Thứ Hai, 6 tháng 5, 2024

Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa dự Khai mạc Triển lãm ảnh “Tổ quốc bên bờ sóng”

 (TG) - Kỷ niệm 49 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2024), 138 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886 - 1/5/2024), chiều 25/4, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương cùng Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam phối hợp tổ chức Triển lãm ảnh với chủ đề “Tổ quốc bên bờ sóng”  “Thành phố Hồ Chí Minh - vì cả nước, cùng cả nước”.

Tham dự sự kiện có các đồng chí: Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Hồ Hải, Phó Bí thư thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (Thành phố); Vũ Thanh Mai, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Phan Nguyễn Như Khuê, Ủy viên Ban thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố; Chuẩn đô đốc Đỗ Văn Yên, Phó Chính ủy Quân chủng Hải quân; Trần Thị Thu Đông, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam; các Phó chủ tịch UBND Thành phố: Dương Anh Đức, Nguyễn Văn Dũng; lãnh đạo một số vụ, đơn vị chức năng của Ban Tuyên giáo Trung ương và đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang Thành phố, các Hội Văn học Nghệ thuật cùng đông đảo nhân dân…

Sau chương trình văn nghệ đặc sắc với các tiết mục hát múa về Tổ quốc; biển, đảo quê hương và Thành phố Hồ Chí Minh Anh hùng, phát biểu Khai mạc Triển lãm, đồng chí Nguyễn Hồ Hải, Phó Bí thư thường trực Thành ủy Thành phố nhấn mạnh, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là một trang sử hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc ta. Chúng ta đã hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa - dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đồng chí Nguyễn Hồ Hải nêu, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng rất nhiều lần khẳng định: “Biển ta là “biển bạc”, biển nước ta dài và rộng chứa nhiều tài nguyên phong phú và quý hiếm là nguồn lực to lớn góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững”. Tư tưởng xuyên suốt này của Người có giá trị to lớn đối với chúng ta trong công cuộc phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc ngày nay.

Thay mặt Ban Tổ chức Triển lãm, đồng chí Phó Bí thư Thường trực Thành phố cho biết, “Tổ quốc bên bờ sóng” là tên gọi chung cho các sản phẩm/dự án tuyên truyền về đề tài biển, đảo Việt Nam do Ban Tuyên giáo Trung ương triển khai thực hiện từ năm 2021. Ngoài mục đích giới thiệu, quảng bá về tiềm năng, vẻ đẹp của thiên nhiên, con người vùng biển, đảo Việt Nam đến với đông đảo công chúng yêu nghệ thuật trong nước và ở nước ngoài, Cuộc thi ảnh nghệ thuật cấp quốc gia “Tổ quốc bên bờ sóng” (Cuộc thi) còn tiếp tục tuyên truyền, khẳng định chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước, những nỗ lực của các địa phương trong việc thực hiện Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Trong năm 2023, cuộc thi đã nhận được gần 10 ngàn tác phẩm dự thi, các tác phẩm được đầu tư công phu, bám sát chủ đề cuộc thi, có tư duy sáng tạo, nhiều góc chụp mới, ấn tượng, thể hiện được: Tiềm năng, vẻ đẹp của biển, đảo Việt Nam; Tình yêu quê hương, đất nước, sự gắn bó của các thế hệ người Việt Nam với biển, đảo của Tổ quốc; các hoạt động khai thác và phát triển tiềm năng du lịch Việt Nam, cải thiện môi trường sinh thái vùng biển và ven biển, quảng bá nhiều hơn những giá trị văn hóa độc đáo của cộng đồng cư dân biển; những thành tựu phát triển về kinh tế - văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh của vùng biển, đảo trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế... Những kết quả này đã minh chứng cho sự quan tâm sâu sắc của các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp, những người yêu thích nhiếp ảnh, các tầng lớp Nhân dân trong cả nước, nhất là thế hệ trẻ đối với biển, đảo Việt Nam.

Theo đồng chí Nguyễn Hồ Hải, Triển lãm ảnh lần nay nhằm tiếp tục lan tỏa kết quả của Cuộc thi, khẳng định những thành tựu mà Đảng, đất nước đã giành được trong thời gian qua; tiếp tục khẳng định cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đặc biệt là những thành tựu quan trọng, khá toàn diện trong tương quan với nhiều quốc gia trong khu vực, trong đó có bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển...

Bên cạnh đó, Triển lãm lần này đã giới thiệu khái quát về cuộc đấu tranh hào hùng của quân và dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng thời, Triển lãm còn nêu bật những hình ảnh về Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy truyền thống năng động, sáng tạo để tìm tòi, thử nghiệm những mô hình mới mang tính đột phá, từng bước tháo gỡ những khó khăn; chủ động thích ứng với tình hình mới, đề ra nhiều giải pháp mang tính “xé rào” để giải phóng sức lao động, thúc đẩy sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Đặc biệt là những hình ảnh của Thành phố bước vào thời kỳ Đổi mới, khẳng định sức mạnh nội lực to lớn, từng bước chuyển mình mạnh mẽ, đạt nhiều thành tựu quan trọng, tiếp tục giữ vững vai trò trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, là đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, đầu tàu, động lực của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước; các hoạt động của Thành phố hướng đến xây dựng Thành phố trở thành đô thị thông minh, Thành phố tiên phong trong khởi nghiệp và sáng tạo, trở thành vùng động lực trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; những công trình quy mô mang lại diện mạo mới cho Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện sức bật vươn lên, xứng đáng với vinh dự lớn, được mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh...

“Thành phố Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử nước nhà như là một biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, biểu tượng của sự năng động, sáng tạo, luôn đi đầu trong đổi mới; tiếp tục khẳng định “Thành phố Hồ Chí Minh - Vì cả nước, cùng cả nước”, đồng chí Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố nhấn mạnh.

 

Triển lãm ảnh “Tổ quốc bên bờ sóng” và “Thành phố Hồ Chí Minh - vì cả nước, cùng cả nước” kéo dài từ ngày 25/4 đến ngày 2/5/2024 tại đường đi bộ Nguyễn Huệ, Thành phố Hồ Chí Minh. Ở mảng chủ đề “Tổ quốc bên bờ sóng”, Triển lãm trưng bày chọn 154 tác phẩm ảnh tiêu biểu của Cuộc thi ảnh nghệ thuật cấp quốc gia “Tổ quốc bên bờ sóng”, trong đó có 22 tác phẩm đoạt giải thưởng gồm: 2 giải Nhất, 4 giải Nhì, 6 giải Ba và 10 giải Khuyến khích nhằm giới thiệu tới nhân dân Thành phố, công chúng trên khắp mọi miền của Tổ quốc, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế.

 

Ở mảng chủ đề "Thành phố Hồ Chí Minh - vì cả nước, cùng cả nước", Triển lãm trưng bày các hình ảnh về những nội dung: Giới thiệu khái quát về đại thắng mùa Xuân năm 1975 - đỉnh cao cuộc đấu tranh hào hùng của quân và dân miền Nam với sự động viên sức người, sức của to lớn của cả nước; Phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Công nhân Thành phố phát huy truyền thống, bản lĩnh, trí tuệ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm; Thành phố Hồ Chí Minh - Thành phố truyền thống, thành phố nhân ái, nghĩa tình…/.

Tin, ảnh: THẾ HOÀNG

Góp ý vào dự thảo Báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn qua 50 năm đất nước thống nhất

 (TG) - Ngày 2/5, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương (Hội đồng) tổ chức Kỳ họp thứ chín nhiệm kỳ 2021-2026 cho ý kiến vào dự thảo Báo cáo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 50 năm đất nước thống nhất (1975-2025), góp phần hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Phát biểu khai mạc Kỳ họp, GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nêu rõ, nội dung của Kỳ họp thứ 9 tập trung thảo luận, góp ý kiến vào Dự thảo Báo cáo tổng kết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 50 năm đất nước thống nhất (1975-2025), góp phần hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", góp phần cung cấp những căn cứ lý luận và thực tiễn phục vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong lãnh đạo, chỉ đạo và chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Với tầm quan trọng trên của Kỳ họp, GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng đề nghị các thành viên Hội đồng và chuyên gia cao cấp phát huy tinh thần trách nhiệm, sáng tạo, trí tuệ tập thể, phát biểu, thảo luận những vấn đề trọng tâm của Kỳ họp.

Sau phát biểu khai mạc và nghe trình bày tóm tắt Dự thảo Báo cáo, các đại biểu đã tập trung thảo luận sâu, nhấn mạnh, bổ sung một số nội dung về các vấn đề trọng tâm trong dự thảo gồm: bối cảnh thế giới và trong nước qua 50 năm đất nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội cùng những tác động đến sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; về một số vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu qua 50 năm đất nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Các đại biểu cũng cho ý kiến về nội dung: thời cơ, thách thức và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục làm rõ về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới, góp phần hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Các đại biểu đã nghiêm túc nghiên cứu 5 bài học kinh nghiệm khái quát từ thực tiễn 50 năm đất nước thống nhất: 1) kiên định các mục tiêu đã chọn; 2) lấy dân làm gốc, dân là trung tâm; 3) đảm bảo tính đồng bộ, toàn diện, có bước đi và hình thức thích hợp trong xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; 4) kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế; 5) sự lãnh đạo, cầm quyền đúng đắn của Đảng.

Phát biểu kết luận Kỳ họp, GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng đánh giá cao ý thức trách nhiệm, tâm huyết của các đồng chí thành viên Hội đồng, thể hiện qua các ý kiến xác đáng, trí tuệ.

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng nhận định sự kiện thống nhất đất nước đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước ta; đó là cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Ý nghĩa của việc thống nhất đất nước còn được thể hiện qua sự thống nhất toàn diện: về tư tưởng, ý thức hệ; về đường lối chính sách; về hệ thống kinh tế; về văn hoá - xã hội; về khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài… Qua đó, khẳng định sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam; khẳng định mô hình thống nhất của hệ thống chính trị Việt Nam; khẳng định mô hình thống nhất của bộ máy nhà nước Việt Nam; khẳng định sự thống nhất mọi vùng lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam. Đồng thời, cần nhấn mạnh trải qua 50 năm thống nhất đất nước, Việt Nam đang chuẩn bị bước sang một giai đoạn mới, đó là hướng tới kỷ niệm 100 thành lập Đảng; 100 năm thành lập nước.

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng đề nghị Thường trực Hội đồng chỉ đạo tiếp thu ý kiến của các đại biểu, từ đó, hoàn thiện, nâng cao chất lượng Báo cáo, sớm trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư, góp phần chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Với tinh thần làm việc nghiêm túc, dân chủ, cởi mở, thẳng thắn, Kỳ họp thứ 9 Hội đồng Lý luận Trung ương đã hoàn thành chương trình đề ra./.

HOÀNG MINH

Tháng 12-1986: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng

 (TG) - Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu n­ước, miền Nam đ­ược hoàn toàn giải phóng, đất nư­ớc thống nhất, non sông thu về một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong niềm vui chiến thắng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả n­ước bắt tay vào hàn gắn vết th­ương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, từng bư­ớc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

Từ thời chiến chuyển sang thời bình, đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư­ duy, thay đổi nội dung và phương thức lãnh đạo cho phù hợp với tình hình mới. Nghị quyết Đại hội IV và Đại hội V của Đảng đã đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, từng bư­ớc xây dựng nư­ớc ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh. Tuy vậy, do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, đất nước vừa trải qua nhiều năm chiến tranh, cơ chế tập trung, quan liêu, hành chính mệnh lệnh đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người, việc đổi mới t­ư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với điều kiện mới chư­a đư­ợc đặt ra một cách đúng mức. Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một mặt, tạo ra những thuận lợi vô cùng to lớn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; mặt khác, cũng tạo ra tâm lý chủ quan duy ý chí cản trở sự phát triển nhận thức của Đảng. Trên nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề, tình trạng Đảng bao biện làm thay khá nghiêm trọng, dẫn đến hệ thống chính trị bị xơ cứng, kém hiệu quả. Hoạt động của Nhà n­ước và các đoàn thể quần chúng nhiều khi chỉ mang tính hình thức. Tính độc lập, chủ động của Nhà n­ước bị vi phạm, hiệu lực quản lý của bộ máy nhà n­ước bị hạn chế. Kinh tế - xã hội thiếu năng động. Quyền làm chủ của Nhân dân không được coi trọng, phát huy một cách thực chất.

Chiến tranh kết thúc, sự viện trợ của các nước anh em giảm dần và chuyển sang hợp tác, trao đổi theo giá thị trường quốc tế. Các thế lực phản động quốc tế câu kết với nhau chống phá quyết liệt cách mạng n­ước ta. Chiến tranh bùng nổ ở hai đầu biên giới. Mỹ tiến hành cuộc bao vây, cấm vận n­ước ta ngày càng khắc nghiệt. Sau sự kiện Campuchia, nước ta gặp rất nhiều khó khăn trong quan hệ đối ngoại, vị thế đất nước bị giảm sút trên tr­ường quốc tế...

Do những sai lầm trong đư­ờng lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và quản lý kinh tế, tình hình kinh tế - xã hội đất nư­ớc ngày càng khó khăn: tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, lạm phát phi mã[1], hiệu quả đầu tư­ hạn chế, đời sống Nhân dân không đ­ược cải thiện, thậm chí nhiều mặt còn sa sút hơn... Đất nước dần lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng.

Tr­ước tình hình đó, Đảng ta đã có nhiều chủ trư­ơng, biện pháp từng bư­ớc tháo gỡ khó khăn. Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ư­ơng khóa IV về ph­ương hư­ớng phát triển hàng tiêu dùng và công nghiệp địa ph­ương, tháo gỡ các rào cản, làm cho sản xuất “bung ra”; Chỉ thị số 100-CT/TW, ngày 31-1-1981 của Ban Bí th­ư khóa V về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và ng­ười lao động trong hợp tác xã nông nghiệp... đã tạo ra những bước đột phá nhất định, song vẫn không làm thay đổi được đáng kể tình hình kinh tế - xã hội đất nước. Cuộc cải cách giá - l­ương - tiền năm 1985 không những không cải thiện đ­ược tình hình, mà còn làm cho đời sống của Nhân dân khó khăn hơn. Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã được triệu tập. Sau những ngày họp nội bộ (từ ngày 5 đến ngày 14-12-1986), từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986, Đại hội họp công khai. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng, trong số đó có 925 đại biểu thuộc đảng bộ của 40 tỉnh, thành phố, đặc khu, 172 đại biểu thuộc các đảng bộ trực thuộc Trung ương, 153 đại biểu nữ, 115 đại biểu thuộc các dân tộc thiểu số, 50 đại biểu là anh hùng lực lượng vũ trang và anh hùng lao động, 72 đại biểu là công nhân trực tiếp sản xuất... Đến dự Đại hội có 35 đoàn đại biểu quốc tế[2].

Đồng chí Nguyễn Văn Linh đọc Diễn văn khai mạc, đồng chí Trường Chinh đọc Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Võ Văn Kiệt đọc Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội trong 5 năm 1986 - 1990.

Đại hội khẳng định: “Quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học”[3].

Đại hội đánh giá cao quá trình dân chủ hóa sinh hoạt chính trị của Đảng và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đại hội.

Đại hội đã hoàn toàn nhất trí với những kết luận của Ban Chấp hành Trung ương về đánh giá tình hình, tổng kết kinh nghiệm, xác định mục tiêu và phương hướng, chính sách nhằm đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tiếp tục tiến lên.

Đại hội nhận định: “Năm năm qua là một đoạn đường đầy thử thách đối với Đảng và nhân dân ta. Cách mạng nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi cơ bản, nhưng cũng có nhiều khó khăn, phức tạp. Thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu do Đại hội lần thứ V của Đảng đề ra, nhân dân ta anh dũng phấn đấu, khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngại, đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, giành những thắng lợi to lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế”[4]. Bên cạnh việc khẳng định những thành tích đã đạt được, Đại hội cũng đã nhận rõ: “Tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt: sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng.

Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân2.

Không đánh giá thấp những nguyên nhân khách quan, Đại hội cũng nghiêm khắc nêu rõ, nguyên nhân chủ quan của tình hình khó khăn, khủng hoảng là do những sai lầm, khuyết điểm trong sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước. Đại hội nhận định trong những năm 1976 - 1980, trên thực tế, chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết; vừa nóng vội, vừa buông lỏng trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp. Trong những năm 1981 - 1985, Đảng chưa cụ thể hóa đường lối kinh tế trong chặng đường đầu tiên, chưa kiên quyết khắc phục chủ quan, nóng vội và bảo thủ, trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông, đã buông lỏng chuyên chính vô sản trong quản lý kinh tế - xã hội, trong đấu tranh tư tưởng, văn hóa, trong việc chống lại những âm mưu, thủ đoạn phá hoại thâm độc của kẻ thù. “Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện[5].

Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế - xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng. Đó là những biểu hiện của tư tưởng tiểu tư sản vừa tả khuynh, vừa hữu khuynh. “Những sai lầm và khuyết điểm trong lĩnh vực kinh tế, xã hội bắt nguồn từ những khuyết điểm trong công tác tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng”[6].

Trên cơ sở thực tiễn cách mạng của 10 năm vừa qua, Đại hội nêu lên bốn bài học kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng:

- Phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.

- Phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.

- Phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới.

- Phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa[7].

Về nhiệm vụ chiến lược cách mạng, Đại hội khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”[8].

Về nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội xác định: “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo2.

Trong khi đặt nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội lên hàng đầu, Đại hội vẫn khẳng định phải “đề cao cảnh giác, tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước, quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống để bảo vệ Tổ quốc”3.

Đại hội giao cho Ban Chấp hành Trung ương khóa VI chỉ đạo thực hiện thành công những nhiệm vụ đề ra trong Báo cáo chính trị, mà quan trọng là: (1) Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình kinh tế lớn là lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu (2) Thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách thường xuyên với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất (3) Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế (4) Giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông (5) Xây dựng và tổ chức thực hiện một cách thiết thực và có hiệu quả các chính sách xã hội (6) Tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước (7) Tăng cường hoạt động trên lĩnh vực đối ngoại (8) Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa (9) Xây dựng Đảng thật sự ngang tầm một đảng cầm quyền có trọng trách lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược (10) Nâng cao hiệu lực chỉ đạo và điều hành của bộ máy đảng và nhà nước.

 

Ban Chấp hành Trung ương phải chỉ đạo tiến hành trong toàn Đảng và toàn xã hội “cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng; làm trong sạch và nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước; đẩy lùi và xóa bỏ các hiện tượng tiêu cực, làm lành mạnh các quan hệ xã hội và thực hiện công bằng xã hội[9].

Đại hội quyết định bổ sung và sửa đổi một số điểm cụ thể trong Điều lệ Đảng cho phù hợp với tình hình mới và bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI, gồm có 124 ủy viên chính thức, 49 ủy viên dự khuyết. Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm có 13 ủy viên chính thức, 1 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ được giao trách nhiệm làm Cố vấn cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng là đại hội kế thừa và quyết tâm đổi mới, đoàn kết tiến lên của Đảng ta. Thành công của Đại hội đã mở ra một bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam, đưa đất nước bước sang một giai đoạn phát triển mới.

TG

Kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ về thăm Nhà máy và 20 năm thành lập Công ty Cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông

 (TG) - Sáng ngày 27/4, tại Hà Nội, Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông tổ chức Lễ báo công với Bác Hồ nhân kỷ niệm 60 năm Người về thăm công ty và kỷ niệm 20 năm thành lập công ty cổ phần.

Báo cáo tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Đoàn Thăng, Tổng giám đốc Công ty nhấn mạnh, Lễ báo công với Bác Hồ đã trở thành ngày hội truyền thống của Rạng Đông.

Được thành lập từ năm 1961, đến năm 2004, Rạng Đông đã được cổ phần hoá và đến năm 2015 đã không còn vốn cổ phần của Nhà nước.

Hơn 60 năm xây dựng và phát triển, Rạng Đông đã chuyển từ một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh theo cách truyền thống sang doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học công nghệ và đang hướng đến mục tiêu doanh nghiệp thực số, thực hiện chuyển đổi xanh, đóng góp vào nền kinh tế xanh của đất nước.

Từ việc chú trọng yếu tố này, đội ngũ lãnh đạo Công ty đã có chiến lược huy động tinh hoa đại chúng, liên kết tri thức bên ngoài từ hạt nhân là 4 Trung tâm gồm: Trung tâm Tư vấn chuyển đổi số, Trung tâm R&D chiếu sáng, Trung tâm R&D công nghệ số, Trung tâm R&D các mô hình kinh doanh hiện đại. Từ các trung tâm này, Rạng Đông nhận được chuyển giao tri thức từ Liên minh Chiếu sáng rắn quốc tế, từ các đối tác chiến lược là các tập đoàn hàng đầu thế giới về sản xuất LED, các tập đoàn công nghệ hàng đầu Việt Nam, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, các viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia chuyên ngành…


Đặc biệt sau 20 năm cổ phần hóa (2003-2023), Rạng Đông đạt doanh thu tăng 24 lần, nộp ngân sách nhà nước tăng 16,8 lần, lợi nhuận thực hiện tăng 34,7 lần. Trong 4 năm 2020-2023, dù chịu nhiều ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, song nhờ chuyển đổi số nên tốc độ tăng trưởng doanh thu của Rạng Đông vẫn giữ mức cao từ 15-20%.

Theo báo cáo tài chính của Rạng Đông, trong quý 1/2024, doanh thu đạt hơn 2.831 tỷ đồng, tăng trưởng 32,6% so quý 1/2023. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 194,6 tỷ đồng, tăng gần 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Hiện giá cổ phiếu RAL của Rạng Đông liên tục tăng và giữ ở mức cao lên tới hơn 131.000 đồng/cổ phiếu.

Năm 2024, Công ty đưa ra mục tiêu doanh thu lên tới 11.000 tỷ đồng, tăng 32% so với năm 2023. Tầm nhìn đến năm 2025 sẽ là trở thành doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp số. Đến năm 2030 đưa thương hiệu Rạng Đông lên tầm khu vực, doanh thu tầm tỷ đô. Vì thế, lãnh đạo Công ty cho biết sẽ chuyển đổi theo hướng phát triển công nghệ cao, tiên phong chuyển đổi số, chuyển đổi xanh...

Trong khuôn khổ chuỗi sự kiện kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ về thăm Nhà máy và 20 năm thành lập Công ty cổ phần, chiều ngày 26/4/2024, tại Trung tâm hội nghị Quốc gia, Công ty Cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông tổ chức Ngày công nghệ lần thứ 9 (Techday9) - Triển lãm các thành tựu sau 4 năm chuyển đổi số (2020-2024) và Workshop “Từ nhà máy thông minh đến ngôi nhà thông minh”.

Tại sự kiện, các chuyên gia của Công ty CP Bóng đèn phích nước Rạng Đông đã giới thiệu những thành tựu về ứng dụng công nghệ mới trong lĩnh vực Smart home; giải pháp toàn diện cho Smart Building (BMS) - giải pháp tích hợp BMS và nhà thông minh (RalliSmart). Cùng với đó là ứng dụng thực tế của giải pháp Smart home, Smart city của Rạng Đông; chuyển đổi kép nhà máy thông minh Rạng Đông.

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế tại sự kiện, nhờ chuyển đổi số mạnh mẽ, hướng đến việc đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước ưu tiên sử dụng sản phẩm xanh, thân thiện môi trường, hạn chế phát thải carbon, Công ty CP Bóng đèn phích nước Rạng Đông đạt được thành tựu tăng trưởng trong những năm gần đây, vượt qua khó khăn của dịch COVID-19.

Nhờ kiên trì con đường phát triển bằng khoa học - công nghệ, đổi mới - sáng tạo, phát huy hiệu quả mô hình sáng tạo mở, chiến lược chuyển đổi số, hoạt động sản xuất kinh doanh của Rạng Đông giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn 2030 đã đạt kết quả tốt đẹp bước đầu.Triển lãm các thành tựu sau 4 năm chuyển đổi số (2020-2024) của Công ty Rạng Đông.

Rạng Đông được Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông tặng bằng khen “Đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện chuyển đổi số giai đoạn 2020 - 2023”. Được xếp hạng Top 10 doanh nghiệp tiên phong triển khai công nghệ số./.

Tin, ảnh: DUY PHONG

Viettel trình diễn năng lực công nghiệp quốc phòng tại Malaysia

 (TG) - Viettel High Tech, đại diện của Tập đoàn Viettel sẽ tham dự Sự kiện DSA và NATSEC 2024 thuộc Top 5 Triển lãm Quốc phòng và an ninh lớn nhất thế giới. Sự kiện năm 2024 được coi là sự kiện lớn nhất trong 18 năm tổ chức với sự tham gia của hơn 1.200 doanh nghiệp từ 60 quốc gia, gần 400 đoàn từ 45 quốc gia, dự kiến thu hút hơn 50.000 khách tham quan.

Thông tin từ Tổng Công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel (Viettel High Tech) sáng ngày 3/5 cho biết: Năm 2024, tiếp tục hiện thực hóa tầm nhìn trở thành doanh nghiệp quốc phòng toàn cầu, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) với đại diện là Viettel High Tech sẽ tham dự Hội nghị Quốc phòng châu Á (DSA 2024) và Hội nghị An ninh Quốc gia châu Á 2024 (NATSEC) tại Malaysia từ ngày 6 - 9/5/2024. Đây là 1 trong các thị trường công nghiệp quốc phòng tiềm năng mà Viettel hướng tới.

DSA và NATSEC 2024 thuộc Top 5 Triển lãm Quốc phòng và An ninh lớn nhất thế giới. Sự kiện năm 2024 được coi là sự kiện lớn nhất trong 18 năm tổ chức với sự tham gia của hơn 1.200 doanh nghiệp từ 60 quốc gia, gần 400 đoàn từ 45 quốc gia, dự kiến thu hút hơn 50.000 khách tham quan. Viettel tham dự triển lãm với vai trò là gian hàng quốc gia Việt Nam, hiện diện cùng 33 gian hàng quốc gia trên toàn thế giới trong không gian triển lãm 45.000m2. Nhiều công ty hàng đầu thế giới trong lĩnh vực quốc phòng như BAE Systems, Raytheon, SAAB, Thales… thường xuyên tham gia sự kiện, cùng với các công ty hàng đầu của Malaysia là Boustead, DEFTECH, Sapura.

Trong lần xuất hiện này tại DSA & NATSEC, Viettel High Tech không chỉ giới thiệu hệ thống sản phẩm quân sự tiên tiến mà còn trưng bày các module thành phần, phản ánh năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi và thiết kế từng cấu phần sản phẩm. Đặc biệt, sau thành công của các hợp đồng triển khai hệ thống 5G tại Ấn Độ, trong đó có hợp đồng được ký kết tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022, Viettel High Tech có được những cơ hội hợp tác mới trong lĩnh vực quân sự và sản phẩm lưỡng dụng. Ngay khi công bố tham gia DSA & NATSEC, Viettel High Tech đã nhận được đề nghị hợp hợp tác từ các đối tác lớn ở khu vực Trung Đông và châu Á, mở ra các cơ hội kinh doanh mới, đặc biệt trong lĩnh vực 5G.

Từ chủ đề của DSA & NATSEC 2024 "Xây dựng tương lai vững chắc cho các quốc gia phát triển", Viettel mang đến dải dải sản phẩm quân sự đa dạng và nguồn lực chất lượng cao, cung cấp các giải pháp R&D hoàn chỉnh tới khách hàng quốc tế. Không những thế, gia nhập chuỗi cung ứng quốc phòng thế giới, Viettel High Tech sẵn sàng hợp tác với các đối tác toàn cầu, trở thành nhà đồng phát triển sản phẩm, tuỳ biến sản phẩm theo nhu cầu cụ thể của khách hàng. Khả năng tùy biến là lợi thế của Viettel High Tech so với các doanh nghiệp, tập đoàn công nghiệp quốc phòng lớn trên thế giới.

Sau khi tham dự 2 triển lãm quân sự vào năm 2023 là Triển lãm Công nghiệp Quốc phòng Quốc tế (MSPO) tại Ba Lan và Triển lãm Quốc phòng-An ninh (D&S) tại Thái Lan với 06 hợp đồng hợp tác quốc tế được ký kết, sự xuất hiện của Viettel High Tech tại Malaysia lần này hứa hẹn những cơ hội hợp tác tiềm năng trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng. Sự bắt tay giữa Viettel High Tech với các doanh nghiệp quốc phòng trên thế giới sẽ tiếp tục ghi dấu ấn thương hiệu công nghiệp quốc phòng Việt Nam trên trường quốc tế. Trước khi triển lãm DSA và NATSEC 2024 chính thức bắt đầu, Viettel High Tech đã nhận lời mời làm việc đến từ gần 40 đối tác khắp năm châu như Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Pháp, Singapore, Indonesia…

Gian hàng Viettel hiện diện tại vị trí 8360, Hall 8, Tầng 2, Trung tâm Thương mại và Triển lãm Quốc tế Malaysia (Malaysia International Trade and Exhibition Centre - MITEC) ở Kuala Lumpur, Malaysia./.

Duy Hưng

Hoàn thiện lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam qua tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 Lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam hiện nay là thành quả của tiến trình đổi mới, đồng thời phản ánh quỹ đạo “tiến hóa tất yếu” của mô hình kinh tế thị trường đương đại. Thông qua tác phẩm của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có những luận giải, bổ sung nhiều quan điểm mới, góp phần hoàn thiện mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM  

Năm 1986, trước bối cảnh nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng, trì trệ trầm trọng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành đổi mới toàn diện đất nước. Công cuộc đổi mới không đơn thuần là tìm ra giải pháp trước mắt cho nền kinh tế, mà thực chất là tìm ra mô hình phát triển mới và con đường phù hợp để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước đó, Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 9/1979) được xem là dấu mốc khởi đầu quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội đất nước với những chủ trương mới là “phát súng hiệu” về phát triển kinh tế hàng hóa, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần…, thể hiện qua những việc “bỏ ngăn sông, cấm chợ”, cho “sản xuất bung ra”, thừa nhận sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế(1).

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) chủ trương đoạn tuyệt với cơ chế tập trung, bao cấp, tạo lập cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Trong cơ cấu nền kinh tế, ngoài thành phần kinh tế XHCN, với khu vực quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, Đảng thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế khác, gồm: tiểu sản xuất hàng hóa, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước và kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp.

Trên cơ sở những thành công bước đầu trong phát triển nền kinh tế đa thành phần, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) tiếp tục lộ trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với cơ cấu gồm năm thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, cá thể tiểu chủ, tư bản tư nhân và tư bản nhà nước). Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) bắt đầu định hình các thành tố cơ bản về định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái"(2).

Mặc dù từ Đại hội VI của Đảng đến Đại hội VIII của Đảng, Đảng đã có những bước phát triển nhất định về lý luận kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tuy nhiên, thị trường chỉ được coi là một cơ chế để điều tiết nền kinh tế, chưa xác lập là một chỉnh thể, bao gồm cả cấu trúc nội tại lẫn thiết chế vận hành. Về thực chất, chưa coi kinh tế thị trường là cơ sở kinh tế của xã hội để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đại hội IX của Đảng (năm 2001) chuyển từ nhận thức thị trường như một công cụ, cơ chế quản lý kinh tế sang nhận thức thị trường là một chỉnh thể, cơ sở kinh tế của xã hội trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội: “Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội"(3)

Về cơ bản, đến Đại hội IX của Đảng, mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đã được định hình. Theo đó, mô hình này vừa phản ánh tính phổ quát của nền kinh tế thị trường hỗn hợp (thị trường và nhà nước), vừa mang tính “định hướng XHCN”, với những đặc trưng là: nền kinh tế nhiều thành phần, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, có sự quản lý của nhà nước XHCN, thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở: “Từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường”(4).

Đại hội X của Đảng (năm 2006) nhấn mạnh việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và trước hết cần nắm vững định hướng XHCN. Trong đó, tính định hướng XHCN được thể hiện là nền kinh tế được xây dựng ở một chế độ xã hội do nhân dân làm chủ, Nhà nước pháp quyền XHCN quản lý, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”(5). Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục bổ sung và luận giải rõ hơn về nội hàm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là mô hình kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt chi phối bởi nguyên tắc và bản chất chủ nghĩa xã hội”(6).

Đại hội XII của Đảng (năm 2016) tiếp tục hoàn thiện về nội hàm trên cơ sở gắn kết từng cấu phần “bên trong” với mục tiêu và phương thức vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là: “Nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(7). Đến Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng tiếp tục khẳng định “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”(8).

NHỮNG THÀNH TỰU ĐÁNG TỰ HÀO

Việt Nam đang chứng kiến bức tranh kinh tế đầy khởi sắc, giai đoạn 1986-2020, mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm, quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Năm 2023, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.300 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 7.500 USD). Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng mạnh, năm 2023 đạt gần 700 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 355 tỷ USD, xuất siêu đạt mức kỷ lục 28 tỷ USD; Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu. Đầu tư nước ngoài liên tục phát triển, vốn đăng ký tăng 32%, vốn thực hiện tăng 3%, đạt 23 tỷ USD trong năm 2023, cao nhất từ trước đến nay; và Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia hàng đầu ASEAN về thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức quốc tế đánh giá đứng 46/132 nước được xếp hạng(9).

Không những tăng tốc về lượng, trên cơ sở ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, chiều sâu nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này cũng được cải thiện ấn tượng. Xét trên bình diện tổng thể theo cấu trúc ba yếu tố đầu vào nền kinh tế: vốn, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp - TFP(10) cho thấy, đóng góp của TFP trong tăng trưởng kinh tế ngày một lớn. Cụ thể: Tính chung cả giai đoạn 2016 - 2020, đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế đạt 45,57%, cao hơn mức 32,88% của giai đoạn 2011-2015. Năm 2021, đóng góp của TFP vào tăng trưởng tiếp tục được duy trì và đạt 37,13%(11).

Thành tích ấn tượng nhất trong tiến trình đổi mới của Việt Nam được ghi nhận là công cuộc xóa đói giảm nghèo. Năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 của Chính phủ xuống còn 2,93% theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước); có 78% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, hầu hết các xã nông thôn mới đều có đường ô-tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và mạng điện thoại. Quá trình đô thị hóa được đẩy mạnh gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tỷ lệ đô thị hóa đã đạt khoảng 43%; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở cả nông thôn và đô thị, nhất là hạ tầng y tế, giáo dục - đào tạo, giao thông, bưu chính viễn thông đều có bước phát triển mạnh mẽ; đã đưa vào sử dụng nhiều sân bay, bến cảng hiện đại, hơn 1.900km đường cao tốc và phủ sóng rộng rãi mạng 4G, 5G(12).

Việt Nam đã hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2014; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng 20 lần trong gần 40 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có gần 99% số người lớn biết đọc, biết viết. Bên cạnh đó, Việt Nam đã mở rộng diện bảo hiểm y tế cho toàn dân, đạt mức 93,35%, trong đó, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiệm y tế miễn phí; đồng thời, tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn... Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2022, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,737, thuộc nhóm các nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có trình độ phát triển cao hơn. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng(13).

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THEO QUAN ĐIỂM CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Trong tác phẩm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”(14). Để đạt được mục tiêu đó, cần phải phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN - “một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”(15). Trong đó, Tổng Bí thư tập trung luận giải, nhấn mạnh một số vấn đề cơ bản sau:

Về quan hệ sở hữu. Tương ứng với quá trình vận động, phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất nước ta từng bước được xây dựng phù hợp, tiến bộ, với nhiều hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật và đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Về tổ chức, quản lý. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Về quan hệ phân phối. Bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh, phúc lợi xã hội.

Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng XHCN trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Nói cách khác, kinh tế thị trường và tính định hướng XHCN có mối quan hệ chặt chẽ, không mâu thuẫn với nhau. Phát triển kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu XHCN và định hướng XHCN có vai trò định hướng cho nền kinh tế thị trường. Đây là điểm đặc sắc trong mô hình kinh tế thị trường ở Việt Nam, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn”(16); đây là “yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(17). Đồng thời, mô hình kinh tế này cũng hướng đến giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nhà nước - thị trường - xã hội, cụ thể:

Một là, Nhà nước đóng vai trò bảo đảm thị trường và xã hội thực hiện đúng chức năng của nó. Nhà nước không “làm thay” mà sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của mình để định hướng và điều tiết nền kinh tế không làm méo mó thị trường, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo vệ môi trường.

Hai là, thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất. Kinh tế thị trường không phải vốn dĩ là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là kết quả của tiến trình phát triển văn minh nhân loại. Alvin Toffler - nhà tương lai học người Mỹ - khẳng định: Thị trường là một mạng lưới trao đổi được ví như một tổng đài, mà ở đó, hàng hóa, dịch vụ (cũng như tin tức) sẽ tìm tới nơi có nhu cầu. Do đó, nó không chỉ thuộc về tư bản, mà thiết yếu cho cả xã hội công nghiệp xã hội chủ nghĩa, cũng như bất kỳ đâu có hệ thống công nghiệp quy mô lớn gắn với động cơ lợi nhuận(18).

Ba là, xã hội là điểm nổi bật trong mục tiêu phát triển của Việt Nam, do đó Đảng Cộng sản chủ trương kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với các mục tiêu, chính sách xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững. Các vấn đề xã hội không phải đi sau kinh tế, mà giải quyết tốt các vấn đề xã hội cũng chính là tạo điều kiện, động lực cho tăng trưởng.

Bên cạnh đó, trong cuốn sách, Tổng Bí thư còn có những bài viết quan trọng về phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, như: xây dựng giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp thanh niên, lực lượng công an, quân đội lớn mạnh…, đồng thời nhấn mạnh cần phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam; trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”; khơi dậy khát vọng hùng cường, thịnh vượng Việt Nam… để có thể xây dựng, phát triển thành công mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam./.

TS. NGUYỄN VĂN ĐIỂN - HÀ THỊ VIỆT THÚY
Học viện Chính trị khu vực II