Thứ Năm, 3 tháng 8, 2023

XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH TRƯỚC SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong 93 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thực tiễn đó cũng khẳng định một cách chắn chắn: Ở Việt Nam, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi đến những thắng lợi to lớn trong thời gian vừa qua.

Thời gian qua, với dã tâm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch đã đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc, trong đó tập trung xuyên tạc bản chất giai cấp công nhân của Đảng; nền tảng tư tưởng; chủ trương, đường lối và các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng...

Thực tế đó tiếp tục đặt ra yêu cầu cần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Theo đó, cần chú trọng một số nội dung như sau:

Thứ nhất, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng.

Tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch đã thông qua nhiều phương thức nhằm xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân của Đảng với lập luận về thực trạng (số lượng và trình độ) hạn chế của giai cấp công nhân và cho rằng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay chỉ là một nhóm lợi ích, không còn đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân và dân tộc Việt Nam.

Trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng cần phải giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tuy nhiên, cần nhận thức rõ rằng, bản chất giai cấp công nhân của Đảng không chỉ phụ thuộc vào số lượng và trình độ của giai cấp công nhân trong Đảng mà chủ yếu phụ thuộc vào tôn chỉ, mục đích của Đảng là tôn chỉ, mục đích của giai cấp công nhân; nền tảng tư tưởng của Đảng là nền tảng tư tưởng của giai cấp công nhân, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của giai cấp công nhân... Do đó, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng, chúng ta phải kiên định con đường, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định, vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới; xây dựng đường lối, chủ trương và các chính sách đúng đắn, phù hợp; giữ vững nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, quan điểm, ý thức tổ chức của giai cấp công nhân; xây dựng đội ngũ cán bộ và đảng viên theo quan điểm của giai cấp công nhân; củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; chăm lo đời sống, thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân; trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản của giai cấp công nhân…

Thứ hai, xây dựng đường lối, chính sách lãnh đạo đúng đắn.

Với tư cách đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo toàn diện xã hội thông qua đường lối, chính sách phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội... Năng lực cầm quyền của Đảng là sự tổng hòa của đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh chính trị để giải quyết các yêu cầu, nhiệm vụ do tình hình đất nước đặt ra nhằm đạt được mục tiêu phát triển. Do vậy, việc xây dựng đường lối, chính sách đúng đắn, khoa học của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Trước việc các thế lực thù địch “khuyên” Việt Nam cần từ bỏ con đường mà Đảng và dân tộc đã lựa chọn hơn 93 năm qua -  đó là “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, cần tiếp tục khẳng định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng đắn, con đường đó được xây dựng trên nền tảng lý luận khoa học là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phù hợp với thực cách mạng Việt Nam; đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo nhân dân Việt Nam; phù hợp với quy luật và xu thế vận động, phát triển của thế giới.

Tuy nhiên, đường lối đó phải được cụ thể hoá ở mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn nhất định. Do đó, Đảng phải luôn dựa trên những điều kiện thực tế của đất nước, tình hình trên thế giới, phải dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng đường lối, chính sách trong từng thời kỳ; đặc biệt, trù bị những tình huống bất ngờ xảy ra; không bảo thủ, trì trệ nhưng cũng không được chủ quan, duy ý chí; vừa phải kịp thời nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, vừa phải tính toán từng bước đi thận trọng trong các thời kỳ, giai đoạn cụ thể. Từ vị trí của đảng cầm quyền và để chống nguy cơ sai lầm về đường lối, thời gian qua, Đảng Cộng sản Việt Nam cần tiếp tục thực hiện quan điểm thực tiễn cũng như phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, xem xét kỹ lưỡng những ưu điểm, khuyết điểm…”. Đó là cơ sở quan trọng cho những quyết sách đúng đắn, khoa học.

Muốn lãnh đạo đúng, theo Hồ Chí Minh còn phải “tổ chức thi hành cho đúng”, “kế hoạch một, biện pháp mười, quyết tâm phải hai, ba mươi” bởi chương trình, kế hoạch có hay đến mấy nhưng tổ chức thi hành không đúng, thiếu biện pháp thích hợp, cán bộ, đảng viên thiếu quyết tâm, hoặc không biết biến quyết tâm của lãnh đạo thành quyết tâm của nhân dân thì mọi chương trình, kế hoạch đều không trở thành hiện thực. Khi đường lối đúng đắn, phù hợp của Đảng đem lại hiệu quả trong thực tiễn thì uy tín của Đảng sẽ được nâng cao, niềm tin của nhân dân vào Đảng sẽ củng cố và đó cũng là minh chứng hùng hồn đánh bại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Thứ ba, đẩy mạnh nghiên cứu và học tập lý luận chính trị .

Trong bối cảnh đẩy mạnh công cuộc đổi mới nhưng chưa có tiền lệ, nhiều vấn đề mới nảy sinh trong quá trình phát triển, cùng với đó là những căn bệnh khó chữa như coi thường lý luận, lười học lý luận làm cho một số cán bộ, đảng viên thiếu nhận thức đúng đắn dẫn đến hoang mang, dạo động, thiếu niềm tin... Do đó, cần đẩy mạnh việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn nhằm góp phần cung cấp luận cứ cho việc hoạch định chủ trương, đường lối, đồng thời tạo niềm tin vững chắc cho cán bộ đảng viên và nhân dân.

Trong lĩnh vực giáo dục lý luận chính trị, cần khắc phục sự lạc hậu, trùng lặp trong nội dung của các chương trình, sự đơn điệu trong phương pháp giảng dạy. Thực hiện cải cách chương trình giáo dục lý luận chính trị theo mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng, đảm bảo truyền thụ có hiệu quả kiến thức lý luận cơ bản, hệ thống, đồng thời sát hợp và gắn với thực tiễn Việt Nam. Triển khai mạnh mẽ nhiệm vụ đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ khoa học, chính trị, phẩm chất đạo đức của giảng viên các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là một giải pháp quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị. Thay đổi cách đánh giá chất lượng đào tạo, đảm bảo thực chất, chống chủ nghĩa hình thức và bệnh thành tích, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo các môn lý luận chính trị hiện nay. Bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị giỏi, có phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn cao. Chúng ta phải nhanh chóng khắc phục được những hạn chế, bất cập như thiếu về số lượng, sự hụt hẫng giữa các thế hệ, sự giảm sút chất lượng khoa học, sự hạn chế trong hiểu biết thực tế… của đội ngũ này.

Sức sống của tư tưởng không phải là khả năng tự thân mà là từ con người, do con người và trong xã hội. Để góp phần đảm bảo tính khoa học trong lãnh đạo, cầm quyền, chống lại các luận điệu xuyên tạc, Đảng phải tổ chức nghiên cứu lý luận để làm rõ và khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những vấn đề cần tiếp tục bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn đất nước và thời đại; đẩy mạnh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với triển khai sâu rộng, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đặc biệt, trong khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần phân tích sự trung thành về nguyên tắc và những sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh so với chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm lật ngược quan điểm xuyên tạc khi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh không còn giá trị trong giai đoạn hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh là “vay mượn”, là “ảo tưởng” , hoặc tách tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin…

Cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân về tình hình, nhiệm vụ cách mạng và hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế. Khẳng định “lẽ phải của chúng ta” để “vững bước trên con đường đã chọn”. Nhận diện, phát hiện và giải quyết kịp thời, triệt để những nhận thức sai lầm từ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Bởi những thông tin xấu và độc hại nếu không được nhận thức đầy đủ, sâu sắc và tỉnh táo thì có thể làm cho nội bộ Đảng xuất hiện những biểu hiện “tự diễn biến”,  “tự chuyển hóa”…

Thứ tư, tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng.

Một trong những luận điệu của các thế lực thù địch đó là vu cáo, xuyên tạc rằng, chế độ và thể chế chính trị một đảng duy nhất cầm quyền chính là mảnh đất tốt cho sự nảy sinh, dung dưỡng và phát triển tư tưởng và hành vi chuyên quyền, độc đoán. Chúng xuyên tạc các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, cho rằng, “thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ chỉ dẫn đến tập trung quan liêu, độc tài, mất dân chủ!”.

Đảng phải nghiêm túc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoat Đảng, cần phải mở rộng và phát huy dân chủ, đánh giá đúng, tôn trọng và bảo vệ quyền dân chủ của mỗi cán bộ, đảng viên, tạo không khí cởi mở, chân thành để mọi cán bộ, đảng viên bày tỏ chính kiến, tâm tư, nguyện vọng. Người đứng đầu tổ chức đảng cần lắng nghe, cân nhắc với tinh thần thật sự cầu thị những ý kiến góp ý của nhân dân và của cán bộ, đảng viên cấp dưới, cân nhắc, xem xét để tìm ra những vấn đề đúng đắn, khoa học, tránh mắc phải những sai lầm, khuyết điểm do sự độc đoán, chuyên quyền sinh ra.

Tăng cường đối thoại trong Đảng là những điều kiện quan trọng và cần thiết. Qua đó, nhiều vướng mắc của cán bộ, đảng viên được giải đáp trực tiếp và kịp thời, khó khăn được tháo gỡ, bức xúc trong tư tưởng cán bộ, đảng viên được giải tỏa. Đây cũng là dịp để cán bộ lãnh đạo cấp trên và cán bộ, đảng viên hiểu nhau, chia sẻ những khó khăn và thuận lợi, tạo được không khí đoàn kết, phấn khởi, tạo sự ổn định trong tập thể. Cùng với phát huy dân chủ là kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, chống đặc quyền, đặc lợi trong Đảng, làm lành mạnh các quan hệ trong Đảng và trong xã hội.

Tự phê bình và phê bình không những là nghệ thuật, văn hóa trong Đảng, mà còn là quy luật phát triển của Đảng, là biện pháp hữu hiệu để xây dựng Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức và thực hành hiệu quả việc tự phê bình và phê bình bằng những hình thức cụ thể, thiết thực, hiệu quả, tuân thủ tính mục đích và nguyên tắc trong tự phê bình và phê bình.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ trong nhân dân, do nhân dân xây dựng, ủng hộ, giúp đỡ và bảo vệ. Đảng mạnh ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm tròn được sứ mệnh của mình.

Thứ năm, thực hiện tốt công tác cán bộ.

Thời gian vừa qua, các thế lực thù địch lợi dụng một số cán bộ cố ý làm trái các quy định của pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng và việc xử lý đôi khi còn chưa kịp thời để tung ra những luận điệu chống phá Đảng, tập trung hướng vào nội bộ, tìm mọi hình thức tinh vi hoặc trắng trợn, công khai hoặc bí mật, ráo riết làm cho nội bộ mất ổn định, gieo rắc sự ngờ vực, nghi kỵ, giảm sút lòng tin hòng gây chia rẽ nội bộ.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định, phải: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước...; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài... Đồng thời, có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân". Công tác cán bộ của Đảng phải được làm tốt ngay từ khâu lựa chọn. Đó là một mắt xích quan trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Tiêu chuẩn để lựa chọn cán bộ, đặc biệt là những người cán bộ đảm nhận những vị trí quan trong trong cơ quan Đảng, Nhà nước cần đảm bảo tính toàn diện về phẩm chất, bản lĩnh chính trị, trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, khả năng đoàn kết, tập hợp quần chúng, tác phong làm việc...

Trên cơ sở đảm bảo yêu cầu, tiêu chuẩn, việc lựa chọn cán bộ cần phải kiên quyết không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ tiêu chuẩn; đồng thời không để lọt vào cơ quan lãnh đạo của Đảng những người có một trong các khuyết điểm như: Bản lĩnh chính trị không vững vàng; không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng; có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, vận động cho cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán; không công bằng, công minh trong đánh giá, sử dụng cán bộ, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình; để nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng hoặc để xảy ra tham nhũng, thất thoát, vụ việc tiêu cực lớn ở địa phương, cơ quan, đơn vị; không chịu nghiên cứu học hỏi; bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; ý thức kỷ luật kém, không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức, uy tín giảm sút; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính; vi phạm quy định về lịch sử chính trị hoặc chính trị hiện nay.

Mặt khác, việc lựa chọn cán bộ phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, thật sự trong sáng, khách quan, đặc biệt phải “có con mắt tinh đời” trong việc đánh giá, giới thiệu, lựa chọn; lấy tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và hiệu quả công tác, uy tín của bản thân và gia đình làm thước đo chủ yếu.

Đánh giá cán bộ là khâu rất quan trọng để phát huy tính tích cực của cán bộ, đảng viên. Đánh giá đúng sẽ bố trí, sử dụng đúng, phát huy được khả năng, sở trường của cán bộ, sẽ tạo cho cán bộ, đảng viên phấn khởi, tin tưởng và tích cực trong công tác. Ngược lại, cán bộ, đảng viên không được đánh giá đúng, không được tôn trọng, không được bảo vệ sẽ xa lánh tổ chức, tiêu cực trong hoạt động chính trị, nghĩ khác, làm khác, thậm chí dẫn đến những vấn đề về tư tưởng như: chán nản, tự ty, bi quan, tiêu cực… là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, mất đoàn kết, tổn hại cho tổ chức hoặc dễ bị các phần tử cơ hội chính trị lợi dụng lôi kéo, mua chuộc.

Bên cạnh cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những cán bộ, đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân chúng ta cần xây dựng chính sách đãi ngộ và chính sách tiền lương công bằng, hợp lý, bảo đảm cho cán bộ, công chức đủ sống và sống tốt bằng đồng lương chân chính. Đời sống được đảm bảo, quyền lợi vật chất chính đáng được bảo vệ; quyền dân chủ được phát huy, đời sống tinh thần được thỏa mãn... là điều kiện để mỗi người cán bộ, đảng viên gắn bó với công việc, tập thể và xã hội, yên tâm, vững vàng thực hiện nhiệm vụ được giao.


PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”, VŨ KHÍ SẮC BÉN ĐÁNH BẠI ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI

 Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội của các thế lực thù địch là chủ đề lớn, hàm chứa những nội dung cơ bản, rất quan trọng và sâu sắc của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam; đặc biệt có ý nghĩa trong xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, là một trong những giải pháp hữu hiệu để tôn vinh, tỏa sáng phẩm giá, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ “ thời kỳ mới. Đó là lời giải thích sâu sắc nhất vì sao các thế lực thù địch lại cố tình đòi “Phi chính trị hóa” Quân đội ta.

1. “Phi chính trị hóa” quân đội là âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch trong chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN và Quân đội ta. Bản chất, âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội về cơ bản không mới nhưng tính chất nguy hiểm và tác hại do nó gây ra là rất lớn, không thể xem thường. Đây là hệ quả tất yếu từ sự tác động của một chuỗi âm mưu, hoạt động giữa “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đến “phi đảng hóa” các tổ chức chính trị - xã hội và “dân sự hóa” các lực lượng vũ trang do các thế lực thù địch chủ mưu.

Vì vậy, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc “còn Đảng còn mình” của người quân nhân cách mạng, vì nó liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia - dân tộc; uy tín, vị thế, danh dự và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”; sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đối với công tác quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Đây cũng là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ hàng đầu của công tác tham mưu về giáo dục chính trị, tư tưởng; học tập và làm theo tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh; thực hiện thắng lợi Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; góp phần đưa Nghị quyết số 847/NQ-QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” vào cuộc sống.

Vì sao cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lục thù địch để bảo vệ Đảng, Nhà nước, ahân dân và Quân đội ta? Đây là câu hỏi cần có sự giải đáp sâu sắc từ giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa “xây” và “chống”; giữa phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” với kiên quyết đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ; xây dựng Đảng bộ Quân đội gương mẫu, tiêu biểu, mẫu mực. Kết quả thực hiện nhiệm vụ này được quy định bởi chất lượng, hiệu quả phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

2. Bác Hồ và hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong đời sống văn hóa, chính trị - tinh thần của Quân đội ta. Bác Hồ là lãnh tụ tinh thần, niềm tin yêu, biểu tượng dẫn dắt quân và dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác là một cấu phần hết sức quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta, là hồn cốt văn hóa quân sự thời đại Hồ Chí Minh, được hun đúc, kết tinh, hình thành nhân cách người quân nhân cách mạng trong mỗi người lính mang tên Bác kính yêu. Đó là cái “gốc”, nền móng tạo nên sức mạnh nội sinh vô cùng mạnh mẽ để Quân đội ta bách chiến, bách thắng. “Bộ đội Cụ Hồ” là danh hiệu cao quý, thiêng liêng, một báu vật mà nhân dân dành riêng khen tặng Quân đội ta, không quân đội nào trên thế giới có được niềm vinh dự, tự hào, sự kiêu hãnh được mang tên lãnh tụ kính yêu như Quân đội ta.

Trong tâm thức, trái tim “Bộ đội Cụ Hồ” và nhân dân ta, Bác là người Việt Nam đẹp nhất, là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Quân đội ta mang tên Bác, đương nhiên phải là một Quân đội được kết tinh bởi những phẩm chất tốt đẹp nhất: “Bộ đội Cụ Hồ” - hệ thống tiêu chí, chuẩn mực giá trị về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng; trọn đời vì nước, vì dân; mang trong mình những đặc trưng bản chất, được kết tinh, cô đọng, sâu sắc trong lời khen của Bác: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân; sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, phát triển và trưởng thành, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” luôn được bồi đắp, phát huy và tỏa sáng trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén; lực lượng chính trị trị cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Chính điều đó đã làm cho các thế lực thù địch lo sợ, chúng hiểu rằng, chừng nào ở nước ta, còn có Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh thì chừng đó, âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng cũng như điều mong muốn, sự kỳ vọng của chúng sẽ không bao giờ thực hiện được. Vì vậy, muốn chống phá; bảo vệ sự an nguy, tồn vong của chúng; không có cách nào khác là phải xóa bỏ vị trí, vai trò, sức mạnh to lớn của Quân đội ta; tước bỏ công cụ bạo lực sắc bén; lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Một trong nhưng chiêu thức vô cùng nguy hiểm được chúng tấn công trực diện là hạ bệ “thần tượng” Hồ Chí Minh, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội ta, tách Quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, xa lìa nhân dân.

3. Muốn vậy, cái đích hướng đến đầu tiên của chúng là xóa bỏ hình ảnh mang tính biểu tượng, kết tinh cao đẹp nhất là hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, làm cho hình tượng về Người mất đi tính chất thiêng liêng, sự trân trọng, giá trị kiểu mẫu; theo đó, tình cảm, niềm tin của nhân dân cũng không còn đối với Quân đội mang tên Bác và đi liền với đó, là sự hạ bệ, làm mất uy tín, vị thế, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; làm mất chỗ dựa của Đảng là Quân đội, chia rẽ Quân đội với Công an, Quân đội với nhân dân. Với chiêu thức này chúng muốn thực hiện mục tiêu kép: làm suy yếu bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội; dọn đường cho âm mưu bạo loạn lật đổ, “cách mạng màu”, thực hiện “diễn biến hòa bình”; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Điều đó chỉ có thể diễn ra khi chúng thực hiện thành công âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội; xuyên tạc, bôi đen phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Sự thâm thù, âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” gắn liền với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là hệ lụy hết sức tinh vi, xảo quyệt và độc ác. Bởi thế, các thế lực thù địch đã chĩa nòng súng, tấn công vào địa hạt kiên cố, vững chắc nhất của chế độ ta; chỗ dựa tin cậy nhất của Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa: là Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều đó không chỉ cho thấy tính chất nguy hiểm, tác hại to lớn của việc công khai trắng trợn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng mà còn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, ép Quân đội ta chỉ “tuân theo pháp luật”, chỉ phục vụ Tổ quốc, không phục vụ Đảng mà thực chất là muốn chúng ta “buông súng”, lặp lại “vết xe đổ” của quân đội Liên Xô và quân đội các nước Đông Âu do đã mắc mưu “phi chính trị hóa”, cho nên, dù quân hùng tướng mạnh, đầy đủ vũ khí tối tân, hiện đại nhưng không thể bảo vệ Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa; dẫn đến thảm cảnh “nồi da xáo thịt”, nhân dân các nước cộng hòa vốn từng là anh em trong đại gia đình Xô viết đã quay lưng lại với nhau, chĩa súng bắn vào nhau.

Đằng sau chiêu trò xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ; các đồng chí lão thành cách mạng, các bậc tiền bối mà còn xuyên tạc, hạ thấp uy tín, vị thế, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị; các tướng lĩnh Quân đội ta. Để thực hiện âm mưu, thủ đoạn này, chúng đã và đang cố tình xuyên tạc, hạ thấp vai trò của Quân đội trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, mà còn bôi nhọ, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội và nhân dân; giữa Quân đội với Công an. Cùng với đó, là lợi dụng một số vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật trong quân đội để thổi phồng khuyết điểm, làm suy giảm niềm tin, tình cảm của nhân dân đối với Quân đội; bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Chúng ta ý thức sâu sắc sự cần thiết phải đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội là xuất phát từ bài học kinh nghiệm về xây dựng quân đội trên thế giới kể từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực sụ đổ ở Liên Xô, Đông Âu từ những năm 90 của thế kỷ XX; cuộc xung đột quân sự Nga - Ucraina và sự nổi loạn của tập đoàn quân sự đánh thuê của Waner đối với Quân đội Nga hiện nay. Đó là bài học đắt giá, phải trả bằng xương máu, sự hy sinh của những người lính và dân thường, từ sự sụp đổ chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu; sự bao vây, chống phá của phương Tây. Đó là ví dụ sinh động để cán bộ, chiến sĩ nhìn nhận, cảnh giác, kiên quyết không cho phép âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” dọn đường cho “phi chính trị hóa” Quân đội ta.

4. Vì vậy, trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, mỗi cán bộ, chiến sĩ đều phải giữ gìn hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; gương mẫu đi đầu trong thực hiện Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, làm tốt việc gia tăng giá trị, ý nghĩa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong điều kiện mới. Thường xuyên nêu cao cảnh giác, chủ động đấu tranh, ngăn chặn những hành vi sai trái, làm tổn hại đến giá trị thiêng liêng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây là phương cách tốt nhất để “miễn nhiễm” trước âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội; là điều kiện cần thiết để phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. “Dù ai nói ngả nói nghiêng/Toàn quân vẫn vững như kiềng ba chân/Dù ai rào dậu, ngăn sân/Chúng ta vẫn mãi là quân Cụ Hồ”./


ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 

Mặc dù ý nghĩa, vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam là vô cùng quan trọng và không thể phủ nhận, song với âm mưu đòi “phi chính trị hóa” quân đội, phá hoại chủ trương xây dựng cũng như sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, tiến tới phá hoại sự ổn định chính trị - xã hội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các thế lực chống đối, thù địch vẫn không ngừng sử dụng các thủ đoạn, chiêu trò để xuyên tạc, chống phá, nhất là về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam.

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch đang tăng cường sử dụng các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, các đài phát thanh chương trình Việt ngữ, báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, các website; lập nên những “diễn đàn” (forum) hòng tập hợp những phần tử bất mãn, chống đối và cả những kẻ đã bị kỷ luật giờ quay lại chống phá… nhằm “tập hợp ý kiến”, nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”… Từ đó, trích dẫn, bình luận và  phát tán những thông tin xấu, độc nhằm chống phá, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam. Có thể nhận diện luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch qua các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng công tác chính trị là nhằm mục đích biến quân đội thành “công cụ bạo lực tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng”(!?). Họ sử dụng các kỹ thuật cắt xén, lắp ghép hình ảnh của các cuộc hành quân, tập trận, hình ảnh hỗ trợ lực lượng an ninh trong công tác phòng, chống bạo loạn, trấn áp tội phạm… để rồi dựng lên câu chuyện quân đội “được Đảng điều đi để dập tắt một cuộc biểu tình của nhân dân”(!?) và “sẵn sàng dùng lực lượng đó để đàn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến”(1).

Lịch sử gần 80 năm với những chiến công mang tầm vóc thời đại của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cho thấy: Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của Quân đội ta đó chính là nhờ có công tác lý luận chính trị trong quân đội. Có thể khẳng định, ngay từ khi được thành lập, những chiến công, những thành quả các mạng mà quân đội Nhân dân Việt Nam có được thì ngoài về con người và vũ khí còn phải kể đến vai trò của công tác lý luận chính trị. Việc Đảng ta đã ban hành Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) để từ đó hình thành nên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay) đã cho thấy công tác lý luận chính trị “không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam”(4). Đây cũng là cơ sở đầu tiên dẫn đến hai chiến thắng liên tiếp là Phai Khắt và Nà Ngần vào ngày 24 và 25/12/1944. Chiến thắng này đã tác động mạnh mẽ, gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Trải qua thời gian, từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) cho đến các văn kiện ở các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc sau này đều đã khẳng định: Công tác chính trị với nền tảng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã giúp cho cán bộ và chiến sĩ trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản; ngày càng nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”... Từ đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Công tác này đã kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Là đội quân từ “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”, nếu trong thời chiến, những chiến thắng hiển hách của quân đội ta đều là những chiến thắng trước kẻ thù xâm lược và phá hoại (thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Khơ-me Đỏ ở biên giới Tây Nam; Trung Quốc ở biên giới phía Bắc…) thì trong thời bình, đó là sự dũng cảm, mưu lược đầy trí tuệ và khoa học trước những nhiệm vụ mới. Đó là Dự báo và nắm chắc đúng tình hình liên quan đến quốc phòng - an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại; luôn chủ động để đất nước không bị động, bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; luôn giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững; luôn là lực lượng xung kích đi đầu và thể hiện trách nhiệm cao trong việc giúp dân, giúp nước trong phòng chống đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ... Đặc biệt, trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế với mục tiêu hòa bình, ổn định để cùng phát triển, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ cao cả, như: giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc; cử các đội tình nguyện thực thi các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi (thông qua các Bệnh viện dã chiến các cấp) và gần đây nhất là cử Đoàn cứu hộ, cứu nạn gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất... Những việc làm này đã góp phần khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm, năng lực tác chiến của Quân đội ta và khẳng định với thế giới: Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội quân không chỉ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc mà còn hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. Do đó, cái gọi là “công cụ” để “tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng” chỉ là những chiêu trò vu khống, xuyên tạc mà các thế lực thù địch đã và đang tiến hành.

Thứ hai, hoàn toàn ấu trĩ và sai lầm khi cho rằng: vì được trang bị công tác chính trị của Đảng nên quân đội Việt Nam đã mất đi vai trò “trung lập” cũng như mất đi sức mạnh, sức chiến đấu

Theo Từ điển Tiếng Việt, “trung lập” có nghĩa là một tổ chức, một tập thể hoặc cá nhân nào đó “đứng ở giữa hai bên đối lập, không theo hoặc không phụ thuộc vào bên nào”. Chiếu theo nghĩa này thì “quân đội trung lập” là khi “không theo hoặc không phụ thuộc” vào một trong “hai bên đối lập”, và quân đội của một quốc gia chỉ “trung lập” khi quốc gia đó đang có sự tồn tại của “các bên đối lập” tranh giành nhau về quyền lực, lợi ích, vị thế xã hội…

Xét trong bối cảnh tổng thể hiện nay, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử, kinh tế... Hệ thống chính trị của Việt Nam gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích xây dựng, phát triển đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản lãnh đạo: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”(5)… Như vậy, ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có cái gọi là “hai bên đối lập”!

Ở Việt Nam, trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng: “Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng Quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp và chịu sự lãnh đạo của giai cấp đã tổ chức ra nó; đó là cơ sở để xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ của Quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tỉnh nhân dân sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân”(6) … Như vậy, quân đội xét ở bất kỳ góc độ nào cũng không thể có cái gọi là “quân đội trung lập”! Điều này, đã từng được Lênin chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”(7).

Rõ ràng là “Quân đội không thể và không nên trung lập”. Vậy thì, sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội có phụ thuộc vào yếu tố “trung lập” hay là phụ thuộc vào các yếu tố khác? Khi bàn về sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội, Ph.Ăngghen cho rằng: “Toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội, và do đó thắng lợi hay thất bại rõ ràng là phụ thuộc vào các điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế”. Như vậy, sức mạnh, sức chiến đấu cho quân đội được hình thành trước hết là do “điều kiện kinh tế” và sau đó là nhiều yếu tố khác gắn với từng hoàn cảnh lịch sử và từng quốc gia riêng biệt. Từ lý luận của Ăngghen, đối chiếu vào lịch sử và thực tiễn hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chúng ta thấy: Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh, truyền thống dân tộc… trong đó, con người và vũ khí là yếu tố cơ bản nhất. Đặc biệt, yếu tố giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội là yếu tố chính trị tinh thần: “Quân đội muốn nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ sẵn sàng chiến đấu; đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới thì phải lấy vững mạnh về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội cụ Hồ” làm cơ sở”(9).

Thứ ba, chỉ là chiêu trò đánh tráo khái niệm khi cho rằng một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật là “sai phạm của cả hệ thống”, là “căn bệnh chung do quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ tạo ra”.

Thời gian qua, đã có một số sĩ quan cấp tướng và nhiều cán bộ khác của quân đội được giao trọng trách nhưng đã mắc những vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng; làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương quân đội và gây bức xúc trong xã hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai phạm này, tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản và sâu xa nhất đó là do ý định chủ quan của chính những người vi phạm. Cụ thể: Những người vi phạm này, hoặc là họ lợi dụng việc được nhà nước, quân đội giao nhiệm vụ để cấu kết, sai phạm; hoặc là mắc bệnh công thần, kiêu ngạo, đến chủ nghĩa cá nhân, xa rời tổ chức, coi thường kỷ luật Đảng, kỷ cương phép nước. Họ không ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình, đòi hỏi thái quá ở tổ chức, tự cao, tự đại nên đã nảy sinh tiêu cực. Những người này là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống; thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu thường xuyên rèn luyện đạo đức... và hoàn toàn không phải là đại diện cho cho quân đội, cho hệ thống chính trị Việt Nam!

Thực tế đã cho thấy: lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và các cựu chiến binh, cựu quân nhân vẫn luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; luôn giữ gìn và phát huy truyền thống cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Những trường hợp sai phạm như trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi canh” và đã phải nhận những hình thức kỷ luật đích đáng. Điều này đã cho thấy quan điểm nhất quán của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và rộng hơn là của Đảng và Nhà nước ta: Vừa kiên quyết xử lý sai phạm một cách công khai, nghiêm minh để giữ cho được lòng tin của nhân dân, giữ cho được bản chất trong sạch của chế độ, vừa giữ vững những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của quân đội.

Như vậy, việc một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật  hoàn toàn không phải là sai phạm của “cả hệ thống” mà chỉ là sai phạm của cá nhân. Việc đổ thừa cho quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ mà Đảng, Quân ủy trung ương, thực chất chỉ là chiêu trò lèo lái dư luận, đánh tráo khái niệm nhằm chia rẽ và phá hoại của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, việc các thế lực thù địch, phản động lấy hình thức/nguyên cớ để quy chụp, phủ nhận còn cho thấy rằng, họ hoặc cố tình, hoặc rất kém hiểu biết về thực tiễn sinh động đang diễn ra. Bởi lẽ, trước hoặc cùng một sự vật sự việc nhưng lại mang một tư duy hẹp hòi, định kiến thì hẳn nhiên những người này sẽ không hoặc khó có thể nhìn thấy điểm tốt, điểm tích cực của sự vật, sự việc ấy.

Rõ ràng, các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam mà các thế lực thù địch đang tiến hành, về bản chất đó là sự chia rẽ và phá hoại nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Vì vậy, để đập tan âm mưu phản động này, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác chính trị trong quân đội: Kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động; giữ vững được bản lĩnh chính trị, giữ vững kỷ cương, kỷ luật một cách nghiêm minh… và hơn hết: “Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân; tách rời sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để chiến thắng quân thù. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây vẫn còn nguyên giá trị”(10). Đây cũng chính là một trong những cơ sở quan trọng để góp phần vào việc xây dựng một nước Việt Nam “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” như mong muốn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Đặt trong bối cảnh lịch sử gần 80 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đặt trong mối quan hệ biện chứng “cá – nước” giữa Quân đội và Nhân dân Việt Nam, và xét trong mối quan hệ với thế giới, chúng ta hoàn toàn có cơ sở khẳng định rằng: Công tác lý luận chính trị trong Quân đội không phải là hoạt động giáo lý khiến cho người chiến sĩ u mê, chỉ biết có mỗi việc cầm vũ khí; cũng không phải là sự ràng buộc để làm cho quân nhân sợ sệt… như những luận điệu xuyên tạc và xảo trá của các thế lực thù địch, chống đối "nhai đi nhai lại"; mà ngược lại: “Bản chất công tác đảng, công tác chính trị là hoạt động lãnh đạo. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, ứng tác chính trị chính là giữ vững và phát huy sự lãnh đạo của tặng đối với các mặt hoạt động, các nhiệm vụ của Quân đội, góp phần xây dựng tổ chức, con người vững mạnh, thiết thực xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị”(11)”./.



BỒI DƯỠNG TINH THẦN DÁM ĐƯƠNG ĐẦU VỚI KHÓ KHĂN, THỬ THÁCH

 

Thanh niên Quân đội là lực lượng chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Chất lượng thanh niên Quân đội có ý nghĩa quyết định đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị cơ sở; là nền tảng xây dựng đội ngũ cán bộ phục vụ lâu dài trong Quân đội. Bồi dưỡng tinh thần dám đương đầu với khó khăn, thử thách cho thanh niên Quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay là vấn đề có ý nghĩa quan trọng.

Trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển của kinh tế thị trường, sự chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã có tác động mạnh mẽ đến thế hệ trẻ Việt Nam nói chung, trong đó có thanh niên Quân đội. Do đó, bồi dưỡng tinh thần dám đương đầu với khó khăn, thử thách cho thanh niên Quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay đang là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu tiếp tục xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh; đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, đủ đức, đủ tài, có uy tín cao; chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội theo tinh thần “7 dám”: dám nghĩ; dám nói; dám làm; dám chịu trách nhiệm; dám đổi mới, sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung.

Thanh niên Quân đội là lực lượng chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Chất lượng thanh niên Quân đội có ý nghĩa quyết định đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị cơ sở; đồng thời, là nền tảng xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ phục vụ lâu dài trong Quân đội. Bồi dưỡng tinh thần dám đương đầu với khó khăn, thử thách cho thanh niên Quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay được hiểu là tổng hợp các hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của các tổ chức, các lực lượng, được tiến hành bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp nhằm nâng cao tinh thần chủ động, sẵn sàng đối mặt, đối phó với mọi khó khăn, thử thách của thanh niên Quân đội trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Bồi dưỡng tinh thần dám đương đầu với khó khăn, thử thách có ý nghĩa quan trọng đối với thanh niên Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Bởi vì, điều đó góp phần tạo sức mạnh gắn kết, thống nhất trong thực hiện nhiệm vụ của đơn vị; xây dựng bầu không khí tích cực, lành mạnh, nâng cao chất lượng, kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Đồng thời, góp phần bồi dưỡng kỹ năng đề cao ý thức, thái độ, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, hoàn thiện phẩm chất, nhân cách cho thanh niên Quân đội.

Thực tế thời gian qua, phần lớn các chủ thể đã nhận thức đúng và phát huy vai trò, trách nhiệm, năng lực và sự phối hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức bồi dưỡng tinh thần dám đương đầu với khó khăn, thử thách cho thanh niên Quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Kế hoạch, nội dung, hình thức, biện pháp bồi dưỡng cơ bản phù hợp và hiệu quả. Nhờ đó, thanh niên Quân đội cơ bản hoàn thành chức trách, nhiệm vụ đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới: “Tuyệt đại đa số cán bộ, đoàn viên thanh niên có bản lĩnh chính trị vững vàng, yên tâm công tác, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, không dao động trước khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao”.

Tuy nhiên, một số cấp ủy, chỉ huy nhận thức chưa đầy đủ, chưa thật sự phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, năng lực và sự phối hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức bồi dưỡng tinh thần dám đương đầu với khó khăn, thử thách cho thanh niên Quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Một số kế hoạch, nội dung, cách thức, biện pháp bồi dưỡng còn mang tính chung chung, chưa cụ thể. Còn một bộ phận thanh niên Quân đội thiếu quyết tâm, suy thoái về đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Những năm tới tình hình thế giới diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, Quân đội ngày càng nâng cao, tạo ra tiền đề quan trọng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quân đội tiếp tục được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”; triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện mục tiêu phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đặc biệt, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Quân đội đang đặt ra những yêu cầu mới; đòi hỏi phải không ngừng bồi dưỡng bồi dưỡng tinh thần dám đương đầu với khó khăn, thử thách cho các lực lượng, trong đó có thanh niên Quân đội để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, quán triệt các quan điểm, nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về đạo đức, lối sống của cho thanh niên Quân đội. Giáo dục, quán triệt cho các chủ thể, lực lượng nhận thức rõ vị trí, vai trò, những thuận lợi, khó khăn và sự cần thiết phải xây dựng quyết tâm dám đương đầu với khó khăn, thử thách cho thanh niên Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đồng thời, phải xác định đúng, linh hoạt nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng quyết tâm dám đương đầu với khó khăn, thử thách cho thanh niên Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Nội dung xây dựng tập trung vào: tinh thần chuẩn bị sẵn sàng, chủ động đối phó với những khó khăn, thử thách trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; xung kích, sáng tạo, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hi sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo; ý thức tự giác chấp hành kỷ luật Quân đội một cách chủ động, chính xác và nghiêm túc; quyết tâm nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng; tinh thần chấp nhận hi sinh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp: Thực hiện tốt công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên; quản lý chặt chẽ tư tưởng chính trị, trình độ năng lực, đặc biệt là phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên nói chung, thanh niên Quân đội nói riêng; tổ chức tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng cách giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ; thực hiện nghiêm chế độ tự phê bình, phê bình; phát huy vai trò nêu gương, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt.

Chú trọng phát huy tính tích cực, chủ động học tập, rèn luyện nâng cao khả năng tự xây dựng quyết tâm dám đương đầu với khó khăn, thử thách cho thanh niên Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Mỗi thanh niên Quân đội phải xây dựng động cơ đúng đắn trong tự học tập, rèn luyện nâng cao khả năng tự xây dựng quyết tâm dám đương đầu với khó khăn, thử thách. Tích cực học tập, nâng cao kiến thức, năng lực và sức khỏe để sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao; tham gia các hoạt động thực tiễn của thanh niên Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và thực hiện đồng bộ cơ chế, chính sách đối với thanh niên Quân đội; thường xuyên làm tốt công tác sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm về quá trình thực hiện nhiệm vụ, giúp thanh niên Quân đội luôn xung kích, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao./.

TINH THẦN "7 DÁM" CỦA TBT NGUYỄN PHÚ TRỌNG TRONG RÈN LUYỆN CÁN BỘ QUÂN ĐỘI.

 

1. Dám nghĩ

2. Dám nói

3. Dám làm

4. Dám chịu trách nhiệm

5. Dám đổi mới, sáng tạo

6. Dám đương đầu với khó khăn, thử thách

7. Dám hành động vì lợi ích chung.

QUAN ĐIỂM, NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

 

Xây dựng Đảng về đạo đức là một trong các mặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng Đảng mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nêu ra. Trong Quyết định số 88-QĐ/TW ngày 1/12/2022 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Chính trị khóa XIII nêu rõ: “Ban Tuyên giáo Trung ương là cơ quan tham mưu, giúp việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức...”.

QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC

Xây dựng Đảng về đạo đức là gốc trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng Đảng

Đảng ta xác định vai trò của những nhiệm vụ chiến lược như sau: (1) Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; (2) Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt (Tại Đại hội XIII của Đảng, phạm vi rộng hơn, không chỉ là xây dựng Đảng, mà còn là xây dựng hệ thống chính trị); (3) Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; (4) Quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng và Nhà nước.

Riêng về nhiệm vụ xây dựng Đảng, việc Đảng coi đó là nhiệm vụ then chốt là hoàn toàn chính xác, bởi xét trên chỗ dựa của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy có 3 trụ cột: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Xã hội xã hội chủ nghĩa; Đảng Cộng sản Việt Nam. Ba trụ cột này đều rất quan trọng, như thế chân vạc, “kiềng ba chân”. Nếu một trong ba trụ cột này yếu thì chế độ chính trị ở Việt Nam sẽ bị yếu; nếu hai hoặc ba trụ cột này yếu hoặc bị đổ thì chế độ chính trị ở Việt Nam cũng bị yếu và bị sụp đổ. Nói nhiệm vụ xây dựng Đảng là then chốt hoàn toàn có căn cứ lý luận và thực tế. Kinh nghiệm, bài học từ sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô cũng như các đảng cộng sản Đông Âu những năm 80 - 90 của thế kỷ trước cho thấy rõ điều đó. Và, không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn dò trong Di chúc thiêng liêng: “Trước hết nói về Đảng”(1); “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”(2).

Về nhiệm vụ “gốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm: Đạo đức cách mạng như nguồn của sông, như gốc của cây, là điều căn bản của con người; rằng, yêu cầu người cách mạng phải là người có trọn vẹn đủ đức và tài, trong đó đức là gốc. Chính vì thế, trong buổi Lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (đầu năm 1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”(3). Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng năm 2016 đã bổ sung nhiệm vụ (hoặc coi như một modul) là xây dựng Đảng về đạo đức trong tổng thể các mặt như từ nhiều năm trước Đảng đã xác định: xây dựng Đảng về ba mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức. Việc nêu bổ sung xây dựng Đảng về đạo đức đã đánh dấu tư duy mới của Đảng về việc nhìn nhận về tầm quan trọng đặc biệt về xây dựng đạo đức cách mạng cho tổ chức Đảng và đảng viên. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng năm 2021 khẳng định lại: “Phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(4). Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức đóng vai trò gốc. Chính vì thấy rõ vai trò rất quan trọng của nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức, cho nên trong Mục XIV “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng”, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức”(5). Một khía cạnh nữa phải coi xây dựng Đảng về đạo đức là nhiệm vụ gốc là bởi vì thực tế trong những năm qua, kinh tế đất nước phát triển nhưng đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa tương xứng, môi trường đạo đức có nơi, có lúc bị ô nhiễm. Một trong những biểu hiện của tình hình đó là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ chủ chốt, cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(6).

Không có đạo đức chung chung. Không phải là đạo đức cũ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Có người cho rằng đạo đức cũ và đạo đức mới không có gì khác nhau. Nói như vậy là lầm to, đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều. Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”(7); “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”(😎.

Chuẩn mực đạo đức cách mạng của tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên mà Đảng ta xây dựng phải là sự tổng hợp từ các yếu tố đó, nếu không, rất có thể sẽ là những nội dung, chuẩn mực đạo đức cũ, mặc dù tên (hay mệnh đề) biểu đạt giống nhau. Đạo đức cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thể hiện tư duy và hành động thống nhất giữa các giải phóng: Giải phóng dân tộc - Giải phóng giai cấp - Giải phóng xã hội - Giải phóng con người. Các “giải phóng đó” là sự kết tinh những gì tinh túy của nhân loại với cái đích cuối cùng, cao đẹp nhất là con người được giải phóng khỏi mọi sự chế định, áp bức bất công của tự nhiên và trong xã hội; con người tiến tới sự tự do như C.Mác và Ph.Ăngghen viết trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848): “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(9). Trong giá trị đạo đức cách mạng trên đây, có những quan điểm và gương sáng thực hành đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà Đảng ta trong những năm gần đây triển khai việc học tập và làm theo.

Đạo đức cách mạng ở đây còn là sự kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, nhất là trong ứng xử của con người với người (với xã hội) và với giới tự nhiên, hay như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy vào ba mối quan hệ cơ bản nhất: đối với tự mình, đối với người, đối với việc. Trong các giá trị này, còn chắt lọc, tiếp thụ và phát huy những yếu tố phù hợp của các tôn giáo vào trong đời sống xã hội hiện đại, vì những giá trị đó cũng là những biểu hiện của các học thuyết giải phóng và phát triển, nhất là đối với con người.

Lấy cá nhân đảng viên làm trung tâm trong xây dựng đạo đức cách mạng

Trong xây dựng đạo đức cách mạng, có thể phân chia thành hai phương diện: tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên. Xét riêng về phương diện nào cũng quan trọng. Nhưng, xét về cá nhân đảng viên có vai trò rất quan trọng. Đảng là do nhiều cá nhân ưu tú trong xã hội hợp thành. Do vậy, trong xây dựng đạo đức cách mạng, bên cạnh việc xây dựng đạo đức chung cho các tổ chức Đảng, thì xây dựng đạo đức cho cá nhân đảng viên có vai trò đặc biệt quan trọng. Những chuẩn mực đạo đức cách mạng đối với đảng viên phản ánh chính xác nhất đạo đức cách mạng của toàn Đảng.

NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC

Bảo đảm nhận thức luôn đi đôi với hành động; nói đi đôi với làm

Nói đến đạo đức là nói đến thành tố ý thức đạo đức, hành vi đạo đức, hệ thống thiết chế truyền bá và giáo dục đạo đức, v.v.. Khi đã xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng rồi thì phải có những điều kiện bảo đảm thực hành có kết quả, nếu không thì sẽ trở thành lý thuyết suông. Phải thực hành đạo đức hằng ngày, tránh tình trạng nói không đi đôi với làm mà hiện nay không ít tổ chức Đảng và đảng viên mắc phải. Cần học theo nguyên tắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay như­ ở những bài học đầu tiên đào tạo, huấn luyện cho thanh niên Việt Nam yêu nước tại các lớp của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phần nhập môn, Hồ Chí Minh nêu lên Tư­­ cách của một ngư­­ời cách mệnh gồm 23 điều, trong đó có điều: “Nói thì phải làm”(10). Hoặc như trong Bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu thân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa khi Người đến thăm tháng 2/1947 trong chặng đường Người trở lại Việt Bắc lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; khi kết luận, Người kêu gọi đồng bào trong tỉnh: Hãy “xắn tay áo làm đi”(11).

Cụ thể, dễ nhớ, dễ hiểu

Xây dựng Đảng về đạo đức phải đi vào cụ thể, không chung chung, không trừu tượng, không kinh viện, để dễ nhớ, hiểu, được thực hành thường xuyên trong mỗi đảng viên và trong mỗi tổ chức Đảng. Bảo đảm tính thiết thực, mang lại kết quả rõ rệt. Nêu lên những chuẩn mực hoặc tiêu chí đạo đức cho cán bộ, đảng viên, ngoài những điều phổ quát, phải có những chuẩn mực cụ thể cho từng lĩnh vực, cho từng loại tổ chức Đảng, cho từng khối cán bộ, đảng viên.

Xây dựng Đảng về đạo đức phải bảo đảm tính nêu gương trong chuẩn mực

Gương sáng về đạo đức có tác dụng như bài học trong xây dựng Đảng về đạo đức cho con người, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên. Thường làm gương nói chung và nêu gương về đạo đức diễn ra theo “đường một chiều” (không có chiều ngược lại), nghĩa là: 1) Người lớn tuổi hơn làm gương cho người nhỏ tuổi hơn; 2) Thầy cô giáo làm gương cho học sinh; 3) Cấp trên làm gương cho cấp dưới, kể cả tổ chức Đảng cấp trên và những đảng viên giữ chức vụ cao hơn làm gương cho những đảng viên giữ chức vụ thấp hơn hoặc không giữ chức vụ gì (như Đại hội XIII của Đảng nêu: “Theo phương châm chức vụ càng cao càng phải phải gương mẫu”(12)); 4) Đảng viên làm gương cho người ngoài Đảng. Nếu làm khác “đường dẫn một chiều” đó và người lớn tuổi, cấp trên…không nêu gương sáng thì lúc đó thành “gương xấu”, như thế thì không thể nào xây dựng Đảng về đạo đức có kết quả tốt được.

Các chuẩn mực đạo đức trong xây dựng Đảng phải luôn luôn phù hợp với từng lúc, từng nơi

Cuộc sống biến đổi không ngừng, do đó không có sự vật nào bất biến. Lúc này, vấn đề này là chuẩn, nhưng lúc khác, nó không còn là chuẩn nữa mà thay thế vào đó là vấn đề khác chuẩn hơn. Điều đó cho chúng ta thấy rằng, phải luôn luôn xem xét lại để điều chỉnh cho phù hợp với từng lúc, từng nơi. Mỗi một lĩnh vực, mỗi một cấp bộ Đảng, thậm chí mỗi một vùng miền, thời kỳ, giai đoạn đều có những yêu cầu khác nhau về đạo đức. Nói như vậy không có nghĩa là không cần một chuẩn mực chung, mà là những cái chung đó là những điều bền vững nhất, có tính chất chỉ dẫn cho những chuẩn mực cụ thể cho từng lúc, từng nơi, từng lĩnh vực, từng địa bàn. Ví dụ: đức tính giản dị, lành mạnh, tiết kiệm của đạo đức đảng viên thì thời nào cũng cần, cái này thuộc về bản chất; nhưng đối với từng thời kỳ thì có thể biểu hiện khác nhau về hành vi: ăn, ở, mặc, đi lại… về cách quan hệ ứng xử cụ thể với con người, nhất là đối với dân.

Rèn luyện đạo đức suốt đời, coi trọng tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức

Đạo đức cách mạng của đảng viên không phải cứ tự nhiên mà có, nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nó không phải từ trên trời rơi xuống, mà do tu dưỡng bền bỉ hằng ngày để phát triển, củng cố, như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là tùy thuộc tinh thần tự giác của con người. Mà tinh thần tự giác đòi hỏi đạo làm người phải được thực hành liên tục. Nó là năng lượng của cuộc sống, thậm chí năng lượng đó có thể chuyển hoá sang người khác để bảo tồn và phát huy.

Tư cách của cán bộ, đảng viên được hình thành, luôn luôn được nâng cao, ngoài tác động của chung quanh, còn chủ yếu là do tự tu dưỡng rèn luyện, trong đó có tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời.

NÂNG CAO NHẬN THỨC, TRÁCH NHIỆM CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ VỀ NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Sáng 1-8, Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam chủ trì hội nghị giao ban Tổng cục Chính trị đánh giá kết quả công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) tháng 7, triển khai nhiệm vụ công tác trọng tâm tháng 8-2023.


Dự hội nghị có Trung tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.


Báo cáo và các ý kiến phát biểu tại hội nghị thống nhất khẳng định: Trong tháng 7, hoạt động CTĐ, CTCT toàn quân đã bám sát nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng Đảng bộ Quân đội, tình hình thực tiễn, triển khai toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, hoàn thành tốt các nhiệm vụ.


Nổi bật là: Làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng ý thức trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ; kịp thời tuyên truyền, định hướng tư tưởng, dư luận trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Hoàn thành có chất lượng tổng kết 12 năm thực hiện Chỉ thị 124 của Thường vụ Quân ủy Trung ương; 10 năm thực hiện Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; Hội thi cán bộ giảng dạy chính trị trong Quân đội và dân quân tự vệ cấp toàn quân năm 2023; Cuộc thi viết chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ 3-2023 với nhiều tác phẩm chất lượng tốt.


Tham mưu ban hành, triển khai Kết luận của Quân ủy Trung ương về kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2023; hoàn thành có chất lượng các cuộc kiểm tra, giám sát; lấy phiếu tín nhiệm đối với cấp ủy viên, cán bộ chỉ huy, quản lý các cấp; thực hiện công tác nhân sự, thăng quân hàm, nâng lương cán bộ chặt chẽ, đúng quy định.


Công tác bảo đảm an ninh, an toàn, dân vận, chính sách, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, hoạt động của các tổ chức quần chúng và hoạt động CTĐ,CTCT trong các nhiệm vụ được tiến hành chặt chẽ, hiệu quả. Toàn quân đã triển khai, thực hiện tốt các hoạt động Đền ơn đáp nghĩa dịp kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7-1947/27-7-2023). Tình hình chính trị, tư tưởng toàn quân ổn định; cán bộ, chiến sĩ tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Cơ quan Tổng cục Chính trị tiếp tục giữ vững ổn định, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, chấp hành nghiêm chế độ quy định.


Phát biểu kết luận hội nghị, Đại tướng Lương Cường ghi nhận, đánh giá cao các cơ quan, đơn vị đã chủ động khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Về nhiệm vụ công tác tháng 8, Đại tướng Lương Cường yêu cầu các cơ quan, đơn vị trong tổng cục chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện chặt chẽ các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, trọng tâm là: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng; nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội trong tình hình mới.


Đẩy mạnh tuyên truyền tổ chức các hoạt động kỷ niệm 78 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9; 79 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam; Ngày thành lập Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, 34 năm Ngày hội quốc phòng toàn dân (22-12-1989/22-12-2023). Tổ chức sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, triển khai nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chủ động, nhạy bén thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng, dư luận trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Đại tướng Lương Cường nhấn mạnh, toàn quân tiếp tục quán triệt, thực hiện Kết luận của Quân ủy Trung ương về kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2023. Tập trung cụ thể hóa chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư đối với cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, chiến sĩ - quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm; và tinh thần “7 dám”. Tổ chức các hội nghị phát hiện nguồn cán bộ Quân đội quy hoạch Ban chấp hành Trung ương khóa XIV và Lãnh đạo Bộ Quốc phòng nhiệm kỳ 2026-2031. Tiếp tục chỉ đạo rà soát, bổ sung phương án quy hoạch cán bộ chỉ huy, quản lý đơn vị trực thuộc Bộ.


Chỉ đạo thực hiện tốt các quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật, an toàn các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Khẩn trương hoàn thành báo cáo của Quân ủy Trung ương về kết quả thực hiện Nghị quyết số 25 của Ban chấp hành Trung ương, Kết luận số 43 của Ban Bí thư về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, đối với công tác dân vận trong tình hình mới”. Tham mưu ban hành Thông tư về việc điều chỉnh trợ cấp hằng tháng đối với quân nhân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc. Nghiên cứu, hoàn thiện nội dung về phụ cấp đặc thù; chủ trương, giải pháp hỗ trợ giải quyết chính sách, ổn định hậu phương quân đội.


Đại tướng Lương Cường lưu ý cần tiến hành chặt chẽ, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT trong thực hiện các nhiệm vụ, trọng tâm là sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; nghiên cứu đề xuất chính sách mang tính tổng thể cho các lực lượng thực hiện nhiệm vụ đặc thù. Làm tốt công tác chỉ đạo tổ chức đại hội công đoàn cấp trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và chuẩn bị các nội dung phục vụ Đại hội đại biểu Công đoàn Quân đội lần thứ X.     


Tại hội nghị, Đại tướng Lương Cường trao Bằng khen tặng các tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện thực hiện Chỉ thị số 124-CT/QUTW ngày 31-3-2011 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới và 10 năm thực hiện Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”.



TỈNH TÁO TRƯỚC ÂM MƯU CỦA KẺ THÙ!

 

         Trong khi hội nhập, mở cửa với thế giới, đất nước ta không ngừng phát triển, lớn mạnh, nhất là lĩnh vực kinh tế, ngoại giao. Tuy nhiên, mở cửa hội nhập cũng đồng nghĩa với nhiều hệ lụy, mà trước khi mở cửa chúng ta chưa lường hết trước được. 

BÌNH THƯỜNG HÓA

Đầu tiên để bình thường hóa quan hệ với mẽo, nó bảo rằng “mày phải trả nợ dùm thằng đệ tử ngụy quyền của tao, vì thời đó nó vay tao giờ mày phải trả dùm nó”. Mịa, ai đời một thằng giết hại gia đình tao, lại bắt tao trả nợ dùm nó! Nhưng vì đại cuộc, sau khi Liên Xô anh cả đổ xụp, ta phải cắn răng chịu đựng. 

VỀ TÔN GIÁO

Sau năm 1954 chúa theo đàn con chiên vô Nam, năm 1975 chúa theo đàn chiên tiếp tục vượt biển sang mẽo. Có nghĩa là ngày đó vatican không có cửa can thiệp vào chuyện tôn giáo ở Việt Nam, các linh mục chức sắc ở Việt Nam thời bấy giờ do Việt Nam quyết định và bổ nhiệm. Tới năm 2011 thì Việt Nam chính thức đồng ý để Tòa Thánh bổ nhiệm một vị Đại diện không thường trú tại Việt Nam cũng từ đây những linh mục không tuân thủ luật pháp chính quyền bắt đầu manh nha xuất hiện chống đối rầm rộ hơn, vụ nhà chung, vụ bạo loạn ở Hà Tĩnh và Nghệ An. Vậy nên các linh mục ngày càng chống đối mạnh mẽ hơn, coi thường chính quyền kỷ cương phép nước.

VỀ NHÂN QUYỀN

Sau khi Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn, thì đám tư bản nó giơ cây gậy nhân quyền ra và bắt chúng ta phải tiếp tục nhượng bộ. Ngày xưa mình xử tử hình bằng bắn súng, vừa rẻ lại tiết kiệm. Nhưng đám tây lông nó bảo rằng “cái đó là vi phạm nhân quyền, và không nhân đạo” nó gây áp lực lên chính phủ bỏ tử hình bằng bắn, chuyển sang thuốc tiêm. Bắt đầu chúng lòi trò con buôn ra, Việt Nam thừa sức sản xuất ra một liều thuốc độc, tiêm một mũi là về chầu ông bà ngay, nhưng nó lại không chịu. Nó bảo “thuốc mày không đảm bảo phải mua thuốc của tao, nếu mày không chịu thì tao sẽ bảo chính phủ tao nghỉ chơi với mày”. Vậy nên chúng ta phải cắn răng đi nhập cái thuốc tiêm vào tử tù với giá cắt cổ. Ngoài ra để hội nhập phát triển kinh tế, chúng ép chúng ta phải thả những tù nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, rồi sau đó bảo kê cho chúng ra sinh sống nước ngoài, chúng lên án khi Việt Nam bắt một ai đó trong thành phần chống phá, dùng chiêu bài kinh tế chính trị, áp đặt lên nhân quyền và công Việc nội bộ của Việt Nam.

VỀ NĂNG LƯỢNG

Chúng bắt đầu lu loa lên kích động dân chúng báo chí rằng “Nhiệt điện gây ô nhiễm, thủy điện gây lũ lụt” Cái thằng đại sứ quán mẽo nó có cái trạm quan trắc đặt ở Hà Nội. Nó luôn bảo, thủ đô chúng ta ô nhiễm trầm trọng. Xong nó bắt đầu bảo “này chúng mày phải thay thế năng lượng sạch cho năng lượng truyền thống đi, nhiệt điện công nghệ khựa ô nhiễm lắm”. Dân ta nhắc đến khựa là sôi máu lên, biểu tình đòi chính phủ đóng cửa nhà máy điện. Thế là đám tư bản mắt xanh mũi lõ trời tây nó đem cái công nghệ điện năng lượng mặt trời sang, đấy mày dùng đi tao bán rẻ cho mày thôi. Nhưng không ai biết rằng nó đắt lòi kèn ra, và Việt Nam nước còn nghèo có bán cả nước lên cũng ko đủ tiền mà nuôi đám năng lượng đó.

VỀ QUỐC PHÒNG

Lợi dụng sự tranh chấp biển đảo giữa ta và khựa, anh mẽo bắt đầu bảo “ê mày, tao viện trợ cho mày mấy cái xuồng mày chống khựa” mấy cái xuồng như cái xuồng ba lá đắt lòi kèn, nếu đóng ở Việt Nam tầm dăm triệu đô nó bảo tận 18 triệu đô. Sau đó chúng lại bảo “vũ khí Nga dở mày mua vũ khí tao đi, vũ khí tao tốt hơn”, ve vãn mãi không được, bắt đầu giở giọng dọa nạt “đứa nào mua vũ khí Nga tao cấm vận” Vậy là chúng ta phải cắn răng mua những thứ đồ mà chúng bán với giá cắt cổ, tư duy con buôn của đám tư bản là vậy. Chưa dừng lại ở đó lâu lâu nó lại đem tàu ra cà khịa thằng khựa, thế là Việt Nam phải sốt vó đối phó với anh hàng xóm.

VỀ NGOẠI GIAO

Rủ rê lôi kéo Việt Nam làm tiền đồn chống Trung Quốc gây xích mích căng thẳng với những láng giềng của Việt Nam, tách Việt Nam ra những đối tác truyền thống lâu đời như Nga. Gây áp lực ngoại giao lên Việt Nam trong những vấn đề quốc tế như Cu Ba, Triều Tiên vốn là những đồng minh thân cận lâu năm của Việt Nam.

VỀ GIÁO DỤC

Cấp học bổng du học cho nhiều người có tư tưởng thân mẽo bài trung, thậm chí cả con em của những lãnh đạo để rồi khống chế cho những hoạt động về sau này, không thằng nào nó tự nhiên tốt đào tạo nhân lực cho đất nước mình đâu. 

Mở trường học theo phong cách chuẩn kiểu mẽo, tuyên truyền giá trị tư tưởng phương tây vào tầng lớp tương lai đất nước. Ngày nay cứ lên mạng sẽ rõ, những sinh viên cậu ấm cô chiêu xem Mỹ và phương tây là giá trị, cuộc kháng chiến của đất nước đều bị vứt vào sọt rác.

VỀ TRUYỀN THÔNG

Mua chuộc, đào tạo lôi kéo những tờ báo có sức ảnh hưởng lớn, ca ngợi dân chủ phương tây, nhân quyền kiểu mẽo. Đào tạo những đội ngũ truyền thông tung vào các tòa soạn viết bài định hướng theo mô hình tư bản, dùng truyền thông cộng sản đánh cộng sản, dùng truyền thông cộng sản tô hồng phương tây, tạo ra một tâm lý nghi kỵ trong lòng dân chúng.

CHIÊU BÀI “DÂN CHỦ NHÂN QUYỀN”

Trước khi cuốn gói khỏi đất nước Việt Nam người mỹ đã tuyên bố một câu khá nỗi tiếng,và giờ họ đã và đang thực hiện được:

"Hai mươi năm sau chúng ta sẽ trở lại Việt Nam. Không phải với xe tăng, đại bác, chiến hạm hay pháo đài bay mà bằng xấp đô la. Khi đó, cờ Mỹ sẽ bay không chỉ ở Sài Gòn mà còn hiên ngang giữa lòng Hà Nội. Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô la sẽ giải quyết. Người Việt Nam sẽ đón chúng ta như những vị ân nhân".

Ba mũi giáp công đánh vào hệ thống xã hội nước ta đó là. Kinh Tế - Truyền Thông - và giáo dục. Kinh tế tăng các khoản viện trợ đầu tư, cốt làm sao đế cho người dân hiểu đó là giá trị cần hướng tới, đế có sự so sánh giữa hai mô hình. Truyền thông mở những lớp tập huấn báo chí theo tiêu chuẩn phương tây, sử dụng những cây bút những tờ báo biến chất đánh vào những điểm yếu của Đảng, làm suy giảm lòng tin của người dân qua cơ quan truyền thông sở tại. Về giáo dục viện trợ cấp học bổng, mở trường học tuyển chọn nhân tài đào tạo theo phương pháp chuẩn phương tây, tất nhiên sau khi ra trường những "tri thức" này sẽ phục vụ cho công cuộc tuyên truyền giá trị tư tưởng phương tây ngay đất nước mình. Cứ 10 sinh viên du học thì có 9 người ca ngợi mô hình giáo dục phương tây và lên án mô hình xã hội chủ nghĩa. Đây là lực lượng nòng cốt trong cuộc diễn biến hòa bình nhằm vào những nước mà phương tây xem là "độc tài thiếu dân chủ"./.

HIỂU ĐÚNG BẢN CHẤT QUYỀN LỰC TỐI THƯỢNG Ở VIỆT NAM LÀ PHỤC VỤ NHÂN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC

 

Gần 80 năm qua, kể từ ngày lập quốc theo chế độ mới đến nay, việc thực thi quyền lực nhà nước của chúng ta ngày càng đúng đắn, tốt đẹp hơn, vì sự tối thượng là phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Do đó, nếu “nhà dân chủ” nào không hiểu bản chất vấn đề, cố ý đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, đánh tráo khái niệm giữa sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ với mục tiêu, bản chất thực thi quyền lực tối cao thuộc về nhân dân của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, là điều đáng phải phê phán.


 1. Lâu nay, chúng ta đã cởi mở hơn, tin cậy hơn trong những thảo luận nhiều vấn đề về đời sống xã hội. Xã hội chúng ta ngày càng công bằng, dân chủ, văn minh hơn, trước hết do chúng ta đã biết tự cân bằng các khu vực quyền lực, ứng xử đúng mực với mọi giai tầng xã hội. Điều này không phải bây giờ mới diễn ra mà đã có từ thượng cổ. Đó chính là nền tảng văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng phong phú, sâu sắc, toàn diện và luôn được các thế hệ người Việt Nam vun trồng, bồi đắp.

Đại đức Thích Đồng Đạo, trụ trì chùa Phương Lan, xã Nam Phương Tiến (huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội) có nói đại ý rằng, để có những trang văn hay và chính xác hơn nữa đối với văn học sử của Việt Nam thì các nhà văn nên nghiên cứu thêm về lịch sử Phật giáo Việt Nam. Vì sử nước nhà có những giai đoạn song hành với sử Phật giáo. Nhiều vị quân vương nước ta lên ngôi dùng quyền lực trị vì thiên hạ đều có mối liên hệ mật thiết với Phật giáo qua các thiền sư. Khi vương triều nào đó mất đi thì các thiền sư vừa đảm nhiệm vai trò giữ đạo, vừa giữ nguồn tri thức cho dân tộc nên phần lớn các vị quân vương đều nhờ sự giáo dưỡng rất lớn của các thiền sư, mà điển hình nhất là Lý Bí, Lý Công Uẩn... Khi chúng ta nghiên cứu thêm về lịch sử Phật giáo sẽ giúp nhà văn dùng từ ngữ và các di tích liên quan đến Phật giáo và lịch sử dân tộc đúng đắn, hay hơn nhiều.

Tư duy trên của vị Đại đức phần nào nói lên rằng, nền Phật giáo Việt Nam chính là một bộ phận cấu thành nền văn hóa Việt Nam, góp phần vào sự trưởng thành đi tới văn minh của con người Việt Nam hiện đại. Đây cũng là một trong những nền tảng căn bản hình thành nên cốt cách dân tộc Việt Nam.


2. Quay lại vấn đề quyền lực. Thực ra, trong bất kỳ thể chế chính trị nào đều là câu chuyện hành xử quyền lực như thế nào để ích nước, lợi dân. Quyền lực của thể chế chính trị triều Lý, triều Trần, triều Lê đều tập trung nơi các vị vua, nơi triều đình. Thế thì tại sao, cũng là quyền lực đó ở các vị vua khai quốc, các vị minh quân, các đại thần tài đức thì nhân dân và Tổ quốc được ấm no, hạnh phúc, đất nước được bình yên, cường thịnh; nhưng với khung khổ quyền lực ấy rơi vào tay các hôn quân, gian thần đều khiến chính thể rối ren, nhân dân đói khổ, mất tự do, thậm chí mất nước, mất vương triều?

Như thế, quyền lực và thực thi quyền lực của một chế độ chính trị phải trở thành thái độ văn hóa sâu rễ bền gốc chứ không phải sự thỏa thích thực thi tất cả quyền hành để thỏa mãn chế độ chính trị đó. Nền tảng của quyền lực không thể bất định, cứng nhắc, chỉ khư khư dựa vào nguyên tắc giáo điều, mà quyền lực thời nay thể hiện tốt nhất vai trò của mình là thực thi quyền lực dựa trên nền tảng thượng tôn hiến pháp, pháp luật gắn với giá trị truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc.


3. Thời gian gần đây, một số “nhà dân chủ” trong nước và ngoài nước cho rằng, bộ máy chính trị ở Việt Nam đã lộng quyền, tham nhũng tràn lan, từ đó làm mất vai trò quyền làm chủ của nhân dân. Thực tế đó chỉ sự đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Với chế độ của chúng ta, từ khi đặt nền móng độc lập (1945) đến nay, Hiến pháp và luật pháp của Việt Nam luôn hướng tới những điều tốt đẹp, quyền lực tối thượng luôn để phục vụ nhân dân và Tổ quốc. Điều này là bất di bất dịch. Gần 80 năm qua, chúng ta đã hết sức kiên định, đem tất cả của cải và vật chất, trí tuệ và niềm tin, nhất quán với con đường đã chọn, nhưng cũng biết cách linh hoạt để bảo vệ quyền lợi cao nhất của nhân dân, của quốc gia, dân tộc.

Để giữ gìn sự liêm chính của chính thể, sự trong sạch của bộ máy công quyền, những năm qua, chúng ta đã đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kiên quyết "nhốt" quyền lực trong lồng cơ chế. Về vấn đề này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trong Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020, đã nhận định: "Thể chế nói chung, thể chế về phòng, chống tham nhũng nói riêng cùng với chuẩn mực đạo đức trên các lĩnh vực và cơ chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng. Phải xây dựng các quy chế nội bộ của Đảng, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng... Khẩn trương hoàn thiện các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch".

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng cho rằng, tham nhũng là "khuyết tật bẩm sinh" của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ ta. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn. Do vậy, trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng không được chủ quan, nóng vội, thỏa mãn; không được né tránh, cầm chừng, không "ngừng" , không "nghỉ"; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa không để xảy ra tham nhũng; đồng thời phải luôn cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.


4. Trong xu thế thời cuộc và thời đại hôm nay, thế giới chuyển động không ngừng với nhiều điểm nóng phức tạp, việc thực hành và kiểm soát quyền lực một cách bền vững để phục vụ lợi ích của nhân dân và Tổ quốc phải được đặt ra một cách có hệ thống trên nền tảng văn hóa Việt Nam. Bác Hồ từng huấn thị: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Đó chính là phương lược lâu dài của chính thể chúng ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Xã hội Việt Nam đang phát triển nhanh, khá toàn diện chính vì đã khơi dậy được nhiều nguồn lực và có cơ chế đúng đắn kiểm soát tốt các khu vực quyền lực. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa diễn ra nhanh, toàn diện đã và đang đặt ra không ít thách thức về quyền lực và thực hành quyền lực, kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Một bộ phận cán bộ, trong đó có những cán bộ cấp cao đã tha hóa biến chất, bị quyền lực, vật chất cám dỗ làm hư hỏng bản thân đến mức phải bị kỷ luật, thậm chí bị xử lý hình sự. Đây là bài học đau xót về sự thiếu giám sát, kiểm soát dẫn đến tha hóa quyền lực.

Xã hội ta đang trưởng thành về mọi mặt. Trong bước đường trưởng thành sẽ phải đối mặt và vượt qua nhiều thách thức, trở ngại, mà thách thức và trở ngại lớn nhất chính là quá trình thực thi quyền lực trong cơ chế chính trị một Đảng cầm quyền duy nhất ở nước ta. Điều này đã được Đảng, Nhà nước ta nhận thức sâu sắc, rõ ràng và đang nỗ lực thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ để bảo đảm cho đất nước ta phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Ví như mới đây, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Quy định số 114-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Quy định số 205-QĐ/TW do Bộ Chính trị khóa XII ban hành năm 2019 chỉ nói đến kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Còn Quy định số 114 đã đề cập đến việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ với phạm vi rộng hơn. Bên cạnh đó, các cơ chế, giải pháp cũng được quy định cụ thể hơn, chặt chẽ hơn. Điều này cho thấy, Đảng ta không ngừng hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh với các biểu hiện tham nhũng, tha hóa quyền lực, nhằm bảo đảm mục tiêu ở đâu có quyền lực thì ở đó phải được kiểm soát chặt chẽ.

Phải khẳng định rằng, gần 80 năm qua, kể từ ngày lập quốc theo chế độ mới đến nay, việc thực thi quyền lực nhà nước của chúng ta ngày càng đúng đắn, tốt đẹp hơn, vì sự tối thượng của nó chính là phục vụ nhân dân và phụng sự Tổ quốc. Do đó, nếu “nhà dân chủ” nào không hiểu bản chất vấn đề, cố ý đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, đánh tráo khái niệm giữa sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ với mục tiêu, bản chất thực thi quyền lực tối cao thuộc về nhân dân của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, là điều đáng phải phê phán.


NHỮNG LỜI DẠY CỦA BÁC HỒ VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI LÀM CÁCH MẠNG

 1. Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa, thì không thành trời

Thiếu một phương, thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người.

2. Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

3. Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.

4. Cần mà không Kiệm thì làm chừng nào xào chừng ấy. Cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

5. Không có đạo đức cách mạng thì tài cũng vô dụng.

6. Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

7. Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang.

8. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

9. Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần - Kiệm - Liêm - Chính thì dễ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

10. Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác.

 CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG HIỆN NAY CỦA ĐẢNG TA THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI XIII

Thực hiện đường lối, chủ trương về phòng, chống tham nhũng trong các văn kiện Đại hội XI, XII và XIII của Đảng, trong những năm qua, công tác này đã đạt được những thành quả to lớn như ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, như: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018… Những văn bản quy phạm pháp luật này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc phòng, chống tham nhũng và góp phần rất to lớn vào công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

Để phòng, chống tham nhũng, Chính phủ, các bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan nhà nước khác đã thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Thực hiện các biện pháp về minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Đổi mới khoa học công nghệ quản lý và phương thức thanh toán không dùng tiền mặt nhằm phòng ngừa tham nhũng. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đấu tranh phòng, chống tham nhũng với nhiều hình thức phong phú. Đặc biệt, Ban Chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng Trung ương, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, cùng với Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, đưa ra xét xử nghiêm minh theo đúng các quy định của pháp luật, được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ, đánh giá cao.

Bên cạnh những thành tựu đạt được công tác phòng, chống tham nhũng, vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế. Hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng còn có một số quy định chưa phù hợp, tính khả thi thấp, hoặc còn có "lỗ hổng", nhưng chưa được sửa đổi bổ sung; hoàn thiện kịp thời để làm cơ sở pháp lý cho việc phòng, chống tham nhũng. Hiện nay, quyền tiếp cận thông tin của người dân, doanh nghiệp chưa được bảo đảm đầy đủ. Một số cán bộ, công chức lợi dụng quy định về bí mật nhà nước để che giấu thông tin, nhằm mục đích tham nhũng.

Việc kê khai tài sản, thu nhập còn nặng về hình thức; hầu hết các bản kê khai chưa được kiểm tra, xác minh, kiểm chứng; chưa giúp cho các cơ quan chức năng kiểm soát được những biến động về tài sản của người có chức vụ, quyền hạn; nhiều cơ quan, đơn vị chưa nắm đầy đủ trình tự, thủ tục kê khai và công khai giải trình.

Một số người đứng đầu chưa nêu cao vai trò của mình trong phòng, chống tham nhũng, số người bị xử lý trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng ở các cơ quan, đơn vị còn ít so với số vụ việc tham nhũng được phát hiện.

Việc xử lý tham nhũng trong nhiều trường hợp còn chưa nghiêm, chưa kịp thời. Hành vi tham nhũng ngày càng tinh vi, phức tạp, vì vậy việc phát hiện và xử lý tham nhũng gặp nhiều khó khăn. Hành vi “tham nhũng vặt” của một số cán bộ, công chức chưa bị xử lý một cách triệt để.

Việc xử lý và thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, tham nhũng còn gặp rất nhiều khó khăn do một số nguyên nhân như: bị can, bị cáo trốn ra nước ngoài, hoặc bị can, bị cáo chết, hoặc chưa kiểm soát được tài sản, thu nhập của xã hội nên tài sản có nguồn gốc tham nhũng dễ dàng bị tẩu tán. Do đó, một số vụ án tiền, tài sản tham nhũng thu hồi được nhỏ hơn nhiều so với tổng số thiệt hại do các đối tượng chiếm đoạt.

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH ĐỐI VỚI

NHỮNG KẺ “HAI MẶT”, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ

Cơ hội chính trị tinh vi ứng biến với thời cuộc, diễn biến tình hình để lợi dụng “mặt tích cực” và né tránh “bất lợi” đối với bản thân; luôn mang trong mình mưu mô, toan tính và yếu tố bất mãn chính trị; ngược lại, bất mãn chính trị theo đuôi, đồng lõa với cơ hội chính trị và có thể chuyển hóa thành cơ hội chính trị. Xu hướng chung của các phần tử này là câu kết với nhau, dựa vào nhau và gắn bó chặt chẽ với các thế lực thù địch, hoặc bị các thế lực thù địch tìm mọi cách lôi kéo, mua chuộc, hà hơi, tiếp sức nhằm chống đối, cản trở cái tiến bộ, tích cực; thậm chí biến thành kẻ phản bội, phản động, đứng hẳn về phía đối lập, chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.

Để đấu tranh, chặt đứt “cái vòi”, “chân tay”, “râu ria” của những kẻ cơ hội và bất mãn chính trị một cách hiệu quả, cần có các giải pháp toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ, cơ chế, chính sách, pháp luật với quyết tâm cao. Muốn vậy, cần phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu các tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Cần chú trọng thực hiện một số biện pháp sau.

Một là, thực hiện kiên quyết, có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện nghiêm quy định về những điều đảng viên không được làm; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; không bị mắc mưu vào các âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Đây là biện pháp cơ bản, toàn diện và bao trùm trong đấu tranh với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị ở nước ta hiện nay. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng, bí thư cấp ủy phải quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng; đồng thời, nêu cao tinh thần trách nhiệm nêu gương của cán bộ chủ chốt các cấp. Cần phải nêu gương thật sự trong lời nói, hành động, công việc, cuộc sống và thực hiện nghiêm chế tài giám sát, kiểm soát sự nêu gương ấy.

Hai là, chăm lo xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự trung thành, cần, kiệm, liêm, chính, không tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mất đoàn kết. Thực hiện có nền nếp và chất lượng việc đấu tranh tự phê bình và phê bình, chủ động ngăn chặn, ngăn ngừa xu hướng cơ hội, bất mãn chính trị. Đặc biệt là cần chú trọng việc nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận, nâng cao trình độ lý luận, trình độ nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Ba là, chủ động, tích cực đấu tranh chống những biểu hiện của tư tưởng cơ hội và bất mãn chính trị trong cơ quan, đơn vị và các quan điểm sai trái, thù địch. Đề cao cảnh giác với các phần tử cơ hội chính trị muốn luồn sâu, leo cao vào bộ máy công quyền các cấp. Phát huy sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng chức năng nhằm phân loại và phát hiện kịp thời, đấu tranh hiệu quả với hoạt động phá hoại của các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.

Bốn là, trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động của các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị, cần bám sát vào quan điểm, chủ trương, đường lối, kết luận, chỉ thị và hướng dẫn của Đảng và các cơ quan chức năng Trung ương. Dựa trên cơ sở khoa học xác đáng, với luận điểm đúng đắn, luận cứ rõ ràng, luận chứng sắc bén, có tính thuyết phục cao, nhất là đấu tranh bảo vệ chính trị nội bộ, không để lộ, lọt thông tin, bí mật Nhà nước, tình hình nội bộ của cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ các phương tiện thông tin truyền thông, nhất là internet và mạng xã hội; kiểm soát, tổ chức tốt việc thu hồi tài liệu, ấn phẩm mà các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị phát tán để xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Trong bối cảnh hiện nay, các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị cần nhận diện đầy đủ, sâu sắc bản chất âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; đặc biệt là những biểu hiện chống phá tinh vi, lươn lẹo của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị. Trên cơ sở đó có biện pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả, không để chúng “tác oai tác quái”, cản trở chúng ta thực hiện sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 

 

 

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - MỘT CỘT MỐC ĐÁNH DẤU LỊCH SỬ DÂN TỘC, NGỌN ĐUỐC SOI ĐƯỜNG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ

TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã giành thắng lợi vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Không chỉ khẳng định nền độc lập dân tộc của dân tộc Việt Nam mà “Tuyên ngôn độc lập” còn phản ánh bước ngoặt con đường phát triển tất yếu của dân tộc Việt Nam đó là giành độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám thành công, giành độc lập dân tộc, “Tuyên ngôn độc lập” được công bố, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực sự là bước ngoặt của cách mạng Việt Nam trên con đường phát triển tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”. Đồng thời, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám được khẳng định trong Tuyên ngôn là cơ sở thực tiễn quan trọng, là tiền đề có ý nghĩa quyết định đến thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định, giành chính quyền mới chỉ là bước đầu của cách mạng, sử dụng chính quyền của giai cấp vô sản để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới là nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, những nội dung trong “Tuyên ngôn độc lập” phản ánh bước ngoặt trong con đường phát triển tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác - Lênin ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách mạng đã đập tan xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật đổ chế độ quân chủ phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đưa nước ta bước sang một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội” . Đồng thời, “Tuyên ngôn độc lập” là bản anh hùng ca trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Nếu các cuộc kháng chiến chống quân Tống ở thế kỷ thứ XI và chống Mông - Nguyên ở thế kỷ XIII là bản anh hùng ca bất hủ, là sự thể hiện sâu sắc và rực rỡ lòng yêu nước, khí phách anh hùng, trí thông minh, sáng tạo và sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta và tài thao lược của vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, thì “Tuyên ngôn độc lập” là kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc ta và là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca mở đầu cho một kỷ nguyên mới của dân tộc ta - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển, đảo, biên giới đất liền ở nhiều nơi giữa các nước, nhất là trên Biển Đông như hiện nay, những tư tưởng của Tuyên ngôn độc lập vẫn còn nguyên giá trị, là ngọn đuốc soi đường sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Trước hết, phải kiên định lập trường trước sau như một trong đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là mục tiêu chủ yếu, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, đó là sự kế thừa và tiếp nối ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Quán triệt tinh thần độc lập, tự do, bình đẳng dân tộc trong Tuyên ngôn độc lập, Đảng ta xác định mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”.  Vì vậy, nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ hiện nay không chỉ là chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ vùng trời, vùng biển, đảo, lòng đất của Tổ quốc mà còn gắn liền với việc bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ nhân dân; ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ, thách thức, an ninh phi truyền thống, xử lý có hiệu quả mọi tình huống liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, độc lập dân tộc không chỉ xác định trong biên giới quốc gia, mà còn thể hiện thông qua vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, trong việc hợp tác giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu, an ninh phi truyền thống và đấu tranh, bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc bên ngoài biên giới. Vận dụng những tư tưởng về độc lập, tự do, bình đẳng dân tộc trong Tuyên ngôn độc lập, Đảng ta đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, nhất là về mối quan hệ giữa hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Theo đó, Đảng ta đã đổi mới mạnh mẽ tư duy đối ngoại với phương châm “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Như vậy, “Tuyên ngôn độc lập” không chỉ phản ánh ý chí khát vọng tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam trong suốt lịch sử mấy nghìn năm lịch sử mà còn là cột mốc đánh dấu lịch sử dân tộc Việt Nam đã bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, là ngọn đuốc soi đường sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./

 

 

Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

Cách đây 78 năm, vào mùa Thu lịch sử năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám “long trời lở đất”. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam), mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, một nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Đây là một trong những thắng lợi nổi bật vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng.Không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với dân tộc Việt Nam, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 đã cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Đồng thời ảnh hưởng trực tiếp và rất to lớn đến hai dân tộc bạn là Miên và Lào.

Đánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi đã chứng minh một chân lý của thời đại: các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập, tự do; đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân và biết tranh thủ sức mạnh của thời đại thì dân tộc đó nhất định thắng lợi. Vì thế, trong diễn văn kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, Người khẳng định: “Suốt trong 80 năm nước ta bị Pháp chiếm, Nhân dân ta từ Nam đến Bắc đã nhiều lần nổi dậy chống giặc ngoại xâm. Nhưng vì bọn vua quan hèn mạt, câu kết với địch, phản nước hại dân, cho nên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại. Cách mạng Nga thành công đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, dạy cho họ cách tổ chức, đấu tranh và giành thắng lợi. Nhờ vậy mà ta có Đảng tiên phong, có Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân, kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do, làm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi. Lần đầu tiên trong lịch sử Nhân dân ta được hoàn toàn giải phóng: Đã phá tan cái xiềng xích nô lệ thực dân, đã đập đổ cái chế độ thối nát của vua quan phong kiến, đã lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ đó dân ta làm chủ nước ta”.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã chứng minh tính cách mạng, khoa học của học thuyết Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; là sự tiếp nối và là thắng lợi tất yếu sau thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại năm 1917: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã chứng minh sự đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa, đã chứng minh sự đúng đắn của con đường của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại đã vạch ra”.Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc mà ý nghĩa của những tư tưởng đó vẫn còn giá trị lâu dài.

Kỷ niệm 78 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, nhớ Bác kính yêu, chúng ta không khỏi tự hào về những năm tháng hào hùng của dân tộc dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Bác Hồ. Phát huy tinh thần và những giá trị của cách mạng tháng Tám, mùa Thu năm nay, toàn đảng, toàn quân và toàn dân đang tích cực triển khai học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người với chủ đề “Về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.