Thứ Hai, 3 tháng 10, 2022

 

ĐẤT ĐAI THUỘC SỞ HỮU TOÀN DÂN, GIAO CHO NHÀ NƯỚC LÀ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU, THỐNG NHẤT QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ

Vấn đề sở hữu đất đai là vấn đề hệ trọng được các nhà lãnh đạo quản lý, các nhà khoa học và nhân dân đặc biệt quan tâm. Hiện nay, Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi phải có nhận thức đúng đắn về quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý để có những chủ trương, chính sách đất đai đúng đắn, phù hợp với tình hình mới nhằm quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai, đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.

V.I.Lênin cho rằng: “Ruộng đất phải là sở hữu của toàn dân, và một chính quyền có tính chất toàn quốc phải quy định điều đó”[1]. Song “Người nông dân muốn sử dụng có hiệu quả đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì phải có điều kiện, như phải có vốn và tư liệu sản xuất khác, phải có chuyên gia kỹ thuật và cuối cùng phải có tổ chức”[2]. Sở hữu là một phạm trù lịch sử, xu hướng khách quan của sở hữu là vận động theo hướng xã hội hóa và quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng...

Quan điểm của Đảng ta là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giao cho Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý và sử dụng hiệu quả. Quan điểm này được Nhà nước thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật. Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nuyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều 54 quy định: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ, Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật. Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai”. Và Điều 4 Luật đất đai năm 2013 quy định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều này thể hiện sự vận dụng sảng tạo, đúng đắn các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề đất đai vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, bởi đất đai là tài sản cực kỳ quý báu, là một nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay...

Theo Luật Đất đai năm 2013, Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép người sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng hoặc cho phép người sử dụng đất chuyển sang sử dụng vào mục đích khác. Việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nhằm đảm bảo cho đất đai được phân phối và phân phối lại cho các đối tượng sử dụng được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích, đạt hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế phát triển; đáp ứng được nhu cầu của mọi đối tượng sử dụng đất cả trong nước và nước ngoài. Có thể thấy, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là một trong những chế định quan trọng nhất; thể hiện tính đặc thù của pháp luật đất đai Việt Nam. Chế định này ra đời trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai...

Nhà nước ta với tư cách là cơ quan quyền lực, đại biểu cho lợi ích của Nhân dân, đóng vai trò người đại diện cho chủ sở hữu toàn dân. Nhà nước có quyền và trách nhiệm tổ chức quản lý, giao cho các chủ thể khác sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo tồn và phát triển các nguồn lực thuộc đối tượng của sở hữu toàn dân. Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế cần nhận thức rõ, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Khẳng định như vậy là phù hợp với bản chất của đất đai là lãnh thổ, là tài nguyên và tài sản chung vô cùng quý giá của quốc gia, được tạo nên bởi công sức và xương máu của toàn dân tộc qua nhiều thế hệ. Đa dạng hóa, tư nhân hóa sở hữu đất đai có thể gây ra những rối ren chính trị - xã hội khó lường trước hậu quả, đe dọa mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng XHCN.

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thu ngân sách thông qua việc thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, các loại thuế liên quan đến đất đai và các loại phí, lệ phí quản lý và sử dụng đất,…tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, các TPKT và các vùng kinh tế phát triển, tạo cơ sở điều tiết phân phối thu nhập, đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế.

Để đảm bảo chủ sở hữu đất đai là toàn dân, những trường hợp quan trọng như phân bổ sử dụng đất có ảnh hưởng lớn, cho nước ngoài thuê đất để đầu tư với quy mô lớn, hoặc ban hành những chính sách lớn về đất đai... cần phải trưng cầu ý dân. Mặt khác, mỗi người dân cụ thể phải được quyền sử dụng và hưởng lợi ích từ đất; người sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp được giao đất lần đầu không thu tiền sử dụng đất với diện tích phù hợp từng địa phương hoặc được chuyển nhượng không phải nộp thuế; đồng thời phải có nghĩa vụ đầu tư bồi bổ đất đai, bảo vệ và sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả.

Nhận thức rõ quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý cần; nâng cao tinh thần trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân, đưa việc quản lý, bảo vệ và sử dụng đất đai vào quy chế chặt chẽ, khai thác tài nguyên đất hợp lý và có hiệu quả, đáp ứng tốt yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, phát triển đất nước nhanh và bền vững.



[1] I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 32, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, tr.220.

[2]  V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 31, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, tr.227-230

NHẬN DIỆN VÀ CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐịCH VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ YÊU CẦU CẤP THIẾT

 


Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ trương lớn của Đảng, là yêu cầu cấp thiết của thực tiễn trong công tác xây dựng Đảng hiện nay; đồng thời, còn là nhiệm vụ và trách nhiệm thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên, vì đây là vấn đề không chỉ liên quan đến uy tín và tính chính danh của Đảng, mà còn liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xây dựng Đảng, xây dựng xã hội trong sạch, vững mạnh, ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” với nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, Đảng ta xác định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đồng thời, Đảng ta yêu cầu các cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động cần nhận thức sâu sắc, giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị xuyên tạc, phê phán, bóp méo. Họ cho rằng, không có cái gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản,... Chính vì vậy, việc nhận diện và chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khẳng định đây là mô hình kinh tế sáng tạo riêng có của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VẪN DUY TRÌ VÀ BẢO ĐẢM TÍNH ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Các thế lực thù địch cho rằng, những năm gần đây, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã bị “chuyển hướng”, “xoay trục”. Đây là luận điểm xuyên tạc xuyên tạc, bóp méo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thực sự phản khoa học, xa rời thực tiễn và hết sức phản động.

Chúng ta đều biết, mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa chính là một trong chín mối quan hệ lớn mà Đảng ta đã chỉ ra và yêu cầu “cần phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế...; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”[1]. Bản chất của kinh tế thị trường là luôn luôn năng động, luôn luôn khả biến, luôn luôn mở, vì vậy, trong hoạt động của nó bao giờ cũng gắn liền với xã hội hóa, xem đó là một trong những phương thức cơ bản để thu hút nguồn lực của xã hội, mở rộng quy mô, tăng cường khả năng thích ứng với sự biến động của quá trình sản xuất kinh tế - xã hội và với tiến trình phát triển của nhân loại. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, xã hội hóa không đồng nhất với tư nhân hóa. Chủ thể tham gia vào việc xã hội hóa có thể là tư nhân, có thể là tập thể, cũng có thể là doanh nghiệp nhà nước, thậm chí cả Nhà nước. Hơn thế nữa, quá trình xã hội hóa ở Việt Nam luôn luôn được quản lý theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, nghĩa là luôn luôn bám sát và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Rõ ràng, trong triển khai xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, chúng ta vẫn duy trì và bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa, chứ không có sự “chuyển hướng”, “xoay trục” hoàn toàn sang kinh tế thị trường tư nhân tự do như một số luận điệu đã xuyên tạc.

          Thực tiễn phát triển và lý luận kinh điển của C. Mác đều khẳng định tính tất yếu và phổ biến của kinh tế thị trường trong quá trình phát triển của mọi quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, kinh tế thị trường không phát triển theo một phương án duy nhất (phát triển thành kinh tế tư bản chủ nghĩa), cũng không theo một mô hình đơn nhất (thị trường tự do). Thực tiễn đã xác nhận những phương án và mô hình phát triển kinh tế thị trường khác nhau mang tính đặc thù, phụ thuộc vào những điều kiện xác định, hoàn cảnh phát triển cụ thể của quốc gia - dân tộc. Một quốc gia đi sau không được vận dụng cứng nhắc các nguyên lý lý luận; cũng không nên rập khuôn các mô hình kinh tế thị trường có sẵn ở đâu đó, dù là mô hình hiệu quả, để giải quyết các vấn đề phát triển mang nhiều nét đặc thù của mình. Việc khẳng định tính đặc thù trong các mô hình kinh tế thị trường hàm ý rằng, việc lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là đúng với xu hướng chung của loài người; đồng thời, là mô hình thiết thực, hiệu quả phù hợp với hoàn cảnh lịch sử - xã hội của dân tộc. Do đó, việc xuyên tạc, bóp méo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chỉ là những luận bàn không mang tính khoa học và tính thực tiễn.




[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 128.

MỘT GIỜ, MỘT PHÚT CHÚNG TA KHÔNG CÓ HỌ, XÃ HỘI ĐÂU CÓ THỂ BÌNH YÊN!

     Việc đánh tội phạm, thậm chí chúng ta hay nói đùa "cho ăn kẹo đồng" đối với cảnh sát nước ngoài, nhất là cảnh sát Mỹ xảy ra như cơm bữa. Còn ở Việt Nam, một xã hội đạo đức, đến cả công cụ bảo vệ pháp luật cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc đạo đức như ngành Công an Việt Nam thì việc đánh kẻ vi phạm pháp luật quá giới hạn cũng là sai rồi.
     Tuy nhiên câu chuyện Công an đánh 2 thanh niên đánh võng, lạng lách, chạy xe tốc độ bàn thờ trên đường Nam Sông Hậu tỉnh Sóc Trăng vừa rồi dư luận cũng nên dừng lại. 
     Tại sao thì các bạn biết rồi, câu chuyện 2 thanh niên kia và 4 anh Công an đã có pháp luật, quy định, điều lệ công tác ngành công an xử lý. Đất nước nào cũng có pháp luật, chẳng thể kẻ nào ngồi trên pháp luật để làm điều sai cả. Bênh vực cho anh Công an cũng không được mà hùa theo "những con thiêu thân" trên đường phố kia lại càng sai, như thế khác gì chúng ta đang cổ súy cho tội phạm đua xe, đánh võng, lạng lách gây tai nạn cho người tham gia giao thông. Những vụ tai nạn kinh hoàng do các ác nhân tác quái kia cũng đang đầy rẫy ở Việt Nam đấy.
     Mặt khác, các thế lực thù địch đang hàng ngày hàng giờ lấy cái tiểu tiết về tiêu cực trong xã hội, nhất là ngành Công an để thổi phồng, bôi nhọ làm xấu hình ảnh Công an nhân dân đang diễn ra hết sức tinh vi xảo quyệt. Do vậy, chúng ta cổ súy, lôi kéo thành Drama trên mạng xã hội khác gì chúng ta vô tình tiếp tay cho giặc phá hoại.
     Thực ra, trong môi trường công tác vì nước quên thân, vì dân phục vụ, hàng ngày hàng giờ rất nhiều những hình ảnh đẹp của người Công an nhân dân vẫn hiện hữu, chúng ta vẫn thấy gần đây như ở Hà Nội, Tổ bảo đảm TTATGT tại Ngã tư Khuất Duy Tiến - Nguyễn Xiển, phát hiện xe một phụ nữ điều khiển đang chở hơn 1 tạ cá gặp sự cố, bị đổ toàn bộ ra đường, các anh đã xông vào nhặt giúp trong bao ánh mắt đứng nhìn và xem, hay như gần đây trên một số diễn đàn mạng xã hội chia sẻ hình ảnh một số chiến sĩ CSGT số 3, Cục CSGT (Đội 3) và Phòng CSGT Nghệ An cũng nhặt tôm cá rơi vãi trên đường giúp người dân do bị ngã xe máy, và rất nhiều chiến sĩ Công an hy sinh trong chiến đấu với giặc lửa, với tội phạm...  
     Thế nên, mọi lời lẽ miệt thị những chiến sĩ Công an cũng vì nhiệm vụ mà bức xúc vô tình đánh lại người vi phạm, dù là trái với đạo đức ngành Công an nhưng cộng đồng mạng xã hội, những người đang bàn tán về họ cũng nên dừng lại. Hãy lấy điều tốt tuyên truyền, đàm đạo để hình ảnh tốt đẹp trong ngành Công an nhân lên thay vì dùng những lời lẽ không chuẩn mực đối với họ. Bởi vì, một giờ, một phút chúng ta - nhân dân không có họ, xã hội đâu có thể bình yên.....
----------------------------------------
Ảnh1: Các chú công an phát sữa, chiếu, gối, lo lắng từng miếng ăn giấc ngủ, đảm bảo an toàn tránh bão cho nhân dân Đà Nẵng trong cơn bão Noru.
Ảnh 2: Công an Hà Nội nhặt cá cho dân bị ngã xe. 
Ảnh 3: Công an Cục Cảnh sát Đường Bộ và Công an Nghệ An nhặt tôm cho người dân bị tai nạn đổ ra đường 
Ảnh 4: Các chiến sĩ Cảnh sát PCCC chữa cháy ở Hà Nội thẫn người sau khi hoàn thành nhiệm vui 
Ảnh 5: Một chiến sĩ Công an băng bó vết thương cho người dân bị tai nạn.
     P/s: Sao chúng ta không chia sẻ những hành động đẹp đẽ này thay vì Công an đánh thanh niên đánh võng trên đường?

Yêu nước ST.

KINH TẾ TƯ NHÂN LÀ ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG CHO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Các thế lực thù địch cho rằng, định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường là bóp nghẹt, là loại bỏ kinh tế tư nhân. Đây là luận điểm xuyên tạc và hết sức phản khoa học và phản động. Về bản chất, nền kinh tế thị trường có cấu trúc đa sở hữu. Trong cấu trúc đó, sở hữu tư nhân luôn luôn là thành tố tất yếu, bắt buộc. Phủ nhận sở hữu tư nhân có nghĩa là bác bỏ kinh tế thị trường trên thực tế. Bên cạnh sở hữu tư nhân, còn có các dạng sở hữu khác là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và dạng đồng sở hữu của các chủ thể khác như, sở hữu công ty cổ phần, doanh nghiệp tư bản nhà nước,... Về nguyên tắc, các chủ thể sở hữu và các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường là độc lập và bình đẳng với nhau trước pháp luật và trong hoạt động kinh doanh. Nhưng mỗi hình thức sở hữu và mỗi chủ thể sở hữu lại có vai trò, vị thế và chức năng đặc thù trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường.

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, bao gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống nhất, trong đó, chế độ công hữu ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Không thể có nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu trong nó, chế độ công hữu không đóng vai trò nền tảng. Đây là một cấu trúc đặc thù của nền kinh tế thị trường theo nghĩa: Thứ nhất, không loại trừ các quan hệ sở hữu tư nhân và sở hữu tư bản chủ nghĩa, thừa nhận tính chất “hỗn hợp” sở hữu như bất cứ nền kinh tế thị trường nào; thứ hai, khu vực kinh tế nhà nước chứ không phải bất cứ lực lượng kinh tế nào khác đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. 

Trước đây, quan niệm các hình thức sở hữu là đơn nhất: nhà nước, tập thể hoặc tư nhân. Sau 35 năm đổi mới, kinh tế hỗn hợp đang được hình thành và từng bước phát triển mạnh; chế độ cổ phần đang dần trở thành hình thức tổ chức chủ yếu của kinh tế công hữu. Vì thế, công hữu không chỉ bao gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể đơn nhất mà còn bao gồm cả phần sở hữu của Nhà nước và tập thể trong kinh tế hỗn hợp. Cũng như vậy, tư hữu không chỉ bao gồm sở hữu tư nhân đơn nhất, mà còn bao gồm cả phần sở hữu của tư nhân trong kinh tế hỗn hợp.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao”[1]. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kinh tế tư nhân không hề bị bóp nghẹt, càng không bị loại bỏ; trái lại, kinh tế tư nhân còn là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung.



[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 130,.

KINH TẾ NHÀ NƯỚC HOÀN TOÀN CÓ THỂ ĐÓNG VAI TRÒ CHỦ ĐẠO TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Các thế lực thù địch cho rằng, trong kinh tế tư nhân lẫn kinh tế nhà nước gọi chung là kinh tế quốc dân không có kinh tế nào là chủ đạo cả, nghĩa là kinh tế nhà nước không thể đóng vai trò chủ đạo?! Đây không những là quan điểm phản khoa học mà còn là phản động khi chúng không ngừng rêo rao để chống phá cách mạng. Chúng ta đều biết, thị trường có những “khuyết tật” và cơ chế thị trường có thể bị thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề phát triển, như khủng hoảng, đói nghèo, công bằng xã hội, môi trường,... Để khắc phục những hạn chế đó và tránh khỏi thất bại thị trường, Nhà nước phải tham gia quản lý, điều tiết sự vận hành nền kinh tế. Nhà nước tham gia vào các quá trình hoạt động của kinh tế thị trường vừa với tư cách là bộ máy quản lý xã hội, vừa là một yếu tố nội tại của cơ chế vận hành kinh tế. Với các tư cách đó, Nhà nước thực hiện ba chức năng: Thứ nhất, quản lý, định hướng và hỗ trợ phát triển; thứ hai, phân phối lại thu nhập quốc dân; thứ ba, bảo vệ môi trường. Để thực hiện ba chức năng đó, nhà nước phải giải quyết các nhiệm vụ, như cung cấp khuôn khổ pháp lý rõ ràng, nghiêm minh, có hiệu lực và phù hợp với đòi hỏi của cơ chế thị trường; kiến tạo và bảo đảm môi trường vĩ mô ổn định, có tính khuyến khích kinh doanh; cung cấp kết cấu hạ tầng (gồm hạ tầng “cứng” - giao thông vận tải, cung cấp điện, nước,... và hạ tầng “mềm” - dịch vụ thông tin, bưu chính - viễn thông; tài chính,...), cũng như các dịch vụ và hàng hóa công cộng (chăm sóc sức khỏe, giáo dục - đào tạo, bảo vệ môi trường,...); hỗ trợ nhóm người nghèo các điều kiện tối thiểu để tham gia thị trường bình đẳng.

Ngay kể cả quốc gia được xem là điển hình của “thị trường tự do” như Mỹ, nhưng một nghiên cứu gần đây của GS. Mariana Mazzacato trong cuốn “Nhà nước khởi tạo” đã minh chứng rằng đằng sau thành công của các tập đoàn tư nhân đều có vai trò to lớn của chính phủ. Rằng “Kẻ rao giảng về vai trò tối thiểu của nhà nước hay học thuyết về thị trường tự do, thực tế trong hàng thập kỷ qua đã và đang đầu tư công lớn vào công nghệ và đổi mới sáng tạo, là tiền đề cho thành công của kinh tế Mỹ trong quá khứ và hiện tại[1]. Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”[2]. Đại hội X của Đảng khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển”[3]. Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng cũng nhấn mạnh: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”[4]. Kinh tế nhà nước phải nắm giữ vai trò chủ đạo ở một số lĩnh vực then chốt. Đó là những “đài chỉ huy”, là huyết mạch chính của nền kinh tế. Đây là điều kiện có tính nguyên tắc bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó thể hiện sự khác biệt về bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa so với các mô hình kinh tế thị trường khác. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được thể hiện trước hết và chủ yếu ở sức mạnh định hướng, hỗ trợ phát triển và điều tiết nền kinh tế chứ không phải ở quy mô và sự hiện diện của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở tất cả hoặc hầu hết các ngành, các lĩnh vực.

Đồng thời, với việc nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và vai trò điều tiết của Nhà nước, cần coi trọng vai trò của các thành phần kinh tế khác. Các thành phần này gắn bó hữu cơ với nhau trong một thể thống nhất, không tách rời kinh tế nhà nước ở tất cả các giai đoạn phát triển và đều là những thực thể của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mọi chủ thể kinh tế với nguồn gốc sở hữu khác nhau đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật; quyền bình đẳng về cơ hội phát triển và lợi ích chính đáng được pháp luật bảo vệ. Quả thực, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kinh tế nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo, chứ không phải như luận điểm sai trái cho rằng, trong nền kinh tế thị trường thì không cần kinh tế nhà nước hay kinh tế tư nhân đóng vai trò chủ đạo.




[1] Mariana Mazzacato: Nhà nước khởi tạo, Nxb. Thế giới, 2020, tr. 21.

[2] Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2014, Hà Nội, Điều 51, Khoản 1, tr. 25.

[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 83.

[4] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 129.

RONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ ĐƯỢC TỰ DO CẠNH TRANH

 

T

Thật phản khoa học và phản động khi các thế lực thù địch xuyên tạc cho rằng, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không có tự do cạnh tranh. Trên thực tế, nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn tại của các chủ thể kinh tế độc lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Các chủ thể này hoàn toàn độc lập, tự chủ trong việc quyết định các vấn đề, như sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Họ tự chịu trách nhiệm đối với quyết định sản xuất, kinh doanh dựa trên những tín hiệu thị trường.

Mọi nền kinh tế thị trường đều có các yếu tố cấu thành cơ bản là các thị trường, bao gồm các thị trường đầu vào (như thị trường đất đai, thị trường sức lao động, thị trường tài chính, thị trường máy móc thiết bị, thị trường khoa học - công nghệ) và thị trường hàng tiêu dùng. Không có cạnh tranh tự do, không thể nói đến kinh tế thị trường. Về bản chất, cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh. Do vậy, nó còn được gọi là “bàn tay vô hình”. Cơ chế này giúp nền kinh tế tạo lập sự cân bằng mỗi khi bị trục trặc. Cạnh tranh là cơ chế chủ yếu phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế thị trường. Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực được rút ra khỏi những ngành, lĩnh vực và địa điểm đang hoạt động kém hiệu quả, di chuyển đến những nơi có lợi thế phát triển và thu được hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận cao hơn.

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế;... thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường”[1].

Như vậy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tuân thủ nghiêm ngặt các quy luật của kinh tế thị trường, các thành phần kinh tế được tự do cạnh tranh. Nếu nói rằng, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không có tự do là xuyên tạc trắng trợn.



[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,  Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 102 – 103.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 04 THÁNG 10 NĂM 1945!

         “Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”!
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày 04 tháng 10 năm 1945. Ngày này, trên báo Cứu Quốc đăng hai bài viết của Bác. Trong bài “Chống nạn thất học”, nhân danh Chủ tịch Chính phủ lâm thời, tác giả viết: “Nay chúng ta đã giành được quyền độc lập. Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí... Quốc dân Việt Nam! Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ...”.
     Còn trong bài “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các Ủy ban nhân dân”, Bác đã phân tích thực tiễn đang tồn tại trong các Ủy ban nhân dân để đưa ra những nhận định và giải pháp khắc phục tình trạng lộn xộn, kém khoa học: “Có kế hoạch làm việc nhưng sắp đặt công việc không khéo, phân công không sáng suốt thì việc cũng đến hỏng. Người nói giỏi lại cho vào việc chỉ cần khéo chân tay, người viết giỏi lại cho làm việc về lao động thì nhất định không thể nào thành công được. Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe... Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ... Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”.
     Đây là thời điểm đất nước mới giành được độc lập, chính quyền cách mạng mới được thiết lập, phải đối diện với một khối lượng lớn công việc cần được giải quyết, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải dốc hết tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, song cần phải có sự tổ chức khoa học, hiệu quả. Do vậy, Bác đã viết bài để căn dặn đội ngũ cán bộ các cấp chỉ làm việc chăm chỉ là chưa đủ, mà phải làm việc khoa học, mới mang lại hiệu quả cao trong tổ chức, sắp xếp công việc của chính quyền mới.
     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” và “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Thấu suốt quan điểm của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của dân tộc, chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nên đã dày công tổ chức, đào tạo, rèn luyện, xây dựng được đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, chất lượng ngày càng cao, là nhân tố quan trọng đóng góp vào những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam.
     Đội ngũ cán bộ quân đội được giao trọng trách lãnh đạo, chỉ huy, quản lý từ cấp cơ sở đến toàn quân; là lực lượng nòng cốt trong thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhân tố có vai trò quyết định trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội ta. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội làm nòng cốt để toàn quân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Chất lượng toàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, tác phong, phong cách lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, có phương pháp, tác phong công tác khoa học, luôn nêu cao tính đảng, tính chiến đấu, nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết. Luôn chủ động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có ý thức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu cả trong lời nói và việc làm, có khả năng xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, có uy tín cao trước bộ đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại./.
Môi trường ST.

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG KHÔNG PHẢI “SẢN PHẨM RIÊNG CÓ CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN”

 


Chúng ta cần nhận thấy, luận điểm xuyên tạc cho rằng, “kinh tế thị trường là gắn với chủ nghĩa tư bản”, “là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản” là hết sức phản khoa học và phản động của các thế lực thù địch.

Trước hết, phải thấy rằng, kinh tế thị trường không phải là một chế độ kinh tế - xã hội. Nó là một hình thức, phương pháp vận hành nền kinh tế. Ở đó, các quy luật của thị trường chi phối việc phân bổ tài nguyên, quy định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Đây là một kiểu mô hình kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi khách quan về sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quá trình hình thành, phát triển kinh tế thị trường là quá trình mở rộng phân công lao động xã hội, phát triển khoa học - công nghệ và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất - kinh doanh. Dễ dàng thấy, sự phát triển của kinh tế thị trường gắn liền với sự phát triển của văn minh nhân loại, của khoa học - kỹ thuật và của lực lượng sản xuất. Nó là sản phẩm của sự phát triển khách quan của lịch sử xã hội loài người. Và như vậy, kinh tế thị trường không phải sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, càng không phải là chủ nghĩa tư bản, dù theo bất kỳ cách tiếp cận nào.  

Theo C. Mác, kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử, mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trải qua để đạt tới nấc thang cao hơn trên con đường phát triển và trong chủ nghĩa tư bản thì kinh tế thị trường phát triển đến trình độ phổ biến. Nấc thang cao hơn chính là nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Để chuyển lên nấc thang này, nền kinh tế thị trường phải phát triển hết mức, phải trở thành phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội. Đây là một kết luận có ý nghĩa quan trọng về lý luận. Nó khái quát quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, trong đó, kinh tế thị trường được xác định là một nấc thang tất yếu, mang tính phổ biến. Rõ ràng, luận điểm cho rằng, kinh tế thị trường chỉ gắn liền với chủ nghĩa tư bản là không có cơ sở khoa học.


 

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ TẤT YẾU

 


Các thế lực thù địch xuyên tạc cho rằng, không có cái gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội là hai ý tưởng hoàn toàn mâu thuẫn nhau, đưa thêm đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” vào là một sự gán ghép khiên cưỡng?! Chúng ta vần nhận diện, phê phán quan điểm sai trái, thù địch về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trong quản lý và điều hành đất nước, bất cứ quốc gia - dân tộc nào cũng lựa chọn và có quyền lựa chọn một mô hình quản lý, phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm của đất nước mình. Kể từ khi thành lập nước đến nay, chúng ta đã áp dụng và thực thi hai mô hình phát triển kinh tế cơ bản: mô hình kế hoạch hóa tập trung và mô hình phát triển kinh tế thị trường. Mô hình xây dựng và phát triển kinh tế theo phương thức vận hành của nền kinh tế kế hoạch (hay còn gọi là nền kinh tế kế hoạch tập trung, hoặc nền kinh tế chỉ huy) là mô hình kinh tế trong đó Nhà nước kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản xuất và giữ quyền phân phối về thu nhập (để bảo đảm tính xã hội). Mô hình này đặc biệt có ưu thế trong điều kiện đất nước có chiến tranh, vì có thể huy động tối đa các nguồn lực kinh tế, có tính thống nhất cao về hệ tư tưởng, ý chí để tập trung chiến đấu, sản xuất. Tuy nhiên, những hạn chế về quan liêu, triệt tiêu sáng tạo, cạnh tranh, làm cho mô hình này không có sức sống trong thời bình[1].

Nhận thức rõ hạn chế của mô hình kế hoạch hóa tập trung, với tinh thần đổi mới tư duy và đổi mới toàn diện công cuộc xây dựng đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn mô hình phát triển kinh tế thị trường trong việc xây dựng và phát triển đất nước, một mô hình vốn là kết quả của nền văn minh nhân loại đã đạt đến và là con đường tất yếu mà các dân tộc, dù dài hay ngắn, buộc phải đi theo để phát triển. Vấn đề đặt ra là, Việt Nam phải xây dựng và thực thi mô hình kinh tế thị trường kiểu gì để phù hợp với đặc điểm phát triển của đất nước, mà về thực chất, đã có sự lựa chọn con đường phát triển tiến lên chủ nghĩa xã hội? Một thực tế, nhân loại đã và đang có các phương án lựa chọn khác nhau trong phát triển kinh tế thị trường. Kiểu thứ nhấtkinh tế thị trường tự do, được thực hiện ở hầu hết các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Mô hình này hạn chế sự can thiệp, điều tiết của nhà nước ở mức thấp, trong khi đó đề cao sự vận hành tự do của quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh. Sự tham gia của nhà nước vào quá trình phân bổ hệ thống phúc lợi xã hội, ngăn chặn và xử lý các thất bại của thị trường, tuy vẫn được coi trọng nhưng không nhiều. Kiểu thứ hai, kinh tế thị trường xã hội, thực hiện ở một số nước Tây - Bắc Âu (điển hình là nước Đức - quê hương của mô hình kinh tế này). Đây là một nền kinh tế mà trong đó nhà nước bảo đảm tự do hoạt động kinh tế, nhưng có chính sách quản lý, điều tiết về kinh tế, cũng như về xã hội, để đạt được sự cân bằng về xã hội. Đặc trưng nổi bật của mô hình này là: ngoài mục tiêu lợi nhuận, phát triển kinh tế cũng rất coi trọng các mục tiêu xã hội và phát triển con người (công bằng xã hội, phúc lợi cho người nghèo và cho người lao động, quyền tự do...). Kiểu thứ ba, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mà Cộng hòa nhân dân Trung Hoa áp dụng. Sự ra đời của mô hình này gắn với sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, vốn trước đó phủ nhận vai trò của kinh tế thị trường và qua đó, Trung Quốc muốn khẳng định với thế giới một mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu mới mà Trung Quốc đã lựa chọn: chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Mô hình này cũng áp dụng các quy luật kinh tế thị trường, nhưng nhà nước can thiệp mạnh hơn vào thị trường, đồng thời tác động nhiều vào tính xã hội[2].

Trong khi đó, ở Việt Nam, mới chỉ đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội  - một thời kỳ quá độ đang hướng đến mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng có nghĩa là, cần một quá trình phấn đấu và phát triển lâu dài, Việt Nam mới có thể xây dựng được mô hình chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó. Để phù hợp và tương thích với hoàn cảnh và đặc điểm của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn xây dựng mô hình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mô hình này được Đảng Cộng sản Việt Nam sáng tạo và thực hiện xây dựng từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay và tên gọi này chính thức được dùng từ Đại hội IX của Đảng (năm 2001). Đối với Việt Nam, mô hình này có ý nghĩa quyết định đến tương lai đất nước và vì vậy, tại Đại hội XI, Đảng ta coi đây là một trong ba đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng và chủ động hội nhập quốc tế.

Hơn thế nữa, trong quá trình điều hành, hoàn thiện mô hình này, Đảng ta đã đưa ra cách tiếp cận tổng thể về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ làm rõ về nội hàm, đưa ra các quan điểm chỉ đạo đến xác định mục tiêu, lộ trình và đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện, mà điều này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, “Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong đó, đã thể hiện khá đầy đủ, sát hợp, khoa học, có hệ thống, vừa mang tính tổng quát, vừa có tính cụ thể về nội hàm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đây là lần đầu tiên có thể được định hình như là lý thuyết về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”[3].

Điều đó khẳng định rằng, định hướng xã hội chủ nghĩa “không phải là cái đuôi” được gán ghép chủ quan, áp đặt của những bộ óc “giáo điều”, “kinh viện chủ nghĩa” như một số người sính chữ đang dùng, mà chỉ rõ tính chất của nền kinh tế thị trường mà nước ta đang xây dựng. Bởi lẽ, nó được quyết định bởi chính tính chất của những bộ phận cấu thành, thuộc kết cấu bên trong của nền kinh tế, xác định bản chất và xu thế vận động của nền kinh tế thị trường. Điều đó cũng có nghĩa rằng, tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường hay tính định hướng trong phát triển nền kinh tế thị trường là hoàn toàn đúng đắn. Do đó, không thể xuyên tạc hoặc bóp méo sự thật mà phải nhận thức cho đúng, tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường phản ánh mục tiêu, phương thức phát triển, phân phối của cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta; nhờ đó mà khai thác tốt nhất lợi thế vốn có của thị trường, đồng thời khắc phục và hạn chế tới mức thấp nhất những “khuyết tật”, rủi ro của nó, nhằm phục vụ lợi ích chính đáng của nhân dân hướng đến các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.



[1] https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/suyngam/30-nam-doi-moi-kinh-te-thi-truong-co-the-di-cung-dinh-huong-xhcn-325545.htmlngày 9-9-2016

[2] https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/suyngam/30-nam-doi-moi-kinh-te-thi-truong-co-the-di-cung-dinh-huong-xhcn-325545.htmlngày 9-9-2016

[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 114.

Nhận diện hoạt động lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước

 


Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, luôn thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Do đó, cùng với vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chống phá Đảng và chế độ ta.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tiếp Đại sứ Hàn Quốc chào từ biệt

 


Chúc mừng Đại sứ Park Noh Wan hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong nhiệm kỳ tại Việt Nam, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đánh giá, Đại sứ đã góp phần thúc đẩy hợp tác hai nước trên nhiều lĩnh vực, nâng cao tin cậy chính trị, hợp tác quốc phòng, an ninh, kinh tế ngày càng được tăng cường.

Tẩy chay luận điệu của các “nhà” tự xưng

 


Để tăng độ "nóng" cho các luận điệu xuyên tạc, một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại tiếp tục lôi kéo, sử dụng các đối tượng bất mãn, có tư tưởng chống đối trong nước và tâng bốc họ bằng các loại danh xưng tự phong, như: “Nhà nghiên cứu”, “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà hoạt động môi trường”, “chuyên gia của dân oan”...

Thông qua miệng lưỡi của các loại “nhà” này, họ cố tạo ra uy tín giả để xuyên tạc luận điểm, ngụy tạo luận chứng, bịa đặt luận cứ... vẽ ra bức tranh đen tối, tiêu cực về đời sống KT-XH để lèo lái dư luận. Tuy nhiên, khi vào trang cá nhân trên MXH của một số loại “nhà” này thì thấy, không ít đối tượng đã lợi dụng chiêu trò để đánh bóng tên tuổi, bán hàng online, kinh doanh kiếm tiền. Mục tiêu của nhiều đối tượng dạng này là trở thành những “Kols” (Kols là từ viết tắt của Key Opinions Leaders, nghĩa là những người có tầm ảnh hưởng lớn trên cộng đồng mạng, thường được mời tham gia các chiến dịch truyền thông để tạo sức lan tỏa).

 Lợi dụng quyền dân chủ và tự do ngôn luận, họ không ngừng đánh bóng tên tuổi để trở thành “Kols”, xâm hại lợi ích quốc gia, ám chỉ, bịa đặt, gây tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân... Đây là chiêu trò rất nguy hiểm. Một số đối tượng hoạt động vi phạm pháp luật, bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra theo Điều 331 Bộ luật Hình sự thời gian gần đây, như: Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Thị Bích Thủy (Bích Thủy TV), Phan Bùi Bảo Thi... chính là những “Kols” dạng này. Sự vào cuộc kịp thời của các cơ quan chức năng và tính nghiêm minh của pháp luật đã có tác dụng răn đe, thức tỉnh nhiều người. Tuy nhiên, vẫn còn không ít đối tượng, vì nhiều lý do, vẫn tiếp tục bị lôi kéo, dụ dỗ, thực hiện các hoạt động trên không gian mạng theo kiểu lấp lửng, giả giả thật thật, u u minh minh, nhằm ám chỉ, bịa đặt, xâm hại quyền lợi, danh dự tổ chức, cá nhân và lợi ích quốc gia, dân tộc. Đáng tiếc, từ những thông tin kiểu dẫn dụ ấy, một số cá nhân, trong đó có cả một số người trong giới trí thức, văn nghệ sĩ, hưu trí... lại cả tin hùa theo, phát ngôn thiếu suy nghĩ kiểu ngẫu hứng cá nhân, bỡn cợt, đả kích, gây hoang mang dư luận.

Không khó nhận ra chân tướng của những chiêu trò này để phân biệt đâu là vàng, đâu là thau, đâu là hàng xi mạ bóng bẩy. Trong đối tượng có đối tác và trong đối tác có đối tượng. Hãy nhìn cách họ thể hiện thái độ, bày tỏ quan điểm cá nhân trên không gian mạng để chúng ta có cách ứng xử phù hợp. Cách tốt nhất là cùng nhau tẩy chay, đấu tranh thẳng thắn với những đối tượng có hành vi lệch lạc về tư tưởng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời góp ý chân thành, thẳng thắn với những cá nhân có biểu hiện dao động, bị lôi kéo, dụ dỗ. Bảo vệ môi trường văn hóa tư tưởng lành mạnh, nhất là trên không gian mạng, phải bắt đầu từ những việc làm mang tinh thần xây dựng, theo phương châm lấy xây để chống.

Một số quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay (3)

 


Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Sau đây xin nêu lên một số quan điểm đó:

Quan điểm sai lầm đem đối lập chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lê-nin, đối lập C. Mác với V.I. Lê-nin để phủ nhận cả chủ nghĩa Mác lẫn chủ nghĩa Lê-nin, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói chung. Họ viện dẫn ra sự “đối lập” là C. Mác và Ph.  Ăng-ghen cho rằng, cách mạng vô sản phải nổ ra đồng thời trong các nước tư bản, ít ra là trong các nước tư bản phát triển, còn V.I. Lê-nin lại cho rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể nổ ra và thành công ở một số nước, thậm chí ở một nước riêng lẻ, còn lạc hậu, còn nhiều tàn tích của chế độ nông nô như nước Nga.

Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã chứng minh tính đúng đắn của quan điểm và phương pháp của V.I. Lê-nin. Sự đối lập giữa C. Mác với V.I.  Lê-nin mà họ dựng lên là giả tạo, bịa đặt. V.I. Lê-nin là người mác-xít, ông đã tự nhận mình là học trò của Mác: Chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lê-nin thống nhất với nhau về bản chất. Chủ nghĩa Lê-nin là chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản. C.  Mác và V.I. Lê-nin sống ở hai thời đại khác nhau, C. Mác sống ở thời kỳ chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn tự do cạnh tranh, còn đến V.I. Lê-nin chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, khi đó cách mạng vô sản, phong trào giải phóng dân tộc nổi lên, mỗi ông phải giải quyết những nhiệm vụ do thời đại của mình đặt ra. V.I. Lê-nin không thể máy móc, giáo điều ngồi chờ cho cách mạng vô sản nổ ra đồng thời ở các nước tư bản phát triển được, mà phải chủ động nhận thức thời cơ, tình thế cách mạng và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga. V.I. Lê-nin trung thành với chủ nghĩa Mác trong bản chất cách mạng, khoa học, biện chứng, chứ không phải trung thành một cách máy móc bởi vì học thuyết của các ông không phải giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động.

 

Một số quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay (2)

 


Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Sau đây xin nêu lên một số quan điểm đó:

Quan điểm cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là sản phẩm của Việt Nam, nó là “ngoại lai”, “ngoại nhập” từ phương Tây, không phù hợp với Việt Nam là một xã hội phương Đông, kinh tế lạc hậu; thậm chí có ý kiến nói “du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử”, do đó “cần phải từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(?).

Quan điểm trên đây là sai lầm vì không hiểu được sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa của lý luận Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là lý luận khoa học nên cũng giống như các khoa học khác (kể cả khoa học tự nhiên) có giá trị phổ quát, vượt biên giới quốc gia - dân tộc, còn khi áp dụng nó đương nhiên phải chú ý đến điều kiện lịch sử cụ thể của từng quốc gia - dân tộc để tránh giáo điều, máy móc. Mặc dù chủ nghĩa Mác có nguồn gốc lý luận trực tiếp từ các nước phương Tây, như Đức (về triết học), Anh (về kinh tế chính trị), Pháp (về lý luận chủ nghĩa xã hội), nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”, không thể cấm bổ sung chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông. Nhưng khi nói vậy, Người vẫn khẳng định “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó” - tức ở phương Đông. Những quy luật của chủ nghĩa Mác vạch ra không chỉ đúng với các nước phát triển mà còn đúng cả với các nước kém phát triển. Vì, về mặt phương pháp luận như C.  Mác đã từng chỉ ra, trong cái phát triển cao chứa đựng cái phát triển ở trình độ thấp hơn dưới dạng lọc bỏ.

Mặt khác, nếu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý thì những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam từ khi chủ nghĩa Mác  - Lê-nin được truyền bá vào Việt Nam - một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, lạc hậu, kém phát triển nhưng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo, đưa đến thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành đổi mới mạnh mẽ, toàn diện đất nước.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều đổi mới về tư duy lý luận, đã nhận thức lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin theo tinh thần khẳng định sức sống, giá trị bền vững của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đồng thời loại bỏ những nhận thức không đúng, ấu trĩ, giáo điều về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới trên một loạt vấn đề, như mục tiêu, đặc trưng và phương hướng cơ bản của xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,... đó là những vấn đề không có sẵn trong di sản kinh điển mác-xít. Không có sự vận dụng, phát triển sáng tạo đó thì không có được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân Việt Nam đạt được trong gần 35 năm đổi mới.

 

Một số quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay (1)

 


Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Sau đây xin nêu lên một số quan điểm đó:

Quan điểm vin vào yếu tố thời đại để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin

Quan điểm đó cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, hoặc cùng lắm là đầu thế kỷ XX, nó chỉ thích hợp với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai, chỉ thích hợp với văn minh cơ khí, còn bây giờ nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI - là thời đại của cách mạng khoa học - công nghệ, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, văn minh tin học, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên không còn thích hợp nữa, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã bị lỗi thời (!).

Đúng là thời đại mà chúng ta đang sống khác rất nhiều so với thời đại của Mác - Ăng-ghen - Lê-nin, đã có nhiều biến đổi to lớn, sâu sắc về kinh tế, xã hội, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ. Không nhận thức được những biến đổi to lớn của thời đại sẽ không hiểu đúng bản chất của thời đại. Tuy nhiên, những biến đổi đó không vượt ra ngoài những quy luật, những nguyên lý chung nhất mà C. Mác đã khám phá ra. Chẳng hạn, đó là những quy luật phổ biến của phép biện chứng duy vật, những quy luật phổ biến của sự phát triển xã hội loài người, như quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, kinh tế xét đến cùng quyết định chính trị, quy luật đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp, quy luật giá trị thặng dư, những nguyên lý khoa học về nhà nước, cách mạng xã hội, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân...

Đứng trên quan điểm khách quan, có một số luận điểm cụ thể của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin không còn phù hợp với điều kiện lịch sử mới, đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua, song những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, bản chất khoa học và cách mạng vẫn giữ nguyên giá trị cần phải bảo vệ. Hoàn cảnh lịch sử cụ thể luôn luôn thay đổi, song những quy luật phát triển cơ bản, phổ biến của lịch sử loài người mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin nêu lên là không thay đổi, có giá trị trường tồn. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà không một học thuyết nào có thể thực hiện được vai trò đó.

 

Một số quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay (5)

 


Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Sau đây xin nêu lên một số quan điểm đó:

Quan điểm đem quy sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, “sai lầm từ gốc, từ bản chất của học thuyết” (!).

Chúng ta thấy rằng, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội  - mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp, hành chính, mệnh lệnh, xa rời quần chúng nhân dân với nhiều khuyết tật, chứ không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung.

Sự sụp đổ ấy có nguyên nhân khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài, sâu xa và trực tiếp. Chính những khuyết tật của mô hình chủ nghĩa xã hội đó không được phát hiện và khắc phục kịp thời, tồn tại kéo dài, tích tụ lại đã đẩy xã hội Xô-viết đến sự sụp đổ. Sự sai lầm về đường lối cải tổ của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô trước đây - cả đường lối kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và đối ngoại, sự phản bội lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa của một số lãnh đạo cao nhất trong Đảng cùng với âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, sự chống phá của các thế lực thù địch là những nguyên nhân trực tiếp. Không thể quy sự sụp đổ của Liên Xô vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chính sự nhận thức sai, vận dụng sai, sự phản bội lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin của một số người cao nhất trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô là nguyên nhân chủ yếu. Vì vậy, quyết không được đồng nhất những sai lầm đó với bản thân chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Tại sao công cuộc cải cách, mở cửa của Trung Quốc, công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế của Việt Nam lại đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng? Cải tổ sẽ không thất bại nếu Đảng Cộng sản Liên Xô có đường lối cải tổ đúng đắn, trung thành và sáng tạo trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có bản lĩnh chính trị vững vàng, cảnh giác với âm mưu và hoạt động chống phá chủ nghĩa xã hội của các thế lực đế quốc thù địch, nếu xây dựng Đảng và Nhà nước vững mạnh, trong sạch, gắn bó mật thiết với nhân dân, chống được quan liêu, tham nhũng...

Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô nay đã trải qua hơn 30 năm song vẫn là lời cảnh báo thường xuyên đối với các đảng cộng sản đang cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa để tránh đi vào “vết xe đổ” của Liên Xô.

 

Một số quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay (4)

 


Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Sau đây xin nêu lên một số quan điểm đó:

Quan điểm đem đối lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận cả chủ nghĩa Mác - Lê-nin lẫn tư tưởng Hồ Chí Minh.

Quan điểm trên đây là sai lầm cả về lịch sử và lô-gic. Về mặt lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn và được hình thành từ việc tiếp thu các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

 Chủ nghĩa Mác - Lê-nin chính là nguồn gốc lý luận quan trọng nhất, là cơ sở chủ yếu nhất để hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Thông qua hoạt động trí tuệ và thực tiễn sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để nghiên cứu thực tiễn và tìm ra con đường cách mạng Việt Nam, vượt lên trước những nhà yêu nước đương thời, khắc phục được sự khủng hoảng về con đường tiến lên của dân tộc Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện lịch sử mới. Như vậy, về mặt lô-gic, về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lê-nin chứ không có sự đối lập như một số người tưởng tượng ra. Và do đó cũng không có cái gọi là “cuộc nội chiến về tư tưởng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin” từ năm 1930 đến nay ở Việt Nam như có người nhận định. Một số người nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Họ nói tư tưởng Hồ Chí Minh mới là sản phẩm của Việt Nam, có nguồn gốc Việt Nam, còn chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “ngoại lai”, “ngoại nhập”, không phù hợp với Việt Nam, thậm chí có người muốn đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh (!).

Quan điểm đó nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, song thực chất, trực tiếp và gián tiếp chính là nhằm phủ nhận cả tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đảng ta xác định nền tảng tư tưởng của Đảng gồm chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là rất đúng đắn, phù hợp, thể hiện mối quan hệ biện chứng, thống nhất, gắn bó giữa hai bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay (tiếp)

 


Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới, V.I. Lê-nin đã kiên quyết đấu tranh, kịch liệt phê phán quan điểm duy tâm, siêu hình của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của E. Ma-khơ, A-vê-na-ri-út,...; đấu tranh với những quan điểm cơ hội, xét lại của các nhà lãnh đạo Quốc tế II, như Béc-xtanh, Cau-xky,...; đấu tranh với những quan điểm sai lầm của Plê-kha-nốp, Tờ-rốt-xki,  Bu-kha-rin,  Di-nô-vi-ép,... Thông qua đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, V.I. Lê-nin đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác lên một giai đoạn mới - giai đoạn Lê-nin trên cả ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế học chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp với điều kiện lịch sử mới và phù hợp với những thành tựu mới nhất trong khoa học tự nhiên ở thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. V.I. Lê-nin đã từng gọi chủ nghĩa duy vật mác-xít là “chủ nghĩa duy vật chiến đấu”, nghĩa là nó không ngừng đấu tranh chống lại các quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội, xét lại, các quan điểm muốn bảo vệ trật tự tư sản. Vận dụng chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo vào thực tiễn nước Nga, V.I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, mở ra một thời đại mới trong sự phát triển của xã hội loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là sự khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối của Lê-nin, là sự bác bỏ mạnh mẽ nhất, quyết định nhất, có tính thuyết phục nhất đối với các quan điểm sai trái, thù địch lúc bấy giờ.

Từ khi ra đời cho đến nay, trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam và thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nắm vững và vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng, từ đó đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhận thức rõ âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch nhằm ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm thất bại âm mưu “chiến thắng không cần chiến tranh” của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Văn kiện các kỳ đại hội Đảng toàn quốc thời kỳ đổi mới đều nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh này. Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng yêu cầu tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Ban Chấp hành Trung ương cũng đã ban hành một số nghị quyết chuyên đề (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX “Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”...), Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Đặc biệt ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết chỉ rõ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, trước hết trong xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nghị quyết nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó có nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao.