Thứ Tư, 5 tháng 10, 2022

Nhận diện, xử lý những “con rắn nước” trong tập thể

Quanh co, uốn khúc như con rắn nước là hình ảnh mà Lênin dùng để chỉ những người “trung bình chủ nghĩa”. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ rõ “trung bình chủ nghĩa” là một biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm chỉ đạo chống “trung bình chủ nghĩa” trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Từ năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp còn đầy khó khăn, gian khổ, Người đã dành thời gian viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Trong đó, Người phân tích hạng người “trung bình chủ nghĩa”: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: Hạng hăng hái, hạng vừa vừa, hạng kém. Hạng ở giữa nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn”. Người yêu cầu, không được lẫn lộn giữa yêu cầu “đoàn kết” và “đồng cam cộng khổ” khi tiến hành kháng chiến với tư tưởng “trung bình chủ nghĩa”. Người khẳng định: “Bình quân chủ nghĩa là gì? Là ai cũng như ai, bằng nhau hết. Ví dụ như, Bác yếu chỉ ăn ba bát cơm, chú khỏe cần nhiều hơn mà cũng chỉ ăn ba bát, chú lùn cũng đòi máy áo dài, Bác cao hơn cũng mặc áo dài như chú”. Trong công tác nhân sự, Bác phê bình: “tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm như nhau”. Về sau này, khi miền Bắc tiến lên xây dựng CNXH, Người có rất nhiều bài nói, bài viết phê phán tình trạng phân phối “cào bằng”, phê bình những người “mũ ni che tai” và phát động phong trào thi đua yêu nước trong tất cả lĩnh vực của đời sống. Người nhấn mạnh, thi đua “đua, đuổi, vượt nhau” giữa các cá nhân, tập thể chính là cách khắc phục tư tưởng “trung bình chủ nghĩa” tích cực và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, do nước ta duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đến nay tiến hành sự nghiệp đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong khi vẫn còn cơ chế xin-cho nên sức ỳ, tâm lý ỷ lại, dựa dẫm và cả tâm lý duy tình, truyền thống “đóng cửa bảo nhau” lẫn yêu cầu đoàn kết đã tạo ra những mảnh đất màu mỡ để tư tưởng “trung bình chủ nghĩa” tồn tại và phát triển. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích tác hại của tư tưởng “trung bình chủ nghĩa” trong công tác xây dựng Đảng nhằm kiến nghị những giải pháp xử lý “căn bệnh” này hiện nay. Đánh rắn nước cũng phải đánh dập đầu Lênin gọi những người “trung bình chủ nghĩa” là những con rắn nước, điều đó hẳn là có sự nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng. Theo ông Nguyễn Đình Hương, nguyên Phó trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương, “đánh rắn phải đánh dập đầu”, tức là phải xử lý những căn nguyên nảy sinh bệnh “trung bình chủ nghĩa”. Trước đây, trong phong trào công nhân thời kỳ Lênin thì những người “trung bình chủ nghĩa” đến từ giai cấp tiểu tư sản và một bộ phận công nhân thoái hóa, biến chất bị các ông chủ mua chuộc. Những người này tham gia phong trào công nhân nhưng thực chất họ không có lý tưởng, khát vọng, hoài bão đấu tranh cho công bằng, dân chủ của công nhân. Ngày nay, trong điều kiện Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, những người “trung bình chủ nghĩa” có xuất thân đa dạng, thuộc nhiều giai tầng khác nhau, nhưng điểm chung là họ không thực sự giác ngộ lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ tìm mọi cách để vào Đảng chẳng qua là để tìm đường mưu cầu danh lợi cho bản thân và gia đình. Giáo dục lý tưởng cách mạng và động cơ vào Đảng đúng đắn là vấn đề được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Nghị quyết Trung ương 7, khóa XII về công tác cán bộ đã đánh giá tình trạng “một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng” và “thiếu tính Đảng”, có nguyên nhân từ “công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức”. Thời gian tới là giai đoạn chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước xã hội chủ nghĩa, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau. Vì vậy, giải pháp hàng đầu được Nghị quyết Trung ương 7, khóa XII xác định là nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt và thực hiện nghiêm cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ, chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, nhất là cán bộ trẻ được đào tạo ở nước ngoài. Hiện nay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên rơi vào “trung bình chủ nghĩa” nhưng họ đang núp dưới những vỏ bọc an toàn với “kim bài miễn tử” mang tên “im lặng”. Họ là những người “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh” trong sinh hoạt Đảng. Đồng chí Mai Trực, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã nhận xét: “Tình trạng thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, “mũ ni che tai” nhiều khi lại được xem là phương châm xử lý khôn ngoan, thức thời. Không ít trường hợp vi phạm có nguyên nhân từ tình trạng vô trách nhiệm, thiếu công minh, khách quan của người có trọng trách”. Nhà báo lão thành Hữu Thọ, trong một bài báo đăng trên Báo Nhân Dân năm 2012 đã chỉ ra hiện tượng cán bộ, công chức “ngậm miệng ăn tiền” và cả “ngậm miệng không ăn tiền” với các mối quan hệ từ lợi ích đến đồng hương, bạn bè mà im lặng, bỏ qua không can gián, góp ý phê bình những sai sót của lãnh đạo. Ông nêu rõ “không ít người né tránh, chọn thái độ ngậm miệng, chọn cách yên phận trong canh bạc cơ hội. Những người suy thoái cho dù là một bộ phận không nhỏ thì cũng không phải là số đông. Kẻ nịnh hót, bợ đỡ tuy rất xấu nhưng không thể là đa số, cho nên số đông chọn thái độ cơ hội “im lặng” hoặc không nói, không bỏ phiếu thật lòng là “thói quen nguy hiểm, chết người” làm cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa thành công, chưa đạt yêu cầu”. “Nằm giữa hai chăn thì không bao giờ mất phần”, phương châm tưởng như “khôn ngoan” này của một bộ phận không nhỏ đảng viên hiện nay đang gây ảnh hưởng đến sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Giải pháp tỏ ra có hiệu quả để ngăn ngừa tình trạng này đã được nhiều cấp ủy, chi bộ trong toàn Đảng áp dụng là yêu cầu đảng viên bày tỏ chính kiến trong các buổi sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt kiểm điểm, đánh giá chất lượng đảng viên cuối năm. Đối với một số cấp ủy có số lượng ủy viên đông, đòi hỏi phải có thời gian sinh hoạt dài và công tác chuẩn bị công phu, chu đáo. Ban Tổ chức Trung ương đã ban hành Công văn số 3993-CV/BTCTW, ngày 10-11-2017 về việc kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên. Nhờ vậy, việc đảng viên thẳng thắn bày tỏ chính kiến trong hội nghị kiểm điểm cuối năm của tổ chức đảng tăng cao. Năm 2017, các cấp ủy đã gợi ý kiểm điểm đối với 11.005 tập thể (tăng 857 tập thể so với năm trước, trong đó có 33 tập thể thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý) và 27.868 cá nhân, tăng 1.770 cá nhân so với năm 2016. Đã có 244.998/247.691 tập thể và 4.401.230/4.499.674 đảng viên được kiểm điểm tự phê bình và phê bình. Những cá nhân, tập thể chưa được kiểm điểm chủ yếu là mới thành lập, sáp nhập, chia tách và đau ốm, đi học dài hạn, đi làm ăn xa, nghỉ chế độ thai sản... Trong báo cáo kiểm điểm tập thể, cá nhân và kết quả đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên năm 2017 gửi Ban Bí thư, Ban Tổ chức Trung ương nhận định: “Đa số cá nhân đã nghiêm túc đối chiếu với bản cam kết tu dưỡng, rèn luyện, liên hệ với 27 biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gắn với kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để kiểm điểm. Một số cá nhân đã tự nhận mức độ suy thoái ở một số biểu hiện về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Qua kiểm điểm, nhiều cá nhân đã nghiêm túc chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm, làm rõ nguyên nhân để đề ra kế hoạch, biện pháp khắc phục, sửa chữa”. Đặc biệt, để khắc phục bệnh “trung bình chủ nghĩa”, “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”, “nể nang, né tránh, ngại va chạm”, nhiều tổ chức đảng đã có những cách làm sáng tạo mới: Tỉnh ủy Trà Vinh đã cụ thể hóa 27 biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra, thành 82 biểu hiện chi tiết hơn để từng cấp ủy, chi bộ, đảng viên dễ nhận diện hơn. Kết quả kiểm điểm có tới 32,28% đảng viên nhận ra những biểu hiện suy thoái của mình để xây dựng kế hoạch khắc phục, sửa chữa. Tỉnh ủy Bắc Kạn thì cụ thể hóa từ 27 biểu hiện trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII thành 135 nội dung để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa. Tỉnh ủy Hà Giang ban hành Bộ công cụ đánh giá cán bộ, đảng viên thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII. Nhờ bộ công cụ chi tiết này, Hà Giang đánh giá có 29.370 lượt đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị; 14.418 lượt đồng chí có biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống; 5 đồng chí có biểu hiện “tự diễn biến”... Có thể nói, với quyết tâm chính trị rất cao từ Trung ương đến cơ sở, thời gian qua, Đảng ta đã tấn công quyết liệt vào căn bệnh “trung bình chủ nghĩa”. Qua đó, đã trả lời khá xác đáng câu hỏi lâu nay mà nhân dân đặt ra: Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là bao nhiêu? Họ là những ai? Điều quan trọng nhất, ngọn lửa “tự phê bình và phê bình” đã và đang thiết thực góp phần nâng cao sức chiến đấu cho đảng viên và các tổ chức đảng.

Không làm ngơ trước biểu hiện suy thoái “thích được đề cao, ca ngợi”

Cổ kim đông tây từng đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời người khác tâng bốc, tung hô, nịnh nọt mình thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn. Nếu thời xưa, người dân luôn “dị ứng” và oán ghét những tên quan nịnh thần làm nhiễu nhương triều chính, thì thời nay, chúng ta cũng không thể làm ngơ trước một bộ phận cán bộ, đảng viên “thích được đề cao, ca ngợi”-một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra. Từ những lời cảnh báo thói đời siểm nịnh của người xưa Nhìn lại lịch sử cho thấy, xu nịnh là cách sống “vào luồn, ra cúi” của một bộ phận quan nịnh thần trong các triều đại phong kiến thuở trước. Những kẻ nịnh thần này thường tài hèn đức mọn, nhưng lại khéo ăn khéo nói, biết vuốt ve, “vỗ về” vua chúa đúng lúc, đúng chỗ bằng những lời nói mỹ miều, ngọt ngào, cốt là để lấy lòng bề trên. Nếu bề trên (ông vua, bà chúa, ông quan) nào tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói xu nịnh vờ vĩnh, giả tạo thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của bậc quang minh chính đại, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng và nắm giữ nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, thậm chí “đắm chìm” trong những lời bợ đỡ, ton hót của những kẻ “ngồi lê đôi mách” thì dễ làm cho các mối quan hệ trong triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán. Danh nho Chu Văn An (1292-1370), một vị quan thanh liêm đời Trần, tận mắt chứng kiến cảnh nhiễu nhương, suy đồi từ trong triều chính có nguyên nhân sâu xa là do những quan nịnh thần gây ra. Vì vậy, Chu Văn An đã dâng “Thất trảm sớ”, đề nghị vua Trần Dụ Tông (1336-1369) xử chém 7 tên nịnh thần để góp phần lấy lại sự nghiêm minh trong vương triều và củng cố niềm tin cho thần dân. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An dù không được nhà vua chấp thuận, nhưng mãi là lời cảnh báo, cảnh tỉnh muôn đời đối với hậu họa khôn lường của thói gian thần, nịnh bợ. Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn. Khi thi đỗ đại khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái (1879-1954). Khi nhà vua đề nghị mỗi vị đề xuất góp ý kế sách để phục hưng quốc gia, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: “Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Bốn câu này được hiểu là: “Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp/ Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan/ Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh/ Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong”. “Tôn nịnh đại suy” hiểu rộng ra là bất cứ chỗ nào, thể chế nào, xã hội nào, nếu không loại bỏ mà lại coi trọng thói siểm nịnh thì sớm muộn chỗ đó, thể chế đó, xã hội đó cũng sẽ mục ruỗng, thối nát và đi đến bờ vực suy vong thảm hại. Đến căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi” trong một bộ phận quan chức thời nay Thực ra, đã sống trong cuộc đời này, ai cũng thích khen. Vì lời khen không chỉ là một trong những nghệ thuật giao tiếp để động viên, khích lệ nhau vươn lên trong cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục tinh tế, hiệu quả trong học tập, lao động, công tác. Nhưng điều quan trọng là phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, đúng đối tượng thì lời khen mới có giá trị. Còn nếu khen một cách tràn lan, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhất là cấp dưới thường xuyên dành cho cấp trên những lời “ngọt như mía lùi” thì đó không phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt, ton hót-một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đến nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hiện nay, nếu ai tinh ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc trò chuyện, có thể thấy một hiện tượng là quần chúng thích nói ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ trưởng... Trong giao tiếp đời thường là vậy và trong sinh hoạt đảng, chính quyền, đoàn thể cũng như vậy. Còn tồn tại hiện tượng trên một phần vì cấp dưới mang tâm lý cả nể những người có tuổi tác, chức sắc, vị thế công tác hơn mình; nhưng phần khác, cũng do tâm lý thích, thậm chí ham mê, ưa chuộng lời khen của những người có chức quyền. Mà khi cấp dưới khen thì nhiều khi là “khen cho được việc”, cố khen cho “mát mặt” cấp trên, chứ chưa hẳn là khen đúng lòng mình. Hay nói cách khác, đó là những lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” hơn là lời khen thật sự ý nghĩa. Không những vậy, một số quan chức còn lợi dụng báo chí, truyền thông để ca ngợi, tung hô mình vào những thời điểm "nhạy cảm", như: Đại hội, bầu cử, được bổ nhiệm chức vụ mới… Tinh vi hơn, có quan chức bỏ ra những khoản kinh phí “không hề nhỏ” để duy trì, “nuôi dưỡng” một bộ phận làm truyền thông chuyên nghiệp chỉ để “lăng xê”, đánh bóng tên tuổi cá nhân mình trong xã hội. Cán bộ, đảng viên cần giữ đạo khiêm nhường, tự trọng, cương trực Trong những năm tháng bao cấp, dư luận vẫn râm ran câu nói “Thật thà thường thua thiệt/ Lươn lẹo lại lên lương” nhằm ám chỉ những kẻ “mồm năm miệng mười", "đầu môi chót lưỡi” ngon ngọt với cấp trên thì dễ bề được ưu tiên thăng tiến, lên cấp, nâng lương. Nhưng cha ông ta cũng có câu “Mật ngọt chết ruồi” với hàm ý khuyên răn, cảnh tỉnh ai đó chỉ thích nghe những lời lẽ quyến rũ, giọng điệu ngọt ngào mà giả dối của người khác thì tự mình sa vào tình thế nguy hiểm lúc nào không hay. Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức quyền mà luôn sống, sinh hoạt, làm việc trong sự “bủa vây” của những lời khen hào phóng, mỹ miều, giả tạo của những người xung quanh và cấp dưới, thì theo ngày ngày, tháng tháng, họ rất dễ bị ảo tưởng về chính mình. Từ đó, những biểu hiện gia trưởng, quan liêu, độc đoán cũng sẽ dần “lớn lên” trong thái độ, tư tưởng, tính cách của họ. Đó cũng là tiền đề để hình thành, tạo ra “uy tín giả”-một “cái bẫy” có thể làm quan chức tự sụp đổ ngay dưới chân mình! Cổ kim đông tây đã đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời tâng bốc, tung hô, nịnh nọt thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn, thậm chí vùi dập những người cương trực. Thế nên, Tuân Tử-một trong những triết gia cổ đại lừng danh của Trung Quốc đã tự răn mình và cũng là nhắc nhớ các bậc quân tử đời sau: “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất lên án thói tâng bốc, xu nịnh. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10-1947, một trong những căn bệnh của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Bác sớm chỉ ra và cảnh báo là: “Bệnh xu nịnh, a dua; ưa người ta tâng bốc, khen ngợi mình”. Bác cũng phê phán những cán bộ, đảng viên sống ba phải, không có lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Những người như thế không xứng đáng là người lãnh đạo, dìu dắt, giáo dục quần chúng. Để không mắc vào “cạm bẫy” ưa xu nịnh và chữa trị được căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi”, một trong những việc cần làm hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải giữ gìn đức tính cương trực, tự trọng, khiêm nhường. Cương trực để không bị "mê hoặc" bởi “cái bả” ca tụng của nhiều cán bộ, nhân viên cấp dưới lúc nào cũng có thể “rót lời đường mật” vào tai mình. Tự trọng để biết phân biệt đâu là điều hay lẽ phải cần lắng nghe, coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần tránh xa, loại bỏ. Khiêm nhường để không tự ảo tưởng về mình mà luôn có ý thức học tập, rèn luyện, bồi đắp những phẩm chất giá trị tích cực, nhân văn, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân và sống giản dị, gần gũi với tập thể nơi công tác và với cộng đồng nơi cư trú. Một việc không thể không nhắc lại là các cấp ủy, tổ chức đảng nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng cần tiếp tục coi trọng và duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, mỗi người cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng thắn, công tâm, đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt; phê phán kịp thời cái xấu, cái sai; kiên quyết đấu tranh loại bỏ lề thói xu nịnh, a dua, “mũ ni che tai”, “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, góp phần vừa giữ vững và nâng cao kỷ cương, kỷ luật của tổ chức đảng, vừa xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp ứng xử lành mạnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.

TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH NHẰM “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” LỰC LƯỢNG VŨ TRANG HIỆN NAY

 

Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã đẩy mạnh chống phá hệ thống xã hội chủ nghĩa bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” thay cho biện pháp chiến tranh xâm lược không còn hiệu quả. Một trong các thủ đoạn mà họ sử dụng là đưa ra khẩu hiệu quân đội phải duy trì tính trung lập, nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang cách mạng, mà thực chất là tách quân đội, công an ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vô hiệu hóa vai trò của quân đội - lực lượng đi đầu, nòng cốt, kiên trung của Đảng, Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

CẢNH TỈNH, NGĂN NGỪA, BẢO VỆ ĐẢNG VIÊN TỪ SỚM, TỪ XA TRƯỚC KỶ LUẬT ĐẢNG

 

Vừa qua, tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Trung ương đã ban hành Quy định số 37, quy định 19 điều đảng viên không được làm, thay thế cho Quy định số 47 trước đó. Quy định số 37 với nhiều điểm mới, sửa đổi, bổ sung nhằm tăng cường công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; đồng thời tiếp tục là tiếng chuông cảnh tỉnh, góp phần ngăn ngừa và bảo vệ đảng viên từ sớm, từ xa trước kỷ luật Đảng.

MẠNG XÃ HỘI KHÔNG PHẢI LÀ CÔNG CỤ KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ, CHIA RẼ ĐOÀN KẾT

 

       Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, Internet và mạng xã hội đang tác động, ảnh hưởng ngày càng lớn đến mọi mặt đời sống xã hội. Chúng ta không phủ nhận những tiện ích to lớn mà mạng xã hội đem lại cho cộng đồng. Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại triệt để lợi dụng những ưu thế mà mạng xã hội đem lại để tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam.

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Internet đem lại những giá trị, lợi ích to lớn cho nhân loại cho nhân loại,theo số liệu thống kê của Digital, tính tới tháng 6-2021, số lượng người dùng Internet ở Việt Nam là gần 70 triệu người, tỷ lệ người sử dụng internet chiếm hơn 70,3% dân số (đứng thứ 16 thế giới về số lượng người sử dụng internet), trong đó có khoảng 94% người dùng các mạng xã hội.

NGỌN NÚI LỬA PHỦ TUYẾT!

      Nhiều học học giả phương Tây nói "Võ Nguyên Giáp là ngọn núi lửa phủ tuyết" bởi trước những tư duy chiến lược quân sự của ông có đến 12 Đại tướng và cấp tướng 2 cường quốc Pháp, Mỹ bại trận dưới mưu trí của ông.
     Đúng như thế, lịch sử đà ghi, nhân dân muôn đời ghi lòng tạc dạ Đại tướng - một vị thần tướng như Hưng Đạo Vương hay Quang Trung - Nguyễn Huệ trên lĩnh vực binh thao, chiến lược. 
     Thái Mai hay Mai Văn Nhuận, Trần Đức Trí, Van Thi Van (nghe, chỉ nghe và nghe dư luận đồn là nhóm của cựu nhà báo Đương Đức Quảng, sau khi ông Quảng chết 1 thời gian thì lắng xuống, nay chúng lại tiếp tục xuyên tạc???) tiếp tục cố tình viễn cảnh ra cái gọi là "mâu thuẫn nội bộ" giữa Đại tướng và TBT Lê Duẩn (chúng bịa ra thôi - chẳng có mâu thuẫn nào cả) để xuyên tạc, hạ bệ Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ là trò hề diễn lại cho những dòng liu điu sao có thể sánh cùng Long - Ly- Quy - Phượng!
     Mọi xuyên tạc về Đại tướng là vô nghĩa bởi dân người ta không thờ sai bao giờ. Nói như 1 nhà báo Việt Nam nói: "bọn phản động thường ném đá các lãnh tụ Việt Nam nhưng chúng không biết Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp là những ngọn núi, ném vào chỉ để ngọn núi thêm cao!"
     Đúng như thế, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nguyên khí quốc gia của thao lược quân sự, là hiện thực hóa tư tưởng, nghệ thuật chiến tranh nhân dân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông thật sự là ngọn núi lửa phủ tuyết của dân tộc Việt Nam hễ có xâm lăng, nó lại trào dung nham diệt trừ bọn chúng. Những kẻ xuyên tạc ông chỉ là những bóng ma vô chủ!

Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ TÁCH RỜI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN!

     Gần đây, âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng của các thế lực thù địch. Xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; có quan điểm thừa nhận lịch sử nhưng lại phủ nhận giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin... Đặc biệt, những luận điểm cố tình tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin.
     Thực tế đã và đang khẳng định bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam.
     Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt “hòn đá tảng” những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý mọi việc. Những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng nằm trong những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những cống hiến đó có được trước hết do Người đã nắm được bản chất cốt lõi, “linh hồn sống” trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin là phép biện chứng duy vật.
     Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng. Vì thế, không thể tách rời mối quan hệ vốn có giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại. Cũng không thể đề cao hoặc tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như bằng cách này hay cách khác lại phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin./.


Yêu nước ST.

HÀN QUỐC CẦN GỠ BỎ PHIM LITTLE WOWEN - HÀN QUỐC TỪNG LÀ CHƯ HẦU CỦA MỸ, XÂM LƯỢC VÀ GÂY TỘI ÁC TẠI VIỆT NAM!

         Chiều tối ngày 04/10, Cục trưởng Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cho biết, đã có văn bản ngày 03/10 yêu cầu Netflix gỡ phim "Little Wowen" (tựa Việt: "Ba chị em") khỏi kho ứng dụng ở Việt Nam. Đây là bộ phim xuyên tạc lịch sử Việt Nam, làm tổn thương và khơi gợi ra nỗi đau của những nạn nhân từng bị quân lính Đại Hàn thảm sát trong cuộc chiến tại Việt Nam. Bên cạnh đó còn hạ thấp, bịa đặt và xúc phạm những chiến sĩ quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Cụ thể trong tập 5, phim ca ngợi một vị tướng Hàn Quốc từng tham gia trong đội quân chư hầu của Mỹ, xâm lược và gây tội ác tại Việt Nam như một vị anh hùng khiến người dân cần phải ghi nhớ, biết ơn. Trong phim, ca ngợi lính Park Chung Hee hùng mạnh đến mức có thể dễ dàng hạ gục 20 và thậm chí là 100 lính Việt Cộng…rõ ràng bộ phim xuyên tạc lịch sử, kích động hận thù, khơi lại nỗi đau của người Việt Nam. 
     Hàn Quốc đã làm giàu trên xương máu người Việt Nam, đó là sự thật lịch sử. Để lấy lòng người Mỹ, Tổng thống Park Chung Hee hăm hở đề nghị Mỹ cho gửi quân Nam Hàn tới miền Nam Việt Nam ngay từ 1961, nhưng Washington từ chối. Tuy vậy đến 1965, chính quyền John Son trở nên rất mong có lính đồng minh để chứng tỏ "chính danh" tại Việt Nam, lừa bịp thế giới về cái gọi là "giúp đỡ đồng minh VNCH", che giấu bản chất xâm lược Việt Nam của họ. Vì thế Hoa Kỳ đã kêu gọi quân chư hầu tham chiến.  
     Về lợi ích kinh tế cho Hàn Quốc từ 1965 tới 1972, nhiều người ước tính Hàn Quốc nhận được ít nhất 1 tỉ USD từ Hoa Kỳ. Số tiền này giúp Park Chung-hee thực hiện kết hoạch 5 năm hỗ trợ ngành công nghiệp hướng tới xuất khẩu. Mỹ cũng cho phép các công ty Hàn tham gia đấu thầu các mặt hàng cung cấp cho lính Mỹ ở Việt Nam. Nghĩa là người Hàn trực tiếp nợ máu với nhân dân Việt Nam và làm giàu trên xương máu của người Việt Nam.
     Hiện nay, quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc ngày càng trở nên nồng ấm hơn, sâu rộng hơn trên nhiều lĩnh vực. Thế nhưng đó không có nghĩa là người Việt Nam quên đi quá khứ đau thương của dân tộc, quên đi tội ác mà Quân đội Hàn Quốc đã gây ra cho nhân dân Việt Nam. Vì đại cục, vì hoà bình và phát triển nên người Việt Nam khép lại quá khứ với các cựu thù, giao hảo vì mục đích xây dựng đất nước gấm hoa và phồn thịnh. Thế nhưng không ai được phép xúc phạm những giá trị của lịch sử. Đừng kích động hận thù, động vào vết thương của người Việt!
     Lực lượng quân sự Hàn Quốc dưới chế độ độc tài Park Chung Hee đã tham gia và gây nhiều tội ác trong cuộc chiến xâm lược do Mỹ tiến hành tại Việt Nam. Theo giáo sư người Hàn Quốc Heonik Kwon, tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam, đã có trên 43 vụ thảm sát đẫm máu do binh lính Hàn Quốc thực hiện tại Việt Nam được ghi nhận, trong đó có ít nhất 13 vụ giết trên 100 người. Hàng chục ngàn người ở các tỉnh Nam Trung Bộ là nạn nhân của các cuộc thảm sát tàn bạo, phi nhân tính của lính Đại Hàn. Thù này muôn kiếp không quên! 
     Người Hàn Quốc mang hơn 300.000 quân theo gót ông chủ Mỹ vào miền Nam Việt Nam, tàn sát người vô tội và chính họ bị người Việt Nam tiêu diệt khi Quân đội nhân dân Việt Nam ra quân để xé xác RỒNG XANH, phanh thây MÃNH HỔ. Trận Quang Thạnh, Quân đội Đại Hàn đã bị khai tử 500 tên. Trong 10 năm tham gia gây tội ác, có hơn 6.000 lính Đại Hàn bị tiêu diệt tại trận, gần 15.000 tên bị tàn phế suốt đời, hàng ngàn người từng gây tội ác bị điên loạn, trầm cảm...
     Park Chung Hee là tên Tổng thống khát máu, vì mục đích phát triển kinh tế mà hắn ta sẵn sàng lấy máu xương của người Việt Nam làm vật đổi chác. Lấy cả mạng của thanh niên Hàn Quốc để phục vụ mục đích này. Hàn Quốc phát triển như hôm nay là có một phần máu xương của người Việt. Cánh chóp bu Hàn Quốc chưa bao giờ xin lỗi Việt Nam dù cho 77,9% người Hàn Quốc được hỏi đồng ý yêu cầu Chính phủ họ xin lỗi Việt Nam. Người Hàn Quốc đang nợ chúng tôi rất nhiều, không bao giờ trả được.
     Nếu Quân đội Hàn Quốc thật sự hùng mạnh như các bạn nói. Vậy tại sao đất nước các bạn không tự bảo vệ được chính mình mà phải thuê người Mỹ bảo vệ. Chấp nhận trả 5 tỷ USD mỗi năm và để 28.500 quân thường trực Hoa Kỳ trên lãnh thổ của mình? Tại sao lại chấp nhận lấy phẩm giá của phụ nữ Hàn Quốc mua vui cho lính Mỹ để đổi lấy bình yên? Hùng mạnh thế sao ngày càng có nhiều con lai, là kết quả của sự đánh đổi mà người Hàn Quốc phải làm chấp nhận trước Hoa Kỳ? Dòng máu thuần Triều Tiên còn lại bao nhiêu phần trăm sau vài chục năm nữa ở xứ Kim Chi? Hay giấc mơ của các bạn là xây dựng một quốc gia thuần máu Tây giữa trời Á Đông?
     Không làm chủ được vận mệnh của mình, phải dựa sức người khác thì khoe khoang làm gì, chỉ rước tủi nhục vào thân. Bắc Triều Tiên sẽ duyệt binh ở Seoul sau vài tuần khai chiến nếu Hàn Quốc tự lực và không nhờ Mỹ. Người Việt Nam có niềm vui thống nhất nhưng các bạn thì không. Đừng kích động thù hận, động vào vết thương lòng của người Việt Nam. Càng rêu rao, các bạn lại thêm phần dằn vặt, nhục nhã.
     Hiện nay Việt - Hàn có mối quan hệ hợp tác tốt đẹp, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần bình đẳng, cùng có lợi. Khép lại quá khứ để hướng đến tương lai nhưng chúng ta không thể nào quên tội ác của lính Hàn Quốc ở Việt Nam. Chúng ta không khơi thù hận nhưng cũng đừng nên quên quá khứ đau thương của dân tộc./.

Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VIỆC XỬ LÝ KỶ LUẬT ĐẢNG

 Có thể dễ dàng nhận thấy, mỗi lần cơ quan chức năng công bố việc xử lý, kỷ luật đối với tổ chức Đảng hoặc cán bộ, đảng viên có sai phạm, lập tức lại xuất hiện những tiếng nói ngược dòng, hằn học của những phần tử phản động, thù địch, cố tình xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta, thành tựu phát triển của đất nước ta, gây mất niềm tin trong nhân dân. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, trước thềm Đại hội lần thứ XIII của Đảng, những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch càng trở nên điên cuồng, nham hiểm; cần hết sức cảnh giác, tỉnh táo.

Trong lịch sử 90 năm rèn luyện phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, Đảng ta đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ, coi đó chính là khâu "then chốt của nhiệm vụ then chốt". Công tác xây dựng Đảng được thực hiện thường xuyên, liên tục, trên cả hai mặt "xây" và "chống", trong đó "xây" là cơ bản, lâu dài, "chống" là quan trọng, cấp bách. Hai nhiệm vụ này luôn song hành, kết hợp nhuần nhuyễn nhằm làm trong sạch đội ngũ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng.

Thực tế cho thấy, những hành động cụ thể, kiên quyết xử lý các cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, có hành vi sai phạm, đặc biệt là cán bộ cấp cao đã góp phần nâng cao uy tín của Đảng, Nhà nước, củng cố niềm tin trong nhân dân. Cách đây 70 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh dù rất đau lòng song vẫn quyết định bác đơn xin ân xá án tử hình của Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu, do vi phạm nghiêm trọng kỷ luật quân đội và kỷ luật của Đảng, thể hiện quyết tâm chống tham nhũng của chính quyền non trẻ.

Suốt 75 năm qua, từ khi nước nhà độc lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang. Đất nước không ngừng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, thế và lực ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Bên cạnh những thành tựu to lớn còn không ít tồn tại, hạn chế nảy sinh. Trước tác động mặt trái của cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có chức quyền nhưng thoái hóa, biến chất, bị lợi ích tiền tài làm mờ mắt đã "tranh tối tranh sáng", dần đi vào con đường sa ngã.

Đảng ta đã nhận diện tình trạng trên và chỉ rõ ba vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thật tốt. Trước hết là kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng.

Đảng, Nhà nước đều thể hiện rõ quan điểm, quyết tâm không bao che, dung túng, tiếp tay cho những cán bộ, đảng viên đi ngược lại lời hứa trước Đảng. Thông điệp đó được thể hiện rất rõ trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng. Tại phiên họp thứ 18, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng khẳng định: Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng không chững lại, không chùng xuống, ngược lại ngày càng quyết liệt, hiệu quả, có sức răn đe lớn. Công tác điều tra, truy tố, xét xử được chỉ đạo quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, rất nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn. Đó là quyết tâm rất lớn, nỗ lực rất cao, là sự đồng lòng nhất trí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực liên quan đến cán bộ cấp cao trong hệ thống chính trị đã bị đưa ra xét xử thời gian qua, như vụ "Vi phạm quy định về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng; đưa hối lộ, nhận hối lộ" xảy ra tại Tổng công ty Viễn thông Mobifone; vụ án "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; Vi phạm các quy định về quản lý đất đai; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" xảy ra tại Công ty Hải Thành, liên quan đến thửa đất số 7-9 Tôn Đức Thắng, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh; vụ án "Vi phạm các quy định về quản lý đất đai; Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí" xảy ra tại Đà Nẵng…

Quyết tâm chỉnh đốn Đảng, thể hiện nghiêm minh thượng tôn pháp luật có thể thấy rất rõ trong những năm gần đây. Hàng loạt vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý, nhất là những vụ án nghiêm trọng được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử, bước đầu khắc phục tình trạng án treo về tội phạm tham nhũng; từng bước chú trọng công tác thu hồi tài sản tham nhũng. Gần 200 đảng viên, kể cả người giữ cương vị cấp cao của Đảng, do tham nhũng, cố ý làm trái bị xem xét xử lý nghiêm minh, cả về kỷ luật Đảng và xử lý trách nhiệm hình sự. Chỉ 6 tháng đầu năm 2020, các cơ quan tố tụng, thi hành án dân sự trong cả nước đã thu hồi trên 37.000 tỷ đồng. Riêng các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đã thu hồi, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, ngăn chặn tẩu tán tài sản trị giá trên 11.700 tỷ đồng và nhiều tài sản, bất động sản có giá trị khác…

Những tập thể, cá nhân có sai phạm dù chỉ là những "con sâu làm rầu nồi canh", dù là số ít, là cá biệt, cũng không thể qua loa mà phải xử lý thật nghiêm, thật công bằng. Nói về việc xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên vi phạm, Tổng Bí Thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: "Thật đau xót, nhưng không thể không làm, không có cách nào khác! Tất cả là vì sự nghiệp chung của Đảng, của đất nước, của nhân dân". 

Mới đây, Đảng ta quyết định thi hành kỷ luật đối với một số cán bộ đương chức, là cán bộ cấp cao của Đảng, người đứng đầu ban, ngành, địa phương hết sức trọng yếu của đất nước, càng thể hiện quyết tâm chấn chỉnh đội ngũ, ngăn chặn và xử lý thích đáng mọi hành vi vi phạm, làm tổn hại lợi ích của đất nước, nhân dân, trái với tôn chỉ, mục đích của Đảng. Việc xử lý nghiêm minh những cán bộ sai phạm, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật Đảng, đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình ủng hộ, nhất trí cao. Cùng với thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, đào tạo bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, việc thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, bảo đảm công bằng, nghiêm minh với bất kỳ ai có vi phạm, góp phần nâng cao sức chiến đấu, giữ gìn uy tín, sự trong sạch của Đảng, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng. 

Vậy mà, lại có những luận điệu cố ý xuyên tạc, đánh đồng công tác kỷ luật Đảng, gán ghép một cách thô thiển, trắng trợn việc xử lý các vụ án tham nhũng, tiêu cực với việc thanh trừng, đấu đá nội bộ, phe cánh chính trị. Với việc xử lý một số cán bộ, đảng viên sai phạm, các thế lực chống phá cố tình quy chụp đó là "sự thất bại nặng nề của công tác nhân sự mà Đảng Cộng sản lãnh đạo"; nguyên nhân là bởi "Đảng Cộng sản thiếu năng lực". Rồi bọn chúng quy kết một cách vô căn cứ rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam không thể phòng, chống được tham nhũng". 

Không khó để nhận ra đó là những tiếng nói lạc lõng, cố tình bóp méo sự thật, xuyên tạc công tác kỷ luật của Đảng, làm sai lệch bản chất sự việc, quy chụp nguyên nhân và phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ. Ý đồ sâu xa là cố tình bôi đen, gây nhiễu loạn nhận thức, tư tưởng, chỉ thấy tiêu cực, mặt xấu, sự yếu kém, hư hỏng, thoái hóa, biến chất, từ đó thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong nội bộ cán bộ, đảng viên; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào thể chế chính trị, vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Tột cùng thâm hiểm, bọn chúng hòng âm mưu hạ ấp uy tín của Đảng, phá hoại đoàn kết trong Đảng, gây mất ổn định chính trị. 

Thực tế là, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua, trong đó có việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, có hành vi sai phạm, đặc biệt là cán bộ cấp cao, đã góp phần nâng cao uy tín của Đảng, Nhà nước, củng cố niềm tin trong nhân dân. Sau 90 năm thành lập Đảng, 75 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, những thành tựu mà toàn Đảng, toàn dân và quân ta đạt được là hết sức to lớn, có ý nghĩa lịch sử, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã đúc kết: "Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế như ngày nay”. Đó chính là nền tảng vững chắc, củng cố và tăng cường niềm tin vững chắc của nhân dân đối với Đảng.

LẠC PHONG

 Ngày 16-9, Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương nhiệm kỳ 2020-2025; đình chỉ sinh hoạt đảng, đình chỉ các chức vụ trong Đảng và trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, thi hành kỷ luật đối với ông Phạm Xuân Thăng, Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương. Sau đó 1 ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ra các quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với ông Phạm Xuân Thăng để phục vụ điều tra, làm rõ hành vi “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” quy định tại khoản 3 Điều 356 Bộ luật Hình sự.

Việc xem xét xử lý đối với cán bộ, lãnh đạo vi phạm đã được các cơ quan chức năng triển khai một cách đồng bộ. Đồng thời, thông qua việc xử lý người đứng đầu Tỉnh ủy Hải Dương nhiệm kỳ 2020-2025, một lần nữa chúng ta thấy rõ công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta đang được tiến hành hết sức quyết liệt, nghiêm khắc, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá đất nước, các đối tượng xấu, chống đối lại cố tình xuyên tạc, bẻ lái, đánh võng thông tin, rêu rao cho rằng “Việt Nam càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng nhiều”. Và từ đây, một lần nữa các đối tượng làm “nóng” dư luận, tái diễn luận điệu quy chụp cho rằng “tham nhũng là do thể chế chính trị một Đảng cầm quyền gây ra”, “Việt Nam không bao giờ có thể chống tham nhũng thành công nếu không thay đổi chế độ”. Bằng những thông tin này, các đối tượng xấu đã lừa dối người dân về tình hình tham nhũng hiện nay; phủ nhận những kết quả tích cực Việt Nam đạt được trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kích động sự hoài nghi, thiếu niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực, xâm phạm đến nguồn lực quốc gia, làm lung lay niềm tin của nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, tác động tiêu cực đến sự ổn định và an ninh xã hội, gây tổn hại đến phát triển bền vững của chế độ. Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định tham nhũng là “giặc nội xâm” nguy hiểm và kiên quyết đấu tranh với tất cả hành vi tham nhũng, tiêu cực. 

Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (năm 2012) đã quyết định chủ trương thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do Tổng Bí thư làm Trưởng ban chỉ đạo. Trong 10 năm từ thời điểm Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được thành lập, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 7.390 đảng viên do tham nhũng; Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra 19.546 vụ/ 33.868 bị can về các tội kinh tế, tham nhũng, chức vụ.

Để đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên cả nước, bảo đảm “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thông qua chủ trương thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, có 50 cán bộ diện Trung ương quản lý bị xử lý kỷ luật, trong đó có 8 ủy viên, nguyên ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang; cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ/7.572 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ.

Việc đẩy mạnh xử lý hành vi tham nhũng nêu trên không phải là “càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng nhiều”, “Việt Nam không bao giờ có thể chống tham nhũng thành công” như luận điệu các đối tượng xấu, cơ hội chính trị cố tình lan truyền. Những số liệu nêu trên là các “con số biết nói” thể hiện công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta đạt được những kết quả hết sức quan trọng và đang đi đúng hướng. Trả lời câu hỏi vì sao số vụ việc, vụ án tham nhũng bị đưa ra xử lý thời gian qua gia tăng, chúng ta cần có cái nhìn khách quan, toàn diện.

Đó là do việc đấu tranh, xử lý tham nhũng được thực hiện kiên quyết, không có chuyện “hạ cánh an toàn”. Rất nhiều vụ việc, vụ án sai phạm xảy ra cách đây đã lâu nhưng đến hiện tại, khi đủ căn cứ chứng minh sai phạm vẫn đưa ra xử lý theo quy định. Đơn cử, trong vụ án “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” liên quan đến sai phạm mua nguyên liệu sản xuất thuốc Tamiflu và thuốc có hoạt chất Oseltamivir phosphate phòng, chống dịch cúm A/H5N1 vào năm 2006, cựu Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang mặc dù đã nghỉ hưu từ năm 2013 nhưng đến cuối tháng 12-2021 vẫn bị Ban Bí thư cách chức tất cả chức vụ trong Đảng do buông lỏng lãnh đạo, thiếu trách nhiệm, kiểm tra. Tiếp đó, đến tháng 3-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố, bắt tạm giam bị can đối với ông Quang.

Mặc dù công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng rất quyết liệt nhưng “một số trường hợp chưa biết sợ”, tình hình tham nhũng vẫn đang có những diễn biến phức tạp. Vì vậy, phải “xử lý một vụ để răn đe, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực”. Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta thẳng thắn chỉ rõ: “Tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi. Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”. Để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước, chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa công tác đấu tranh chống tham nhũng, bảo đảm phòng, chống tham nhũng được triển khai đồng bộ, toàn diện, đi vào chiều sâu, với quyết tâm chính trị rất cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Tham nhũng tồn tại ở tất cả quốc gia trên thế giới. Nằm trong nỗ lực phòng, chống tham nhũng trên toàn cầu, Công ước Liên hợp quốc về phòng, chống tham nhũng năm 2003 khẳng định: “Ngăn ngừa và xóa bỏ tham nhũng là trách nhiệm của các quốc gia và rằng các quốc gia phải cùng nhau hợp tác, với sự hỗ trợ và tham gia của các cá nhân và các nhóm ngoài khu vực công như xã hội dân sự, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức cộng đồng nếu nỗ lực của họ trong lĩnh vực này có hiệu quả”. Do vậy, những thông tin, luận điệu, quan điểm đổ lỗi cho rằng “tham nhũng là do thể chế chính trị một Đảng cầm quyền gây ra”, “Việt Nam không bao giờ có thể chống tham nhũng thành công nếu không thay đổi chế độ” là hoàn toàn sai sự thật, vô căn cứ, cần phải kiên quyết loại bỏ.

LẠC PHONG

suy ngẫm

 Một thực tế không thể phủ nhận đó là kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng (XD,CĐĐ) đạt được trong thời gian qua không những được cán bộ, đảng viên và nhân dân ta ghi nhận, đánh giá cao mà còn khẳng định XD, CĐĐ là vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược để Đảng ta có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, các thế lực thù địch phớt lờ điều ấy, chúng còn ra sức công kích vấn đề có tính nguyên tắc và chiến lược này.

 Lạc Phong

NGHIÊN CỨU, TRAO ĐỔI: HỌC NGHỊ QUYẾT, PHẢI HỌC THẬT!

     Không khó để bắt gặp những câu chuyện đáng trách, đáng buồn nhưng ít người dám lên tiếng phản ánh, đấu tranh. Ví như khi nhận kế hoạch học tập nghị quyết, không ít cán bộ thở dài, tỏ ra mệt mỏi “khổ nhỉ, lại học nghị quyết!”.
     Tại các buổi quán triệt tập trung, vài cá nhân hồn nhiên “đi ra, đi vào”, “nghịch” điện thoại, ngủ gật; lại có cán bộ dự một lúc, rồi viện lý do “chính đáng” để về trước... Đặc biệt, khi tiến hành kiểm tra kết quả học tập nghị quyết, vẫn có cán bộ, đảng viên chủ ý cậy nhờ đồng chí, đồng nghiệp chép hộ thu hoạch...
     Những câu chuyện trên cho thấy, hiện nay, nhiều cán bộ, đảng viên chưa xác định rõ trách nhiệm học tập nghị quyết. Ở nhiều nơi, cán bộ quen cách nghĩ “học xong là xong”... mà chẳng buồn bàn thảo, tư duy về giá trị, tinh thần hay nội dung nghị quyết cần vận dụng vào tổ chức mình, bản thân mình trong thời gian tiếp theo. Đây thực sự là một thực tế đáng báo động!
     Sự nguy hại nằm ở chỗ, Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và toàn xã hội bằng nghị quyết. Ấy vậy mà việc học nghị quyết lại bị xem nhẹ, hời hợt, hình thức... thì tinh thần, nội dung nghị quyết liệu có thấm, ngấm vào cán bộ, có đi vào thực tiễn? Hay nghị quyết một đằng triển khai một nẻo? Nghị quyết đúng, triển khai sai?
     Nguyên nhân của thực trạng trên được ngụy biện rằng, học nghị quyết vốn là nội dung “khô, khó, khổ”; trong khi có quá nhiều nghị quyết phải học tập và việc cân đối thời gian giữa họp hành, công tác với học nghị quyết thường chồng lấn, gây khó cho cán bộ, đảng viên.
     Thực chất, đó là những lời chống chế. Học tập nghị quyết là một chế độ bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên. Điều đáng bàn là cách thức tổ chức vẫn chưa được đổi mới căn bản mà chỉ theo lối cũ; các chế tài, quy định trong tổ chức học tập nghị quyết thiếu toàn diện, chưa tròn khâu. Gần như ở nhiều nơi, sau học tập thì đương nhiên kết quả là 100% khá, giỏi mà “bỏ quên” cả tính thực chất, khách quan trong đánh giá, kiểm tra. Hơn thế, cũng ít thấy tổ chức đảng mạnh tay xử lý cán bộ, đảng viên vì rơi vào các biểu hiện xem nhẹ, lười học, vi phạm quy chế hoặc kết quả học tập thấp kém. Mặt khác, kết quả học tập nghị quyết cũng chưa “hiện thực hóa” như một tiêu chí, căn cứ xem xét, đánh giá cán bộ, đảng viên theo quy định của cơ quan chức năng.
     “Lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng...” chính là một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng xác định. Theo đó, một khi cán bộ, đảng viên rơi vào biểu hiện suy thoái này thì phải có cơ chế, chế tài xử lý nghiêm túc, triệt để, không có vùng cấm theo kỷ luật Đảng. Phải xem biểu hiện suy thoái này là mối nguy hại đặc biệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả, hiệu lực lãnh đạo của Đảng.
     Nhiều ý kiến cho rằng, đã là học tập nghị quyết thì cần phải bảo đảm các khâu, các bước, các nhân tố của quá trình “dạy” và “học”. Theo đó, người quán triệt, báo cáo chuyên đề nghị quyết cần được lựa chọn kỹ lưỡng-phải là cán bộ thực sự có trình độ, năng lực, uy tín và hiểu sâu sắc về nghị quyết. Nội dung học tập cũng được lựa chọn, khu biệt hoặc lược hóa những vấn đề cần thiết, sát với nhiệm vụ từng cơ quan, địa phương, đối tượng. Phương pháp, hình thức cần được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực của đối tượng; chủ yếu trang bị các vấn đề cơ bản và định hướng nghiên cứu tiếp theo...
     Đặc biệt, công tác tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng tổ chức học tập nghị quyết phải được xem là khâu quan trọng. Không nên đơn thuần phân cấp tổ chức học tập mà cần có sự đan chéo kiểm tra theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang; kết hợp với việc tổng kết, đúc rút mô hình tổ chức học tập nghị quyết hiệu quả để nhân rộng, phổ biến kinh nghiệm. Kết quả học tập nghị quyết không nên gò ép, giao khoán chỉ tiêu một cách xơ cứng mà cần bám sát thực tế, đánh giá nghiêm túc, thực chất thì mới nêu cao tinh thần, trách nhiệm của đối tượng.
     Để giải quyết thấu đáo những phần việc nêu trên, rất cần sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cơ quan chức năng Trung ương và hệ thống tổ chức đảng các cấp. Có như vậy thì nghị quyết mới sớm đi vào cuộc sống, mà trước hết là đi vào khối óc, tâm huyết, trí tuệ của đội ngũ cán bộ, đảng viên-những người gánh sứ mệnh lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

CHỈNH ĐỐN ĐẢNG KHÔNG PHẢI LÀ “VỞ TUỒNG”!

         Những năm vừa qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được Đảng ta thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh, đủ năng lực và uy tín lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thành tựu đó được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ghi nhận, thêm tự hào, tin tưởng và được dư luận quốc tế đánh giá cao.
     Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã và đang tìm mọi cách phá hoại những thành công của Đảng ta. Chúng phủ nhận kết quả, bóp méo, xuyên tạc sự thật công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho rằng đó là những việc làm vô ích, không hiệu quả, thậm chí là thủ đoạn dùng để đấu đá nội bộ, triệt phá nhau hoặc bao che cho nhau mà thôi. Ví dụ như tháng 9-2022, Thoibao News cho rằng, chỉnh đốn đảng ở Việt Nam là “Vở tuồng đang diễn ra ở Việt Nam”.
     Nhưng sự thật những gì mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm được và thực tiễn đang diễn ra của cách mạng Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu sai trái mang tính xuyên tạc, vu khống, chống phá của kẻ xấu. 
     Chúng ta hãy cùng tìm hiểu một số nội dung mà Thoibao News đưa ra để chứng minh cho sự sai trái, thủ đoạn xấu xa, hành vi chống phá thâm độc, trắng trợn đó. Thoibao News cho rằng: chỉnh đốn Đảng chỉ là kịch bản chứ không phải là chủ trương và “Vở kịch này ngày càng dở”. Trong khi ngay từ rất sớm, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta đã rất chú ý đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Năm 1925, trước khi Đảng ra đời, Hồ Chí Minh đã xác định rõ vai trò của Đảng, yêu cầu Đảng phải vững mạnh để lãnh đạo cách mạng thắng lợi: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy”. Còn trong Di chúc, Hồ Chí Minh viết: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất trong Đảng”.
     Không ai có thể phủ nhận được sự thật: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn luôn là nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta.
Hơn 92 năm qua, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên của Đảng. Trong quá trình trưởng thành, phát triển, Đảng luôn có đường lối, chủ trương, chính sách và biện pháp thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Năm 1939, trong tác phẩm “Tự chỉ trích”, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã nhấn mạnh tinh thần tự phê bình và phê bình trong Đảng, xác định: “Phê bình Đảng là để thống nhất tư tưởng, để rèn luyện mình, để đề cao uy tín và ảnh hưởng của Đảng, nhằm làm cho Đảng ngày càng mạnh và cách mạng ngày càng phát triển. Muốn vậy, phê bình phải nắm vững mục đích xây dựng Đảng, xây dựng đồng chí mình, không được đả kích hoặc cường điệu những sai lầm khuyết điểm của đồng chí mình”. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ cũng chỉ rõ: Đảng có trách nhiệm không bi quan, hoảng hốt, không đắc chí, tự mãn mà phải phân tích xác thực hoàn cảnh để tìm ra nguyên nhân thất bại và nghiên cứu phương pháp sửa chữa và tiến thủ.
     Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới đất nước, chỉ tính từ Đại hội Đảng lần thứ XI đến nay, Đảng ta đã có Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII và khóa XIII với nhiều giải pháp, cách làm về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tháng 10-2021, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã đánh giá: “Năm năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, quyết liệt, thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm của các cấp ủy, tổ chức đảng, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, thực sự đi vào cuộc sống, có nhiều bước đột phá quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ”. Ban Chấp hành Trung ương cũng đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thông chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, Trung ương cũng ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm với nhiều điểm mới nổi bật so với Quy định trước đó. 
     Điều đáng phấn khởi là những chủ trương, biện pháp, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được thực hiện thành công và đem lại hiệu quả thiết thực trên thực tế. Xin nêu thực tế trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Ngày 30-6-2022 đã diễn ra Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong giai đoạn từ 2012 đến 2022. Phát biểu tại Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Công tác đấu tranh, phòng chống tham nhũng đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể, rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, và thực sự “đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược”, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận”. 
     Cũng cần biết rõ thêm: Thoibao News còn cho rằng: “Lãnh đạo Việt Nam có vấn đề cả về thấy và nghe”. Nhưng với việc không thấy, không nghe những thực tiễn tốt đẹp đang diễn ra ở Việt Nam rồi cố tình nói bậy bạ thì chính Thoibao News mới có vấn đề và vấn đề rất nặng về thấy và nghe. Đó chỉ có thể là sự thấy và nghe của những kẻ chuyên xuyên tạc, chống phá, đi ngược lại sự thật.
Như vậy, chúng ta có đủ cơ sở để thấy rõ: xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã và đang là sự thật thắng lợi của Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không phải “vở tuồng” như Thoibao News xuyên tạc, vu khống. Chỉ có Thoibao News và những kẻ phá hoại đã và đang cố tình diễn tuồng một cách trơ trẽn, lố bịch trước thực tế công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và sự phát triển tốt đẹp của cách mạng Việt Nam mà thôi.
     Xin kết thúc bài viết này bằng lời phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành mới đây, tuyệt đại đa số ý kiến của người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; khiến cho mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực xấu, thù địch đều trở nên trơ trẽn, nực cười”!./.


Yêu nước ST.

Quản lý hoạt động tôn giáo trên không gian mạng

Quản lý hoạt động tôn giáo trên không gian mạng

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, hoạt động tôn giáo trên mạng xã hội ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, bên cạnh những hoạt động của các tổ chức, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, đã xuất hiện những cá nhân, tổ chức hoạt động, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo bất hợp pháp. Thực trạng này đặt ra cho công tác quản lý nhà nước những vấn đề mới, đòi hỏi phải có lộ trình và chiến lược để giải quyết.

Việt Nam hiện có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo; có 16 tôn giáo với 43 tổ chức được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động với hơn 27 triệu tín đồ (chiếm khoảng 28% dân số cả nước), trên 55.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự(1). Trước sự phát triển như vũ bão của “cuộc sống số”, hoạt động tôn giáo trên không gian mạng là một trong lĩnh vực nhạy cảm mà các đối tượng phản động, chống phá luôn tận dụng, lợi dụng nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ Đảng với nhân dân...

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”

Có thể nói, mạng xã hội đã và đang có sức ảnh hưởng to lớn đến việc thực hành đức tin tôn giáo cũng như việc tổ chức hoạt động của các tín đồ và tổ chức tôn giáo. Với lượng thông tin truyền tải lớn, sức lan toả nhanh, cách thức đa dạng, phong phú; không bị hạn chế về phạm vi không gian, thời gian cũng như số lượng người tham gia... nên việc khai thác, sử dụng mạng xã hội để “sinh hoạt tôn giáo online” được các cá nhân, tổ chức tôn giáo cả ở trong nước và nước ngoài đặc biệt quan tâm, chú trọng thông qua các hình thức như: diễn đàn, hội thảo online; các nhóm kín; lập các Website, Facebook Fanpage, Zalo, Telegram, Instagram, Lotus, Mocha, Gapo, TikTok, Zoom, kênh Youtube…

Như đã nêu ở trên, bên cạnh các tôn giáo, tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, thì trên không gian mạng hiện nay đã và đang xuất hiện nhiều hoạt động mượn danh hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xuyên tạc giáo lý của các tôn giáo chính thống, truyền bá “tà đạo”, “đạo lạ” và những nội dung xấu đi ngược với thuần phong, mỹ tục của dân tộc Việt Nam. Những hoạt động này không chỉ diễn ra ở trong nước mà còn cả ở nước ngoài với nhiều nội dung, hình thức, tổ chức hội, nhóm khác nhau, trong đó có các đối tượng thù địch, phản động, chống phá. Bằng những thủ đoạn tạo hiệu ứng đám đông và “scandal” để thu hút sự theo dõi của người dân, các đối tượng xấu đã tiến hành thực hiện âm mưu tuyên truyền bài xích tôn giáo chính thống, tạo mâu thuẫn, chia rẽ đoàn kết dân tộc; bôi nhọ, nói xấu Đảng, Nhà nước và chính sách tôn giáo của Việt Nam. Đặc biệt, họ thường xuyên vu cáo chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo nhằm kích động, chia rẽ trong nước và hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế; phối hợp với các cá nhân, tổ chức quốc tế thiếu thiện chí để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Những cái gọi là “Thanh Hải vô thượng sư”, “Ngọc phật Hồ Chí Minh”, “Hoàng Thiên Long”, “Văn hóa tâm linh vô sản Hồ Chí Minh”,  “Ân điển cứu rỗi”, “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”... đều là những tổ chức hoạt động trái pháp luật của Nhà nước Việt Nam, vi phạm khoản 3, Điều 5 Luật tín ngưỡng, tôn giáo; vi phạm Điều 14, Nghị định 38/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo; vi phạm điểm a, b tại khoản 1, Điều 101, Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 3/2/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng có vai trò quan trọng trong phát huy những nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng, giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội, phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, mê tín, dị đoan. Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trên không gian mạng là vấn đề then chốt, quan trọng để chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về tôn giáo thực sự đi vào đời sống xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trên mạng xã hội hiện nay ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập như: hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng thiếu đồng bộ, chưa đầy đủ các chế tài xử lý vi phạm; công tác kiểm tra, giám sát, quản lý hoạt động của các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp và không hợp pháp trên không gian mạng chưa chặt chẽ; việc ngăn chặn, đấu tranh với các tôn giáo và hoạt động tôn giáo trái pháp luật trên không gian mạng còn bị động, xử lý thiếu kịp thời; công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách quản lý nhà nước về tôn giáo trên không gian mạng chưa được chú trọng đúng mức... Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Quản lý nhà nước về văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng có mặt còn hạn chế. Có hiện tượng thương mại hóa các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở một số nơi”(3).

Những tác động tiêu cực trên không gian mạng liên quan đến “tà đạo”, “đạo lạ”; các hoạt động mượn danh, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo cùng với sự tham gia, tương tác của không ít “tín đồ” là yếu tố phát sinh mới gây ra khó khăn nhất định cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trên không gian mạng.

Để khắc phục những bất cập, hạn chế nêu trên, trong thời gian tới cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng về hoạt động tôn giáo trên các trang mạng xã hội và phương tiện thông tin đại chúng.

Tăng cường đổi mới, đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng các hình thức phù hợp để mọi người dân khi tham gia mạng xã hội nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ xấu, từ đó không tin theo “ tà đạo”, “đạo lạ”, tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, các trang thông tin điện tử và Tạp chí Công tác tôn giáo; phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng các phóng sự, chương trình tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức cho người dân, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tín ngưỡng, tôn giáo khi tham gia các trang mạng xã hội. Qua đó, khẳng định tính đúng đắn trong đường lối, chính sách, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta; kịp thời tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội về tình hình và công tác tôn giáo; đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và các đối tượng xấu trên không gian mạng. Thường xuyên xây dựng và triển khai thực hiện tốt kế hoạch tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trên hệ thống thông tin đại chúng và mạng xã hội. Phát huy vai trò của các chức sắc, chức việc các tôn giáo trong tham gia tuyên truyền, đấu tranh, phản bác những hoạt động lợi dụng, mượn danh tín ngưỡng, tôn giáo để phát tán những quan điểm, nội dung lệch lạc, trái với thuần phong mỹ tục và truyền thống văn hóa.

Hai là, các cơ quan quản lý nhà nước cần đẩy mạnh công tác hoàn thiện, thể chế hóa các văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thực hiện có hiệu quả các văn bản quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.

Trước mắt, cần thực hiện nghiêm Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 10/1/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới; tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả Luật an toàn thông tin mạng và Luật an ninh mạng được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 5.

Cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo từ Trung ương đến địa phương chủ động ban hành Chương trình công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo đồng thời tăng cường kiểm tra tình hình thi hành pháp luật, thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của các các nhân, tổ chức trên các trang mạng xã hội; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng cho cán bộ, đảng viên, công chức làm công tác tôn giáo; xây dựng các giải pháp kỹ thuật mang tính chủ động, kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước trên cơ sở các dự báo khoa học về sự phát triển của mạng xã hội và phương châm khuyến khích mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của mạng xã hội.

Ba là, tích cực, chủ động đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo trái pháp luật trên không gian mạng.

Chủ động trao đổi thông tin, phối hợp với các cơ quan tuyên giáo, ngoại giao, báo chí truyền thông và các cơ quan chuyên trách trong việc tuyên truyền, thông tin về những vụ việc, đối tượng vi phạm để kịp thời định hướng dư luận, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân và bạn bè quốc tế. Tăng cường các giải pháp đấu tranh ngăn chặn những âm mưu và hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ, lợi dụng vấn đề tự do ngôn luận để kích động, bôi nhọ, chia rẽ đoàn kết tôn giáo trên không gian mạng.

Làm tốt công tác vận động, tranh thủ sự giúp đỡ của chức sắc, chức việc, người có uy tín trong các tôn giáo; quan tâm xây dựng lực lượng cốt cán tôn giáo; định hướng hoạt động tôn giáo đảm bảo theo đúng đường hướng và phương châm hành đạo gắn bó với dân tộc và chấp hành pháp luật. “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận…”(4).

Phát huy vai trò tích cực, chủ động của đội ngũ cán bộ, đảng viên, sự tham gia đông đảo của toàn bộ hệ thống chính trị và nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng nhằm đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

Phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, đặc biệt là lực lượng công an, Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng, lực lượng 47 trong quân đội; triển khai đồng bộ các biện pháp công tác nghiệp vụ, thực hiện phương châm “an ninh chủ động”, kịp thời phát hiện, tấn công, vô hiệu hóa các trang mạng xã hội của những đối tượng lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, phá hoại chính sách đoàn kết quốc tế. Tăng cường các biện pháp đấu tranh với các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng mạng xã hội để hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đi ngược lại với đường lối, chủ trương của Đảng.

Tăng cường tính hiệu quả của các cơ quan chức năng trong vận động, đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; làm tốt công tác quản lý, phối hợp với người Việt Nam ở nước ngoài để nắm về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

Bốn là, phát huy vai trò của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong chấn chỉnh các hoạt động lệch chuẩn tâm linh diễn ra trên không gian mạng. Duy trì quan hệ đối thoại với Tòa thánh Vatican về tình hình Công giáo tại Việt Nam; thường xuyên làm việc với Đại sứ Mỹ và Đại sứ - Trưởng phái đoàn EU tại Việt Nam để trao đổi thông tin về tình hình, kết quả thực hiện pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo; cung cấp các thông tin chính thống, phục vụ đấu tranh nhân quyền với các thế lực thù địch vu cáo Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo.

Năm là, bảo đảm các quyền tự do tôn giáo được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, qua đó tạo sức “đề kháng” - không để bị kích động, lôi kéo bởi “tà đạo”, “đạo lạ” của các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo bất hợp pháp đang hoạt động mạnh trên không gian mạng.