Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2022

Văn hóa chính trị với kiểm soát quyền lực

 

Thể thế pháp lý để kiểm soát quyền lực chính trị là những chuẩn mực văn hóa chính trị chính thức có tính rộng rãi, tác động và điều chỉnh các chủ thể chính trị trong quá trình giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị. Thể chế pháp lý liên quan đến kiểm soát quyền lực chính trị là những quy định về nguyên tắc, chủ thể đối tượng, nội dung, hình thức quy trình, thủ tục các biện pháp hậu quả pháp lý của hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị.

 Các thiết chế kiểm soát quyền lực chính trị là hệ thống tổ chức thực thi hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị dựa trên thể chế liên quan đến kiểm soát quyền lực chính trị. Nếu các thể chế này không giao đủ quyền cho các thiết chế thực thi hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị hoặc các quy định về nội dung, hình thức, thủ tục thực hiện kiểm soát quyền lực chính trị quá phức tạp thì sẽ khó thực hiện được.

MLN.Nh

Văn hóa chính trị với việc kiểm soát quyền lực

 

Văn hóa chính trị tác động đến thể chế kiểm soát quyền lực chính trị. Để thực hiện hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị phải có một thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực chính trị. Thể chế pháp lý này được biểu hiện trong hệ thống các văn bản pháp luật, như Hiến pháp, Bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, thông tư... liên quan đến việc thực hiện quyền lực chính trị và kiểm soát việc thực hiện quyền lực chính trị. Đây chính là các chuẩn mực văn hóa chính trị, làm cơ sở, căn cứ để xây dựng, định hướng và xử lý việc kiểm soát quyền lực chính trị

MLN.Nh.

Văn hóa chính trị với kiểm soát quyền lực

 

Đối tượng bị kiểm soát là các tổ chức và cá nhân nắm giữ và thực hiện quyền lực chính trị, không trừ một ai, một cơ quan nào. 

Văn hóa chính trị tác động vào giá trị, hành vi chính trị của các chủ thể và đối tượng của cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực chính trị. Như vậy, sự tác động của văn hóa chính trị đến việc kiểm soát quyền lực chính trị là rất toàn diện.

MLN.Nh

văn hóa chính trị trong kiểm soát quyền lực

 Các chủ thể của cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị là những tổ chức và cá nhân có thẩm quyền, nghĩa là theo quy định của pháp luật, có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm kiểm soát quyền lực chính trị. 

Đối tượng bị kiểm soát là các tổ chức và cá nhân nắm giữ và thực hiện quyền lực chính trị, không trừ một ai, một cơ quan nào. Văn hóa chính trị tác động vào giá trị, hành vi chính trị của các chủ thể và đối tượng của cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực chính trị. Như vậy, sự tác động của văn hóa chính trị đến việc kiểm soát quyền lực chính trị là rất toàn diện.

MLN.Nh

Văn hóa chính trị trong kiểm soát quyền lực

 

Văn hóa chính trị là tập hợp các giá trị, thái độ, niềm tin được cộng đồng chia sẻ và nó có thể chi phối, định hướng hoạt động của các cá nhân và tổ chức khi các chủ thể này tham gia vào đời sống chính trị.

Kiểm soát quyền lực chính trị là việc sử dụng các công cụ, phương tiện, biện pháp để tác động vào chủ thể mang quyền lực nhằm hạn chế xu hướng tha hóa quyền lực.

Văn hóa chính trị có vai trò và tác động rất lớn đến việc kiểm soát quyền lực chính trị và việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị.

Để kiểm soát quyền lực chính trị phải xây dựng được các thể chế, thiết chế, cơ chế kiểm soát. Văn hóa chính trị tác động đến quá trình này, từ đó góp phần vào việc thực hiện kiểm soát quyền lực chính trị. 


LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 11 THÁNG 9 NĂM 1950!

         “Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội”!
     Lời phát biểu chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại “Hội nghị cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn, đại đoàn tham gia Chiến dịch Biên giới”, ngày 11/9/1950. 
     Kỷ luật của Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương, điều lệ của Đảng; hiến pháp, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt nhấn mạnh: Bên cạnh lý tưởng chiến đấu, kỷ luật quân đội là điểm mấu chốt tạo nên sự thống nhất cao độ trong nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là trên chiến trường; do vậy, kỷ luật là động lực vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, kỷ luật phải được thi hành bình đẳng, nhất quán, triệt để từ trên xuống dưới, không phân biệt đối xử.
     Lịch sử hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, quan điểm “Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, đủ sức đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
     Trong sự nghiệp xây dựng quân đội hiện nay, để duy trì nghiêm kỷ luật quân đội, cùng với việc chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị và các cơ quan chức năng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần phải làm tốt công tác giáo dục, tăng cường quản lý, duy trì kỷ luật trong đơn vị, tiến hành xử lý nghiêm minh, triệt để mọi vụ việc vi phạm kỷ luật theo đúng quy định. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải là những cán bộ luôn gương mẫu, tận tụy trong công tác, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội làm tấm gương sáng cho bộ đội học tập, noi theo. Có như vậy, kỷ luật của quân đội ta mới thật sự là nghiêm minh, tự giác, tạo nền móng xây dựng sự đoàn kết, nhất trí xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao./.
Yêu nước ST.

Tìm hiểu về công tác bảo vệ an ninh mạng

 

Bảo vệ an ninh mạng là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng (Khoản 2, Điều 2, Luật An ninh mạng).

Hành vi xâm phạm an ninh mạng là các hoạt động được thực hiện trên không gian mạng gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Công tác bảo vệ an ninh mạng là hoạt động tổ chức lực lượng và sử dụng tổng hợp các các biện pháp theo quy định của pháp luật để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi trên không gian mạng gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Biện pháp bảo vệ an ninh mạng bao gồm hệ thống các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, biện pháp nghiệp vụ, biện pháp hành chính, hình sự theo quy định của pháp luật do lực lượng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao tiến hành.

Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng là lực lượng được quy định trong Luật An ninh mạng, chuyên trách thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng theo chức năng, nhiệm vụ được giao, bao gồm: Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Bộ Công an; Cục Bảo vệ an ninh Quân đội, Tổng cục Chính trị và Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng thuộc Bộ Quốc phòng; Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Nội dung công tác bảo vệ an ninh mạng

Tham mưu ban hành chủ trương, chính sách, pháp luật và các giải pháp bảo vệ an ninh mạng.

Nắm tình hình, tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện các chủ trương, biện pháp để loại bỏ những điều kiện, phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tội phạm sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Hướng dẫn, thực hiện công tác bảo vệ an ninh mạng, phòng, chống hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh mạng. Tổ chức thanh tra, kiểm tra, phát hiện, kiến nghị xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trên lĩnh vực an ninh mạng; thẩm định, đánh giá, chứng nhận an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; tham gia thẩm định quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển thông tin liên quan đến bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Tổ chức bảo vệ an ninh mạng cho hệ thống mạng thông tin quốc gia, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh vô hiệu hóa hoạt động xâm nhập mạng thông tin xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.  Hướng dẫn, kiểm tra công tác bảo vệ bí mật nhà nước trên không gian mạng.

Bảo đảm an ninh thông tin mạng. Phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động sử dụng không gian mạng tuyên truyền, tán phát thông tin xấu độc. Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về an ninh mạng,vận động quần chúng tham gia bảo vệ an ninh mạng. Tổ chức tấn công, phản bác các luận điệu tuyên truyền, chống phá của các thế lực thù địch, phản động vạch trần âm mưu, thủ đoạn, hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, biện pháp nghiệp vụ chuyên biệt, thu thập, phân tích dữ liệu điện tử và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo vệ an ninh mạng.

Đào tạo, nâng cao nhận thức, kiến thức, trình độ về an ninh mạng.

Hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học về an ninh mạng.

Đặc điểm công tác bảo vệ an ninh mạng

 Công tác bảo vệ an ninh mạng là công tác đặc thù kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị, nghiệp vụ, kỹ thuật, hợp tác quốc tế.

Công tác bảo vệ an ninh mạng không giới hạn về thời gian. Do múi giờ trên trái đất khác nhau và để hạn chế sự phát hiện của cơ quan chức năng, nên thời điểm nghỉ ngơi của ta là thời gian tội phạm hoạt động. Yêu cầu phá án rất nhanh, cơ quan an ninh thường xác lập ngay chuyên án, kế hoạch nghiệp vụ để đấu tranh với đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật.

Công tác bảo vệ an ninh mạng có yếu tố công nghệ, hàm lượng khoa học cao, yêu cầu chuyên sâu về kỹ thuật, hoạt động đấu tranh bảo vệ an ninh mạng chủ yếu diễn ra trên không gian mạng, tài liệu, chứng cứ phục vụ công tác đấu tranh tồn tại dưới dạng dữ liệu số.

Công tác bảo vệ an ninh mạng đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng Công an nhân dân với cơ quan chủ quản hệ thống thông tin và tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trên môi trường mạng.

PHAO

Văn hóa chính trị trong kiểm soát quyền lực

 


Văn hóa chính trị có vai trò quan trọng đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nói chung và thể chế kiểm soát quyền lực chính trị nói riêng. Tác động ở nhiều phương diện đối với việc kiểm soát quyền lực chính trị, từ xây dựng thể chế pháp lý đến việc thực hiện kiểm soát quyền lực chính trị. Để nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực chính trị, phải nâng cao văn hóa chính trị của bộ máy và đội ngũ công chức trong thực thi quyền lục nhà nước.

MLN. Nh

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2022

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhât và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc

 Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhât và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII, Đại hội XIII. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa đã khẳng định và luận giải rõ hơn từ lịch sử, bối cảnh tình hình và nội dung của quan điểm.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. ( Ảnh: Báo Quân đội Nhân dân).

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bài viết có kết cấu, cách tiếp cận nội dung rất cơ bản, hệ thống và khoa học, nội dung được đề cập tới các lĩnh vực như: Phát triển kinh tế thị trường; xây dựng nền văn hóa; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa…

Đặc biệt bài viết khẳng định: “Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”, “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Điều này đã phản ánh đúng lý luận, thực tiễn và cả những vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục giải quyết đối với cách mạng Việt Nam.

Nội hàm bài viết đã thể hiện rõ quan điểm: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhât và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII, Đại hội XIII. Tuy nhiên, trong bài viết của Tổng Bí thư một lần nữa đã khẳng định và luận giải rõ hơn từ lịch sử, bối cảnh tình hình và nội dung của quan điểm.

Thứ nhất, quan điểm kiên quyết, kiên trì trong bài viết là sự tiếp nối truyền thống của cha ông ta.

Thật vậy, bài viết khẳng định, để có được Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa ngày nay, “Nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước”.

Suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược mạnh hơn nhiều lần về quân sự, kinh tế. Song với tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, với cách đánh mưu trí sáng tạo, ông cha ta đã đánh thắng tất cả kẻ thù xâm lược, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc. Lịch sử, truyền thống đánh giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã để lại bao chiến công hiển hách. Nếu như thế kỷ XI, dòng sông Như Nguyệt vang lên bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, khẳng định chủ quyền “Sông núi nước Nam vua Nam ở…/Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” thì thế kỷ XIII, vó ngựa giặc nguyên Mông tràn khắp châu Á, châu Âu nhưng ba lần bị quân dân nhà Trần đánh bại. Đến thế kỷ XVIII, Quang Trung đại phá quân Thanh để rồi “sử tri Nam Quốc Anh hùng chi hữu chủ”. Vì vậy, Bác Hồ đã dạy “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tinh thần yêu nước và truyền thống đánh giặc của dân tộc ta lại được phát huy lên một tầm cao mới. Dân tộc ta đã đánh thắng hai kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Quân ta có thể ít về số lượng, vũ khí không hơn địch, có thể là một cuộc chiến tương quan chênh lệch lực lượng, ta ít, địch nhiều, nhưng cha ông ta đã đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược mạnh hơn gấp nhiều lần. Có được chiến công đó chính là sức mạnh của ý chí kiên quyết, kiên trì đánh giặc ngoại xâm với tinh thần triệt để nhất.

Từ thực tiễn chống giặc ngoại xâm của dân tộc, các thế hệ ông cha đã viết nên truyền thống vẻ vang rất đáng tự hào và những bài học quý báu đối với các thế hệ mai sau. Bước ra từ các cuộc chiến tranh giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn khát vọng hòa bình mãnh liệt cho dân tộc mình, nhưng chúng ta cũng kiên quyết, kiên trì tiếp nối truyền thống cha ông để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh “tình hình khu vực và quốc tế diễn biến phức tạp, có nhiều bất lợi cho ta”

Từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào. Thế giới từ lưỡng cực thành đơn cực, rồi nay lại thành đa cực. Các nước thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đều tham gia toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác dưới nhiều cung bậc khác nhau. Các thế lực thù địch đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá.

Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chính trị thế giới kéo theo thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân thế giới, nhưng đó là tạm thời chứ không phải tất yếu. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đã, đang và sẽ giữ vững trận địa. Các đảng cộng sản và phong trào công nhân sẽ khôi phục hoạt động trong điều kiện mới, và xu thế xã hội chủ nghĩa sẽ tiếp tục phát triển dưới hình thức này hay hình thức khác.

Tình hình thế giới diễn biến phức tạp khó lường nhưng Đảng ta đã kiên quyết, kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác- Lênin, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và đạt được nhiều thành tựu rất đáng tự hào, và “chưa bao giờ đất nước ta có được tiềm lực và cơ đồ như ngày hôm nay”.

Thứ ba, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trước hết là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Đây vừa là bài học vừa là quan điểm được Đảng ta khẳng định từ Đại hội XII, cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Bài viết làm rõ thêm về tính chất kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc. Trước hết và quan trọng là “luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện”.

Bài viết còn thể hiện quan điểm kiên quyết, kiên trì còn là sự kiên định và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra cơ sở khoa học của quan điểm về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa: Với tư cách là người đại diện cho dân tộc, giai cấp công nhân là người đại diện cho Tổ quốc, phải “bảo vệ những thành quả cách mạng đã đạt được, bảo vệ Tổ quốc của mình”. Giai cấp công nhân từng bước giành được những thắng lợi và phải biết bảo vệ, phát huy những thành quả, tiến tới thắng lợi cuối cùng.

“Kiên quyết, kiên trì” thể hiện rõ ý chí quyết tâm chiến lược, sự nhất quán, trước sau như một, trước mắt cũng như lâu dài, khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn, là bằng mọi cách phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Cụm từ “kiên quyết” thể hiện quyết tâm dứt khoát, sự đồng thuận cao hơn trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về yêu cầu bảo vệ chủ quyền, lợi ích của đất nước; kiên quyết giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc, bảo vệ đến cùng lợi ích quốc gia - dân tộc, với quyết tâm cao nhất. Cụm từ “kiên trì” bao hàm ý nghĩa cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lợi ích của đất nước sẽ còn lâu dài, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không lơi lỏng, không được mất cảnh giác, không nản lòng, phải nuôi dưỡng ý chí quyết tâm thật cao. Phải kiên trì giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.

Như vậy, “kiên quyết, kiên trì” là thể hiện quyết tâm cao độ, ý chí sắt đá, bản lĩnh trước sau như một của nhân dân ta, vừa thể hiện tính chất lâu dài, phức tạp của cuộc đấu tranh. Đây cũng là đối sách mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, không chủ quan, manh động trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh lịch sử mới, mà trước hết là bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Bài viết đã khái quát nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc - một trong những giải pháp có ý nghĩa chiến lược góp phần hiện thực hóa mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay là phải: “Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội”. Cả lý luận và thực tiễn cho thấy, luận điểm của Tổng Bí thư thể hiện một tầm nhìn mới, bản lĩnh mới, sức sáng tạo mới, có tính toàn diện và giá trị chỉ đạo thực tiễn sâu sắc. Luận điểm khẳng định điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, được dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc.

Đồng thời, khẳng định tinh thần đoàn kết, trên dưới đồng lòng: “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Quán triệt sâu sắc và phát triển quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng, thống nhất, không thể tách rời giữa bảo đảm vững chắc quốc phòng và bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ năm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Trong xã hội, con người với bản sắc văn hóa giữ vị trí trung tâm. Phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh. Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Chúng ta luôn luôn chăm lo thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam…

Trước đây, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, ngày 24-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Có nghĩa là, dân tộc Việt Nam muốn giải phóng, xây dựng và phát triển đất nước, nhất định phải phát triển văn hóa. Ngày nay, bài viết tiếp nối và khẳng định, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, phát minh ra, theo đó lẽ tất nhiên, văn hóa xuất phát từ con người và phải đem văn hóa để giải phóng con người, trước hết là giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công và được phát triển toàn diện. Nội dung cốt lõi trong bài viết thể hiện: Văn hóa là nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, mục tiêu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Muốn có chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa, phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Văn hóa là một mặt trận, mỗi văn nghệ sĩ là một chiến sĩ trên mặt trận ấy. Văn hóa phục vụ quần chúng nhân dân, xây dựng nền văn hóa Việt Nam “dân tộc - khoa học - đại chúng”…

Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc, tiếp tục chỉ đạo nhiệm vụ quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong đời sống. Những nội dung cơ bản của bài viết cần tiếp tục được nghiên cứu, luận giải, làm cơ sở cho quá trình quán triệt, tổ chức thực hiện. Đường lối, quan điểm của Đảng chỉ trở thành lực lượng vật chất khi được thâm nhập, quán triệt sâu sắc và tổ chức trong hoạt động thực tiễn ở mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

PHAO

CHIÊU TRÒ ĐÒI "TỰ TRỊ DÂN TỘC" - SỰ MƠ MỘNG HÃO HUYỀN

 Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với nước ta, hoạt động kích động người dân tộc thiểu số (DTTS) đòi ly khai tự trị dân tộc luôn là một trong những nội dung chủ đạo được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định an ninh chính trị ở các vùng DTTS...

Qua theo dõi có thể thấy, thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn, phương thức để tiến hành hoạt động ly khai, đòi tự trị dân tộc chống phá nước ta. Trong đó, chúng tập trung vào một số phương thức, thủ đoạn sau:

Một là, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các vấn đề về nguồn gốc lịch sử tộc người, đất đai, lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo phức tạp, giải quyết các “điểm nóng” tại địa phương; những tác động của mặt trái kinh tế thị trường... để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, tìm cách bôi đen cán bộ lãnh đạo để kích động tư tưởng ly khai, dân tộc hẹp hòi, tâm lý mặc cảm, kỳ thị dân tộc và cho rằng, chỉ có thành lập “nhà nước mới, quốc gia mới riêng thì mới giàu có, văn minh, phát triển” để lôi kéo, vận động đồng bào DTTS chống lại chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; tham gia biểu tình, bạo loạn, phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.  

Hai là, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc”, thông qua tôn giáo thâm nhập, gây ảnh hưởng, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng lợi dụng các tôn giáo ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như: "Tin lành Đề ga" ở Tây Nguyên để hình thành “Nhà nước Đề ga độc lập”; lợi dụng "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; lợi dụng "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... Chúng tập trung móc nối, lôi kéo người có uy tín trong đồng bào DTTS, học sinh, sinh viên, thanh niên DTTS, đối tượng cầm đầu, cốt cán các “tà đạo, đạo lạ”, “hiện tượng tôn giáo mới” trong vùng DTTS...

Thế lực thù địch đặc biệt triệt để lợi dụng chiêu bài “đấu tranh đòi quyền lợi cho người DTTS, đòi ly khai, tự trị” để thu hút, lôi kéo người tham gia tổ chức phản động. Ở bên ngoài, các thế lực thù địch xây dựng, phát triển lực lượng chống đối; nuôi dưỡng, hậu thuẫn, tổ chức các lớp đào tạo, huấn luyện kỹ năng hoạt động và chỉ đạo số này móc nối, tác động, xâm nhập về nước hoạt động xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Ba là, núp dưới chiêu bài hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện” của các tổ chức phi chính phủ để lôi kéo, kích động người DTTS, người dân ở vùng sâu, vùng xa chống phá Nhà nước ta. Đây là một thủ đoạn mới hết sức tinh vi mà các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng để tác động, mua chuộc đồng bào DTTS; dùng thần quyền, giáo lý để nắm và khống chế người DTTS, chi phối các địa bàn; qua đó hòng kích động, lôi kéo người DTTS tham gia hoạt động đòi ly khai, tự trị, thành lập “nhà nước riêng”; gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Đặc biệt, thông qua hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện”, kẻ địch còn tìm cách thâm nhập vào các địa bàn chiến lược, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa để thu thập tình hình, cung cấp cho các tổ chức phản động lưu vong bên ngoài báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. 

Bốn là, chúng tìm cách đánh tráo và đồng nhất khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của quốc gia-dân tộc với quyền của các DTTS để tuyên truyền, xuyên tạc nhằm làm cho một số đồng bào các dân tộc ngộ nhận rằng, “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của riêng các DTTS, từ đó, chúng tìm cách kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc đòi thành lập nhà nước riêng, phá hoại khối đại đoàn kết của dân tộc như: “Nhà nước Tin lành Đề ga” ở Tây Nguyên, “Vương quốc Chăm Pa” ở Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc... Lợi dụng “quyền dân tộc tự quyết” làm điều kiện trong quan hệ ngoại giao với nước ta; gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với việc đòi Nhà nước Việt Nam trao “quyền tự quyết, tự quản” cho các DTTS ở trong nước, qua đó hòng tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ nước ta.

Năm là, tìm mọi cách để tác động quốc hội các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo... hoặc tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo nhằm xuyên tạc, bóp méo tình hình dân chủ, nhân quyền ở các vùng DTTS trong nước. Thông qua đó, họ tìm cách vận động các nước, các chính khách, người Việt ở nước ngoài tài trợ vật chất, tiền, phương tiện để tiến hành các hoạt động đòi ly khai, tự trị dân tộc đối với nước ta. Họ còn tăng cường “quốc tế hóa” vấn đề “quyền dân tộc tự quyết” để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống đối Nhà nước ta từ bên trong. Bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong như: "Hội người Mông thế giới", "Hội những người miền núi", "Nhà nước Đề ga độc lập"... tăng cường tổ chức biểu tình ủng hộ các đối tượng trong nước hoạt động tích cực, quyết liệt hơn. 

Thời gian qua, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào DTTS để tổ chức truyền đạo trái pháp luật, đội lốt tôn giáo hoạt động chính trị, móc nối xây dựng cơ sở. Đi liền với việc truyền bá các tà đạo, phát triển cái gọi là “hiện tượng tôn giáo mới”; chúng khuyến khích đồng bào các DTTS duy trì tập tục lạc hậu, thiếu khoa học, cổ vũ cho lối sống thực dụng trong thanh niên, thiếu niên, từng bước làm băng hoại đạo đức, bản sắc văn hóa dân tộc. Họ cũng tận dụng thế mạnh các phương tiện thông tin đại chúng trong đó tập trung sử dụng internet, đài phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc; in ấn tài liệu, văn hóa phẩm, đặc biệt là sử dụng phương pháp tuyên truyền miệng, rỉ tai để kích động hoạt động ly khai, đòi tự trị dân tộc đối với đồng bào các DTTS ở trong nước.  

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, các quyền cơ bản của đồng bào DTTS ngày càng được bảo đảm. Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề dân tộc trong thời gian qua còn có những hạn chế nhất định. Đó là đời sống văn hóa-xã hội của đồng bào DTTS tuy đã có những tiến bộ đáng kể, song mức hưởng thụ văn hóa tinh thần của người dân còn thấp, vẫn còn một bộ phận đồng bào DTTS có cuộc sống khó khăn. Hệ thống chính trị cơ sở ở một số vùng DTTS còn yếu; công tác quản lý xã hội còn có sơ hở, chưa sát dân, chưa nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của đồng bào, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới. Công tác nắm tình hình có lúc, có nơi còn yếu, chưa phát hiện kịp thời các vụ việc phức tạp xảy ra, dẫn đến việc giải quyết còn lúng túng, thụ động; chính quyền ở một số địa phương còn sơ hở, thiếu sót trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhất là các chính sách về dân tộc, tôn giáo để các đối tượng và các thế lực bên ngoài lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá ta.

Từ thực tế trên, trong thời gian tới, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục đẩy mạnh hoạt động ly khai, đòi tự trị dân tộc hòng “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Do vậy, công tác phòng ngừa, đấu tranh cần có sự tham gia của cả hệ thống chính trị trong việc triển khai thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp trên nhiều lĩnh vực xã hội, trong đó, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau đây: 

Một là, tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn hoạt động ly khai, đòi tự trị dân tộc của các thế lực thù địch để chống phá Đảng, Nhà nước ta; nâng cao ý thức tự giác của nhân dân trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo; tích cực tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động này. Tiếp tục phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng trong công tác đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề này để chống phá nước ta.  

Hai là, tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo nhằm góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật. Thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở; quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân thực sự vững chắc, trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ “cơ bản, toàn diện, liên hoàn, vững chắc”; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.   

Ba là, không ngừng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân; là “cầu nối” giữa Đảng với nhân dân, làm cho mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào các DTTS ngày càng gắn bó khăng khít. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kì thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.

Bốn là, chủ động nắm chắc tình hình từ sớm, từ xa; ngay từ trung tâm của các tổ chức phản động lưu vong; tập trung đánh giá, dự báo sát tình hình biến động của cục diện thế giới, khu vực; sự điều chỉnh chiến lược, chính sách các nước lớn... để kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động đòi ly khai, tự trị dân tộc của các thế lực thù địch chống phá nước ta. Giải quyết triệt để, kịp thời các “điểm nóng”, các mâu thuẫn, khiếu kiện trong đồng bào DTTS ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp. Thường xuyên chăm lo bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn gắn với chế độ đãi ngộ hợp lý cho đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân tộc, tôn giáo ở địa phương.  

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, trong đó có các quyền của đồng bào DTTS. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và tuyên truyền đối ngoại; tận dụng thế mạnh của các kênh ngoại giao, đối thoại, hợp tác làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, bảo đảm quyền của đồng bào DTTS ở nước ta. Qua đó, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các quốc gia, các chính khách quốc tế và cộng đồng người Việt ở nước ngoài đối với nước ta.

TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ, YÊU CẦU VÀ NHIỆM VỤ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Bảo vệ chính trị nội bộ là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; có ý nghĩa sống còn đối với sinh mệnh của Đảng, sự sống còn của chế độ và lợi ích quốc gia-dân tộc.

Đảng ta xác định: Bảo vệ chính trị nội bộ chính là bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Bảo vệ chính trị nội bộ luôn là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cần kíp, cấp bách hiện nay, bởi vì:  Bảo vệ chính trị nội bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là mỗi khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, Đảng ta đều đề ra chủ trương, biện pháp bảo vệ chính trị nội bộ cho phù hợp với tình hình, yêu cầu nhiệm vụ nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, Nhà nước và thành quả cách mạng; phê phán những quan điểm sai trái, thù địch, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội. Thực hiện nghiêm chế độ, thủ tục, quy định, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên trong nội bộ, giữ gìn kỷ luật phát ngôn, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ của Đảng. Đảng ta coi đây là khâu có ý nghĩa quyết định đối với việc tổ chức triển khai, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Nghiên cứu, phát hiện và xử lý kịp thời những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, những đối tượng bị các tổ chức phản động móc nối, lôi kéo, mua chuộc cài cắm vào nội bộ ta. Không để sơ hở, lộ lọt, mất thông tin, bí mật quốc gia để các thế lực thù địch lợi dụng viết bài, tung tin xấu, độc, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ. Mấu chốt của bảo vệ chính trị nội bộ là nắm chắc tình hình chính trị nội bộ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và tổ chức đảng, giải quyết thỏa đáng những vấn đề vướng mắc, thực hiện tốt chủ trương lấy phòng ngừa, chủ động giữ vững bên trong là chính.

Đại hội XIII của Đảng đã xác định bài học kinh nghiệm về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là “làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ...”. Đồng thời, xác định “tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chú trọng nắm vấn đề chính trị hiện nay. Chủ động đấu tranh, phòng ngừa có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, nhất là các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Kiên quyết đấu tranh xử lý nghiêm những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, những cán bộ, đảng viên, những người lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội để xuyên tạc, kích động, gây mất đoàn kết nội bộ”.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định: Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; các biện pháp bảo vệ bí mật, bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động của Đảng, Nhà nước và quân đội. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, cài cắm, móc nối, phá hoại nội bộ của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để xây dựng Quân đội ta tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.

Phương châm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là chủ động phòng ngừa là chính, kịp thời phát hiện, xử lý dứt điểm những vi phạm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; thận trọng đánh giá, khách quan khi giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ. Trong xem xét lịch sử chính trị với những vấn đề chính trị hiện nay, thì xem xét vấn đề chính trị hiện nay là chính; giữa bản thân với quan hệ gia đình thì bản thân là chính; giữa quản lý đầu vào với xử lý đầu ra thì quản lý đầu vào là chính; giữa xử lý với sử dụng thì sử dụng là chính. Qua đó, giải đáp được các câu hỏi: Hiện tại người cán bộ, đảng viên như thế nào, có đủ tiêu chí, tiêu chuẩn chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ, có đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới hay không?.

Trong thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương, Quân ủy Trung ương đến tổ chức cơ sở đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; nắm chắc tình hình, rà soát, thẩm tra vấn đề lịch sử chính trị và chính trị hiện nay nên công tác bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đề bạt cán bộ, phục vụ kịp thời, hiệu quả công tác nhân sự. Kết quả nổi bật của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là đã góp phần quan trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội cũng như củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội; cán bộ, chiến sĩ quân đội cùng toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ chính trị nội bộ vẫn còn những hạn chế nhất định cần phải tiếp tục giải quyết tốt hơn, nhất là khắc phục sự bị động, lúng túng trong rà soát, thẩm tra, xác minh, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị của các đối tượng; nắm và quản lý tình hình chính trị nội bộ sâu sát, kịp thời hơn. Thực hiện các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước của một số cơ quan, đơn vị, cá nhân cần nghiêm túc hơn, không để xảy ra sơ hở, mất cảnh giác, kể cả ở cơ quan, đơn vị, vị trí trọng yếu, cơ mật. Cùng với đó, phải phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên, chặt chẽ hơn.

Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là tác động, ảnh hưởng tiêu cực của cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, điều đó đặt ra nhiều vấn đề mới cho công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới. Vì vậy, cần nghiên cứu, thực hiện các yêu cầu để góp phần: (1) Hạn chế đến mức thấp nhất những tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ tình hình thế giới, khu vực đến tâm lý, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và một số tác động tiêu cực đến tình hình chính trị nội bộ. (2) Giải quyết kịp thời những vấn đề mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ. (3) Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ vi phạm các tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; củng cố và nâng cao uy tín; xây dựng niềm tin của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Để làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp, biện pháp cụ thể, khả thi để nâng cao hơn nữa trình độ nhận thức, hiểu biết về vị trí, vai trò, nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Ba là, chấp hành nghiêm và thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định của Đảng, Nhà nước, quân đội về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhất là các quy định về bảo mật, không để lộ, lọt, mất thông tin; không viết bài, đưa tin, phát ngôn sai quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội và trong quân đội; thực hiện nghiêm Quy định số 126-QĐ/TW ngày 28-2-2018 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về quy định những điều đảng viên không được làm. Thực hiện tốt các phương châm trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm không bỏ sót những người có năng lực, trình độ trong quá trình thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Bốn là, thường xuyên thực hiện tốt công tác nắm tình hình, rà soát chính trị nội bộ. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và có biện pháp sử dụng, quản lý cán bộ, đảng viên phù hợp đối với những trường hợp có vấn đề chính trị. Thực hiện tốt hơn nữa việc kê khai bổ sung lý lịch đảng viên, kiểm tra thẻ đảng, hộ chiếu, các giấy tờ liên quan đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; kê khai các hoạt động đi ra nước ngoài, quan hệ với nước ngoài của cán bộ, đảng viên để kịp thời phát hiện vi phạm và uốn nắn.

Năm là, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ làm công tác bảo vệ an ninh ở các cấp. Chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao hơn nữa vai trò của cơ quan, cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao ý thức trách nhiệm, niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, đảng viên được bổ nhiệm, đề bạt, cử đi học, ra nước ngoài. Đồng thời, xem xét kỹ lưỡng về mặt chính trị, nhất là việc nhận xét, đánh giá bảo đảm của cơ quan bảo vệ an ninh theo phân cấp.

Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung hết sức quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Với sự quyết tâm cao, công tác bảo vệ chính trị nội bộ sẽ tiếp tục đạt được những kết quả tốt góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

PHÒNG, CHỐNG SỰ PHAI NHẠT LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 Một cách chung nhất, có thể nói, lý tưởng là mục đích cao nhất, tốt đẹp nhất mà con người muốn hướng đến, muốn vươn tới và do vậy mà con người sẽ ra sức phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thậm chí hy sinh quên mình để quyết tâm đạt cho bằng được. Là cán bộ, đảng viên thì không thể không có lý tưởng cách mạng, vì đây là tiêu chí hàng đầu để khẳng định phẩm giá, tư cách chân chính của người cộng sản.

Ngọn đuốc soi đường cho cán bộ, đảng viên đi đúng hướng

Trong cuộc sống của mỗi con người có thể có các loại lý tưởng khác nhau. Có lý tưởng sống được con người nuôi dưỡng suốt cả cuộc đời; cũng có lý tưởng thuộc về một mặt nhất định nào đó, chẳng hạn như lý tưởng chính trị, lý tưởng học vấn, lý tưởng nghề nghiệp, lý tưởng đạo đức, v. v.. Dù là loại nào thì lý tưởng cũng đều đóng vai trò định hướng, có tác dụng điều chỉnh hoạt động và đặc biệt là có sức mạnh kích thích con người hành động. Con người sống trong xã hội mà nếu không có lý tưởng thì thật là vô vị, là “sống hoài, sống phí”.

Sống trong một chế độ xã hội nhất định nào đó thì lý tưởng cách mạng của con người thuộc vào loại lý tưởng chính trị. Bởi vậy, lý tưởng cách mạng không phải là cái gì đó quá viển vông, xa vời hoặc quá trừu tượng mà con người không bao giờ có thể đạt tới. Lý tưởng chính trị của người cách mạng trong thời kỳ mà giai cấp tư sản vừa lúc mới manh nha, còn non trẻ là lật đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến già cỗi, bảo thủ, cản trở sự phát triển để thiết lập chế độ chính trị tư sản, xác lập quyền thống trị của giai cấp tư sản đang lên. Lý tưởng cách mạng của những người công nhân giác ngộ sống trong xã hội tư bản đầy rẫy bất công là lật đổ, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, mong ước xây dựng một xã hội tự do, công bằng, nhân văn, bình đẳng.

Lý tưởng cách mạng chung của những người yêu nước chân chính ở các nước đã từng là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân không có gì khác hơn là đấu tranh giành lại độc lập cho đất nước và dân tộc mình.

Dưới ách thống trị gần 100 năm của chủ nghĩa thực dân, những người yêu nước và các đảng viên cộng sản Việt Nam đã không sợ gông cùm, không chịu khuất phục trước sự tra tấn, đàn áp vô cùng dã man và bắn giết không cần xét xử của những kẻ xâm lược. Họ nung nấu lý tưởng giải phóng Tổ quốc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành lại tự do thật sự cho dân tộc, độc lập hoàn toàn cho đất nước, tiến tới xây dựng một xã hội mà con người được sống trong tự do, công bằng, bình đẳng, không còn tình trạng người áp bức, bóc lột người. Đó cũng chính là lý tưởng cách mạng xuyên suốt của Đảng và của các đảng viên chân chính tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong tất cả các giai đoạn cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính lý tưởng cách mạng “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã thúc đẩy mọi cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, vượt qua mọi hiểm nguy, dấn thân, xông pha vào những nơi khó khăn nhất, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh thân mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhờ vậy mà cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thành công, hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thắng lợi trọn vẹn, giang sơn bị chia cắt nhiều năm đã được thu về một mối.

Tiếp nối truyền thống cách mạng của cha ông thuở trước, giờ đây, đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng nhận thức rõ lý tưởng như Bác Hồ từng khẳng định, đó là: “Mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc”; “phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân”; “không có gì quý hơn độc lập, tự do”; “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Những người theo lý tưởng cách mạng của Đảng cũng ra sức thực hiện Cương lĩnh năm 2011: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Nhờ sự đoàn kết nhất trí, sự đồng lòng ra sức phấn đấu, lao động kiên cường của cả dân tộc, trong đó có các cán bộ, đảng viên, dưới sự lãnh đạo của Đảng mà “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Để hiện thực hóa được lý tưởng xây dựng một xã hội dân chủ, tự do, công bằng, nhân văn, dân giàu, nước mạnh, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân vô điều kiện; phải vì lợi ích của nhân dân mà ra sức phấn đấu; đồng thời phải biết kết hợp hài hòa lợi ích của bản thân với lợi ích của đất nước và của nhân dân.

Cảnh báo sự sa sút lý tưởng cách mạng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

Tiếc rằng trong thời gian vừa qua, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên rất đáng quan ngại. Biểu hiện đầu tiên trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra là một bộ phận cán bộ, đảng viên: “Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Trong lĩnh vực tư tưởng chính trị, đã có không ít cán bộ, đảng viên, thậm chí có một số ít cán bộ giảng dạy lý luận chính trị nhưng bản thân, ở các mức độ khác nhau, không còn tin vào những quan điểm cơ bản, những chân lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin; tuyên truyền những điều không phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng, bất chấp những thành tựu to lớn, rất đáng tự hào mà đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước hiện nay và được thế giới đánh giá cao. Cần lưu ý rằng, sự phủ nhận ngấm ngầm, không bộc lộ ra mặt của họ một khi có cơ hội sẽ bùng phát cũng đáng ngại và nguy hại không kém. Tấm gương tày đình về sự thờ ơ, phai nhạt, phản bội lý tưởng cách mạng đã từng xảy ra trong Đảng Cộng sản Liên Xô có hàng chục triệu đảng viên, trong lực lượng vũ trang của Liên Xô một thời rất hùng mạnh và ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây là bài học đắt giá mà chúng ta không thể lơ là, chủ quan, mất cảnh giác hay coi thường.

Báo động về sự suy thoái đạo đức, lối sống, nhất là về sự suy thoái lý tưởng cách mạng của một bộ phận cán bộ, kể cả một số cán bộ cấp cao, trong thời gian vừa qua hết sức đáng ngại. Chủ nghĩa cá nhân, động cơ kiếm tiền, bao che để trục lợi, lợi dụng khe hở của công tác quản lý và luật pháp để thu vén, làm giàu cho bản thân và gia đình đều là những nguyên nhân trực tiếp khiến người có chức, có quyền, có địa vị cao trong xã hội trở thành tội phạm. Nhưng nguyên nhân chủ yếu mang tính quyết định, dẫn họ đến sự thoái hóa đó chính là sự tu dưỡng của bản thân quá kém, đặc biệt là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, điều mà họ đã từng tuyên thệ trung thành suốt đời trước cờ Đảng khi họ được kết nạp vào Đảng.

Rõ ràng là sự lao dốc của những cán bộ đã từng trải ấy trên các cương vị công tác họ được đảm nhận, suy đến cùng là do lối sống buông thả, do sự tham lam quyền lực vô độ, muốn có thật nhiều tiền, muốn làm giàu thật nhanh mà không nghĩ đến hậu quả. Chính họ đã không đủ can đảm để chống lại những "bả" vinh hoa, phú quý không chính đáng. Sự lao dốc không phanh ấy, một lúc nào đấy thuận lợi, rất có thể sẽ dẫn đến chỗ góp phần bán rẻ cả đồng chí, đồng đội, phản bội lại Tổ quốc và quay lưng lại với nhân dân.

Bài học rút ra từ những vụ tiêu cực từ nhỏ đến lớn, nhất là nhiều vụ án kinh tế nghiêm trọng trong thời gian vừa qua, còn là do chúng ta thiếu một đạo luật đủ sức ngăn chặn sự lợi dụng và sự tham nhũng quyền lực ở nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế-xã hội khi chúng ta chấp nhận nền kinh tế thị trường, nơi mà đồng tiền có sức mạnh thống trị và quan hệ "tiền trao cháo múc" chi phối; nơi mà mọi thứ đều có thể đem ra trao đổi, mặc cả, mua bán. Karl Marx đã từng cảnh báo rằng, “tiền là sự xuyên tạc một cách phổ biến những cá tính mà tiền biến thành những cái đối lập với chúng... Sau đó, tiền biểu hiện với tính cách là lực lượng có tác dụng xuyên tạc... Tiền biến trung thành phản, yêu thành ghét, ghét thành yêu, đức hạnh thành thói xấu, thói xấu thành đức hạnh, tớ thành chủ, chủ thành tớ, ngu thành khôn, khôn thành ngu”.

Trọn đời trung thành với Đảng, tận hiếu với dân, hết lòng phụng sự Tổ quốc

Điều quan trọng hàng đầu cần phải làm để phòng ngừa, chống lại sự phai nhạt lý tưởng cách mạng là quán triệt sâu sắc cho mỗi cán bộ, đảng viên về lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân. Chỉ có sự tự ý thức và sự tự giác thấm nhuần lý tưởng ấy trong mọi tình huống thì mỗi cán bộ, đảng viên mới có thể làm tròn trọng trách của mình trước Đảng, trước nhân dân. Đó là giải pháp quan trọng hàng đầu bên cạnh việc các tổ chức đảng phải thường xuyên, liên tục giáo dục tư tưởng, đạo đức và phong cách cho mỗi cán bộ, đảng viên theo tấm gương Hồ Chí Minh.

Sự kết hợp giữa việc thường xuyên giáo dục chính trị, đạo đức với thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, nhất là nghiêm chỉnh thực hiện điều lệ Đảng và nhiệm vụ đảng viên, là cơ sở quan trọng giúp đề phòng và từng bước khắc phục được sự suy thoái về chính trị và đạo đức, từ đó đề phòng một cách hiệu quả sự suy thoái lý tưởng cách mạng, để Đảng và mỗi đảng viên được nhân dân luôn yêu mến, kính trọng và tin tưởng.

Chúng ta không ai được quên điều căn dặn ngày 7-6-1968 của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng, “ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”; rằng “một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(4).

Phòng và chống chủ nghĩa cá nhân thật tốt sẽ góp phần quan trọng trong việc phòng, chống sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là trong việc phòng, chống sự suy thoái lý tưởng cách mạng ở mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến đổi nhanh chóng, khó lường như hiện nay và trước yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải coi việc thấm nhuần và thực hành đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, một lòng tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân chính là giải pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa sự suy thoái, nhạt phai lý tưởng cách mạng, qua đó giữ vững vị thế, vai trò là lực lượng tiên phong, nòng cốt, dẫn dắt và lãnh đạo nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.