ĐẤT ĐAI THUỘC SỞ HỮU TOÀN DÂN, GIAO CHO NHÀ
NƯỚC LÀ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU, THỐNG NHẤT QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ
Vấn đề sở hữu đất đai là vấn đề hệ trọng được
các nhà lãnh đạo quản lý, các nhà khoa học và nhân dân đặc biệt quan
tâm. Hiện nay, Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
đòi hỏi phải có nhận thức đúng đắn về quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý để có những chủ trương,
chính sách đất đai đúng đắn, phù hợp với tình hình mới nhằm quản lý, khai thác,
sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai, đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững
của đất nước.
V.I.Lênin cho rằng: “Ruộng đất phải là sở hữu
của toàn dân, và một chính quyền có tính chất toàn quốc phải quy định điều đó”[1].
Song “Người nông dân muốn sử dụng có hiệu quả đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì
phải có điều kiện, như phải có vốn và tư liệu sản xuất khác, phải có chuyên gia
kỹ thuật và cuối cùng phải có tổ chức”[2].
Sở hữu là một phạm trù lịch sử, xu hướng khách quan của sở hữu là vận động theo
hướng xã hội hóa và quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng...
Quan điểm của Đảng ta là đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, giao cho Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý và sử
dụng hiệu quả. Quan điểm này được Nhà nước thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp
luật. Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Đất đai, tài nguyên nước, tài
nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nuyên thiên nhiên khác
và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý tài sản công thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều 54 quy định: “Tổ
chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng
đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và
nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ, Nhà
nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần
thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế- xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và
được bồi thường theo quy định của pháp luật. Nhà nước trưng dụng đất trong trường
hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc
trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai”. Và
Điều 4 Luật đất đai năm 2013 quy định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều này thể hiện sự vận dụng
sảng tạo, đúng đắn các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề đất đai vào
hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, bởi đất đai là tài sản cực kỳ quý báu, là một
nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở Việt Nam hiện nay...
Theo Luật Đất đai năm 2013, Nhà nước giao
đất, cho thuê đất, cho phép người sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất đều
là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng hoặc cho
phép người sử dụng đất chuyển sang sử dụng vào mục đích khác. Việc giao đất,
cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nhằm đảm bảo cho đất đai được phân
phối và phân phối lại cho các đối tượng sử dụng được sử dụng hợp pháp, đúng mục
đích, đạt hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế phát triển; đáp ứng được nhu cầu
của mọi đối tượng sử dụng đất cả trong nước và nước ngoài. Có thể thấy, quyền
và nghĩa vụ của người sử dụng đất là một trong những chế định quan trọng nhất;
thể hiện tính đặc thù của pháp luật đất đai Việt Nam. Chế định này ra đời trên
cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai...
Nhà nước ta với tư cách là cơ quan quyền lực,
đại biểu cho lợi ích của Nhân dân, đóng vai trò người đại diện cho chủ sở hữu
toàn dân. Nhà nước có quyền và trách nhiệm tổ chức quản lý, giao cho các chủ
thể khác sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo tồn và phát triển các
nguồn lực thuộc đối tượng của sở hữu toàn dân. Trong tiến trình phát triển của
nền kinh tế cần nhận thức rõ, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại
diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Khẳng định như vậy là phù hợp với bản
chất của đất đai là lãnh thổ, là tài nguyên và tài sản chung vô cùng quý giá
của quốc gia, được tạo nên bởi công sức và xương máu của toàn dân tộc qua nhiều
thế hệ. Đa dạng hóa, tư nhân hóa sở hữu đất đai có thể gây ra những rối ren
chính trị - xã hội khó lường trước hậu quả, đe dọa mục tiêu phát triển đất nước
theo định hướng XHCN.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước
thu ngân sách thông qua việc thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, các loại thuế
liên quan đến đất đai và các loại phí, lệ phí quản lý và sử dụng đất,…tạo điều
kiện thuận lợi cho các ngành, các TPKT và các vùng kinh tế phát triển, tạo cơ
sở điều tiết phân phối thu nhập, đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế.
Để đảm bảo chủ sở hữu đất đai là toàn dân,
những trường hợp quan trọng như phân bổ sử dụng đất có ảnh hưởng lớn, cho nước
ngoài thuê đất để đầu tư với quy mô lớn, hoặc ban hành những chính sách lớn về
đất đai... cần phải trưng cầu ý dân. Mặt khác, mỗi người dân cụ thể phải được
quyền sử dụng và hưởng lợi ích từ đất; người sản xuất nông, lâm, ngư, diêm
nghiệp được giao đất lần đầu không thu tiền sử dụng đất với diện tích phù hợp
từng địa phương hoặc được chuyển nhượng không phải nộp thuế; đồng thời phải có
nghĩa vụ đầu tư bồi bổ đất đai, bảo vệ và sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả.
Nhận thức rõ quan điểm đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý cần;
nâng cao tinh thần trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân, đưa việc quản lý,
bảo vệ và sử dụng đất đai vào quy chế chặt chẽ, khai thác tài nguyên đất hợp lý
và có hiệu quả, đáp ứng tốt yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
đô thị hóa, phát triển đất nước nhanh và bền vững.

