Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2022

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, XUYÊN TẠC BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN CỦA ĐẢNG

 Ngay sau khi ra đời và phát triển cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn là tiêu điểm của cuộc đấu tranh tư tưởng - chính trị quyết liệt. Tâm điểm của cuộc đấu tranh đó trước hết là sứ mệnh lịch của giai cấp công nhân (GCCN) và bản chất GCCN của Đảng Cộng sản. 

Bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta - tâm điểm xuyên tạc chống phá của các thế lực thù địch

Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch phản động tăng cường chống phá trên mặt trận tư tưởng, lý luận, trong đó có sự xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tung ra rất nhiều luận điệu, trong đó tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau đây:

Một là, chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là Đảng mang bản chất GCCN, mà là Đảng của nông dân và trí thức. Bởi vì, nhìn vào đội ngũ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam chủ yếu là nông dân và trí thức, còn GCCN chiếm số lượng rất nhỏ bé. Cho nên, Đảng có rất ít tính công nhân, mà mang đậm dấu ấn của tiểu tư sản. Hơn nữa, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội phong kiến, nên GCCN và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Hai là, với cách diễn đạt về bản chất GCCN của Đảng như trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) là hạ thấp bản chất GCCN của Đảng, là trượt sang quan điểm “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”.

Ba là, trong điều kiện đổi mới và phát triển kinh tế thị trường, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã làm cho Đảng biến chất, không còn mang bản chất GCCN.

Sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực này trước đây chỉ về mặt lý thuyết, nên tác hại của nó chỉ diễn ra trên lĩnh vực tư tưởng. Sau khi GCCN đã giành được chính quyền, sự xuyên tạc, chống phá này đã được tiến hành một cách toàn diện và tác hại của nó diễn ra trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Vậy, sự thật có đúng như các quan điểm trên không?

Trước hết, phải khẳng định rằng, trong điều kiện khoa học đang ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí thức đóng vai trò càng quan trọng là điều đương nhiên không cần bàn cãi. Ngay khi khoa học còn chậm phát triển, thì trí thức cũng đã đóng vai trò quan trọng trong mọi chế độ. Tuy nhiên, để từ đó tuyệt đối hóa vai trò của trí thức, hạ thấp sứ mệnh lịch sử của GCCN là hoàn toàn sai lầm cả lý luận lẫn thực tiễn.

Thực tiễn cho thấy, GCCN Việt Nam vừa có đặc điểm của GCCN quốc tế, vừa có đặc điểm đặc thù của dân tộc, chủ yếu xuất thân từ nông dân, chịu áp bức bóc lột của chế độ thực dân và phong kiến. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có người nói: Giai cấp công nhân Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo được cách mạng. Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được hay là không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp”.  

Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù đa số những người lãnh đạo là trí thức, nhưng điều đó không có nghĩa là trí thức lãnh đạo và Đảng biến chất giai cấp. Xét về phương thức lao động cá nhân, thì có những người lãnh đạo và quản lý là trí thức. Nhưng họ không lãnh đạo với tư cách là đại diện cho trí thức, mà họ đang thực hiện công việc đó theo hệ tư tưởng và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản. Lãnh đạo ở đây với tư cách là ý thức hệ chứ không phải thông qua những con người thừa hành cụ thể. Hoạt động quản lý và hoạt động lãnh đạo là hai hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động đều mang những đặc trưng riêng. Nếu lãnh đạo bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định và chính đảng của nó, thì hoạt động quản lý là lao động trí óc. Hay nói cách khác hoạt động lãnh đạo bắt nguồn từ địa vị chính trị, kinh tế - xã hội của giai cấp quyết định, còn quản lý thì bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội: lao động quản lý hay lao động thừa hành. Do đó, có thể khẳng định rằng, hoạt động quản lý là vô cùng quan trọng, song trong quan hệ với hoạt động lãnh đạo, thì lãnh đạo quyết định quản lý; bởi vì, lãnh đạo quyết định phương hướng phát triển của các giai đoạn quản lý. Vì vậy, không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của trí thức và trí thức thay thế GCCN lãnh đạo cách mạng.

Thứ hai, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Cách diễn đạt này là hoàn toàn đúng đắn, chứ không hề hạ thấp hay từ bỏ bản chất GCCN của Đảng, trượt sang “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp” … như quan điểm của một số người. Bởi vì, về lý luận, đây không phải là lần đầu tiên Đảng ta khẳng định điều này. Trước đó, trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951) đã khẳng định: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Trong bài nói chuyện ở Trường Cán bộ Công đoàn (1-1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”. Việc khẳng định bản chất GCCN của Đảng được thể hiện ở chỗ: nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; nguyên tắc tổ chức sinh hoạt của Đảng là tập trung dân chủ, liên hệ mật thiết với nhân dân, đoàn kết thống nhất trong Đảng, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển.

Về thực tiễn, không có bất kỳ một đảng chính trị nào ra đời, tồn tại và phát triển đều không mang bản chất của một giai cấp nhất định. Chính bản chất giai cấp của đảng quy định đảng đó đại diện cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp nào trong xã hội. Còn GCCN có sứ mệnh xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, xây dựng chế độ XHCN, đại biểu cho lợi ích của giai cấp và đại đa số nhân dân lao động. Khác với sự ra đời của Đảng Cộng sản ở các nước tư bản - đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân. Điều kiện, đặc điểm ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam có tính đặc thù - đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Điều đó đã khẳng định, ngay từ khi ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của GCCN, đồng thời đại biểu cho lợi ích của GCCN, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Với cách diễn đạt như trên vừa thể hiện bản chất GCCN của Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa nói lên nét đặc thù của Đảng theo sự phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh, vừa phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng, tình cảm của nhân dân - với tên gọi trìu mến Đảng ta

Trong điều kiện hiện nay, Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; chủ động hội nhập quốc tế; cùng với quá trình đó là nêu cao tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì càng cần quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng trong việc diễn đạt bản chất GCCN của Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng ta là một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta. Cách diễn đạt bản chất GCCN của Đảng như vậy, đòi hỏi Đảng chẳng những phải trung thành với GCCN, nâng cao lập trường, tư tưởng của GCCN, mà còn phải học tập, kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tăng cường đoàn kết, tập hợp nhân dân, phấn đấu vì lợi ích của cả giai cấp và dân tộc.

Thứ ba, hiện nay, có một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số đảng viên, cán bộ chủ chốt, cấp cao yếu kém về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; một số có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu và xa dân…trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính… Đây là thực tế đau lòng, đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Đảng cũng thừa nhận rằng, đó là một nguy cơ lớn, liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ. Điều này là trái với bản chất GCCN của Đảng, đã từng được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin cảnh tỉnh về nguy cơ của một đảng cầm quyền là dễ dẫn đến kiêu ngạo, quan liêu, xa rời quần chúng.

Nhìn lại giai đoạn 1989-1991 ở một số nước XHCN cho thấy rằng, GCCN khi đã giành được chính quyền, nhưng do không quan tâm xây dựng đảng trong sạch vững mạnh, bảo đảm tính tiên phong của GCCN nên đã làm cho đội ngũ phân hóa phức tạp; một bộ phận đảng viên mơ hồ về lập trường GCCN; dễ dàng ngã theo phái cơ hội chủ nghĩa. Một số khác gần như là một đẳng cấp có đặc quyền, đặc lợi, xa rời quần chúng và bị quần chúng xa lánh. Vì vậy, nhiều đảng đã mất tín nhiệm với GCCN, với nhân dân, và trước sự tấn công của kẻ thù, một số đảng đi đến chia rẽ và tan rã.

Việc một bộ phận cán bộ, đảng viên vi phạm, thì tự họ đã tự đánh mất bản chất GCCN của đảng viên, có ảnh hưởng nhất định đối với Đảng, nhưng cũng không vì thế mà quy kết là Đảng đánh mất bản chất GCCN, và theo quy luật họ sẽ bị đào thải nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Đó là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Chính vì vậy, trong hai nhiệm kỳ gần đây, Đảng ta ban hành liên tiếp các Nghị quyết chuyên đề liên quan đến những vấn đề cấp bách xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện mới. Đây là những biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt, kịp thời nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm trong những năm qua đã được các cơ quan của Đảng và Nhà nước tiến hành nghiêm túc, bài bản, hiệu quả, không có ngoại lệ, không có vùng cấm, được nhân dân và dư luận xã hội đánh giá cao.

Không che dấu khuyết điểm, nhưng cũng phải khẳng định rằng, trước những khó khăn, thách thức lớn ở trong nước, những biến động bất lợi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trước sự chống phá của các thế lực thù địch, Đảng ta vẫn giữ vững bản chất khoa học và cách mạng của GCCN, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên trì đổi mới, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đại đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo trong công tác, lao động, rèn luyện phẩm chất, năng lực có bước trưởng thành đáng kể, đóng vai trò nòng cốt, đi đầu trong công cuộc đổi mới, góp phần thành quả xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Một số giải pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong tình hình mới

Để đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng, trong thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng cần quan tâm một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc về bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của GCCN Việt Nam trong tiến trình lịch sử, nhất là trong giai đoạn Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. GCCN Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xã hội đi đầu trong phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp ngân sách chủ yếu cho nhà nước, làm chủ khoa học- công nghệ. Mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc bản chất GCCN của Đảng ta. Đây là nền tảng quyết định bản chất cách mạng và khoa học, sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, quyết định đến vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng ta. Giữ vững và tăng cường bản chất GCCN của Đảng là yếu tố nội sinh để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên “miễn dịch”, tự phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả.

Hơn lúc nào hết mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức rõ âm mưu thủ đoạn, chiêu trò gian xảo của các thế lực thù địch xuyên tạc sứ mệnh lịch sử của GCCN, bản chất GCCN của Đảng để làm lung lay niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Từ đó, khơi dậy niềm tự hào, vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Phủ nhận bản chất GCCN thực chất là phủ nhận Đảng từ bản chất, theo đó cũng đồng nghĩa phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đây là mưu toan, kịch bản nham hiểm của các thế lực thù địch cần nhận diện và chủ động đấu tranh phản bác kịp thời, có hiệu quả.

Hai là, tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về GCCN, bản chất GCCN của Đảng.

Cần đi sâu nghiên cứu tổng kết bổ sung phát triển lý luận về GCCN Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay như xác định nội hàm, thành phần tham gia vào GCCN Việt Nam, nhất là trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng. Do đó, số lượng công nhân tham gia vào các doanh nghiệp này ngày càng nhiều. Hơn nữa, quan điểm của Đảng ta xác định rõ trong hợp tác đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Trước sự vận động của thực tiễn, định nghĩa về GCCN Việt Nam trong Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) đã có những điểm không còn phù hợp, do đó cần bổ sung nội hàm để phù hợp với giai đoạn mới. Đồng thời, bổ sung làm sâu sắc nội dung bản chất GCCN của Đảng ta như mối quan hệ giữa số lượng GCCN với nền tảng tư tưởng của Đảng; giữa thành phần xuất thân của đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ trí thức với lập trường quan điểm, tư tưởng của GCCN. Có như vậy mới góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nêu cao trách nhiệm trong việc phát huy bản chất GCCN của Đảng; mặt khác, có luận cứ xác đáng để các chủ thể tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả, cũng như không tạo kẻ hở để các thế lực thù địch vin cớ lợi dụng xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng ta.

Khi tổng kết nghiên cứu về GCCN Việt Nam, cần tham khảo chỉ dẫn của Ăng-ghen dự báo vô sản hóa trí thức, một bộ phận trí thức sẽ bổ sung vào lực lượng GCCN. Trong thư “Gửi đại học quốc tế các sinh viên XHCN”, lần đầu tiên Ph. Ăng-ghen đã khẳng định khái niệm “giai cấp vô sản trí thức” là bộ phận hợp thành của GCCN hiện đại và chỉ rõ chính GCCN ấy là lực lượng duy nhất hoàn thành sự nghiệp giải phóng GCCN, xây dựng thành công CNXH trong tương lai. Do yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn cũng như xu hướng một bộ phận đội ngũ trí thức của nước ta được bổ sung cho GCCN trong những năm đến là xu thế tất yếu.

Ba là, xây dựng cơ chế phối hợp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng.

Cơ chế phối hợp đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam là các quy định, quy chế của Đảng, Nhà nước nhằm xác định mục tiêu, nội dung, phương thức tổ chức lực lượng và những chế tài cụ thể tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta nói chung, bản chất GCCN của Đảng nói riêng. Tập trung lãnh đạo hệ thống chính trị, các cơ quan, lực lượng tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo tinh thần Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị khóa XII, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, Ban Tuyên giáo Trung ương là lực lượng nòng cốt, cơ quan chủ trì phối hợp. Căn cứ vào tính chất, nội dung, phương thức thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch phản động cũng như thế mạnh của từng cơ quan, ngành mà Ban Tuyên giáo Trung ương chủ động tham mưu phân công phối hợp để đấu tranh phản bác sát hợp với từng đối tượng. Chẳng hạn, lâu nay Đài Truyền hình Việt Nam có chương trình “Đối diện” tham gia đấu tranh phản bác tạo hiệu ứng xã hội mạnh mẽ. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ngoài những công trình khoa học, đã tổ chức thành công Cuộc thi viết chính luận khoa học bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới (lần thứ nhất). Mấu chốt của vấn đề là phải xác lập được cơ chế phối hợp đấu tranh phản bác tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tích cực tham gia, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tình hình mới.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là yêu cầu nội tại của Đảng ta hiện nay. Đây là nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng liên quan đến vận mệnh của Đảng, vận mệnh của chế độ XHCN. Đại hội XIII nhận định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng …; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải coi trọng trên cả năm mặt nhưng trong đó tập trung chỉnh đốn về tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Bởi cán bộ, đảng viên là "tế bào" cấu thành tổ chức đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trong bối cảnh mới hiện nay khi các thế lực thù địch đang gia tăng chống phá Đảng, Nhà nước ta đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên định nền tảng tư tưởng, đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức của Đảng, gương mẫu nói đi đôi với làm, thanh liêm về nhân cách, hết lòng tận tụy phục vụ nhân dân; xác định rõ trách nhiệm bổn phận của mình đối với sự phát triển của Đảng, của dân tộc.

Ngoài việc coi trọng tu dưỡng rèn luyện “tự soi” “tự sửa” của mỗi đảng viên, các tổ chức đảng cần tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình... Cần thấy rằng, ý nghĩa to lớn của xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ làm cho Đảng luôn ở tầm cao của văn hóa, của “đạo đức, văn minh” thì Đảng càng cầm quyền có hiệu quả, càng trường tồn vai trò lãnh đạo đối với dân tộc. Mặt khác, là điều kiện để tăng “sức đề kháng” của Đảng trước những hiện tượng phản văn hóa, xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch phản động.

Năm là, tập trung xây dựng GCCN Việt Nam có phẩm chất năng lực, trí tuệ, có khát vọng cống hiến.

Cần nhận thức sâu sắc rằng, GCCN Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là chủ thể của công cuộc đổi mới, tiên phong đi đầu trong xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hơn 92 năm từ khi Đảng ra đời cho đến nay, vai trò lịch sử của GCCN Việt Nam đã được lịch sử kiểm chứng và khẳng định là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn mang bản chất GCCN, chứ không thể mang bản chất của giai cấp nào khác. Do đó, đầu tư để xây dựng GCCN là đầu tư cho sự phát triển bền vững, đúng hướng, xứng tầm với vị thế của giai cấp tiên phong. Xuất từ vai trò to lớn của GCCN Việt Nam, Đại hội XIII xác định mục tiêu “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Bởi vậy, đặt ra cho Đảng, Nhà nước phải tăng cường trí thức hóa GCCN; coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng cho GCCN nhận rõ vai trò, sứ mệnh to lớn của mình. Tập trung chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, nhà ở, thu nhập và các vấn đề an sinh xã hội cho GCCN để họ ổn định cuộc sống “an cư lạc nghiệp” tái sản xuất sức lao động, chuyên tâm với vai trò, sứ mệnh lịch sử cao cả của mình.

TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 Cả cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân, Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn vẹn cho dân, cho nước. Trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng, Người để lại cho dân tộc Việt Nam căn dặn những vẫn đề cốt yếu của cách mạng Việt Nam, trong đó đặc biệt quan tâm đến xây dựng Đảng và con người. “Trước hết nói về Đảng”, “theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng” và “Đầu tiên là công việc đối với con người”, là hai nội dung trọng yếu, bức thiết và có mối quan hệ biện chứng được Người đề cập trong Di chúc. Vì vậy, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu, đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong mỗi bước của dân tộc, hình ảnh, tư tưởng, tấm gương đạo đức sáng ngời của Người luôn là niềm tin vững chắc, soi sáng con đường đi lên của đất nước. Tại Đại hội VII, Đảng ta đã chính thức đưa vào văn kiện: Lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Nhân kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2007), Đảng ta phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đến nay Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Qua đó tạo chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng Đảng đã có sức lan tỏa sâu rộng trong xã hội, định hướng tư tưởng, hành động và bước đầu giành được kết quả cao. Nội dung “làm theo” tư tưởng, đạo đức, tác phong của Bác được biểu hiện bằng những việc làm cụ thể, thiết thực trong công việc, trong đời sống thường ngày “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng “Ý Đảng, lòng dân” trở thành sức mạnh vật chất và tinh thần trong sự nghiệp thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược “xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN”. Tư tưởng, phong cách, tấm gương đạo đức sáng ngời của Người luôn soi sáng con đường đi lên của dân tộc, là niềm tin vững chắc để Đảng và nhân dân ta tiếp tục con đường Người đã lựa chọn, xây dựng đất nước ta “to đẹp hơn, đàng hoàng hơn”“ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” như sinh thời Bác hằng mong muốn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng và dân tộc ta, mà còn “mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”. Hơn ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, đất nước ta đã đạt được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN”. Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, con đường đi lên CNXH của đất nước ta mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn là “phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”. Điều đó chứng tỏ, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là người tìm đường, mở đường, dẫn đường mà tư tưởng của Người mãi mãi soi đường, chỉ lối cho cách mạng Việt Nam trong cuộc hành trình tới độc lập, tự do và CNXH, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Nhân dịp kỷ niệm 130 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tất cả niềm tin yêu và lòng biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh - soi sáng con đường chúng ta đi, chúng ta nguyện đoàn kết một lòng, xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hùng cường Thời đại Hồ Chí Minh - Đó là cách học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thiết thực nhất, cụ thể nhất và hiệu quả nhất. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải biến những điều tiếc nuối, những ham muốn tột bậc, điều mong ước cuối cùng của Người trong Di chúc thành hiện thực, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.  

Đấu tranh với luận điệu xuyên tạc, bóp méo chủ trương, chính sách về đất đai


Tại Việt Nam, dù gặp rất nhiều khó khăn sau chiến tranh, nhưng nhờ những chính sách đất đai liên tục được sửa đổi, bổ sung để tận dụng thế mạnh về nông nghiệp, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Đồng thời với tốc độ phát triển đất nước theo hướng công nghiệp - hóa hiện đại hóa thì đất đai cũng là một nguồn lực vô cùng quan trọng.

Tuy nhiên, "tấc đất, tấc vàng", cũng chính bởi giá trị rất lớn của loại tài sản đặc biệt này đã khiến đất đai luôn là một vấn đề rất phức tạp, nhạy cảm, dễ phát sinh tranh chấp, khiếu kiện, có khả năng gây ảnh hưởng tới ổn định chính trị - xã hội. Chính vì vậy, trong nhiều năm qua, các đối tượng thù địch, phản động, cơ hội chính trị, thiếu thiện cảm với Đảng, Nhà nước Việt Nam đã coi việc xuyên tạc các chủ trương, chính sách, các sự kiện liên quan đến đất đai, như một trong những phương cách hàng đầu trong chiến lược kích động, gây rối và chống phá chế độ ở nước ta.

Mới đây, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII ban hành Nghị quyết 18 về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" với mục tiêu để nguồn lực đất đai tiếp tục được sử dụng đúng giá trị, công khai, minh bạch, phù hợp với thực tế ở Việt Nam.

Và như mọi khi, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí lại tiếp tục những luận điệu xuyên tạc, bóp méo.

Những luận điệu phổ biến trên các trang báo, mạng xã hội thiếu thiện chí với Việt Nam như RFA, Việt Tân, BBC tiếng Việt.

Tần suất công kích, xuyên tạc về chính sách đất đai của Việt Nam từ các thế lực phản động, thù địch tăng gấp nhiều lần khi Nghị quyết 18 về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" được ban hành.

Phản bác luận điệu xuyên tạc về quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân - Ảnh 3.

Bài viết xuyên tạc về chính sách đất đai "Vì sao dân chỉ được quyền sử dụng mà không được quyền sở hữu" - cùng với đó là hình ảnh người dân khiếu kiện đông người từ năm 2002 nhưng được dùng để minh họa cho 1 bài báo vào tháng 5/2022.

Trong khi các thế lực thù địch, phản động quy kết Nghị quyết 18 không có gì thay đổi thì ngược lại, các chuyên gia, nhà khoa học đánh giá là đổi mới, thực chất, hài hòa và hiệu quả.

Nhiều người về bản chất đã hiểu chưa đúng thế nào là sở hữu đất đai. Chính vì vậy, có những ý kiến chống phá, tấn công vào chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, cho rằng chế độ sở hữu này cản trở phát triển kinh tế.

Ông ĐẶNG HÙNG VÕ - Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

Đây là những cách thức không mới của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam. Nhiều năm qua, những gì Việt Nam làm tốt thì thường xuyên bị xuyên tạc, hạ thấp. Những gì bị coi là khuyết điểm, sai sót thì bị xoáy vào. Những gì làm đúng, không thiếu sót thì bị xuyên tạc để dẫn dắt dư luận và cộng đồng quốc tế hiểu sai.

Ngay từ cái tên của Nghị quyết 18: "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" đã có thể thấy sự quyết liệt, thiết thực, đúng đắn trong sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng về quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai.

Cũng từ đây, không khó để nhận thấy bản chất những cái gọi là "canh tân" hay kiến nghị sửa đổi Luật Đất đai của những người thiếu thiện chí, không phải vì mục đích hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý đất đai mà chỉ là chiêu trò để thu hẹp, tiến tới loại trừ vai trò của Nhà nước trong công tác quản lý đất đai. Lâu dài là nhằm làm thay đổi bản chất xã hội, đánh chệch hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng.

PHAO

CHIẾN TRANH PHI NGHĨA THÌ KHÔNG ĐÁNG TỰ HÀO NHƯNG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC THÌ VÔ CÙNG ĐÁNG TỰ HÀO

 Chiến tranh có gì để mà đáng tự hào? Thế người Pháp nghĩ gì về Napoléon Bonaparte? Người Nga nghĩ gì về Georgy Zhukov và cuộc chiến Vệ quốc vĩ đại? Tại sao người Ý lại tôn vinh Julius Caesa và người Hy Lạp lại vô cùng kính trọng Alexandros Đại đế? Tại sao người Trung Quốc lại thờ phụng những vị tướng tài, những nhà lập quốc của họ? và câu chuyện tương tự diễn ra ở rất nhiều các quốc gia khác, như ở Mông Cổ với Thành Cát Tư Hãn, như Hàn Quốc với Lý Thuấn Thuần…

          Chiến tranh có gì để mà đáng tự hào? Chiến tranh có hai dạng, phi nghĩa và chính nghĩa. Nếu chỉ là “chiến tranh phi nghĩa” không thôi, thì chẳng có gì đáng tự hào cả. Nhưng nếu đó là “chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc”, bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ người dân… thì lại vô cùng đáng tự hào.

          Đáng tự hào chứ, nếu như đó là cuộc chiến bảo vệ Tổ Quốc, thống nhất lãnh thổ và thu vẹn non sông về một mối. Đáng tự hào chứ, nếu đó là cuộc chiến mà tự tay dân tộc đó chiến thắng kẻ thù. Đáng tự hào chứ, khi mà hàng triệu người đã chấp nhận ngã xuống để Tổ Quốc được đứng lên. Đáng tự hào chứ, khi một dân tộc bé nhỏ đã chiến thắng những quốc gia, chế độ, đội quân hùng mạnh nhất lịch sử nhân loại.

          Tại sao chúng tôi không được tự hào về những cuộc chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc? Tại sao chúng tôi không được tự hào về những người anh hùng đã ngã xuống vì Tổ Quốc? Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều định hình, tồn tại, biến đổi… dựa trên những cuộc chiến tranh trong quá khứ. Mỗi quốc gia đều có quyền tự hào, quyền giảng dạy, truyền lại cho thế hệ đi sau.

          Người ta chỉ biết đến Việt Nam vì chiến tranh? Vì phần lớn thế kỷ trước, Việt Nam đã phải chiến đấu với nhiều quốc gia, những kẻ thù hùng mạnh bậc nhất như Pháp, Nhật, Mỹ, Trung Quốc, Khmer Đỏ và trở nên độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ. Các cuộc chiến ở Việt Nam rất ác liệt, thiệt hại lớn và cũng rất nhiều tranh cãi.

          Là một người Việt Nam chân chính, chúng ta phải nỗ lực, cố gắng… để mang hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Chứ không phải là ngồi than thân trách phận. Muốn để người ta biết thì phải lao động, làm việc chứ không phải là ngồi tự trách cứ lịch sử. Hành vi ấy có khác gì một đám con cháu mất nết, trách cứ “người xưa vĩ đại quá làm gì” rồi đám con cháu không vượt qua được.

          Với tư cách là công dân của một quốc gia đi lên từ bom đạn chiến tranh, được hưởng nền hòa bình, bên cạnh niềm tự hào về quá khứ sắt son, phải biến niềm tự hào đó thành hành động. Dĩ nhiên, chúng ta không thể sống mãi bằng lòng tự hào, nhưng cũng không thể bước đến tương lai mà không có quá khứ.

          Thế giới đã và đang biết nhiều hơn về Việt Nam. Đó là một quá trình “vạn dặm” cần một sự nỗ lực lớn lao và vun đắp. Chứ không cần một đám người lười lao động, chỉ biết chỉ trích quá khứ.

“Tôi mong rằng người Mỹ, Hàn, Trung, Pháp… đừng làm phim, làm game…. về chiến tranh nữa. Vì chiến tranh có gì đáng tự hào đâu? Họ có lịch sử, họ tự hào về lịch sử. Thì chúng tôi, những người Việt Nam, cũng như vậy. Làm sao phải thôi tự hào khi chúng tôi có một lịch sử vệ quốc vĩ đại, chiến thắng nhiều kẻ thù? Hơn nữa, chúng tôi còn không đi xâm lược ai, không gây ra tội ác cho dân tộc khác, quốc gia khác. Chúng tôi có toàn quyền tự hào về lịch sử dân tộc”.

          Người tự nhục sẽ nghĩ là: "Chiến tranh chẳng có gì đáng tôn vinh. Thật nhục nhã khi người ta chỉ biết đến Việt Nam qua chiến tranh. Người ái quốc lại cho rằng: "Chiến đấu vì Tổ Quốc thì luôn đáng tự hào. Chúng ta phải lấy sự tự hào đó làm bàn đạp lao động, cống hiến vì Tổ Quốc".

          Lựa chọn góc nhìn nào là do suy nghĩ của mỗi người. Nhưng chắc chắn rằng thế hệ đi trước của chúng ta đã tham gia một cuộc chiến tranh chính nghĩa. Và thế hệ hiện nay phải kế thừa, phát huy, lao động và học tập dựa trên nền tảng chính nghĩa ấy./.

PHÁP LUÂN CÔNG VÀ NHỮNG HẬU QUẢ ĐAU LÒNG

 Thời gian gần đây, ở một số địa phương lại đang nhen nhóm nổi lên phong trào tập Pháp luân đại pháp, hay còn gọi là Pháp luân công, pháp môn này xâm nhập trái phép vào Việt Nam và có biến tướng tinh vi để che mắt cơ quan chức năng và quần chúng nhân dân, dù mới phát triển ở Việt Nam nhưng PLC đã để lại hậu quả khôn lường cho xã hội, chúng ta đã chứng kiến nhiều vụ án mạng đau lòng, nhắc đến hẳn mọi người còn nhớ phiên tòa diễn ra từ ngày 25/6/2020 tại Bình Dương, các bị cáo đã làm 2 người chết, sau đó giấu xác nạn nhân trong thùng nhựa đổ bê tông.

          Đã có rất nhiều cảnh báo về tác hại của việc tu luyện theo Pháp luân công, các cơ quan chức năng cũng đã tiến hành xử lý một số vụ việc liên quan đến pháp môn này, điển hình như: Ngày 11/10/2011, hai học viên Pháp luân công là Vũ Đức Trung và Lê Văn Thành đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên với tổng mức án dành cho hai bị cáo là 5 năm tù giam về tội phát tán trái phép chương trình “ Tiếng nói hy vọng” bằng sóng phát thanh ngắn hồi tháng 4/2009.

          Ngày 27/3/2014 có 4 người gồm: Nguyễn Doãn Kiên; Vũ Hồng Tố; Nguyễn Văn Kiểm và Trịnh Kim Khánh đã bị Tòa kết án 4 - 6 năm tù vì tội gây rối trật tự công cộng và phá hoại công trình Nhà nước, cả 4 người này đã khai là theo Pháp luân công.

          Hiện nay, ở Việt Nam Pháp luân công đã bị nhân dân coi như 1 tổ chức phản động bởi âm mưu sâu xa của chúng là lôi kéo người dân tham gia để nhằm mục đích chống phá Nhà nước và thực hiện những hành vi trái pháp luật.

          Liên quan đến pháp môn này, ngày 24/5/2019 báo Thanh niên online cũng có bài "Pháp luân công nằm trong danh sách 11 tà giáo gây hại nhất"

          Thực tế, hầu hết những người tham gia luyện tập Pháp luân công đều xuất hiện những biểu hiện tâm lý không bình thường, người mệt mỏi, hay buồn phiền và luôn nghĩ người khác xấu dẫn đến ý định phải trả thù, thậm chí là giết người.    Pháp luân công đã gây những hệ lụy đáng tiếc, nhưng một số người dân vẫn theo để tu luyện bất chấp sự can ngăn của người thân. Vậy lý do tại sao Pháp luân công lại dễ mê hoặc con người như vậy?

          Thứ nhất, một số kẻ cầm đầu đã đội lốt tôn giáo để dễ dàng lấy lòng tin của những người thiếu hiểu biêt, với chiêu bài đánh trúng tâm lý những người đang mắc bệnh, hoặc gia đình gặp chuyện trắc trở, chúng tuyên truyền về lợi ích khi luyện Pháp luân công và cho rằng: Những người tham gia pháp môn này sẽ chữa được bách bệnh, thân tâm thanh thản và hóa giải được mọi ưu phiền…, bằng các thủ đoạn tinh vi kể trên, đã làm cho các học viên tin theo sau đó sẽ dễ dàng điều khiển theo ý đồ của chúng.

          Thứ hai, chúng biết cách lợi dụng triệt để công dụng của mạng xã hội, những tài liệu chưa được kiểm chứng trên internet để tuyên truyền, với vỏ bọc truyền đạo miễn phí giúp người bệnh, nhưng thực chất ẩn sau đó là âm mưu chống phá Nhà nước.

          Tóm lại, Pháp luân công là pháp môn không được công nhận là tôn giáo hoạt động tại Việt Nam, những vụ án liên quan đến Pháp luân công đều để lại hậu quả rất nặng nề, tiềm ẩn đằng sau đó là nguy cơ chống phá chế độ và làm cho tình hình an ninh xã hội bất ổn.

          Để kịp thời khắc phục tình trạng này, ngoài việc áp dụng nghiêm các chế tài của Luật an ninh mạng, thì mỗi người dân cần nêu cao cảnh giác, phát huy hơn nữa tinh thần trách nhiệm trong phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh với loại đạo lạ nguy hiểm này, khi phát hiện tụ điểm hoạt động hãy báo ngay cho cơ quan Công an hoặc chính quyền địa phương để kịp thời xác minh, xử lý, tuyệt đối không chia sẻ, phát tán những tài liệu, bài viết liên quan đến Pháp luân công.

          Những vụ án mạng, những án tù đã tuyên là hồi chuông cảnh tỉnh cho những ai còn mơ hồ về Pháp luân công và một số đạo lạ khác, cần thường xuyên có sự giám sát của quần chúng nhân dân, sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành, các địa phương, các gia đình và toàn xã hội để chấm dứt tình trạng truyền đạo trái phép và vi phạm pháp luật của pháp môn này./.

HỌC VÀ LÀM THEO BÁC LÀ ĐỂ TỰ SOI, TỰ SỬA SUỐT ĐỜI

          Phạm Trần lại nói lấy được, lại bẻ cong sư thật việc thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 27/3/2003 của Ban Bí thư về “Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”; Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh“(gọi tắt là 3 Chỉ thị) trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng bài viết “Tại sao cứ thế mãi” đăng trên trang Thông Luận ngày 2/8/2022.

          1. Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường cách mạng Việt Nam

          Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đó là kết quả của sự kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại; đồng thời, là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề về tư duy lý luận và tư duy hành động, góp phần đưa cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam đi đến thắng lợi, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội…

          Việc nghiên cứu, tuyền truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh và học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (gọi tắt là học và làm theo Bác dùng chung cho 3 Chỉ thị) không chỉ giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn về con người vĩ đại Hồ Chí Minh, mà còn góp phần trang bị hệ thống quan điểm và phương pháp cách mạng của Người.

          Thông qua việc học tập và làm theo đó, giúp mỗi người nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác; nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới, sáng tạo; sự tự soi, tự sửa mình và rèn luyện đạo đức, tư cách, phẩm chất cách mạng theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người. Đồng thời, góp phần nâng cao lòng yêu nước; tinh thần và trách nhiệm phụng sự Tổ quốc và nhân dân, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là một bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; tiếp tục lan tỏa sâu rộng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta.

          Vì thế, việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị nêu trên không phải là công việc một sớm, một chiều mà đó là công việc thường xuyên, liên tục, suốt đời. Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai thực hiện nhất định, việc tổ chức sơ kết, tổng kết để đánh giá thành tựu, hạn chế, đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của việc học tập và làm theo các Chỉ thị này là cần thiết, có ý nghĩa thiết thực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.

          Thực tế, đây không phải là lần đầu Phạm Trần mượn một chuyện liên quan đến tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một phận cán bộ, đảng viên để bẻ cong mục đích, nội dung và ý nghĩa của việc thực hiện các Chỉ thị nêu trên. Song việc cho rằng các “dự án, kế hoạch và Nghị quyết đã được học tập và thi hành nhiều năm, nhưng cuối cùng người ta chỉ biết nhìn nhau lắc đầu: Tại sao cứ như thế mãi?” và việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị này càng ngày càng “Tuột dốc mãi” của Phạm Trần thực chất là sự suy diễn thiển cận của cá nhân. Những kết quả đạt được từ các cuộc vận động chính trị sâu rộng này đã góp phần quan trọng vào kết quả của công tác công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đảm bảo để Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong là không thể phủ nhận!.

          2. Gắn học tập và làm theo Bác với xây dựng và chỉnh đốn Đảng để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

          Gần 2 thập niên triển khai đồng bộ việc thực hiện 3 Chỉ thị nêu trên gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ Đại hội IX đến Đại hội XII của Đảng, có thể khẳng định rằng các cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đã chỉ đạo, hướng dẫn cán bộ, đảng viên xây dựng kế hoạch phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện học và làm theo Bác gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đồng bộ, nghiêm túc. Việc học tập, làm theo ngày càng đi vào nền nếp, góp phần tạo sự chuyển biến về nhận thức, hành động của mỗi cấp ủy về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức cũng như của mỗi cán bộ, đảng viên…

          Những kết quả đạt được này được nêu rõ trong từng báo cáo công tác 6 tháng đầu năm, tổng kết hằng năm, tổng kết theo nhiệm kỳ Đại hội của Đảng của mỗi cấp ủy. Cho nên, luận điệu “càng học Bác, các cháu càng nhếch nhác từ chuyện cá nhân cho đến công tác tập thể, chỗ nào cũng xuống cấp làm xói mòn niềm tin trong nhân dân” này của Phạm Trần là sự xuyên tạc, bẻ cong sự thật đầy ác ý, bôi đen thực tế việc thực hiện 3 Chỉ thị nêu trên. Không dừng ở đó, Phạm Trần còn cố tình khoét vào một số hạn chế để phủ nhận những kết quả đạt được khi quy chụp rằng “khi bắt đầu học tập những lời dậy của ông Hồ, tình trạng suy thoái trong mọi lĩnh vực của cán bộ, đảng viên, đặc biệt tham nhũng, đã hiện ra trước mắt mọi người” và “bằng chứng rõ nét nhất là kết quả học tập vẫn không thay đổi những chứng hư tật xấu của đảng viên” đã được nêu trong các Nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

          3. Tiếp tục học và làm theo Bác, coi đó là nhu cầu tự thân của mỗi cấp ủy và mỗi cán bộ, đảng viên

          Quan liêu, xa dân, tham ô, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác chính là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những cán bộ, đảng viên có những biểu hiện, hành vi này là những người đã mang nặng chủ nghĩa cá nhân, đã bị “kẹo bọc đường” của giặc “nội xâm” làm cho sa ngã.

          Để đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, tiếp tục đẩy mạnh học và làm theo Bác, Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã được ban hành. Việc gắn thực hiện Kết luận số 01-KL/TW1 với Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên hơn một năm qua đã cho thấy những kết quả tích cực.

          Tinh thần nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị không chỉ góp phần tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của mỗi tập thể, cá nhân mà còn làm cho sự đoàn kết thống nhất trong từng tổ chức được tăng cường; ý thức, trách nhiệm và sự trau dồi phẩm chất, đạo đức, lối sống của mỗi cán bộ, đảng viên cũng được nâng lên. Cho nên, không thể xuyên tạc vô căn cứ như Phạm Trần, càng không thể quy chụp rằng việc học và làm theo Bác “cũng chỉ làm cho xong để báo cáo”; là “ngựa vẫn quen đường cũ”, việc học và làm theo Bác “Kết luận: Vẫn trơ ra” và “ngày xưa đảng khoe “cán bộ đi trước, làng nước theo sau”, còn bây giờ thì “cán bộ ăn hết, làng nước te tua”.

          Có thể khẳng định với Phạm Trần rằng, những bịa đặt, xuyên tạc của ông về việc thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 27/3/2003, Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011, Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 trong Đảng và cả hệ thống chính trị ở Việt Nam 19 năm qua là chiêu trò, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Cùng với đó, sự suy diễn, quy chụp của ông cho thấy sự hằn học trong cả suy nghĩ và hành động, nên không khách quan, không đúng sự thật và vì thế, nó bị bác bỏ! Bụng tiểu nhân của ông không thể hiểu được lòng người quân tử, cũng giống như ông không thể hiểu được rằng: Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, thì học và làm theo Bác chính là nhu cầu tự thân, tự soi, tự sửa suốt đời để làm tròn nhiệm vụ Tổ quốc và người giao phó; để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn./.

MÀN KỊCH “KÊU OAN” SAU PHIÊN TOÀ PHÚC THẨM XÉT XỬ TRỊNH BÁ PHƯƠNG, NGUYỄN THỊ TÂM

 Tung tin giả, tô vẽ hình tượng để kêu oan cho các bị cáo trước, trong và sau phiên tòa đã trở thành chiêu trò quen thuộc của những đối tượng chống phá Việt Nam. Đây cũng là thời cơ để các đối tượng “mượn gió bẻ măng” nhằm tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ ngành Tư pháp và chế độ.

          Ngay sau khi TAND cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm 2 bị cáo Trịnh Bá Phương (sinh năm 1985) và Nguyễn Thị Tâm (sinh năm 1972), cùng trú tại phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ”, các trang báo như BBC, RFA, VOA... đã đồng loạt lên tiếng “bẻ lái” vụ án, tìm cách tẩy trắng tội danh nhằm “kêu oan” cho các đối tượng.

          Vở kịch này khởi nguồn từ bài viết của một nhân vật với danh nghĩa luật sư, tung lên trên mạng xã hội. Nội dung của bài viết phản ánh về quá trình diễn ra phiên tòa xét xử phúc thẩm, trong đó chủ yếu tập trung ngòi bút của mình để “ca ngợi” bị cáo Trịnh Bá Phương và Nguyễn Thị Tâm với những lời lẽ thật mĩ miều như: “tại phiên tòa, tâm thế của các bị cáo rất hiên ngang, mạnh mẽ và bình tĩnh trong phiên đối chấp trước tòa” và cũng theo tác giả này, biểu hiện đó của các bị cáo cho thấy “khả năng xử lý thật đáng làm người ta phải kinh ngạc”.

          Các “nhà dân chủ” giả hiệu ở trong và ngoài nước cho đến các trang báo điện tử thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, VOA, RFA... cũng “té nước theo mưa”, tạo nên làn sóng phản đối tẩy chay phiên tòa, “tẩy trắng” tội danh cho các đối tượng.

          Trò diễn kịch bấy lâu nay, các đối tượng tung ra hòng lừa bịp những người còn thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin nhằm cố tạo làn sóng ngược dòng, thể hiện chút nghĩa tình với các bị cáo đã bị sa vào vòng lao lý, không bỏ rơi những “chân rết” của mình trong “cuộc đấu tranh vì dân chủ” hoặc cũng có thể là họ cố tình đóng vai những người “đạo đức”, tỏ ra bênh vực, đồng cảm để bày tỏ sự quan tâm, động viên, khích lệ tới thân nhân của các đối tượng chống đối.

          Thực tế quá trình đấu tranh, xử lý các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia cho thấy, không ít người đã lầm tưởng dẫn tới sự tự tin thái quá khi được các tổ chức, cá nhân thù địch, chống phá Việt Nam hậu thuẫn, chống lưng hoặc được các trang báo điện tử thiếu thiện chí ở nước ngoài dùng làm trò tiêu khiển như những quân cờ.

          Trường hợp của bị cáo Trịnh Bá Phương là một ví dụ điển hình cho điều này. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Tâm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Tâm thừa nhận hành vi lợi dụng mạng xã hội Facebook, thực hiện việc phát trực tiếp các video, đăng tải các bài viết, trạng thái, chia sẻ trên tài khoản cá nhân các nội dung liên quan đến sự việc ở xã Đồng Tâm. Từ đó, bị cáo Tâm mong muốn tòa phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ. Thế nhưng bị cáo Trịnh Bá Phương tiếp tục không thừa nhận hành vi phạm tội, không thành khẩn, vẫn quanh co chối tội và có hành vi chống đối.

          Trong khi đó, các tài liệu chứng cứ phản ánh về hành vi phạm tội của Trịnh Bá Phương đã được làm rõ. Ngoài tuyên truyền, xuyên tạc vụ Đồng Tâm, Trịnh Bá Phương còn có hành vi tàng trữ tài liệu dạng sách gồm 278 trang mà kết quả giám định cho thấy có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Như vậy, cùng trong một vụ án, cùng tính chất, hành vi phạm tội nhưng bị cáo Nguyễn Thị Tâm đã biết ăn năn hối cải, nhận tội và mong được pháp luật khoan hồng để sửa sai nhưng người còn lại là Trịnh Bá Phương thì ngoan cố, không chịu nhận tội, còn thể hiện hành vi chống đối ngay tại phiên tòa.

          Đối với trường hợp của Trịnh Bá Phương, việc bị cáo này không nhận tội cho thấy ý thức chống đối đến cùng. Các thế lực xấu nhân cơ hội đó đã tìm cách tung hô, cổ suý, coi bị cáo Phương như “người hùng”, ca ngợi “dũng cảm, bản lĩnh”! Qua những gì đã thể hiện, bản thân Trịnh Bá Phương luôn ảo tưởng về con đường mà mình đang theo đuổi nên từ trước đến nay, dù đã được các cơ quan chức năng nhiều lần răn đe, giáo dục nhưng Phương không những không nhận thức được những hành vi sai trái mình đã phạm phải mà ngược lại, thường tìm cách quanh co, chối bỏ sự thật, cố tình thực hiện các hành vi chống đối manh động hơn.

          Do đó, trong phiên tòa phúc thẩm, dù những chứng cứ buộc tội quá rõ ràng nhưng bị cáo vẫn bảo thủ, bao biện hành vi phạm tội của mình. Và một nguyên nhân khác dẫn tới việc bị cáo ngoan cố chối tội chính là tâm lý ảo tưởng, luôn mong chờ về sự can thiệp từ bên ngoài, cho rằng phủ nhận tội trạng sẽ được các tổ chức, cá nhân bên ngoài can thiệp, từ đó chờ đợi ngày được “minh oan”, được trao thưởng kiểu “giải nhân quyền”, tìm đường ra hải ngoại như các đối tượng Trần Thị Nga, Nguyễn Văn Đài, Bạch Hồng Quyền, Tạ Phong Tần, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh...

          Quốc có quốc pháp, gia có gia quy, những ai cố tình lấy lợi ích cá nhân đặt trên lợi ích của xã hội, bán rẻ lương tâm, làm tay sai, quân cờ cho các thế lực thù địch để chống phá Đảng, Nhà nước thì tất yếu phải bị xử lý. Đây vừa là biện pháp mang tính răn đe, vừa là biện pháp phòng ngừa chung. Do vậy, các cá nhân đã, đang hoặc nuôi ý tưởng thực hiện hành vi phạm pháp, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để chống phá lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân thì hãy biết dừng lại, biết “quay đầu là bờ” trước khi quá muộn./.

YÊU CẦU CÁC QUỐC GIA, TỔ CHỨC TÔN TRỌNG CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HOÀNG SA, TRƯỜNG SA

 

Chiều 25/8, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng tái khẳng định: Việt Nam bác bỏ cái gọi là “đường chín đoạn” cũng như các yêu sách trên biển trái với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.

          Trả lời câu hỏi của báo chí về việc trang web của Tổ chức Khí tượng thế giới sử dụng bản đồ có “đường chín đoạn” xâm phạm chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: Việt Nam cho rằng, mọi hình thức tuyên truyền, quảng bá và đăng tải những nội dung, hình ảnh xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam đối với các vùng biển liên quan ở Biển Đông đã được xác lập phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 là vô giá trị.

          Việt Nam yêu cầu các quốc gia, tổ chức tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các vùng biển liên quan ở Biển Đông; gỡ bỏ, sửa đổi những nội dung không phù hợp đó. Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh.

          Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết, Đại diện phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva đã trao đổi với đại diện Tổ chức Khí tượng thế giới về việc này./.