Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2024

Nhận diện và phòng ngừa các thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam hiện nay

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, những năm qua, tôn giáo là một trong những nội dung chiến lược được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội (ANCT, TTATXH), tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong.

Ảnh minh họa: TTXVN

Ảnh minh họa: TTXVN

Nhận diện các thủ đoạn, phương thức thâm độc
Qua nghiên cứu, có thể khái quát một số thủ đoạn, phương thức cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo thời gian gần đây để chống phá nước ta như sau:
Một là, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, tích cực thúc đẩy liên kết hoạt động giữa các tôn giáo hòng từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, khuếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Tây Bắc, Tây Nguyên để tập hợp quần chúng, gây áp lực với chính quyền địa phương. Chúng đã lập ra các hội, nhóm liên kết bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa tôn giáo như “Hội đồng liên tôn Việt Nam”,“Hội đồng nhân quyền Việt Nam”, “Văn phòng Công lý-Hòa bình”... để lôi kéo, mua chuộc quần chúng, tín đồ nhằm tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động phá hoại ANCT, TTATXH ở một số địa phương. Đáng chú ý, kẻ địch triệt để đẩy mạnh hoạt động lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, như: Vụ lấn chiếm đất đai trái pháp luật tại Giáo xứ Sở Kiện (Hà Nam); vụ lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái phép tại Giáo xứ Xuân Hòa (Bắc Ninh); vụ dòng Thiên An lấn chiếm đất rừng ở Hương Thủy (Thừa Thiên Huế)... Thông qua đó, đòi tư hữu hóa đất đai, gây mâu thuẫn giữa các chức sắc, tín đồ với chính quyền, kích động chức sắc, tín đồ tôn giáo cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật, chống người thi hành công vụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình ANCT, TTATXH tại địa phương...
Hai là, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc” để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng thông qua các tôn giáo đã phát triển ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... thực chất là hình thành các tổ chức phản động chống phá Nhà nước ta. Đáng chú ý, gần đây, tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” (CHPC) do A Đảo (Sa Thầy, Kon Tum) làm “Giáo hội trưởng” đã kết nối với các đối tượng trong nước tuyên truyền, lôi kéo chức sắc, tín đồ và người dân tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động. Chúng móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo Tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo kỹ năng hoạt động “xã hội dân sự”; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo ta trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế.  
Ba là, lợi dụng thần quyền, giáo lý, giáo luật để kích động, ép buộc đồng bào tôn giáo chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; lôi kéo, kích động tín đồ và nhân dân biểu tình, gây rối để lấy cớ can thiệp từ bên ngoài. Đó là những biểu hiện như hoạt động chỉ đạo, kích động chống đối chính sách, pháp luật, bất hợp tác với chính quyền trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp tại địa phương hay công khai bày tỏ thái độ thách thức chính quyền, coi thường pháp luật, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta, kêu gọi đa nguyên, đa đảng, lật đổ chế độ...  
Bốn là, triệt để tác động, lôi kéo các chính khách cực đoan trong chính trường một số nước để tác động quốc hội, nghị viện các nước này thông qua các báo cáo, nghị quyết, thông cáo xuyên tạc tình hình tôn giáo, dân tộc ở trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Thông qua các cuộc hợp tác song phương, đa phương giữa Mỹ và các nước đồng minh với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội để gây sức ép với Việt Nam về dân tộc, tôn giáo, tìm cách gắn “các yêu sách về vấn đề tôn giáo, dân tộc”, “dân chủ, nhân quyền” trong quan hệ song phương, đa phương với Việt Nam; từ đó hòng tìm cách can thiệp vào nội bộ nước ta. Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ráo riết vận động Việt kiều, người nước ngoài ủng hộ kinh phí, vật chất, phương tiện rồi tìm cách đưa vào trong nước để “nuôi dưỡng, hậu thuẫn” các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn. Chúng còn móc nối với số cơ hội chính trị trong nước thu thập tin tức, tình hình dân tộc, tôn giáo, việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật, những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở địa phương rồi bóp méo, xuyên tạc trên các diễn đàn, trên mạng xã hội, phương tiện truyền thông nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, đồng bào có đạo và nhân dân tích cực tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Các lực lượng chức năng đã kịp thời giải quyết bức xúc trong cộng đồng các tôn giáo và nhân dân, ổn định an ninh trật tự tại địa bàn, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật; tranh thủ được sự ủng hộ của đa số quần chúng và đồng bào các tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng và các địa phương đã chủ động rà soát hệ thống pháp luật về tôn giáo hiện hành, xác định nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phù hợp thực tế; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền đối nội kết hợp với tuyên truyền đối ngoại nhằm tuyên truyền mạnh mẽ về thành tựu của ta trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu, thông tin xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở trong nước, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền.   
Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác này phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tiếp tục chú trọng xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cấp cơ sở vững mạnh, trong sạch, thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.
Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa; giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật. Tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc; quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ; xây dựng LLVT nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.
Các ban, bộ, ngành chức năng cần tiếp tục chủ động, thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân, tín đồ, chức sắc tôn giáo về chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo và âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá ta thông qua nhiều kênh, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú khác nhau; làm cho tín đồ, chức sắc và người dân hiểu rằng, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật cũng là bảo vệ tôn giáo chân chính và quyền lợi của chính họ. Để từ đó khuyến khích, thúc đẩy nhân dân, tín đồ, chức sắc tự giác tham gia vào công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo vi phạm pháp luật của kẻ địch. Làm tốt công tác nắm tình hình, phát hiện, phối hợp giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn, khiếu kiện, “điểm nóng” liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. Chú trọng đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, phát huy tác dụng của các đoàn thể tôn giáo yêu nước. Kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi phát triển các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, tà đạo, đạo lạ, kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá Việt Nam.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và đấu tranh đối ngoại; thông qua các phương tiện thông tin truyền thông, qua kênh ngoại giao, hợp tác quốc tế, làm cho các nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế giới hiểu đúng, hiểu đầy đủ về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, kết quả xử lý những vụ việc, đối tượng lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, cần tuyên truyền tới đông đảo quần chúng trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng bản chất hoạt động vi phạm pháp luật của các đối tượng lợi dụng tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua. Vận động nhân dân tích cực ủng hộ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; góp phần đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, vu cáo của những phần tử xấu./.

ST.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

Nhìn lại 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch ráo riết, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công kích nền tảng tư tưởng của Đảng ta, tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng hòng làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Chính vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là cuộc chiến lâu dài, quyết liệt. Trong cuộc chiến đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải vào cuộc với quyết tâm và sự chủ động cao nhất.

“BÌNH MỚI RƯỢU CŨ”

Các thế lực thù địch đã chống phá ngay từ khi Đảng ta ra đời, chúng ta phải đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ngay từ thời điểm lịch sử đó.

Đảng càng trưởng thành và lớn mạnh, lãnh đạo nhân dân giành được thắng lợi có ý nghĩa lịch sử: Giành độc lập tự do, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa đất nước vươn lên tầm cao, từng bước tiến kịp thời đại. Thành tựu đó như cái gai trong mắt kẻ thù, càng làm cho chúng điên cuồng chống phá Đảng ta.

Nhìn lại hơn 9 thập niên qua, dù với nhiều hình thức, số lượng, tần suất, cường độ chống phá theo hướng tinh vi, xảo quyệt, điên cuồng hơn, song mục tiêu và nội dung tấn công vào hệ tư tưởng của Đảng ta của các thế lực thù địch không hề thay đổi.

Cụ thể, chúng dùng chiêu bài tung tin “thật như giả, giả như thật”, “điều không sự thật nói mãi sẽ tin là sự thật”, “nội công, ngoại kích”, “mưa dầm thấm lâu”, bôi nhọ chủ nghĩa xã hội, tung hô chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa tư bản. Nội dung chống phá của chúng nhằm vào hệ tư tưởng của Đảng ta vẫn là: Xuyên tạc học thuyết Mác - Lênin, hệ thống lý luận cách mạng và khoa học mà Đảng ta lấy làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin “Chủ nghĩa xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được”, đã “lạc hậu, lỗi thời” không còn phù hợp trong thế kỷ XXI và “ở Việt Nam không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa”… Từ đó, chúng kích động cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”, “tránh con đường đau khổ”, nên theo “con đường tư bản chủ nghĩa”.

Đặc biệt, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII chúng trắng trợn bôi đen, phủ nhận trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân với chiêu trò xuyên tạc: “Đại hội XIII chỉ là sự “sao chép” các văn kiện trước đây, “nhập khẩu lý luận”, con đường, mục tiêu, tầm nhìn của Đại hội XIII là “ngẫu hứng”, “ảo tưởng”, đường lối Đại hội đưa ra là “lý thuyết, phi thực tế”…

Đồng thời, lợi dụng những hạn chế, sai lầm trong lãnh đạo, quản lý, những tiêu cực, suy thoái trong đội ngũ cán bộ đảng viên, xoáy sâu các đại án, thổi phồng, làm sai lệch sự thật, tạo hình ảnh về Đảng và đất nước Việt Nam với gam màu xám xịt “bế tắc không chỉ về kinh tế, mà còn cả về tinh thần”, “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”. Chúng quy tội cho Đảng và trắng trợn đòi Đảng phải rút khỏi vũ đài chính trị “từ bỏ quyền lãnh đạo” của mình.

Những nội dung độc hại được các thế lực thù địch chuyển tải qua hàng ngàn ấn phẩm; diễn đàn hội thảo, tọa đàm khoa học; dịch vụ thư điện tử, chat, Website, facebook, zalo, youtube… Nội dung thông tin bịa đặt, xuyên tạc, cắt ghép, vu khống, bóp méo, bôi đen, tô vẽ, ngụy tạo. Với cán bộ, đảng viên, mọi tầng lớp nhân dân, nếu không vững vàng thì ít nhiều gây tâm lý hoài nghi, hoang mang, xói mòn, mất dần niềm tin. Xa và nguy hại hơn, làm cho nội bộ Đảng nghi kỵ, bất đồng, “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” dần trở thành lực lượng đối lập trong nội bộ; gây bất ổn chính trị xã hội, khơi nguồn biểu tình, bạo loạn, lật đổ chế độ.

CHỦ ĐỘNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Đây là nền tảng, điểm tựa, ngọn cờ, ánh sáng soi đường cho cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng của Đảng. Gần 4 năm qua, thực hiện Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị nền tảng tư tưởng của Đảng vẫn đứng vững trước sự tấn công, chống phá điên cuồng trên nhiều mặt, từ nhiều hướng của kẻ thù.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng dự báo, các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Điều đó cho thấy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là vô cùng gay go, phức tạp.

Do đó, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần tập trung thực hiện các giải pháp trọng tâm như sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng thường triệt để khai thác những “khoảng trống” lý luận của Đảng. Do vậy, Đảng và Nhà nước nên “đặt hàng” cho tổ chức, nhà khoa học lý luận từng vấn đề nổi cộm nhất để nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, đi từng bước chắc chắn, hoàn thành từng nội dung, nhằm sớm hoàn chỉnh hệ thống lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây là bước đi có tính quyết định trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ hai, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đẩy lùi quan điểm sai trái, thù địch khi trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân có sức đề kháng cao và đủ khả năng tự vệ. Muốn có điều đó, một mặt phải chủ động trang bị tri thức về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng; về lịch sử, truyền thống của dân tộc, của Đảng, mặt khác phải vạch trần được bản chất đen tối của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng để cán bộ, đảng viên và Nhân dân nắm được, hiểu rõ, thấm nhuần, tạo chất “miễn dịch” và đủ sức “tự miễn dịch” trước mọi thủ đoạn, dã tâm của kẻ thù.

Thứ ba, rà soát, củng cố, liên kết, phát huy hiệu quả hoạt động của: Hội đồng Lý luận Trung ương, các học viện, viện nghiên cứu, Tạp chí Cộng sản, hệ thống Trường chính trị và đội ngũ cán bộ lý luận của Đảng từ Trung ương đến cơ sở. Tăng số lượng, chất lượng bài viết chuyên sâu để hình thành hệ thống luận chứng khoa học, khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng và đập tan luận điệu sai trái, thù địch.

Thứ tư, chăm lo bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ cán bộ lý luận hiện tại. Có cơ chế, chính sách đặc thù tạo động lực cho họ phát huy hết khả năng của mình. Cung cấp thông tin, kể cả những thông tin phản diện kịp thời, cần khen thưởng xứng đáng tác phẩm lý luận sắc bén trên mặt trận phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Xa hơn, Nhà nước cần tuyển chọn các em học xong phổ thông cơ sở, thông minh, có năng khiếu, đủ phẩm chất tư cách nhằm nuôi dưỡng, đào tạo tập trung, chính quy, chuẩn bị đội ngũ cán bộ lý luận cho đất nước 10-15 năm tới. Đội ngũ cán bộ lý luận trong tương lai, ngoài phẩm chất phải giỏi chuyên môn, ngoại ngữ và thành thạo công nghệ thông tin, công nghệ số.

Thứ năm, đầu tư cơ sở vật chất tương xứng để đội ngũ cán bộ lý luận đủ điều kiện nắm bắt tình hình và tác nghiệp. Ngoài lập trường, bản lĩnh, ý chí, kiến thức sâu rộng, cán bộ lý luận phải được trang bị, tiếp cận với phương tiện kỹ thuật đầy đủ, hiện đại./.

ST.

Kiên quyết đấu tranh với các phần tử cơ hội

Hiện nay, các phần tử cơ hội xuất hiện ngày càng nhiều dưới những màu sắc và mức độ khác nhau, khó nhận diện. Kiên quyết đấu tranh, chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời với các phần tử cơ hội là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Ảnh: TTXVN

Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Ảnh: TTXVN

V.I.Lênin cho rằng, mặc dù chủ nghĩa cơ hội được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau với những tên gọi khác nhau trong mỗi thời kỳ lịch sử, nhưng bản chất của chúng chỉ là một. Đó là sự phản bội chủ nghĩa Mác, phản bội phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì những lợi ích cục bộ bảo thủ - mà thực chất là phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản (CNTB) - mà từ bỏ những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân. Những kẻ cơ hội chủ nghĩa đã cắt xén chủ nghĩa Mác cho phù hợp với lợi ích giai cấp tư sản, núp dưới chiêu bài bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác để xét lại chủ nghĩa Mác, “ôm hôn chủ nghĩa Mác để bóp chết chủ nghĩa Mác”. Do vậy, phần tử cơ hội chính là kẻ thù bên trong của chủ nghĩa Mác - Lênin. Những kẻ vốn bài xích chủ nghĩa Mác đã “khoác áo” chủ nghĩa Mác để lừa dối giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Chúng cản trở việc truyền bá chủ nghĩa xã hội khoa học, thực chất là giúp giai cấp tư sản truyền bá hệ tư tưởng vào trong công nhân, từ đó khiến cho việc thành lập các chính đảng của giai cấp công nhân gặp nhiều khó khăn, đẩy lùi phong trào công nhân ở các nước... Vì vậy, trong từng giai đoạn, nhiệm vụ cách mạng cụ thể, V.I.Lênin luôn kiên quyết phê phán, đấu tranh, vạch trần bản chất phản khoa học, phản động của các quan điểm, tư tưởng và hành động của những kẻ cơ hội chủ nghĩa.

Hồ Chí Minh gọi những phần tử cơ hội chủ nghĩa là bọn đầu cơ, cơ hội chủ nghĩa thực dụng với bản chất là mưu lợi cá nhân, ích kỷ, vụ lợi, chỉ tìm cách “thích nghi”, luồn lách và sẵn sàng thỏa hiệp vô nguyên tắc với mọi trào lưu. Người cho rằng bọn đầu cơ cũng giống như là bọn phản động, “là địch nhân lọt vào trong Đảng để phá hoại”.

Các phần tử cơ hội ngày nay khác với những kẻ cơ hội “cổ điển” ở chỗ, nó không còn đơn thuần là những kẻ “khoác áo” Mác-xít để đấu tranh giữa giữa hai luồng tư tưởng, mà đã “biến hóa muôn hình vạn trạng” với mức độ tinh vi hơn, ngụy trang kỹ lưỡng hơn; đội lốt “yêu nước”, “vì dân”, “đấu tranh vì dân chủ, “vì nhân quyền” để xuyên tạc, bài xích, hướng lái đòi Đảng từ bỏ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối về chủ nghĩa xã hội (CNXH)... Biểu hiện cụ thể như sau:

Một là, những đối tượng có lập trường tư tưởng chính trị không vững vàng, không kiên quyết, “gió chiều nào, che chiều đó”, dễ dao động, thiếu niềm tin, luôn hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, vào công cuộc đổi mới đất nước; hoài nghi bản thân, lý tưởng mà mình tự nguyện suốt đời phấn đấu. Khi cách mạng thuận lợi thì tỏ ra cấp tiến, khi cách mạng gặp khó khăn thì thoái lui, thoả hiệp. Họ tìm mọi cách để xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng bằng những luận điệu cũ rích của chủ nghĩa cơ hội quốc tế và những thế lực phản động như: Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ phù hợp ở Châu Âu thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX; giả bộ ca tụng, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênincắt rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận gián tiếp tư tưởng của Người.... Cùng vối đó là những kiểu cách, thủ đoạn “ngụy lý luận” để phủ định lý tưởng dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; phủ nhận CNXH hiện thực, bác bỏ con đường đi lên CNXHrêu rao rằng không có cái gọi là kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực chất Việt Nam đã đi theo con đường TBCN...

Hai là, có những đối tượng tự gắn mác “vì nước” “vì dân”, lợi dụng các đợt đóng góp ý kiến vào những dự thảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để đưa ra những quan niệm “lập lờ đánh lận con đen”. Với cái mã tỏ ra học cao, hiểu rộng, khi viết bài, đóng góp ý kiến, những phần tử cơ hội này lại có những lời lẽ, ý tứ ngụy biện trong lớp vỏ “phản biện trên tinh thần khoa học”, “thư kiến nghị”, “góp ý kiến”, “thư ngỏ”... thực chất là trực tiếp hoặc gián tiếp phản bác, đả kích quan điểm, đường lối, Cương lĩnh, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, phủ định những thành tựu cách mạng và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Trong số này có cả những cán bộ, đảng viên cấp cao, từng có công lao với Đảng và cách mạng, nhưng mắc vào chủ nghĩa cơ hội, công thần, bất mãn, không tôn trọng và đặt lợi ích của Đảng lên trên hết... dẫn đến phá hoại tổ chức.

Ba là, những kẻ “mượn gió bẻ măng”, lợi dụng những hiện tượng tiêu cực, hạn chế trong đời sống xã hội để thổi phồng, xuyên tạc vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, quy kết “sự lãnh đạo của Đảng” là nguyên nhân của “khủng hoảng toàn diện”, “đất nước lâm nguy”, “tình thế hiểm nghèo”. La lối bằng những giọng điệu “khẩn thiết” rằng: Chừng nào ở Việt Nam chỉ có độc đảng lãnh đạo thì chừng đó không thể nói tới một nền dân chủ chân chính; Việt Nam muốn phát triển, muốn có dân chủ thực sự thì phải hội nhập vào xu thế đa đảng...

Bốn là, những phần tử cơ hội trong Đảng. Những người này thường nói rất hay, làm cho nhiều người ngộ nhận, song trên thực tế hành động, lối sống và nhân cách của họ lại xa lạ với những điều họ nói. Lời nói không đi đôi với việc làm là biểu hiện thường thấy ở những phần tử cơ hội. Bên cạnh đó, họ còn nhân danh Đảng, nhân danh CNXH, khoác áo “hăng hái”, “tích cực” để thực hiện ý đồ, tham vọng “chui sâu, leo cao” rồi sử dụng quyền lực phục vụ cho lợi ích của cá nhân, nhóm nhỏ, chứ không bao giờ vì lợi của tập thể, của quốc gia - dân tộc. Các phần tử cơ hội rất giỏi che giấu mặt thật, ít bày tỏ quan điểm - chính kiến rõ ràng, thái độ chính trị trung dung, thỏa hiệp, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, chỉ làm việc có lợi cho bản thân; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng, hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ không trong sáng. Khi có đủ điều kiện về quyền lực và lực lượng thì khuynh đảo đường lối, chính sách, phản bội lại lý tưởng của Đảng.

Các phần tử cơ hội dù biểu hiện dưới hình thức nào cũng rất nguy hiểm. Đó là kẻ thù bên trong đã và đang gây ra những tổn hại tới cho sự vững mạnh chính trị, tư tưởng, tổ chức của Đảng, làm giảm sút năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, làm suy giảm uy tín của Đảng trong quần chúng nhân dân. Đồng thời, đây là đối tượng dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, mua chuộc, móc ngoặc để thực hiện âm mưu chống phá cách mạng, nhất là phá hoại nền tảng tư tưởng, chính trị hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở Việt Nam.

Vì lẽ đó, việc thẳng thắn, kiên quyết đấu tranh với các phần tử cơ hội chủ nghĩa - những kẻ thường được gọi là “giặc nội xâm” luôn là vấn đề đặt ra hết sức cấp thiết, là tất yếu khách quan trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng để bảo vệ Cương lĩnh, mục tiêu, đường lối, những thành quả của cách mạng Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”. Để đấu tranh với các phần tử cơ hội có hiệu quả, cần quyết liệt hơn nữa, tiến hành toàn diện các giải pháp, từ chính trị, tư tưởng, tổ chức. cơ chế đến chính sách, pháp luật, trong đó có những nhiệm vụ trọng tâm sau:

Nhận diện đúng những biểu hiện, quan điểm sai trái, phản động của các phần tử cơ hội và tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh phòng, chống phần tử cơ hội hiện nay.

Trong tình hình hiện nay, biểu hiện của các phần tử cơ hội là một trong những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những kẻ cơ hội thường giấu mặt rất giỏi nhưng âm mưu thủ đoạn lại rất tinh vi, xảo quyệt, nếu chỉ bằng trực quan, quan sát tthì rất khó có thể “chỉ mặt đặt tên” họ là ai trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Nhận diện đúng những biểu hiện của các phần tử cơ hội trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhận thức đúng tính chất phức tạp, khó khăn, lâu dài, quyết liệt của cuộc đấu tranh phòng, chống tệ cơ hội chính trị hiện nay chính là để tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn dân. Từ đó, chủ động, kịp thời, kiên quyết thực hiện những biện pháp, bước đi thích hợp, kết hợp chặt chẽ giữa “phòng” và “chống”, có thái độ dứt khoát, kiên quyết, triệt để, không nhân nhượng; đấu tranh trên tất cả các mặt trận chính trị, tư tưởng, lý luận, kinh tế, văn hóa, xã hội, không để những hiện tượng, biểu hiện cơ hội trở thành một trào lưu, một lực lượng cản trở sự nghiệp cách mạng Đảng, của dân tộc. Quá trình đó cần gắn với đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và cuộc đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Bảo đảm an toàn thông tin, quản lý tốt Internet, mạng xã hội để có biện pháp phân loại, đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại mọi ý đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” (Trong ảnh: Nhân viên của VNPT xử lý kỹ thuật, bảo đảm an toàn thông tin tại Trung tâm Viễn thông tỉnh Quảng Ninh­­. Ảnh: TTXVN)

Bảo đảm an toàn thông tin, quản lý tốt Internet, mạng xã hội để có biện pháp phân loại, đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại mọi ý đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” (Trong ảnh: Nhân viên của VNPT xử lý kỹ thuật, bảo đảm an toàn thông tin tại Trung tâm Viễn thông tỉnh Quảng Ninh­­. Ảnh: TTXVN)

Nâng cao hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, khóa XIII.

Đây là giải pháp cơ bản, toàn diện và then chốt, bởi nó góp phần trực tiếp thanh lọc, loại bỏ những phần tử cơ hội ra khỏi tổ chức Đảng, đồng thời tạo nên sức mạnh miễn dịch trước âm mưu, thủ đoạn chống phá. Theo đó, toàn Đảng phải nỗ lực rất cao, quyết tâm rất lớn, bền bỉ, kiên trì; tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt của các tổ chức đảng gắn với công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, kiên quyết chống chủ nghĩa cơ hội, thực dụng cho mỗi cán bộ, đảng viên; đề cao và thực hiện nghiêm phê bình và tự phê bình; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sàng lọc cán bộ, đảng viên, kiên quyết đưa những kẻ cơ hội chính trị, thực dụng, tê liệt ý chí cách mạng, thoái hóa biến chất, tham ô, lãng phí, đặc quyền đặc lợi ra khỏi Đảng. Đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự tu dưỡng rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp. Mỗi người trong thực nhiệm vụ chính trị, thực thi công vụ phải thống nhất giữa nói và làm, giữa dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo, nhất là trong phòng, chống và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội như tư duy nhiệm kỳ, đầu cơ chính trị, chạy quy hoạch, luân chuyển, chạy chức, chạy quyền...

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn trong đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội.

Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị (khóa X) về “Công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030” đã xác định: “Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội và các tư tưởng thù địch dưới mọi màu sắc”. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Theo đó, cần tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề về CNXH và con đường đi lên CNXH, những vấn đề về đảng cầm quyền.... Đặc biệt, cần đẩy mạnh cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận một cách hiệu quả; đấu tranh sắc bén với những quan điểm phi mácxit, tư tưởng cơ hội chính trị cùng những quan điểm sai trái, phản động của các phần tử cơ hội, thế lực thù địch trong và ngoài nước. Tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát triển kinh nghiệm, phương pháp đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội của C.Mác, Ph.Ănghen và V.I.Lênin; rút ra những bài học, nâng cao chất lượng hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái của các phần tử cơ hội trong giai đoạn hiện nay.

Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tăng cường sự phối hợp và tổ chức chặt chẽ giữa các lực lượng để tạo thành thế trận vững.

Không ngừng nâng cao tính chủ động, thiết thực, hiệu quả của các ban chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương trong công tác tham mưu, hướng dẫn, tổ chức thực hiện cuộc đấu tranh trên trận địa tư tưởng; tính chuyên sâu của các cơ quan nghiên cứu, của đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận, các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành; tính kịp thời, đa dạng, phong phú của các cơ quan thông tấn, báo chí... Linh hoạt, đa dạng các hình thức, phương pháp đấu tranh trực tiếp và gián tiếp; khơi dậy và phát huy cao độ khả năng, thế mạnh của mỗi tổ chức, mỗi lực lượng tham gia; khắc phục việc đấu tranh một chiều, khuôn sáo theo công thức định sẵn, thoát ly các vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn. Chú trọng xây dựng, tổ chức các lực lượng, nhất là lực lượng nòng cốt có trình độ chuyên sâu, có phương pháp khoa học, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ trong cuộc đấu tranh gay go, phức tạp này; phát triển các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ hữu hiệu để nâng cao hiệu quả giám sát, ngăn chặn liên lạc, vô hiệu hóa hoạt động tuyên truyền phá hoại của các đối tượng cơ hội trên Internet và mạng xã hội./.

ST.

Nhân tố quan trọng góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một công cuộc lâu dài, phải được thực hiện thường xuyên, liên tục với nhiều biện pháp ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong đó, bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên phải được coi là một trong những giải pháp đặc biệt quan trọng và được đặt lên hàng đầu, nhất là trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương.

(Ảnh minh họa)

(Ảnh minh họa)

Những năm qua, đặc biệt từ nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương và các cấp ủy đảng trong toàn Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt một số nội dung về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, đóng góp rất quan trọng vào công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Khối nói chung, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên, công chức trong các cơ quan Trung ương nói riêng.

Cấp ủy các cấp đã có nhận thức cao hơn về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Nhiều cấp ủy đã chủ động phối hợp với ban cán sự đảng, đảng đoàn, lãnh đạo cơ quan, đơn vị lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thành nền nếp các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhất là bồi dưỡng lý luận chính trị cho đối tượng kết nạp đảng, đảng viên mới theo Quy định số 54-QĐ/TW. Bồi dưỡng công tác đảng cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở tiếp tục được chú trọng. Việc tổ chức các lớp cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý được tăng cường theo đúng Quy định số 164-QĐ/TW. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị trong hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở các cơ quan Trung ương nói chung, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị Đảng ủy Khối nói riêng được nâng lên rõ rệt. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng được bảo đảm theo đúng yêu cầu của Trung ương. Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngày càng được chuẩn hóa, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ; việc giảng dạy đã chú trọng vào chiều sâu, lấy học viên là trung tâm để đổi mới, tăng cường chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; học tập lý luận đã gắn liền với thực tiễn thông qua các hoạt động ngoại khóa và làm việc thực tế ở các địa phương, đơn vị, doanh nghiệp…

Việc cử cán bộ, đảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng đã từng bước gắn với yêu cầu nhiệm vụ, vị trí công tác, quy hoạch và bố trí cán bộ. Bên cạnh đó, cán bộ, đảng viên cũng đã nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn vai trò và tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị, hiểu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của bản thân, từ đó, đã chủ động, tích cực học tập, nghiên cứu, để nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác. Học tập lý luận chính trị từng bước trở thành nhu cầu tự thân của cán bộ, đảng viên để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới…

Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được, công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Khối còn một số hạn chế, chưa tương xứng với vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ được giao và đóng góp thiết thực vào nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình hiện nay. Thể hiện trên một số mặt sau:

Một là, một số cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa quan tâm đúng mức đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Việc cập nhật chủ trương, văn bản mới về công tác đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị còn chậm và chưa đầy đủ.

Hai là, việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy định về phân cấp quản lý cán bộ còn khó khăn, lúng túng do chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể để áp dụng đối với cấp ủy có đặc thù như ở Đảng bộ Khối, dẫn đến sự lúng túng trong xác định đối tượng, phạm vi, thẩm quyền tổ chức bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhất là tổ chức cập nhật kiến thức cho đối tượng cán bộ thuộc diện “ban thường vụ đảng ủy quản lý”. Trong một số cơ quan, đơn vị, công tác quy hoạch cấp ủy chưa gắn với quy hoạch cán bộ, lãnh đạo, quản lý và đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên sau quy hoạch.

Ba là, công tác bồi dưỡng bí thư chi bộ, cấp ủy viên cơ sở và bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp ở một số đảng bộ chưa được thực hiện thường xuyên, bài bản, đúng quy định.

Bốn là, một bộ phận giảng viên, báo cáo viên chưa thực sự chú trọng vào việc quán triệt vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong các chuyên đề, bài giảng, chưa tăng tính tương tác, thảo luận về nội dung này đối với người học…

Để góp phần vào việc đấu tranh từ sớm, từ xa, công tác bồi dưỡng lí luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên ở các cơ quan Trung ương là nhiệm vụ có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Do đó, nhiệm vụ đặt ra đối với các cấp ủy Đảng trong Đảng bộ Khối là cần nghiên cứu và cụ thể hóa một số nội dung sau:

Thứ nhất, Đảng ủy Khối và các cấp ủy đảng trong toàn Đảng bộ cần ban hành chủ trương và chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết liệt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch. Trong đó, chú trọng chỉ đạo đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên. Đề cao vai trò, trách nhiệm của tập thể cấp ủy nhất là vai trò nêu gương của người đứng đầu.

Cấp ủy đảng trong Đảng bộ Khối cần phải thường xuyên nâng cao nhận thức, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải “vừa hồng”, “vừa chuyên”. Muốn vậy, cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thường xuyên học tập lý luận chính trị; cập nhật kiến thức mới với nội dung phù hợp với vị trí đảm nhận để đáp ứng được tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Đối tượng kết nạp đảng, đảng viên mới phải được học tập lý luận chính trị theo yêu cầu chung, đồng thời, phải được trau dồi thêm những yêu cầu cao hơn, nhất là về vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mình, của đảng bộ, cơ quan, đơn vị mình.

Thứ hai, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp đóng vai trò quyết định đến chất lượng và hiệu quả của công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên trong các cơ quan, đơn vị Trung ương. 

Cán bộ, đảng viên của Đảng bộ Khối có mặt bằng về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị cao hơn so với mặt bằng chung của cán bộ, đảng viên trong toàn hệ thống chính trị, do vậy, nội dung, phương thức bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho đối tượng là cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương càng cần thiết phải được đổi mới sao cho phù hợp với đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng, hạn chế việc trùng lặp nội dung mà không có mở rộng, phát triển thêm gây nhàm chán cho người học, lãng phí thời gian của cán bộ, đảng viên dẫn đến việc học tập chống đối, hình thức.

Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên, giảng viên giảng dạy lý luận chính trị.

Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được khái quát hoá và mang tính trừu tượng cao, do vậy đòi hỏi mỗi giảng viên giảng dạy lý luận chính trị phải là những người thực sự am hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, có hiểu biết rộng về các lĩnh vực của đời sống xã hội, có kỹ năng, phương pháp sư phạm để giảng dạy lý luận thực sự dễ hiểu, gần gũi, thuyết phục người nghe, tránh sự nhàm chán và một chiều trong giảng dạy lý luận chính.

Ngoài ra, giảng viên, báo cáo viên làm công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương phải là những người thực sự nhạy bén trong việc nhận định những quan điểm, lý luận có xu hướng xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để cung cấp cho người học những luận cứ thuyết phục phản bác lại các quan điểm sai lầm đó. Trong mỗi chương trình bồi dưỡng, báo cáo viên, giảng viên cần chú trọng đưa các chuyên đề phù hợp về “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” vào chương trình bồi dưỡng để học viên thảo luận làm rõ vấn đề đặt ra trong thực tiễn hiện nay. Bên cạnh đó, giảng viên lý luận chính trị nhất là giảng viên các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới trong Khối phải là những người có khả năng dẫn dắt, bồi đắp tình yêu, niềm tin với Đảng cho đội ngũ cán bộ trẻ.

Yêu cầu đặt ra để chuẩn hoá đội ngũ giảng viên là ngoài các chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng, phương pháp sự phạm cho đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, cần thường xuyên bồi dưỡngnâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực cho đội ngũ giảng viên trong đấu tranh bảo vệchủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểmcủa Đảng.

Thứ tư, tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ vào bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới.

Việc tụt hậu về công nghệ cũng đồng nghĩa với việc một mặt trận đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bị bỏ ngỏ. Do đó, đầu tư, hiện đại hóa cơ sở vật chất và ứng dụng khoa học, công nghệ vào công tác bồi dưỡng lý luận chính trị vừa nhằm mục đích nâng cao hiệu quả dạy và học, tạo hứng thú trong quá trình học tập của học viên, đó cũng chính là quá trình gắn lý luận với thực tiễn, gắn những lý luận của bài giảng với sự trực quan, sinh động của internet và mạng xã hội, qua đó góp phần nâng cao trình độ khai thác, sử dụng công nghệ thông tin của giảng viên, báo cáo viên và cán bộ, đảng viên trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ năm, phát huy dân chủ, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên chỉ thực hiện có hiệu quả nếu người học tự ý thức được tầm quan trọng của việc học tập, chủ động và sáng tạo trong quá trình tiếp thu tri thức. Khắc phục kiểu học “thầy đọc, trò chép” và bệnh “lười học, ngại học lý luận chính trị”. Cán bộ, đảng viên trong Khối các cơ quan Trung ương phải là người nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc học, xem đây vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa là quyền lợi của bản thân; phải thực sự là tấm gương về việc tự học, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ lý luận chính trị; chủ động, tự giác, tích cực trong học tập, nghiên cứu; học ở mọi nơi, mọi lúc, “học ở trường, ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân”.

Thứ sáu, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát quá trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị ở các cấp để đảm bảo việc thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các quy định của Trung ương về bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, đảm bảo chất lượng, tránh lãng phí trong dạy và học lý luận chính trị. Có biện pháp kiểm tra, đánh giá chất lượng của người học để làm cơ sở cho việc quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ của cơ quan, đơn vị.

Để những nội dung nêu trên thực sự hiệu quả và đi vào thực tiễn, các cấp ủy đảng và mỗi cán bộ, đảng viên trong các cơ quan Trung ương cần nêu cao hơn nữa ý thức trách nhiệm; nêu cao tinh thần chủ động, tự học tập, tự trang bị kiến thức để đủ năng lực sẵn sàng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Chỉ có như vậy thì việc bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên trong các cơ quan Trung ương mới có kết quả và mang lại giá trị trong thực tế./.

ST.