1) Chu Đức Tính (chủ biên), Hồ
Chí Minh - con người thời đại, Nxb. Văn hóa - Thông tin,
H, 2010, tr.16.
(2) Nguyễn Đắc Độ: “Cần hiểu đúng công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
khi truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam” trong sách Bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng
của Đảng trong tình hình mới, Cục Tuyên huấn, Nxb Chính trị
quốc gia Sự thật, H,2019, tr.58.
(3)
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2011, tr. 28, tr.374.
TIẾP TỤC ĐẤU TRANH CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN TÁCH RỜI, ĐỐI LẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG VÀ PHẦN TỬ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ
Lâu nay, để tiến hành
chiến lược “diễn biến hòa bình” - “cuộc chiến tranh không khói súng”, “khâu đột
phá” mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị thường sử
dụng là tấn công trên mặt trận tư tưởng. Việc đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với
chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một thủ đoạn nhằm phủ định đường lối và vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động bạo loạn lật đổ để thay đổi thể chế
chính trị hiện hành ở nước ta. Chừng nào chưa đạt được mục đích của mình, các
thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị sẽ còn chống phá bằng
các hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Để bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, chúng ta phải mài sắc vũ khí lý luận để đấu tranh chống lại các
quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị nói chung và âm mưu, thủ đoạn
đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói riêng. Theo đó, cần
tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức cho toàn
Đảng, toàn dân về mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, về động cơ đen tối của các thế lực thù địch, phản động và phần tử
cơ hội chính trị khi phủ nhận mối quan hệ này. Cần làm cho cán bộ, đảng viên và
nhân dân hiểu rõ rằng, mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh là mối quan hệ giữa cội nguồn và phát triển, giữa cái chung và cái đặc
thù nên “tuy hai mà là một, tuy một mà là hai”. Vì thế, không thể tách rời, đối
lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cũng không thể lấy tư
tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin và ngược lại. Cho dù
tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều điểm sáng tạo, nhưng lại thống nhất với chủ nghĩa
Mác - Lê-nin ở chiều sâu bản chất, ở lý tưởng giải phóng con người... Việc các
thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị mưu toan tách rời tư
tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cố tình lờ đi mối quan hệ biện
chứng giữa hai hệ thống tư tưởng, lý luận này không phải là do chưa có đủ thông
tin hay chưa có phương pháp nghiên cứu phù hợp, mà là sự chủ ý xuyên tạc, bịa
đặt và lừa bịp nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” và thúc đẩy “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng lý
luận chính trị để cán bộ, đảng viên hiểu rõ nội dung, bản chất khoa học, cách
mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những
năm tháng đất nước bị chia cắt, kẻ thù đế quốc từng dùng “trăm phương ngàn kế”
để ly gián nhân dân miền Nam với Bác Hồ, với Đảng, với miền Bắc xã hội chủ
nghĩa nhưng đều bị thất bại trước ý chí sắt đá của nhân dân ta: “Dù ai nói ngả,
nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân/ Dù ai rào giậu, ngăn sân/ Lòng
ta vẫn vững là dân Bác Hồ”. Lúc này cũng vậy, nếu cán bộ và nhân dân đều thấu
hiểu, thấu cảm giá trị đích thực, sức sống thời đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh thì mọi sự xuyên tạc sẽ trở nên vô nghĩa. Do đó, cần
tập trung thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí
thư, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu,
vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình
hình mới”. Làm tốt công tác giáo dục lý luận chính trị, đẩy lùi căn bệnh lười
học lý luận chính trị ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, tích cực bồi đắp tri
thức khoa học cho cán bộ, đảng viên và nhân dân chính là tạo “vắc-xin” phòng,
chống sự xâm nhập của các luồng thông tin xấu, độc, các quan điểm sai trái, thù
địch.
Ba là, xây dựng đội quân tinh nhuệ tác chiến mặt
trận tư tưởng lý luận là các chuyên gia giỏi, am hiểu về lý luận
chính trị để đấu tranh trực diện với những âm mưu, thủ đoạn, những luận điệu
xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các chuyên gia khi tham gia vào trận chiến
trên mặt trận đấu tranh tư tưởng phải có thái độ vừa mạnh mẽ, điềm tĩnh, vừa
kiên quyết, kiên trì; mọi lập luận đưa ra phải đạt tới mức tinh thông, sắc bén
về lý luận, phong phú, sinh động về thực tiễn. Theo đó, cần thường xuyên và kịp
thời cung cấp thông tin cho lực lượng này và tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi
kinh nghiệm với các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt về đấu tranh trên
không gian mạng để họ trở thành những chiến sĩ thực thụ trên mặt trận đấu tranh
tư tưởng.
NĂM ĐẶC TRƯNG CỦA PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” VÀ MƯỜI BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
Một nội dung quan trọng trong Nghị quyết số
847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội
Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, là chỉ ra 5 đặc
trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.
Đây là nội dung hết sức thiết thực, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ trong toàn
quân phải có trách nhiệm học tập, quán triệt, vận dụng hiệu quả.
5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ
Một là, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với
Đảng, Nhà nước và nhân dân. Kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có ý chí quyết tâm
chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và
hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Hai là, có đạo đức cách mạng trong sáng, lối
sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm,
luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với
thành tích, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy.
Ba là, tích cực huấn luyện, học tập, nghiên
cứu nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn; có phương pháp, tác
phong công tác khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao; gương mẫu trong công tác,
sinh hoạt; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham
nhũng, lãng phí.
Bốn là, có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám
nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; giữ vững nguyên
tắc, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu
thị. Kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, điều
lệnh, điều lệ, chế độ, quy định của quân đội.
Năm là, chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết,
thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột
thịt; lắng nghe, tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn
sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Có tinh thần đoàn kết quốc
tế, mở rộng và tăng cường đối ngoại quốc phòng góp phần tích cực bảo vệ môi
trường hòa bình khu vực và thế giới.
10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân
1. Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc
gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ
lợi; ganh ghét, đố kị, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.
2. Háo danh, tự cao, tự đại, thích được ca
ngợi, sùng bái bản thân, tham vọng quyền lực, địa vị; chạy chức, chạy quyền,
chạy thành tích, chạy tội, mua và sử dụng bằng cấp giả, giấy tờ giả; tìm mọi
cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho mình.
3. Thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể,
không chấp hành sự phân công, điều động của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí
công tác; đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, không tận tâm, tận lực với
công việc, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng.
4. Thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên
tuổi; sợ trách nhiệm, tranh công, đổ lỗi; giấu giếm, bao che và không trung
thực về những khuyết điểm, sai phạm.
5. Ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng
không bảo vệ”, “thấy sai không đấu tranh”; tinh thần tự phê bình và phê bình
thấp, lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ
trích, phê phán người khác với động cơ và mục đích không trong sáng; đoàn kết
xuôi chiều, dân chủ hình thức.
6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công
tác để tham ô, nhận hối lộ hoặc để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị
trí công tác của mình trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng,
bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kê khai tài sản, thu nhập
không trung thực.
7. Cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm để chiếm đoạt
tài sản của tập thể; tham gia, xúi giục, cưỡng ép, mua chuộc người khác làm
những việc trái chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Đảng, của Quân
ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và đơn vị.
8. Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi
thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu
sát; xử lý các sai phạm của cấp dưới không cương quyết, thiếu khách quan; thờ
ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí,
đồng đội và nhân dân.
9. Coi thường lý luận, xa rời thực tiễn, lười
học tập, rèn luyện, thích tự do, vô kỷ luật; hoang mang, dao động, hoài nghi về
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phụ họa theo những nhận thức lệch
lạc, quan điểm sai trái.
10. Phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng
cách mạng; nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên
tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội, nhất là nguyên tắc tập
trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
BQĐND
QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Theo cách hiểu thông thường, dân chủ là hình thức thiết chế của
một chế độ chính trị - xã hội lấy dân làm gốc về mặt quyền lực và lợi ích, dựa
trên nguyên tắc bình đẳng - bác ái. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung
và quyền làm chủ của nhân dân nói riêng là kết quả của sự nhận thức sâu sắc về
vai trò của nhân dân trong lịch sử, là kết quả của sự kết hợp giữa tư tưởng
thân dân truyền thống ở phương Đông và quan điểm cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng trong học thuyết Mác - Lênin. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền
thống và hiện đại, giữa lý luận và thực tiễn - Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng dân
chủ lên một tầm cao mới vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nhân văn sâu sắc.
Theo Hồ Chí Minh, quyền làm chủ của nhân dân thể hiện trên ba
phương diện:
Thứ nhất: Nhân dân làm chủ những gì?
Thứ hai: Tại sao nhân dân có quyền làm chủ?
Thứ ba: Làm thế nào để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân?
Ở phương diện thứ nhất - quyền làm chủ của nhân dân lao động -
Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao
nhiêu quyền hạn đều của dân… chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân
cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.
Hồ Chí Minh cho rằng, nhân dân là người giữ vai trò quyết định
trên tất cả các lĩnh vực: Từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, từ những
chuyện nhỏ có liên quan đến lợi ích của mỗi cá nhân đến những chuyện lớn như
lựa chọn thể chế, lựa chọn người đứng đầu Nhà nước. Người dân có quyền làm chủ
bản thân, nghĩa là có quyền được bảo vệ thân thể, được tự do đi lại, tự do hành
nghề, tự do ngôn luận, tự do học tập trong khuôn khổ luật pháp. Người dân có
quyền làm chủ các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội thông qua bầu cử và
bãi miễn cũng như làm chủ tập thể, làm chủ nơi mình sống và làm việc. Đúng như
Hồ Chí Minh nói: “Mọi quyền hạn đều của dân”. Cán bộ từ Trung ương đến cán bộ ở
các cấp, các ngành đều là “đầy tớ” của dân, do dân cử ra và do dân bãi miễn.
Về phương diện thứ hai, Người giải
thích: dân là gốc của nước. Dân là người đã không tiếc máu xương để xây dựng và
bảo vệ nước. Nước do dân xây dựng nên, do dân đem xương máu ra bảo vệ, do vậy
dân là chủ của nước, một quyền hạn thật to lớn.
Nhân dân đã cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất. Lực
lượng của Đảng có lớn mạnh được hay không là do nhân dân. Nhân dân là người xây
dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của Đảng. Nguyễn Trãi đã có lời khuyên:
Đến khi lật thuyền mới biết sức dân mạnh như nước. Đúng là dân như nước, cán bộ
như cá. Cá không thể sinh tồn và phát triển được nếu như không có nước. Nhân
dân là lực lượng biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực. Vì thế,
nếu không có dân sự tồn tại của Đảng cũng chẳng có ý nghĩa gì. Đối với Chính
phủ và các tổ chức quần chúng cũng vậy.
Nói gọn lại, nhân dân là lực lượng xây dựng đất nước, là lực lượng
hợp thành, nuôi dưỡng, bảo vệ các tổ chức chính trị, do vậy nhân dân có quyền
làm chủ đất nước, làm chủ chế độ, làm chủ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
Làm thế nào để nhân dân thực hiện được quyền làm chủ của mình?
Phương diện thứ ba này được Hồ Chí Minh hết sức quan tâm. Theo Người, từ xưa
đến nay, nhân dân bao giờ cũng là lực lượng chính trong tất cả các xã hội trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhưng trước Cách mạng Tháng Mười Nga,
trước học thuyết Mác - Lênin chưa có cuộc cách mạng nào giải phóng triệt để cho
nhân dân, chưa có học thuyết nào đánh giá đúng đắn về nhân dân.
Theo Hồ Chí Minh, người dân chỉ thực sự
trở thành người làm chủ khi họ được giáo dục, khi họ nhận thức được rõ ràng đâu
là quyền lợi họ được hưởng, đâu là nghĩa vụ họ phải thực hiện. Để thực hiện
được điều này, một mặt, bản thân người dân phải có ý chí vươn lên, mặt khác,
các tổ chức đoàn thể phải giúp đỡ họ, động viên khuyến khích họ. Hồ Chí Minh
từng nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và nếu nhân dân không được giáo
dục để thoát khỏi nạn dốt thì mãi mãi họ không thể thực hiện được vai trò làm
chủ.
Thật vậy, người dân chỉ có thể thực hiện quyền làm chủ khi có một
cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của họ. Đảng phải lãnh đạo xây dựng được một nhà
nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; với hệ thống luật pháp,
lấy việc bảo vệ quyền lợi của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu, xây dựng được đội
ngũ cán bộ, đảng viên xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung
thành của nhân dân.
KHẮC PHỤC "BỆNH GIẤU KHUYẾT ĐIỂM" THEO QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong tác
phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947): “Một Đảng mà giấu giếm
khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”... Bài học về sự sụp đổ của Đảng Cộng
sản Liên Xô và Nhà nước Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết do nguyên
nhân sâu xa là mất dân chủ, “bệnh thành tích”, lãnh đạo chỉ thích khen nịnh dẫn
đến xa rời thực tiễn, những yếu kém không được khắc phục, gây khủng hoảng, mất
đoàn kết và cán bộ, đảng viên, quần chúng bức xúc; cùng bài học thành công của
sự nghiệp đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng với phương châm
nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, từ đó mới sáng
rõ những việc cần làm ngay, được nhân dân đồng lòng ủng hộ... vẫn còn nguyên
giá trị.
Vậy phải làm gì để chữa trị “bệnh giấu khuyết điểm”?
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc,
Bác Hồ đã chỉ rõ: Phải thật thà phê bình và tự phê bình, kiên quyết thực hành
kỷ luật; “Nơi nào sai lầm, ai sai lầm thì lập tức sửa chữa. Kiên quyết chống
thói nể nang và che giấu”; “Kiểm soát khéo bao nhiêu, khuyết điểm lòi ra hết,
hơn nữa, kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”...
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và nhiều nghị
quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Đảng cũng đã yêu cầu toàn Đảng và mỗi
cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các nhóm giải pháp. Tuy
nhiên, có thể khẳng định, chính vì nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực
sự làm nghiêm, chưa vào cuộc một cách quyết liệt, chưa có biện pháp hữu hiệu
nên “bệnh giấu khuyết điểm” vẫn kéo dài dai dẳng.
Cần nhìn thẳng vào sự thật: “Bệnh giấu khuyết
điểm” và thích khen nịnh là bản tính của con người, là yếu tố tâm lý khách quan
từ ngàn xưa, ở khắp nơi (thậm chí cổ nhân còn khuyên dạy: “Đẹp đẽ phô ra, xấu
xa đậy lại”). Do đó, muốn chữa “bệnh giấu khuyết điểm” thì phải điều trị từ
nguyên nhân gốc, trước hết, người mắc bệnh này phải muốn chữa và quyết tâm chữa
(ở đây là người đứng đầu tổ chức Đảng và cơ quan, đơn vị các cấp trong hệ thống
chính trị, từng cán bộ, đảng viên).
Nhưng thực tiễn đang tồn tại nghịch lý là rất
nhiều cán bộ, đảng viên không muốn chữa “bệnh giấu khuyết điểm”. Lý do thật đơn
giản: Tự nhận vi phạm, khuyết điểm thì sẽ thiệt nhiều thứ, như mất thành tích,
bị trừ điểm thi đua, ảnh hưởng tới các quyền lợi của tập thể, cá nhân.
Thậm chí, việc tự nhận khuyết điểm còn bị nhiều
người chê là dại dột, “chưa khảo đã xưng”, “tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt”!
Không ít trường hợp còn bị cán bộ cấp trên lấy làm ví dụ đi “bêu dương” khắp nơi,
nhắc đi nhắc lại mãi. Vì thế, nhiều người, nhiều tập thể đã rút ra “bài học”:
Chẳng dại gì “lạy ông tôi ở bụi này”!
Bởi vậy, thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá của
cấp ủy, người đứng đầu: Thực sự quý trọng đức tính thẳng thắn, trung thực, tự
giác nhận khuyết điểm là yếu tố tiên quyết để tuyên chiến với “bệnh giấu khuyết
điểm”.
Cùng với đó, phải có điểm thưởng cho những tập
thể, cá nhân trung thực, tự giác nhận khuyết điểm nhằm khắc phục nghịch lý
“không muốn chữa bệnh giấu khuyết điểm” nêu trên, mà việc nên làm ngay là chỉnh
sửa quy chế thi đua - khen thưởng theo hướng quy định rõ điểm thưởng, điểm
phạt, bảo đảm không ai chịu thiệt khi thành thật, tự giác nhận khuyết điểm và
quyết tâm sửa chữa. Đây chính là liều thuốc đặc hiệu để chữa từ nguyên nhân
gốc, trị dứt điểm “bệnh giấu khuyết điểm” nguy hại.
Đảng ta đang khuyến khích và đã có cơ chế bảo vệ
cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương
đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đặc
biệt, Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban chấp hành Trung ương khóa
XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đã xác định rõ nguyên
tắc: Công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực
để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm,
dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm
để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức Đảng và
đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai
phạm lớn, kéo dài và lan rộng...
Thực hiện chủ trương trên, những bất cập, nghịch
lý là căn nguyên dẫn đến “bệnh giấu khuyết điểm” cần sớm được các cơ quan có
thẩm quyền xem xét, kiên quyết chỉ đạo khắc phục triệt để.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ
XXI, hợp tác và hội nhập quốc tế vẫn luôn là xu thế lớn, lâu dài của các quốc
gia, khu vực trên thế giới. Bên cạnh những mặt tích cực, tình hình thế giới
tiếp tục có những biến động phức tạp và đa chiều, tác động sâu sắc đến môi
trường hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước ta. Một mặt, các thế lực
thù địch vẫn tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng với mức độ
ngày càng tinh vi hơn, nguy hiểm hơn; trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là
mục tiêu quan trọng đầu tiên mà chúng nhắm tới; mặt khác, hiện nay vẫn còn tồn
tại những vấn đề trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra nguy cơ đe dọa vai trò lãnh
đạo của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý,
bảo vệ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế, công tác
bảo vệ chính trị nội bộ cần tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm sau
đây:
Thứ nhất, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể
các cấp, nhất là người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan
trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với công tác quản lý cán bộ
trong tình hình mới. Xác định rõ trách nhiệm, nâng cao ý thức cảnh giác, đấu
tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động
và nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, rà soát,
sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị
nội bộ, quản lý cán bộ để kịp thời phát hiện, khắc phục những vướng mắc, hạn
chế nảy sinh trong thực tiễn; trong đó, cần tập trung vào việc nắm vững và giải
quyết những vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với
những trường hợp làm nhiệm vụ dịch thuật, cử đi học ở nước ngoài, đi công tác
nước ngoài đột xuất hoặc thường xuyên, theo nhiệm kỳ hoặc có mối quan hệ tiếp
xúc, làm việc lâu dài với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, cho phù hợp với
những yêu cầu, diễn biến của tình hình mới.
Thứ ba, tăng cường công tác xây dựng,
chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trên cơ sở quán triệt sâu sắc, nghiêm túc
thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII), Kết luận số
21-KL/TW, ngày 25-10-2021 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) Chỉ thị số
05-CT/TW của Bộ Chính trị; tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống cho cán bộ, đảng viên, trong đó cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ
chính trị nội bộ và ý thức cảnh giác, tinh thần kiên quyết đấu tranh với các âm
mưu, thủ đoạn phá hoại tinh vi của các thế lực thù địch. Tăng cường kiểm tra,
giám sát, chấn chỉnh những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống.
Thứ tư, chủ động ngăn
chặn, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các
thế lực thù địch. Tăng cường đấu tranh, sớm phát hiện, đập tan các hoạt động
phá hoại tư tưởng chính trị; phản bác, bóc gỡ, vạch trần các thông tin xấu,
độc, luận điệu xuyên tạc, thù địch, kích động; đổi mới phương thức lãnh đạo, quản
lý, khắc phục những hạn chế trong quản lý báo chí, mạng xã hội và xử lý nghiêm
các trường hợp vi phạm. Tăng cường các thông tin chính thống chính xác, kịp
thời, có trọng tâm, trọng điểm, coi trọng nắm bắt và định hướng dư luận trong
thời gian diễn ra các sự kiện lớn, trọng đại của đất nước.
Thứ năm, rà soát, thẩm tra, thẩm định
chặt chẽ, kỹ lưỡng và kết luận rõ tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên,
không để lọt những người không đủ tiêu chuẩn chính trị vào cấp ủy các cấp.
Chuyển trọng tâm từ nắm vững và giải quyết vấn đề lịch sử chính trị sang vấn đề
chính trị hiện nay. Các mặt công tác quản lý cán bộ cần bám sát tình hình thực
tế của đội ngũ cán bộ để có biện pháp phòng ngừa, răn đe kịp thời, hữu hiệu.
Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế phối hợp và
đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị
nội bộ với các cơ quan chức năng liên quan trong việc nắm vững tình hình và
giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ. Tùy tình hình cụ thể, chủ động tham
mưu, đề xuất các chủ trương, biện pháp hiệu quả trong công tác cán bộ và quản
lý cán bộ. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức chính trị - xã hội trong việc tập hợp, vận động nhân dân tham gia xây
dựng, bảo vệ Đảng, đặc biệt là trong giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên; cảnh
giác và tham gia đấu tranh với các hoạt động chống phá của các thế lực thù
địch, tổ chức phản động.
Thứ bảy, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả
công tác kiểm tra, giám sát của Đảng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại
các địa phương, cơ quan, đơn vị. Qua đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm, chấn
chỉnh những thiếu sót, hướng dẫn đồng bộ và nhất quán việc thực hiện các nhiệm
vụ bảo vệ chính trị nội bộ cho các cơ quan, đơn vị, đội ngũ chuyên trách bảo vệ
chính trị nội bộ đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.
NHIỆM VỤ CỦA ĐẢNG VIÊN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG
TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng là bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo
vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để
phát triển đất nước; đồng thời đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai
trái, thù địch, những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, thông tin xấu độc, cố tình
bôi xấu cán bộ, đảng viên, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ
đoàn kết, gây mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân…
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng
công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm
sai trái, thù địch, coi đây là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng,
lý luận của Đảng, một nội dung cốt lõi của công tác xây dựng Đảng.
Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị xác định
rõ: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là một nội dung cơ bản, sống
còn của công tác xây dựng Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng,
toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công
việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị-xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ
quan, đơn vị và của từng cán bộ, đảng viên”.
Thực tế thời gian qua cho thấy liên tục xuất hiện một số cá nhân
đăng tải, chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội những thông tin phiến diện, thiếu
chính xác, chưa được kiểm chứng hoặc thông tin về những vụ việc đang trong quá
trình điều tra, chưa có kết luận chính thức… dẫn đến tâm lý hoang mang, phản
ứng trái chiều trong dư luận xã hội, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch và các
đối tượng phản động, cực đoan chính trị tuyên truyền xuyên tạc, chống phá gây
mất ổn định chính trị, kinh tế, xã hội. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội
chính trị đang sử dụng không gian mạng để chống phá trực diện khuếch trương
thanh thế, cổ súy “giá trị” văn hóa phương Tây. Chúng lập những tài khoản,
website giả mạo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo bộ, ngành, địa
phương, những người có uy tín, nhân vật nổi tiếng… để tung tin gieo rắc hoài
nghi trong xã hội, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm, kích động, lôi kéo
người dân tụ tập trái phép, biểu tình, phá rối an ninh trật tự và có các hành
vi phạm pháp.
Theo Bộ Thông tin-Truyền thông, từ đầu năm 2020 đến nay, qua rà
quét, giám sát, Bộ đã gỡ bỏ gần 400 trang giả mạo tên các đồng chí Trung ương,
4.500 tin bài xấu độc trên Facebook và 30.000 video xấu độc trên Youtube.
Trung tâm giám sát xử lý an toàn thông tin mạng quốc gia có thể rà soát, phân
tích, xử lý khoảng 300 triệu tin giả, tin xấu độc mỗi ngày; tỷ lệ tháo gỡ các
video xấu, độc trên kênh Youtube hiện nay đã lên đến 90%; mỗi tháng gỡ bỏ hàng
ngàn video xấu độc.
Năm 2020 Sở Thông tin - Truyền thông tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp
tham mưu phát hiện, ngăn chặn và xử lý một số vụ việc lợi dụng danh nghĩa báo
chí để trục lợi và vi phạm pháp luật trong hoạt động báo chí; xử lý nhiều cá
nhân đăng tải thông tin sai sự thật trên mạng xã hội; rà soát và phối hợp với
các đơn vị của Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện gỡ bỏ nhiều video xấu độc
trên mạng xã hội.
Để phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả tác động từ thông tin xấu, độc trên mạng xã
hội, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần:
1. Nhận thức đầy đủ, sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to
lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là nền tảng tinh thần
của xã hội; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Tiếp tục thực hiện nghiêm các Nghị quyết TW 4 khoá (XI, XII), Chỉ thị 05 của Bộ
Chính trị gắn với các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên; tự giác tu
dưỡng rèn luyện nâng cao trình độ chính trị, trau dồi đạo đức cách mạng.
2. Tích cực đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh
chính trị, đường lối của Đảng; đồng thời luôn tỉnh táo, cảnh giác, chủ động
phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả mọi âm mưu, thủ đoạn,
hành động chống phá của các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị,
những phần tử bất mãn. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; tỉnh táo,
cân nhắc kỹ lưỡng trước khi phát ngôn, chia sẻ nhận định, đánh giá về vấn đề,
sự kiện, hiện tượng nào đó.
3. Chú trọng nâng cao ý thức tự giác, kỷ luật trong khi tiếp xúc
thông tin; nắm vững và chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi
thông tin theo quy định của Hiến pháp, Luật Tiếp cận thông tin và Luật An ninh
mạng. Khi tham gia mạng xã hội cần nghiêm túc thực hiện điều lệ và quy định kỷ
luật của Ðảng, của tổ chức mà mình là thành viên, đồng thời thể hiện là công
dân gương mẫu.
4. Nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng còn xuất phát từ những hành động cụ thể gắn với công việc, cuộc
sống hằng ngày; không xa hoa, lãng phí, không gây mất đoàn kết nội bộ. Tăng
cường đăng tải những thông tin chính thống, lan tỏa những thông điệp tốt đẹp
mỗi ngày, đồng thời phản biện lại những thông tin sai trái, phiến diện của các
thế lực thù địch trên không gian mạng./.
NHỮNG LÝ TƯỞNG SỐNG CAO ĐẸP
Trong tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” ta còn nhớ câu nói bất hủ của Pavel:
“Cái quý nhất của con người ta là sự sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải
sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho
khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay
có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp
cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người…”
Còn nhớ, trong nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi, liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc viết:
“Cuộc sống của Pavel là một dòng mùa xuân bất tận giữa cuộc đời. Đó là cuộc
sống của người đảng viên trẻ tuổi, cuộc sống của một chiến sĩ Hồng quân. Mình
thèm khát được sống như thế. Sống trọn vẹn cuộc đời dành cho Đảng, cho giai
cấp. Sống vững vàng trước những cơn bão táp của cách mạng và của cuộc đời
riêng…”.
Trong cuốn nhật ký của mình, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm cũng viết một đoạn kể
lại sự lạc quan, cũng như sự say mê nhân vật Pavel: Trên chiến trường Đức Phổ,
hầu như không lúc nào ngừng tiếng súng nổ, chết chóc đau thương đè nặng lên mỗi
người dân, gia đình.
Vậy mà, ở giữa nơi sự “chết chóc, hy sinh còn dễ dàng hơn ăn một bữa
cơm ấy” có những người lính như chị nằm dưới công sự nghe giặc đào ở trên mà vẫn
kể cho nhau nghe chuyện về anh chàng Pavel Corsaghin trong Thép đã tôi thế
đấy…
Được biết, trước đây ở Việt Nam đã từng có thế hệ tự gọi mình là “thế hệ
Pavel” - họ đã hồn nhiên, dũng cảm bước vào chiến trường miền Nam, đi đến những
nông trường xa xôi… không một chút ngại ngần, tính toán thiệt hơn./.
XÂY DỰNG LÝ LUẬN SẮC BÉN GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH
“Tăng cường bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch”(1) là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của toàn Đảng và
hệ thống chính trị, của các lực lượng vũ trang nhân dân.
Hiện nay, trước những diễn
biến phức tạp, nhanh chóng và khó lường của tình hình thế giới, khu vực; những
thuận lợi, thời cơ, triển vọng và cả những khó khăn, thách thức mới của tình
hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đất nước… đã xuất hiện và phát triển
những quan điểm sai trái, thù địch với nhiều cấp độ, trình độ và hình thức biểu
hiện từ nhiều đối tượng khác nhau. Những quan điểm này của các thế lực thù
địch; các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn và có cả
những người trong nội bộ chúng ta do trình độ lý luận, trình độ nhận thức chính
trị yếu kém mà nảy sinh những quan điểm sai trái, đang tấn công toàn diện, vừa
trực tiếp vừa gián tiếp vào những vấn đề về tư tưởng, chính trị đến các vấn đề
xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh; từ những vấn đề về đối nội đến các vấn đề
đối ngoại; từ những vấn đề về chủ trương, chính sách đến các vấn đề thuộc tổ
chức thực hiện; từ con người đến tổ chức, đặc biệt là tổ chức Đảng; từ quá khứ,
lịch sử đến hiện tại và cả tương lai phát triển của dân tộc; từ cả những thành
tựu, ưu điểm đến những hạn chế, nhược điểm, khó khăn, thách thức đối với chúng
ta…Điều đó đã và đang gây nên nhiều nguy hại đối với sự nghiệp cách mạng của
nhân dân ta, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đáng chú ý
là, những quan điểm sai trái, thù địch chống phá chúng ta được các thế lực thù
địch và những kẻ đưa ra cố tình luận chứng và khoác cho một cái vỏ “khoa học và
khách quan”, vì dân, vì nước, vì sự phát triển của quốc gia dân tộc Việt Nam.
Nhiều người trong số họ còn có trình độ học vấn, trình độ lý luận khá cao. Đây
thực sự là khó khăn, thách thức đối với chúng ta trong việc làm thế nào để đấu
tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả.
Để bảo vệ và phát triển chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh có hiệu quả các quan điểm
sai trái, thù địch, nhất thiết chúng ta phải xây dựng được hệ thống lý luận
thật sự sắc bén. Lý luận sắc bén thực chất là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh được các chủ thể nhận thức đúng đắn, thật sự sâu sắc trên lập
trường của giai cấp công nhân, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, làm
tươi mới và vận dụng sáng tạo, phát triển trong đời sống xã hội, trong thực
tiễn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Lý luận sắc bén
để đấu tranh có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch còn là đường lối đúng
đắn của Đảng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
phù hợp với thực tế Việt Nam.
Nội hàm cơ bản và tính thực tiễn
của lý luận sắc bén biểu hiện ở chỗ, nó phải có đủ sức, đủ khả năng vạch rõ
được âm mưu, thủ đoạn, tính chất sai trái, phản khoa học, phi lịch sử,
tính chất nguy hại... của các quan điểm sai trái, thù địch, phải đấu
tranh, phản bác thật sự thuyết phục. Thực tế, lý luận đấu tranh, phản bác của
chúng ta đôi lúc còn thiếu độ sắc bén, tính thuyết phục chưa cao. Không ít bài
viết đấu tranh mới chủ yếu nhấn mạnh tính chất phản động, chống Đảng, chống chế
độ, mà chưa vạch rõ được tính chất sai trái, phản khoa học của các quan điểm
sai trái, thù địch.
Một số công trình khoa học, tác
phẩm, bài đấu tranh còn thoát ly, xa rời thực tiễn xã hội và thực tế đấu tranh,
đưa ra quan điểm ở dạng mô phỏng, minh họa đường lối, quan điểm của Đảng, thậm
chí mô phỏng còn hời hợt, nông cạn và chưa cắt nghĩa được đủ độ sâu các vấn đề
mà thực tiễn đặt ra. Không ít công trình nghiên cứu sử dụng các luận điểm kinh
điển chỉ để minh họa, không phân tích sâu sắc bản chất của các sự vật, hiện
tượng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bị xơ cứng, thiếu
tính sáng tạo, sống động, nên đấu tranh, phản bác kém hiệu quả.
Xây dựng lý luận sắc bén để đấu
tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một vấn đề tất
yếu, rất cấp thiết và đặc biệt quan trọng hiện nay. Đó không phải là hoạt động
tức thì, mà là một quá trình luôn gắn chặt với thực tiễn đấu tranh phòng, chống
“diễn biến hoà bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Quá trình xây
dựng lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác, cũng đồng thời là quá trình vận
dụng, đưa lý luận vào thực tiễn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện lý luận gắn bó chặt chẽ, đảm bảo cho nhiệm
vụ đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả.
Trong quá trình xây dựng lý luận
sắc bén để đấu tranh, phản bác cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ
Chí Minh: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các
cuộc tranh đấu xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi
lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính”(2).
_____________
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự
thật, H, 2021, tr.183.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 5,
Nxb, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 273.
© Tạp chí của Ban Tuyên giáo
Trung ương




