Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2025

Tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng. Đây là điều đã được khẳng định và minh chứng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Song, nền tảng đó muốn lâu bền, vững chắc thì không chỉ thể hiện trên văn bản, giấy tờ, nghị quyết,… của từng tổ chức, mà điều quan trọng nhất là sự tồn tại, thấm sâu trong chính nhận thức, suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm và hành động thực tiễn – những biểu hiện cụ thể từ đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. Điều đó được biểu hiện sinh động ở quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau giữa hai nhân tố này trong quá trình vận động, phát triển của cách mạng.

Theo đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở phương pháp luận, thế giới quan, nội dung, tiêu chí để xây đắp, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Ngược lại, đạo đức cách mạng là cơ sở tiếp thu, “nuôi dưỡng” và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng. Do vậy, đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên có vai trò quan trọng, trực tiếp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức là gốc, nền tảng của người cách mạng, Người cho rằng “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Đặc biệt, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới “gánh được nặng và đi được xa”; trước những khó khăn, gian khổ, phức tạp không dao động, luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn. Vì vậy, tiêu chuẩn đầu tiên của người cán bộ là phẩm chất đạo đức, “đạo đức là gốc”, người cán bộ phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mới có thể trở thành người cán bộ chân chính, “mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”.

Đạo đức cách mạng, theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gồm nhiều yếu tố, tựu trung là: trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Trong đó, điều mấu chốt nhất là: quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Thấm nhuần điều đó, từ khi thành lập Đảng cho tới nay, tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên luôn thể hiện rõ phẩm chất đạo đức cách mạng; tích cực, chủ động học tập, thấm nhuần và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; nêu cao bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển phồn vinh của đất nước.

Tuy nhiên, trước những tác động tiêu cực đa chiều, nhất là mặt trái của kinh tế thị trường và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch,... một số cán bộ, đảng viên đã không giữ được phẩm chất đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực, địa bàn, cơ quan, đơn vị của một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cấp cao diễn ra nghiêm trọng, phức tạp, với nhiều biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Đặc biệt, một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng rèn luyện dẫn tới phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính tri, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước buộc phải xử lý, v.v. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến một số cán bộ, đảng viên hư hỏng, biến chất đòi phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Triệt để lợi dụng thực trạng này, các thế lực thù địch đẩy mạnh xuyên tạc, kích động chống phá, gieo rắc hoài nghi,... làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, v.v.

Đại hội XII của Đảng đã đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức ngang với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng cũng đã chỉ rõ sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên “là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”2. Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức được đặt ở một vị trí cao hơn.

Như vậy, đạo đức cách mạng là phẩm chất quan trọng hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên và có ý nghĩa quyết định tới sự tồn vong của Đảng, của chế độ nói chung và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói riêng; đòi hỏi, cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức cách mạng là giải pháp quan trọng để góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng. Để thực hiện tốt điều đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng của tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật có nguyên nhân căn bản từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Mặc dù được công tác, học tập trong môi trường có tính kỷ luật cao, tổ chức chặt chẽ; vẫn được giáo dục, tuyên truyền; vẫn tham gia đầy đủ các lớp học, các hội nghị; được quán triệt, học tập đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị,… nhưng do chưa nhận thức đúng vai trò của tự tu dưỡng nên một số cán bộ, đảng viên buông lỏng bản thân, không có, hoặc chưa có hoạt động tự tu dưỡng, rèn luyện đủ mạnh, khiến đạo đức người đảng viên, cán bộ không được bồi đắp, đi chệch hướng.

Việc rèn luyện đạo đức cách mạng không phải dễ dàng, bởi ai cũng muốn, thậm chí ham muốn được phát triển, có quyền lực, có điều kiện kinh tế, có cuộc sống sung túc, muốn được hưởng thụ, thậm chí còn muốn được xa hoa,… do vậy, đấu tranh để thắng những ham muốn của bản thân mình là một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và phải do tự mình “chiến đấu”. Khó, nhưng không phải không làm được. Tấm gương tự tu dưỡng, tự rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và biết bao đảng viên khác để đưa đất nước đến ngày hôm nay là minh chứng rõ nét. Sinh thời, Chủ tịch  Hồ Chí Minh chỉ rõ, kẻ địch cần chống trước hết là chống thói quen và truyền thống lạc hậu; đặc biệt là chống chủ nghĩa cá nhân đang ẩn chứa trong mỗi con người, khi có điều kiện tác động nó sẽ phát triển. Cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên “trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình”. Và, phải chủ động đấu tranh loại bỏ hàng trăm thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra vì nó là vật cản nguy hiểm cho việc xây dựng đạo đức cách mạng của quân nhân.

Hai là, tích cực nghiên cứu, học tập. Trước hết, phải thường xuyên học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không nắm vững, không thấm nhuần nền tảng tư tưởng của Đảng thì không thể tu dưỡng được đạo đức cách mạng, đồng thời cũng không thể bảo vệ, phát triển, thậm chí còn làm tổn hại tới nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc tự học tập là rất quan trọng, hiện nay, hoạt động này đang bị tác động tiêu cực từ nhiều mặt. Cản trở lớn nhất là sự phát triển của công nghệ giải trí, của mạng xã hội với vô vàn các nội dung khiến một số cán bộ, đảng viên thiên về “thỏa mãn” nhu cầu giải trí, sao nhãng việc nghiên cứu, học tập. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình kế hoạch tự học tập phù hợp, hiệu quả, khả thi và thực hiện nghiêm túc. Giải quyết hài hòa giữa nhu cầu thư giãn, giải trí, tái tạo sức lao động với nhu cầu trau dồi kiến thức nền tảng của người cán bộ, đảng viên. Để việc tự học tập đạt hiệu quả, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần cụ thể hóa những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đề ra phương hướng, mục tiêu, nội dung, giải pháp để tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, đối tượng. Kết hợp tuyên truyền, giáo dục với tạo điều kiện cho đảng viên tự học, tự rèn, tự soi, tự sửa để hoàn thiện bản thân; nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng cộng sản, lòng trung thành đối với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tình yêu thương con người; gương mẫu trong công tác, lối sống, khiêm tốn giản dị, dân chủ, đoàn kết và kỷ luật, nói đi đôi với làm; thương yêu đồng chí, đồng đội, không quan liêu, độc đoán chuyên quyền, gia trưởng.v,v. Cán bộ, đảng viên phải có trình độ chuyên môn và tác phong, phương pháp công tác tốt; luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, không dao động trước khó khăn, thử thách.

Ba là, thực hiện hiệu quả các nguyên tắc trong tự tu dưỡng đạo đức cách mạng. Đầu tiên là phải luôn nói đi đôi với làm, nêu gương tốt, làm việc tốt. Đây không chỉ là nguyên tắc rèn luyện mà còn là sự phân biệt giữa đạo đức cách mạng và phi đạo đức cách mạng. Vì vậy, lời nói của cán bộ, đảng viên phải đi đôi với việc làm và phải thực hiện tốt việc làm gương. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền”, “trước mắt quần chúng, không phải cứ viết lên trán hai chữ cộng sản mà ta được họ yêu quý. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”. Đạo đức ở đây không phải là đạo đức “tu thân” mà là đạo đức “dấn thân”, đạo đức trong hành động. Đã là hành động, nhất là hành động cách mạng, phải chú trọng đến hiệu quả. Nếu làm việc gì cũng không có hiệu quả thì không thể coi là một người có đạo đức. Muốn hướng dẫn cho quần chúng thì cán bộ, đảng viên phải làm mực thước. Muốn cho cơ quan, đơn vị đoàn kết, thì tập thể lãnh đạo phải thực sự dân chủ, đoàn kết, công tác cán bộ phải công tâm, khách quan, v.v. Cán bộ, đảng viên phải làm gương mọi mặt cho quần chúng noi theo.

Thực hiện lời dạy của Bác: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, việc làm gương phải thực hiện ở mọi nơi, mọi việc, từ cán bộ cấp cao tới cơ sở;tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm, trách nhiệm, chức trách, nhiệm vụ của mỗi người và sự đóng góp xây dựng của tập thể. Trong cuộc sống thường nhật, ai cũng có mặt mạnh, mặt hạn chế, không ai có thể đạt tới sự hoàn mỹ một cách tuyệt đối. Cho nên, mỗi đảng viên phải biết và dám dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật bản thân con người mình và dựa vào tập thể để thấy cái tốt, cái hay để phát huy, cái xấu, cái ác để khắc phục. Việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải gắn liền với thực tiễn hoạt động công tác; phải bền bỉ, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh.

Bốn là, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới những vi phạm của một số tổ chức, cá nhân thời gian qua, đó cũng là căn nguyên làm xói mòn đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, để tự tu dưỡng đạo đức cách mạng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì cần nhận thức đúng đắn và thống nhất về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Nắm chắc nội dung, yêu cầu của nguyên tắc trong tình hình mới; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc này. Quá trình thực hiện dân chủ phải đi đôi với tập trung; phát huy dân chủ phải đồng thời gắn liền với chống dân chủ cực đoan, dân chủ không tuân theo kỷ cương, phép nước. Nguyên tắc tập trung dân chủ phải được thực hiện theo đúng Điều lệ Đảng và trong mối quan hệ đồng bộ với các nguyên tắc khác, như tự phê bình và phê bình, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Theo đó, những vấn đề trọng yếu, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng nhất thiết phải được tập thể cấp ủy (ban thường vụ), chi bộ thông qua trước khi thực hiện. Từng đảng viên phải đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình, phát biểu thẳng thắn, trung thực, khách quan; thấy đúng phải kiên quyết bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh bác bỏ. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, trên nguyên tắc luôn luôn đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân và tập thể cơ quan, đơn vị lên trên hết, trước hết. Không cơ hội, vụ lợi; chạy theo mục tiêu trước mắt, ngắn hạn để thu vén lợi ích cho bản thân, gia đình mà bỏ qua lợi ích tập thể. Chỉ khi nào cán bộ, đảng viên hết lòng, hết sức xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh thì khi đó chủ nghĩa cá nhân mới được đẩy lùi và đạo đức cách mạng mới được bồi đắp, phát huy.

Thực hiện hiệu quả việc tự tu dưỡng, rèn luyện là cơ sở, nền tảng để xây dựng và phát huy phẩm chất, đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đó cũng là yếu tố gốc rễ để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.

ST.

 KỶ NIỆM 95 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (3/2/1930 - 3/2/2025): GỬI TRỌN NIỀM TIN, ĐONG ĐẦY KHÁT VỌNG

95 năm qua, từ ánh sáng dẫn lối của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, dân tộc Việt Nam vững bước vượt qua mọi khó khăn, lập nên những thành tựu lịch sử. Trong sắc xuân căng tràn sức sống, lòng người thêm rạo rực với niềm tin yêu trọn vẹn dành cho Đảng hòa cùng khát vọng về tương lai tươi sáng của đất nước. Đó sẽ là động lực để mỗi trái tim thêm gắn bó, trách nhiệm, mỗi bàn tay thêm bền bỉ dựng xây.

1. Nhìn lại 95 năm lịch sử dân tộc ta có Đảng, chúng ta tự hào về hành trình đã qua. Việt Nam không chỉ có tên trên bản đồ thế giới mà cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế chưa bao giờ có được như ngày nay. Những giá trị dân tộc vun bồi hàng nghìn năm lịch sử, đã được tiếp nối vẻ vang bằng những trang sử bằng vàng của thời đại Hồ Chí Minh, của 40 năm đổi mới và hội nhập quốc tế.

Trước sứ mệnh phát triển đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định rõ những mục tiêu chiến lược xây dựng và phát triển đất nước tới hai mốc thời gian có ý nghĩa trọng đại. Đó là đến năm 2030 - kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng - đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, công nghiệp hiện đại. Đến năm 2045 - kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mục tiêu lớn hơn là trở thành nước phát triển, thu nhập cao, khẳng định vị thế toàn cầu.

Mục tiêu đã có, vậy phải làm gì để thực hiện thành công? Đó là câu hỏi lịch sử đặt ra cho mỗi người mang dòng máu Việt; là thách thức đối với bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam. Chúng ta có lúc băn khoăn, trăn trở và có cả những lo lắng, bởi tình hình thế giới diễn biến rất phức tạp, khó lường, đại dịch Covid-19 hoành hành... Tất cả khiến cho tốc độ phát triển đất nước không đạt kế hoạch đề ra. Nếu không có giải pháp đột phá, thậm chí đột phá mạnh mẽ, để thoát ra khỏi tình trạng “bình bình” thì nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình sẽ không còn là nguy cơ nữa.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 10 (khóa XIII) ngày 20-10-2024, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: “Với những thành tựu vĩ đại sau gần 80 năm lập nước, với thế và lực đã tích lũy được, với thời cơ, vận hội mới, chúng ta đã hội tụ đủ điều kiện và đang đứng trước cơ hội lịch sử để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc, xây dựng thành công nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Quyết tâm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc chính là động lực thúc đẩy việc thực hiện và hoàn thành mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIII của Đảng đã thông qua, đồng thời xóa đi những băn khoăn, trăn trở bấy lâu.

2. Trực tiếp Tổng Bí thư Tô Lâm đã bày tỏ quan điểm về kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, để ai cũng có thể nhận thức rõ và thực hiện.

Theo Tổng Bí thư, kỷ nguyên vươn mình hàm ý tạo sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, tích cực, nỗ lực, nội lực, tự tin để vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng, vươn tới mục tiêu, đạt được những thành tựu vĩ đại. Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.


Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại...


3. Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc được đánh dấu bắt đầu là Đại hội XIV của Đảng. Song, cùng với quá trình chuẩn bị văn kiện Đại hội XIV, Trung ương đã tập trung triển khai ngay một số đột phá chiến lược mang tinh thần kỷ nguyên mới đã được thống nhất.


Đối với đột phá về thể chế phát triển, tháo gỡ điểm nghẽn, rào cản, ngay sau Hội nghị Trung ương 10 (khóa XIII), Quốc hội, Chính phủ đã gương mẫu, đi đầu, làm ngay, làm rất quyết liệt với tinh thần đổi mới, cải cách, hết lòng vì sự nghiệp chung. Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đã chủ trì nhiều phiên họp rà soát nội dung các luật trình Quốc hội xem xét cho ý kiến, thông qua tại kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XV. Tại kỳ họp này, đã thực hiện ngay cơ chế “Sửa một luật, điều chỉnh nhiều luật” trong đó 1 luật sửa 3 luật trong lĩnh vực đầu tư; 1 luật sửa 7 luật trong lĩnh vực tài chính, quản lý tài sản nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, khắc phục điểm nghẽn, tạo không gian cho phát triển...


Ngày 22-12-2024, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và ch.uyển đ.ổi s.ố quốc gia”. Đây được xem là “Nghị quyết giải phóng tư duy khoa học”, đổi mới cách nghĩ, cách làm, nhằm hiện thực hóa các chủ trương, xóa bỏ rào cản, giải phóng năng lực để tạo đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và ch.uyển đ.ổi s.ố, là một xung lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.


Đồng thời, Trung ương đã, đang và sẽ tập trung chỉ đạo nhằm hoàn thành mục tiêu xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trước mắt là hạ tầng chiến lược về giao thông, hạ tầng năng lượng, hạ tầng số… Trong đó, thực hiện ngay các công việc để triển khai chủ trương đầu tư Dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam sớm nhất.


Đặc biệt, Trung ương đã chỉ đạo quyết liệt việc sơ kết đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TƯ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII "một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả" trong toàn hệ thống chính trị làm cơ sở có những quyết sách mới đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức bộ máy, cán bộ theo định hướng “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”.


Đó là chưa kể hàng loạt chủ trương mới, đúng, trúng, hợp lòng dân mang tinh thần cách mạng đã được Trung ương, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ đạo triển khai, tiêu biểu là bổ sung nhiệm vụ phòng, chống lãng phí vào chức năng, nhiệm vụ của các ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương xuống địa phương; đặt công tác phòng, chống lãng phí vào đúng vị trí một cách tương xứng.


Có thể nói, tinh thần cách mạng, quyết tâm hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới đã được Trung ương gương mẫu, đi đầu, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, chuyển hóa nhanh chóng thành công việc cụ thể, lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội, được nhân dân đồng tình, hưởng ứng mạnh mẽ.


4. Mặc dù vậy, nhiệm vụ phía trước còn rất khó khăn, to lớn đòi hỏi từng cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam, trăm triệu người như một, đồng tâm hiệp lực, chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển. Tất cả phải củng cố vững vàng niềm tin vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, tràn đầy khát vọng vươn lên, cùng cống hiến vì tương lai đất nước.


Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới và sự tin tưởng của nhân dân, Đảng phải tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, từng cấp ủy, tổ chức Đảng phát huy hơn nữa vai trò, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và chất lượng cán bộ, đảng viên. Đảng cần đổi mới mạnh mẽ tư duy lãnh đạo; thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của thế giới, bảo đảm sự linh hoạt, hiệu quả trong mọi quyết sách. Đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhằm tạo động lực cho tăng trưởng ở mức 2 con số trong nhiều năm tới. Đặc biệt, cần phát huy hơn nữa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tham gia sâu rộng vào quá trình phát triển; khơi dậy khát vọng vươn lên của toàn dân tộc, quyết tâm xây dựng đất nước hùng cường sánh vai với các cường quốc năm châu./.


Hà Nội mới

 TRỌN MỘT LỜI THỀ

Phong trào thi đua “Thanh xuân dâng Đảng” được phát động lần đầu tiên vào tháng 3/2024 tại Quảng Ninh, không chỉ nhằm đạt mục tiêu phát triển đảng viên trẻ, mà còn hướng tới xây dựng, bồi đắp lý tưởng cách mạng và lòng trung thành với Đảng và Tổ quốc cho thế hệ trẻ hôm nay. 

Dưới ngọn cờ của Đảng, lớp lớp thanh niên Vùng mỏ đã và đang nỗ lực thi đua học tập, rèn luyện, lao động, “thổi bùng” lên khát vọng cống hiến, xây dựng và phát triển quê hương, đất nước đẹp giàu, quyết tâm giữ trọn lời thề thiêng liêng khi trở thành đảng viên.

Đã gần nửa năm trôi qua, song đảng viên trẻ Lê Quang Minh vẫn chưa quên giây phút ngập tràn cảm xúc vinh dự và tự hào khi được kết nạp Đảng. 

Với Minh đó sẽ mãi là kỷ niệm, dấu ấn đẹp nhất trong cuộc đời học sinh của mình. 

Lời thề trước Quốc kỳ, Đảng kỳ và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sẽ mãi là động lực thiêng liêng cao quý để những thanh niên Vùng mỏ như Minh viết tiếp câu chuyện đẹp đẽ của tuổi trẻ sống có lý tưởng, có trách nhiệm và tràn đầy lòng yêu nước.

Minh hiện là sinh viên năm thứ nhất Học viện An ninh nhân dân. 

Minh vinh dự được kết nạp Đảng khi vừa tròn 18 tuổi, đang là học sinh lớp 12 chuyên Văn, Trường THPT Chuyên Hạ Long. 

Không chỉ là một học sinh giỏi toàn diện, đoạt HCĐ Kỳ thi Quốc tế về khoa học đời sống - Global Competition for Life Sciences (GLOCOLIS 2021), Minh còn là cán bộ đoàn nhiệt huyết, đa tài. 


Đảm nhận cương vị Chủ tịch Hội đồng Trẻ em tỉnh giai đoạn 2018-2022, Minh đã tham gia nhiều hoạt động xã hội, đóng góp tiếng nói thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em, gửi gắm những nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của trẻ em với các cấp, ngành. 


Năm 2023 Minh vinh dự là một trong 7 thanh niên của Quảng Ninh được Trung ương Đoàn tuyên dương “Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác”. 


Phát huy những kết quả rèn luyện, học tập tốt, bước vào giảng đường đại học, Minh tiếp tục tự tin thể hiện vai trò của mình trong nhiều hoạt động của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên nhà trường.


Quang Minh chia sẻ: Là đảng viên trẻ nhất chi bộ, tôi luôn được các đảng viên đi trước là các thầy, cô quan tâm giúp đỡ, kèm cặp và bồi dưỡng. 


Trong năm đầu là đảng viên dự bị, tôi hiểu rằng mình càng cần phải nỗ lực học tập, rèn luyện, để xứng đáng trở thành đảng viên chính thức, tiếp tục theo đuổi những mục tiêu, khát vọng của mình. 


Bước vào giảng đường đại học, mỗi sinh viên đều mang theo những định hướng riêng cho bản thân, tôi có thêm niềm tự hào khi là một đảng viên trẻ được khoác trên mình màu áo người chiến sĩ công an nhân dân. 


Đó chính là điểm tựa, hành trang để tôi vững vàng bước trên chặng đường viết tiếp ước muốn cống hiến, phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân.


Câu chuyện của Lê Quang Minh là một trong rất nhiều minh chứng đẹp đẽ về khát vọng và lý tưởng cách mạng của thế hệ trẻ hôm nay. 


Khát khao vươn mình ấy được thể hiện trong quá trình phấn đấu không ngừng của Hoàng Thanh Thúy - một trong 2 học sinh THPT dân tộc thiểu số đầu tiên của huyện Bình Liêu được kết nạp Đảng vào tháng 5/2024. 


Ngay từ khi vào lớp 10, Thanh Thúy đã xác định rõ mục tiêu học tập nghiêm túc. Thuý 3 năm đạt danh hiệu học sinh giỏi, giải ba môn Địa lý kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh năm 2023-2024. 


Thúy tích cực tham gia các phong trào thi đua của nhà trường, trở thành hạt nhân trong các hoạt động của Đoàn Thanh niên với vai trò thành viên CLB hát then - đàn tính, nhằm góp phần gìn giữ, bảo tồn và lan tỏa nét văn hóa truyền thống quê hương cho thế hệ trẻ. 


Thúy hiện là sinh viên năm thứ nhất Khoa Địa Lý, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên.


Với tôi, ước mơ nghề giáo và tình yêu với lý tưởng của Đảng đã được vun đắp, lớn dần trong môi trường học tập và rèn luyện, nơi mà mỗi thầy, cô đều hết lòng tận tụy, chăm lo cho các thế hệ học sinh chúng tôi. 


Mỗi đảng viên Chi bộ Trường THPT Bình Liêu chính là tấm gương sáng, điểm tựa tin cậy để tôi học tập, noi theo, để từng bước chạm đến ước mơ của mình. 


Vinh dự trở thành đảng viên khi mới 18 tuổi là bước ngoặt lớn trong cuộc đời, không chỉ là động lực, mà còn nhắc nhở tôi về trách nhiệm phải nỗ lực phấn đấu để cống hiến và trưởng thành - Thanh Thúy tâm sự.


Với mỗi đảng viên trẻ, khi đứng vào hàng ngũ của Đảng đều mang trong mình những hoài bão, lý tưởng tốt đẹp, mong muốn được đóng góp công sức của mình cho sự phát triển của Đảng, của quê hương, đất nước. 


Chính lý tưởng đó đã và đang thôi thúc biết bao thế hệ trẻ phấn đấu trở thành đảng viên, trở thành đại diện tiêu biểu cho khát vọng, trí tuệ của tuổi trẻ Vùng mỏ hôm nay.


Bước sang năm thứ 4 học tập, rèn luyện tại Trường Đại học Hạ Long, Hoàng Bích Ngọc (sinh viên Khoa Sư phạm) vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng. 


Suốt 3 năm học, Ngọc luôn giữ vững thành tích xuất sắc, nằm trong top sinh viên có kết quả học tập đứng đầu lớp, là Chủ nhiệm CLB Sinh viên tình nguyện năng nổ, hoạt bát. 


Dưới sự dẫn dắt của Ngọc, CLB đã tổ chức nhiều chương trình, sự kiện ý nghĩa, đặc biệt là các hoạt động chung sức xây dựng NTM, dạy tiếng Anh miễn phí cho trẻ em các địa phương vùng sâu, vùng xa khó khăn của tỉnh. 


Qua đó không chỉ tạo ra môi trường, cơ hội để các bạn sinh viên cùng nhau chia sẻ đam mê, nhiệt huyết, cống hiến hết mình cho cộng đồng, mà còn viết nên những năm tháng thanh xuân đầy rực rỡ và ý nghĩa.


Tròn 3 tháng được kết nạp Đảng, Ngọc tự thấy mình đã trưởng thành hơn và xác định trách nhiệm cũng lớn hơn. 


Lời thề thiêng liêng dưới cờ Đảng được Ngọc khắc ghi và thể hiện trong từng hoạt động, công việc cụ thể.


Mỗi đảng viên đều đóng góp vào công cuộc xây dựng quê hương, đất nước bằng tình yêu, trách nhiệm. 


Với đảng viên trẻ, dù ở đâu, cương vị nào, chúng tôi cũng nguyện là lực lượng kế tục sự nghiệp của cha anh bằng nỗ lực học tập, rèn luyện, cống hiến không ngừng - Bích Ngọc xúc động bày tỏ.


Quảng Ninh đang vững vàng trên đà phát triển mạnh mẽ với khát vọng trở thành một tỉnh kiểu mẫu, giàu đẹp, văn minh, hiện đại với các đặc trưng “Thiên nhiên tươi đẹp - Văn hóa đặc sắc - Xã hội văn minh - Hành chính minh bạch - Kinh tế phát triển - Nhân dân hạnh phúc”. 


Đồng hành cùng những bước tiến đột phá ấy, những năm qua, tuổi trẻ trong tỉnh luôn phát huy vai trò xung kích, tiên phong, sáng tạo, chinh phục những đỉnh cao mới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. 


Kiên định dấn bước trên con đường mình đã chọn, nguyện trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, mỗi thanh niên Vùng mỏ đang nỗ lực không ngừng để chạm đến khát vọng, để tuổi thanh xuân sẽ luôn là hành trình rực rỡ, tô điểm thêm sắc màu tươi đẹp cho quê hương, Tổ quốc thân yêu.


Xứng đáng là người đảng viên cộng sản


Phong trào thi đua “Thanh xuân dâng Đảng” được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp với Tỉnh Đoàn phát động nhằm mục đích tăng cường, bổ sung “sức trẻ” cho Đảng; đào tạo, bồi dưỡng ĐVTN, đảng viên trẻ, tạo nguồn cán bộ kế cận, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, đảng viên; xây dựng đội ngũ đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, uy tín lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh giai đoạn 2024-2025 và đến năm 2030.


Đồng chí Đặng Xuân Phương, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh, nhấn mạnh: Phong trào thi đua “Thanh xuân dâng Đảng” không dừng lại ở việc đạt được các mục tiêu về phát triển đảng viên, mà phải hướng tới việc xây dựng, bồi đắp lý tưởng cách mạng, lòng trung thành với Đảng và Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới, trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng cũng như xuất phát từ đặc thù của tỉnh Quảng Ninh với truyền thống và sức mạnh “Kỷ luật và Đồng tâm”, nơi mà hệ giá trị của tỉnh đã được khẳng định với các giá trị đặc trưng “Thiên nhiên tươi đẹp - Văn hóa đặc sắc - Xã hội văn minh - Hành chính minh bạch - Kinh tế phát triển - Nhân dân hạnh phúc”.


Thấm nhuần tinh thần ấy, ngay sau lễ phát động cấp tỉnh, các cấp bộ đoàn đã tích cực triển khai phong trào bằng những chương trình, hoạt động thiết thực, ý nghĩa. 


Tỉnh Đoàn đã xác định chỉ tiêu cụ thể thực hiện phong trào: Phối hợp cùng cấp ủy các cấp, trung bình mỗi năm toàn tỉnh kết nạp đảng viên mới đạt tỷ lệ từ 3-4% tổng số đảng viên so với đầu năm; phối hợp với các trường THPT mỗi năm kết nạp từ 0,5-1% số học sinh lớp 12; phấn đấu đạt ít nhất 70% đảng viên mới được kết nạp từ đoàn viên theo Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X.


Cụ thể các mục tiêu đó, các cấp bộ đoàn đã quyết liệt triển khai nhiều nhiệm vụ trọng tâm nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng cho thanh niên, giúp ĐVTN sống có lý tưởng, hoài bão, ý thức trách nhiệm cao với đất nước và mục tiêu phấn đấu vào Đảng. 


Theo đó, đẩy mạnh tổ chức tốt các cuộc vận động, phong trào thi đua “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, “Đoàn viên, thanh niên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Sinh viên 5 tốt”, “Học sinh 3 tốt”, “Thanh niên sống đẹp”, “Xây dựng giá trị hình mẫu thanh niên thời kỳ mới”... 


Đồng thời triển khai sinh hoạt chính trị “Khát vọng cống hiến - Lẽ sống thanh niên” trong toàn Đoàn; tăng cường các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, hình thành thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật cho ĐVTN.

Cùng với đó, các cấp bộ đoàn, hội tập trung đổi mới nội dung, phương thức hoạt động thông qua các phong trào hành động cách mạng tuổi trẻ, như “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc” và các chương trình đồng hành với thanh niên trong học tập, khởi nghiệp, lập nghiệp, phát triển kỹ năng trong cuộc sống; tăng cường, phối hợp với các cấp ủy đảng trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ trẻ, để cán bộ trẻ phát huy năng lực trong thực tiễn. 

Qua đó tạo môi trường để đoàn viên, học sinh, sinh viên phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành, phát hiện và bồi dưỡng những nhân tố tích cực, gương mẫu để giới thiệu cho Đảng xem xét, kết nạp.

Thực hiện cuộc vận động “Đoàn viên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”, trong năm 2024 toàn Đoàn giới thiệu 2.514 đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp, trong đó có 1.687 đoàn viên được đứng vào hàng ngũ của Đảng (155 học sinh, sinh viên được kết nạp qua triển khai phong trào thi đua “Thanh xuân dâng Đảng”).

Đồng chí Nguyễn Thế Minh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh Đoàn, khẳng định: Được kết nạp Đảng trong độ tuổi thanh xuân là điều rất đáng tự hào, nhưng đó mới chỉ là bước mở đầu của một chặng đường dài, đầy thử thách, gian khó, chông gai phía trước. 

Mỗi đảng viên trẻ phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, biết sống nghĩa tình, tự bồi đắp cho mình lý tưởng cách mạng và biết cống hiến, hy sinh vô điều kiện cho Đảng, cho Tổ quốc trước khi được Đảng phát hiện, quan tâm và tin tưởng giao phó nhiệm vụ, trọng trách. 

Qua đó xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trẻ xứng đáng là đội hậu bị tin cậy của Đảng, vun đắp giá trị hình mẫu thanh niên Quảng Ninh với khát vọng vươn lên, bản lĩnh vững vàng, sáng tạo không ngừng và tiên phong hành động.

Cùng với tổ chức Đoàn, các cấp, ngành, địa phương đang tiếp tục thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên trẻ theo hướng bám sát yêu cầu nhiệm vụ, gắn với tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trẻ vừa “hồng” vừa “chuyên”; bố trí, sử dụng cán bộ, đảng viên trẻ có hiệu quả, tạo cơ hội và động lực để đảng viên trẻ phát huy năng lực.

Những đảng viên trẻ hôm nay chính là niềm tin và hy vọng của ngày mai. 

Chắc chắn những điều tốt đẹp, trong ngần vẫn luôn lấp lánh, rực rỡ từ sự tử tế của mỗi người trẻ yêu nước, yêu quê hương, dám dấn thân vì cộng đồng xã hội. 

Mang trong mình lời thề trung thành với lý tưởng của Đảng, không ngừng nuôi dưỡng tình yêu, lý tưởng và khát vọng cống hiến, tuổi trẻ Vùng mỏ hôm nay với nhiệt huyết, bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm sẽ tiếp tục bước vào hàng ngũ của những người tiên phong, góp phần làm tăng sinh lực, sức mạnh của Đảng, đảm bảo sự phát triển hùng cường, thịnh vượng của đất nước./.

Quảng Ninh

 CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN ĐÓNG GÓP CHO SỨC MẠNH MỀM VIỆT NAM

Là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, công tác đối ngoại nhân dân đóng vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, cũng như nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Đóng góp vào thành quả chung của công tác đối ngoại năm 2024, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt, góp phần củng cố quan hệ đoàn kết, hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước, bạn bè và đối tác quốc tế.

Trong bối cảnh thế giới trải qua năm 2024 với nhiều thách thức, cạnh tranh và nguy cơ mới, công tác đối ngoại nhân dân vẫn ghi nhận nhiều bước tiến quan trọng, tiếp tục tạo nền tảng xã hội tích cực cho quan hệ song phương của Việt Nam với các nước, cũng như nâng cao vị thế, vai trò của các tổ chức nhân dân Việt Nam trong các cơ chế hợp tác nhân dân đa phương khu vực và quốc tế. Triển khai định hướng “đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách tiếp cận, phương thức tổ chức và nội dung các hoạt động đối ngoại nhân dân”, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã góp phần xây dựng nền tảng xã hội tích cực, thuận lợi cho quan hệ của Việt Nam với nhân dân các nước.

Năm 2024, với sự phối hợp của các ban, bộ, ngành, địa phương, cùng sự thống nhất, đoàn kết của toàn bộ hệ thống, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã tổ chức thành công hơn 1.000 hoạt động đối ngoại, cùng nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế. Trong đó, nổi bật là sự tham gia của Liên hiệp vào các hoạt động đối ngoại cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; phối hợp và chủ trì tổ chức nhiều hoạt động lãnh đạo Đảng, Nhà nước gặp gỡ bạn bè, nhân dân các nước cũng như lãnh đạo các nước gặp gỡ nhân dân Việt Nam. 

Các hoạt động đối ngoại nhân dân trong khuôn khổ đối ngoại cấp cao không chỉ thể hiện sự coi trọng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với công tác đối ngoại nhân dân nói chung, mà còn thể hiện sự trân trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đối với tình cảm, tình đoàn kết và sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân các nước dành cho Việt Nam.

Nhằm tập trung đa dạng hóa các hoạt động đối ngoại nhân dân để tăng cường giáo dục truyền thống về quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước, Liên hiệp phối hợp với các Đại sứ quán, các cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt Nam, cùng các đối tác nước ngoài tổ chức nhiều hoạt động chia sẻ thông tin về các nước, về quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước, các buổi giới thiệu sách của các tác giả nước ngoài viết về Việt Nam, các hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật... Đơn vị đã tranh thủ các hoạt động đối ngoại nhân dân để kết nối hợp tác đầu tư giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp các nước, thông qua hoạt động chia sẻ thông tin cho các nhà đầu tư nước ngoài về chính sách của Việt Nam.

Liên hiệp chủ trì và phối hợp đón nhiều đoàn đối ngoại nhân dân do lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các nước, lãnh đạo các đảng chính trị, lãnh đạo các bộ, ngành của các nước thăm, làm việc tại Việt Nam, trong đó nổi bật là đón đoàn Ủy ban Hòa bình và Đoàn kết Lào do Phó Chủ tịch Quốc hội Lào làm Trưởng đoàn, Đoàn Hội Giao lưu Quốc tế Trung Quốc do Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Nhân đại toàn quốc Trung Quốc khóa XIII làm Trưởng đoàn…

Trên phương diện đa phương, công tác đối ngoại nhân dân cũng để lại dấu ấn nổi bật, khi Liên hiệp và các tổ chức thành viên đã tham gia tích cực và đóng góp có trách nhiệm vào các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế/diễn đàn đa phương truyền thống như Liên hợp quốc, ASEAN, Hội đồng Hòa bình Thế giới, Phong trào Hòa bình Nhật Bản, Phong trào Quốc tế ngữ toàn cầu, Diễn đàn Xã hội Thế giới...; qua đó, không chỉ góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, nhất là trong các vấn đề dân chủ-nhân quyền, chủ quyền biển đảo mà còn đóng góp chung cho phong trào nhân dân thế giới vì hòa bình và phát triển bền vững.

Cùng với những hoạt động đối ngoại truyền thống, việc mở rộng mạng lưới đối tác của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam trong năm 2024 đã đạt được nhiều kết quả tích cực, xây dựng mạng lưới đối tác rộng rãi, uy tín và đa dạng ở các khu vực, tạo nền tảng vững chắc cho sự hợp tác bền vững và hiệu quả. Những kết quả đáng khích lệ của các tổ chức chính trị-xã hội, trong đó có Liên hiệp, không chỉ đóng góp cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước mà còn góp phần nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam, khẳng định vai trò quan trọng của đối ngoại nhân dân trong kỷ nguyên hội nhập và phát triển toàn cầu./.

 Báo Nhân dân

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LÃNH ĐẠO CÁC CHÍNH ĐẢNG CHÚC MỪNG NHÂN KỶ NIỆM 95 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM!

     Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2025), Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc; Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Hun Sen; Bí thư Thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba Miguel Díaz-Canel Bermúdez và Đại tướng Raúl Castro Ruz; Tổng Bí thư Đảng Lao động Triều Tiên Kim Jong Un đã gửi thư, điện chúc mừng tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam./.
Theo TTXVN
Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: SỰ THÀNH CÔNG CỦA NƠ RON DEEPSEEK!

         Pavel Durov: Trung Quốc đã sử dụng mô hình giáo dục toán học của Liên Xô để đột phá trong lĩnh vực AI. Điều gì thực sự đằng sau phép màu khoa học Giáo sư Viện Hàn lâm Khoa học Nga Sobolevsky giải thích về sự thành công của mạng lưới nơ-ron DeepSeek!

CHƯA CÓ CHIẾN THẮNG TRONG CUỘC ĐUA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Sau cơn sốt xung quanh mô hình ngôn ngữ DeepSeek của Trung Quốc, khiến thị trường chứng khoán toàn cầu lao dốc, người ta đã bàn tán về giáo dục toán học, nơi những tiến bộ vượt bậc đã giúp người Trung Quốc thành công. Người khởi xướng cuộc thảo luận này là người sáng lập VKontakte và Telegram, Pavel Durov. Ông đã đăng một bài viết khá gây tranh cãi về chủ đề này . Chúng tôi quyết định thảo luận vấn đề này với Andrey Sobolevsky, Tiến sĩ Khoa học Vật lý và Toán học, Giáo sư Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Toán học Hiện đại thuộc MIPT.

- Durov viết: “...nhiều người ngạc nhiên về tốc độ mà Trung Quốc đã bắt kịp Hoa Kỳ trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo. Nhưng những tiến bộ về hiệu quả thuật toán của Trung Quốc không phải tự nhiên mà có. Học sinh Trung Quốc từ lâu đã xuất sắc trong môn toán và lập trình tại các cuộc thi quốc tế.” Nghĩa là, để diễn giải lại một câu nói nổi tiếng (Kennedy đã nói thế này về chiến thắng của Liên Xô trong cuộc chạy đua vào không gian) - giờ đây Trung Quốc đã chiến thắng cuộc đua AI ngay tại bàn học?

- Nhìn chung, việc lấy một sự thật nổi bật và xây dựng toàn bộ chiến lược dựa trên sự thật đó là một cách tiếp cận mạo hiểm. Nếu thực tế này không phải là quy luật mà là ngoại lệ hiếm hoi thì sao? Nhưng lời giải thích lại nằm ở một khía cạnh hoàn toàn ngược lại? Hơn nữa, giai đoạn phát triển của AI mà chúng ta chứng kiến vẫn chưa kết thúc. Chúng ta, những người đương thời, không biết cuộc đua này sẽ kết thúc như thế nào, có bao nhiêu người chiến thắng và họ sẽ là ai. Nhưng suy nghĩ của Durov vẫn cần được xem xét một cách quan tâm và tôn trọng.

HỆ THỐNG LIÊN XÔ CÓ PHẢI LÀ CHÌA KHÓA THÀNH CÔNG?
- Durov cho rằng người Trung Quốc thành công là nhờ mô hình của Liên Xô. Nhưng Trung Quốc đã chuyển sang hệ thống thi thống nhất của phương Tây và không có ý định từ bỏ nó sao? Durov có đúng khi cho rằng quay lại hệ thống Xô Viết là chìa khóa thành công không?

- Durov nói đúng khi cho rằng ở cấp độ cao nhất của các kỳ thi Olympic – quốc gia và quốc tế – chính tính cạnh tranh sẽ thúc đẩy kẻ mạnh. Nó thúc đẩy họ đạt được những điều mà họ không thể làm được theo cách thoải mái. Hiện nay, liên quan đến việc khuyến khích rộng rãi khái niệm “kẻ mạnh hơn sẽ sống sót” trong các trường học, có vẻ như tính cạnh tranh khốc liệt là bản chất vốn có trong văn hóa Trung Quốc nói chung. Nhưng tôi không phải là chuyên gia, tốt hơn là nên hỏi các chuyên gia Trung Quốc về vấn đề này. Tôi muốn nhấn mạnh thêm một ý tưởng nữa: Các môn thể thao trí tuệ Olympic có thành tích cao nhất là cuộc thi giữa một nhóm nhỏ học sinh trung học phổ thông xuất sắc. Nó có thể liên quan đến hàng nghìn, hàng trăm hoặc thậm chí hàng chục người trẻ - tùy thuộc vào mức độ chúng ta đặt ra. Và điều này không liên quan gì đến sự cạnh tranh khốc liệt ở cấp độ trường học. Có sự cạnh tranh gay gắt ở đỉnh cao của kỳ thi Olympic Liên Xô không? Rõ ràng là có. Có sự cạnh tranh gay gắt ở các trường học Liên Xô không? Tôi tốt nghiệp trung học vào năm 1990 và thành thật mà nói, tôi không nhớ bất cứ điều gì như thế.

- Nhưng ngày nay chúng ta cũng đang dần rời xa hệ thống Olympic. Dmitry Peskov (Đại diện đặc biệt của Tổng thống về Phát triển Công nghệ và Kỹ thuật số) đã giải thích lý do tại sao hệ thống tuyển chọn tài năng thông qua các kỳ thi Olympic vật lý và toán học, trường học đặc biệt và các công cụ khác đã lỗi thời ngày nay. Cách tiếp cận này đã mang lại cho chúng tôi 50 ngàn học sinh có năng khiếu. Theo mô hình cũ, điều này đủ để phát triển 5-7 công ty quốc gia lớn tạo thành nền tảng cho nền kinh tế đất nước. Hiện nay, các thị trường công nghệ cao khổng lồ mới đã xuất hiện liên quan đến sự phát triển của AI, việc tạo ra những chiếc xe không người lái, việc xử lý dữ liệu lớn... Do đó, cần có nhiều nhân tài hơn gấp bội, không phải 50 mà là ít nhất là 500 nghìn người. . Đó là lý do tại sao Sirius (một trung tâm làm việc với trẻ em có năng khiếu) và các chi nhánh ở các khu vực ra đời - cách tiếp cận này cho phép chúng tôi tiếp cận được nhiều trẻ em hơn.

- Tôi muốn tranh luận với bạn xem liệu hiện nay có đang có sự thay đổi nào đó so với mô hình Olympic hay không. Theo tôi, không ai từ chối tham gia Thế vận hội như một cánh cửa dẫn đến các trường đại học hàng đầu. Theo tôi, sẽ đúng hơn nếu nói về việc bổ sung hệ thống Olympic bằng các phương pháp khác để làm việc với trẻ em có năng khiếu. Nhưng có một sự khác biệt cơ bản khi chúng ta nói về hệ thống Olympic toán học của Liên Xô và Nga. Ở Liên Xô, Thế vận hội là môn thể thao trí tuệ thú vị và không có gì khác. Và ngày nay, đây cũng là một trong những kênh tuyển sinh vào trường đại học, bổ sung cho hệ thống thi tuyển của Nhà nước. Điều này dẫn đến mức độ tham gia hoàn toàn khác nhau và động lực cũng hoàn toàn khác nhau đối với những người tham gia.

CHIẾN THẮNG OLYMPIC LIÊN QUAN NHƯ THẾ NÀO ĐẾN TRÌNH ĐỘ KHOA HỌC
- Có thể đánh giá trình độ phát triển của nền toán học một quốc gia thông qua thành tích của một quốc gia cụ thể tại các kỳ thi Olympic không?

- Nói thế này nhé, tôi sẽ không vội vàng vẽ một đường thẳng từ ba điểm này: tính cạnh tranh ở các kỳ thi Olympic, tính cạnh tranh trong trường học nói chung và tiềm năng sáng tạo cao của các nhà phát triển và nghiên cứu viên trong các công ty công nghệ cao hoặc phòng thí nghiệm khoa học. Mối liên hệ ở đây không rõ ràng.

- Durov viết rằng “Trung Quốc khuyến khích sự cạnh tranh khốc liệt giữa các sinh viên, một nguyên tắc được vay mượn từ mô hình Liên Xô cực kỳ hiệu quả. Ở phương Tây, sự cạnh tranh bị ngăn cản bằng cách cấm chấm điểm giữa các học sinh, và điều này làm giảm động lực của những người giỏi nhất.” Yếu tố này ảnh hưởng đến sự thành công của học sinh và sinh viên như thế nào?

- Sự cạnh tranh là động lực to lớn cho những người có tính khí phù hợp với nó. Nhưng khi nói đến toán học, có ít nhất một cơ chế nữa đang hoạt động tạo ra động lực mạnh mẽ. Đó là sự tò mò và niềm vui trí tuệ sâu sắc của khoảnh khắc nhận thức khi bạn đột nhiên hiểu được cách giải quyết một vấn đề phức tạp hoặc nguyên lý đơn giản không hiển nhiên nào đó sắp xếp nên một thứ gì đó thoạt đầu có vẻ phức tạp và hỗn loạn. Cơ chế này đã “kéo” con người vào toán học trong nhiều thế kỷ. Nhờ ông mà tất cả các thiên tài của những thế kỷ trước đều đến với khoa học, từ Newton và Euler đến Riemann và Hilbert. Sau đó, Thế vận hội bắt đầu diễn ra theo hướng tương tự, lần đầu tiên xuất hiện ở vùng Hungary thuộc Đế quốc Áo-Hung vào cuối thế kỷ 19, và sau cuộc cách mạng – tại đây.

TOÁN HỌC TRUNG QUỐC - CÓ PHẢI LÀ GHI NHỚ, KHÔNG PHẢI LÀ SÁNG TẠO?
- Học sinh và sinh viên Trung Quốc thường giành giải trong các cuộc thi Olympic toán. Nhưng tôi đã nói chuyện với Stanislav Smirnov (nhà toán học nổi tiếng người Nga và là người đoạt huy chương Fields - Biên tập viên) về điều này - ông ấy nói rằng người Trung Quốc đạt được điều đó bằng cách nhồi nhét. Suy cho cùng, một người có thể giải quyết được vấn đề là nhờ họ đã siêng năng nghiên cứu nhiều công thức nấu ăn có sẵn. Đôi khi điều này làm giảm khả năng đưa ra cái gì đó mới. Vì vậy, có rất ít nhà toán học nổi bật ở Trung Quốc. Và học sinh, sinh viên của chúng ta sáng tạo hơn. Bạn có đồng ý rằng người Trung Quốc chỉ chú trọng vào việc ghi nhớ chứ không phải phát minh không?

- Thực tế là số lượng nhà toán học xuất chúng ở Trung Quốc ít hơn mức có thể. Tại sao? Bởi vì trong thế kỷ trước ở Trung Quốc, vì những lý do lịch sử nổi tiếng (hai thập kỷ nội chiến, sau đó là sự chiếm đóng của Nhật Bản, và sau đó là Cách mạng Văn hóa Mao), đã có những vấn đề lớn về tính liên tục của trường phái khoa học. Và bản thân ngôi trường này còn khá trẻ so với nước Nga: 100 năm trước, tình hình giảng dạy toán học ở trường đại học tại Trung Quốc chỉ tương đương với Đế quốc Nga vào thế kỷ 18, thậm chí chưa bằng thế kỷ 19.

Tuy nhiên, vào thế kỷ 20, người Trung Quốc đã có Trần Hưng Thâm (tên của ông thường được phiên âm từ tiếng Anh là Chern Shiing-Shen) - một nhân vật vô cùng vĩ đại. Ông không chỉ học ở Trung Quốc mà còn học ở Đức (nơi ông chứng kiến sự khởi đầu của chủ nghĩa Quốc xã, may mắn là chủ nghĩa này không có thời gian ảnh hưởng trực tiếp đến ông) và học ở Pháp với Elie Cartan. Chen đã nỗ lực rất nhiều để đảm bảo rằng có nhiều nhà toán học hơn ở Trung Quốc, ngay cả trong thời kỳ Nhật Bản can thiệp và nội chiến, cũng như sau Cách mạng Văn hóa (ví dụ, học trò của Chen là Yau Shingtong, người đi đầu trong toán học hiện đại của Trung Quốc). Nhưng trong hoàn cảnh lịch sử đó, ông đã phải dành phần lớn cuộc đời mình ở xa quê hương, tại các trường đại học Mỹ. Trên thực tế, đây là một công lao to lớn của cộng đồng toán học Mỹ khi ông không được phép biến mất. Bây giờ chúng ta hiểu được Hoa Kỳ đã đạt được bao nhiêu lợi ích từ những biến động lịch sử của thế kỷ 20 ở Cựu Thế giới và Viễn Đông. Nhưng vào thời điểm đó và trong hoàn cảnh đó, việc giải cứu Chen, cũng như nhiều nhà khoa học tị nạn khác, là kết quả của những việc làm tốt và nghị lực của những cá nhân cụ thể, những người thường đi ngược lại xu hướng ở đất nước họ. Đúng vậy, và họ đã ủng hộ Chen, đối thủ khoa học của họ, nếu chúng ta nói về sự cạnh tranh.

Và người Nga có Lobachevsky (một người có số phận khá bi thảm, nếu bạn nghĩ về điều đó) cùng nhiều người khác. Nhưng điều quan trọng nhất là vào một thời điểm nào đó, khoảng 100-120 năm trước, toán học ở Nga đã đạt được “khối lượng tới hạn” cần thiết để chuyển đổi từ lượng sang chất mới. Suy cho cùng, khả năng toán học ở một chàng trai hay cô gái trẻ trước tiên phải được phát hiện rồi mới phát triển - và điều này rất khó thực hiện nếu không có ai để noi theo. Do đó, điều cực kỳ quan trọng là phải có đủ số lượng nhà toán học trong nước và hình thành nên một cộng đồng dễ nhận thấy. Và khi đó những người trẻ tài năng sẽ có cơ hội tốt để phát huy tài năng của mình, bắt đầu phấn đấu để phát huy tài năng đó, và nếu mọi việc diễn ra tốt đẹp thì sẽ thành công trong khoa học.

TẠI SAO NGƯỜI TRUNG QUỐC KÍCH THÍCH CHẢY NÃO TRÍ TUỆ Ở NƯỚC NGOÀI
- Vậy thì Durov nói đúng - cạnh tranh quyết định mọi thứ?

- Tất nhiên, sự cạnh tranh đóng một vai trò nhất định trong quá trình mọi người bước vào con đường nghiên cứu toán học. Nhưng với tôi, có vẻ quan trọng hơn khi nhấn mạnh đến một điều khác: “sức hấp dẫn” của toán học như một truyền thống trí tuệ được thể hiện trong một nhóm người, một cộng đồng nhất định. Nếu không có một trung tâm như vậy, sự cạnh tranh có nhiều khả năng sẽ phân tán nguồn nhân lực hơn là thúc đẩy sự phát triển của họ.

- Tôi đã nghe cựu chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Alexander Sergeev, giải thích về phép màu khoa học của Trung Quốc như sau. Chính quyền Trung Quốc không sợ tình trạng chảy máu chất xám mà ngược lại, họ còn kích thích nó. Chúng tôi giúp những người tài năng vào được những trường đại học tốt nhất ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Và khi sinh viên tốt nghiệp và nắm giữ các vị trí lãnh đạo trong các trường đại học và tập đoàn, Trung Quốc chỉ cần mua lại họ bằng tiền tài trợ. Và những người chảy máu chất xám đã trở về quê nhà, nhưng đã nhận được sự giáo dục và kinh nghiệm. Mẹo này có giải thích cho bạn về sự phát triển tuyệt vời của khoa học Trung Quốc không?

- Đây là một phần của lời giải thích, Sergeev nói đúng. Và câu chuyện cuộc đời của Chen là một phần khác của lời giải thích, bắt nguồn từ thời điểm sớm hơn một chút, và quyết định sự thành công của những gì Sergeyev nói. Phép màu khoa học của Trung Quốc sẽ không thể xảy ra nếu thiếu một trong hai điều này.

- Tôi tình cờ thấy một biểu đồ cho thấy các chuyên gia trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo di chuyển trên khắp thế giới từ trường học đến các vị trí lãnh đạo trong các trường đại học và các công ty lớn. Tỷ lệ học sinh Trung Quốc cao hơn, nhưng hầu hết các chuyên gia (bao gồm cả chuyên gia từ Trung Quốc) đều được đào tạo tại các trường đại học Mỹ. Có phải có mâu thuẫn trong luận đề về cuộc khủng hoảng giáo dục của Mỹ không?

- Tất nhiên là có. Điểm mạnh của nền giáo dục đại học Mỹ là nó nhanh chóng đưa những sinh viên tốt nghiệp phổ thông, theo tiêu chuẩn của chúng tôi, không có nền tảng toán học vững chắc nhất, lên tới trình độ khoa học cao. Nhưng đây là chủ đề cần có một cuộc trò chuyện riêng thú vị, đặc biệt là vì cũng có những quá trình đáng lo ngại ở đó.

Ảnh: Shutterstock .

ĐIỀU GÌ ĐÃ THÚC ĐẨY SINH VIÊN TOÁN TỰ TỬ VONG
- Ở Nga, sự cạnh tranh ở các trường đại học hàng đầu rất khốc liệt đến mức khó tin. Tại MIPT, Khoa Cơ học và Toán học của Đại học Tổng hợp Moscow, nơi có nhiều sinh viên có động lực cao (người chiến thắng Olympic, sinh viên đạt 100 điểm, sinh viên tốt nghiệp SUNC) ghi danh, có tới một nửa số sinh viên (theo ước tính khác là ba phần tư) bị đuổi học hoặc buộc phải nghỉ học vì không vượt qua được kỳ thi. Áp lực lớn đến mức hằng năm có rất nhiều sinh viên tự tử. Để ngăn chặn điều này, MIPT thậm chí còn thành lập một dịch vụ tâm lý học đặc biệt. Đây không phải là một thái cực khác không kém phần tai hại sao?

- Tôi nghĩ vấn đề không chỉ là cạnh tranh. Một yếu tố gây căng thẳng lớn khác ở những năm thứ ba đại học là khối lượng công việc khổng lồ phải học thuộc lòng một lượng lớn tài liệu mới. Tôi nghĩ rằng hầu hết những câu chuyện buồn mà bạn kể đều liên quan chính xác đến điều này, cũng như đến "tâm lý sinh viên toàn điểm A" của một số chàng trai. Và, thành thật mà nói, cũng có sự thờ ơ với số phận của học sinh từ phía những người dạy chúng và những người không chỉ truyền đạt một số kiến thức mà còn giúp chúng bước vào nghề, lựa chọn con đường của chúng - nhưng giáo viên không phải lúc nào cũng cho đến nhiệm vụ nhiệm vụ.

Mặt khác, sự quan tâm đến toán học thường tương quan với những khó khăn trong việc thích nghi xã hội. Trong bối cảnh quá tải, đây là yếu tố rủi ro quan trọng hơn so với căng thẳng liên quan đến cạnh tranh. Việc các trường đại học hàng đầu của chúng ta đang triển khai chương trình hỗ trợ tâm lý có hệ thống cho sinh viên (gần đây, không chỉ Phystech mà cả Đại học Tổng hợp Moscow cũng đang đi theo hướng này) là một điều đáng mừng.

- Trường toán học của chúng ta trông như thế nào so với trường toán học Trung Quốc và phương Tây?

- Trước hết, điều quan trọng là phải hiểu rằng khoa học có tính quốc tế. Nhưng tất nhiên, các trường phái khoa học quốc gia vẫn tồn tại, và trường phái toán học Nga là một trong số đó, cùng hàng với trường phái Pháp, Đức, Anh và Nhật Bản. Và bây giờ còn có cả tiếng Trung Quốc hoặc tiếng Brazil. Sự cạnh tranh giúp các trường này tránh khỏi tình trạng trì trệ và giúp những người trẻ tài năng có được vị trí xứng đáng. Nhưng đồng thời với sự cạnh tranh, có những lực lượng thống nhất đang hoạt động: đó là những kết nối về mặt ý thức hệ (không chỉ với những người đương thời, mà còn với các nhà toán học trong quá khứ - điều này có thể xảy ra trong khoa học), sự đoàn kết chuyên nghiệp, đồng tác giả, một mong muốn chung để tìm kiếm trí tuệ, đắm mình vào nền văn hóa dân tộc. Bạn khó có thể mong đợi thành công nếu từ bỏ bất kỳ yếu tố nào trong số này.
Читайте на WWW.KP.RU: https://www.kp.ru/daily/27659.5/5043961/.


Khuyết danh ST.

DẤU ẤN ĐỐI NGOẠI ĐẢNG TRONG NỀN NGOẠI GIAO VIỆT NAM!

BÀI 3: VỮNG TIN, VỮNG TIẾN TRÊN CHÍNH TRƯỜNG THẾ GIỚI!
(tiếp theo và hết)
Đối ngoại Đảng là sự kế thừa, nâng lên tầm cao mới của truyền thống ngoại giao dân tộc. Trong thời đại mới, đối ngoại Đảng cần tiếp tục thể hiện rõ vai trò tiên phong, dẫn dắt nền ngoại giao nước nhà. Thông qua kết quả đối ngoại Đảng và uy tín, vị thế của Đảng để vừa tập hợp lực lượng trong và ngoài nước, huy động mọi nguồn lực phục vụ phát triển đất nước; vừa đề cao trách nhiệm, góp phần xây dựng hòa bình thế giới và sự tiến bộ nhân loại!

1. Thời gian tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chung, nhưng thế giới đã, đang và sẽ trải qua nhiều biến động lớn, phức tạp hơn so với dự báo. Toàn thế giới đã đoàn kết cùng nhau bước qua đại dịch Covid-19, nhưng chuỗi sản xuất, trao đổi dịch vụ thế giới sẽ có những thích ứng mới trước tình trạng đứt gãy các chuỗi cung ứng và sự bất ổn trong quan hệ giữa các nền kinh tế lớn; liên kết kinh tế gia tăng trong khu vực, giữa một số nước. Cạnh tranh giữa các nước lớn, vấn đề xung đột Nga-Ukraine; giữa Nga và Liên minh châu Âu, giữa Iran và Israel diễn ra rất gay gắt, tác động sâu sắc đến cục diện an ninh chính trị thế giới.

Các vấn đề toàn cầu, an ninh phi truyền thống đặt ra nhiều thách thức chưa từng có cho phát triển kinh tế-xã hội của nhiều nước. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương tiếp tục là động lực chính trong quá trình phục hồi kinh tế thế giới, song cũng là một trong những trọng tâm của cạnh tranh nước lớn. Khu vực Đông Nam Á đang được các nước trong và ngoài khu vực ngày càng coi trọng, tích cực can thiệp, tạo ảnh hưởng; trong khi nội bộ khu vực vẫn còn những vấn đề chưa thống nhất.

Trước tình hình đó, tiếp tục triển khai thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đối ngoại Việt Nam nói chung, đối ngoại Đảng nói riêng cần tiếp tục phát huy mạnh mẽ trường phái ngoại giao “cây tre”, gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển; thực hiện “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược.

Là một trụ cột quan trọng trong mặt trận đối ngoại của đất nước, đối ngoại Đảng tập trung sức lãnh đạo nhằm đẩy mạnh, nâng tầm nhiều mặt. Trước hết, vị trí, vai trò đối ngoại Đảng phải được coi trọng, đánh giá đúng tầm mức; nhất là trong việc góp phần củng cố nền tảng chính trị vững chắc cho quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước; duy trì và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển của đất nước; đóng góp vào thành công chung của công tác đối ngoại; nâng cao vị thế, uy tín của Đảng và đất nước trên chính trường quốc tế. 

Thực hiện nhất quán chủ trương Đại hội XIII của Đảng: “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”. Theo đó, mỗi trụ cột đối ngoại đều có vai trò, sứ mệnh riêng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, thực hiện hiệu quả mục tiêu đối ngoại của đất nước. 

Trong đó, đối ngoại Đảng có 3 nhiệm vụ đặc biệt quan trọng cần quan tâm lãnh đạo, thực hiện thắng lợi: 1. Tham gia hoạch định chủ trương, đường lối, các quyết sách về những vấn đề đối ngoại quan trọng; 2. Triển khai các hoạt động đối ngoại nhằm phát triển quan hệ với các chính đảng góp phần củng cố nền tảng chính trị cho quan hệ của Việt Nam với các nước; xây dựng khuôn khổ, định hướng quan hệ, xử lý nhiều vấn đề trong quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác quan trọng; 3. Quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại của toàn bộ hệ thống chính trị, chỉ đạo công tác đối ngoại Đảng và đối ngoại nhân dân từ Trung ương đến cơ sở. Theo đó, trong điều kiện mới, đối ngoại Đảng tiếp tục phát huy vai trò và thế mạnh; triển khai một cách chủ động, tích cực, sáng tạo, có trọng tâm, trọng điểm, với nhiều nội dung mang tính đột phá cả trước mắt, lẫn lâu dài.

2. Để làm được điều đó, cần phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong tham gia tiến hành công tác đối ngoại Đảng. Mỗi tổ chức Đảng, mỗi đảng viên phải đề cao vai trò, trọng trách của mình như một “sứ giả của tình hữu nghị”; góp phần làm đẹp thêm hình ảnh người đảng viên Đảng Cộng sản, đồng thời nâng cao uy danh, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong các hoạt động đối ngoại Đảng, cùng với sự tham gia của lãnh đạo cao nhất của Đảng là đồng chí Tổng Bí thư và các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, cần sớm nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện cơ chế, tạo điều kiện cho các hoạt động đối ngoại Đảng của các ban Đảng và các tỉnh ủy, thành ủy cho đến tổ chức Đảng nhỏ nhất và từng đảng viên.

Tăng cường hơn nữa các chuyến thăm hữu nghị cấp cao, gặp gỡ cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với các chính đảng, các quốc gia trên thế giới. Đồng thời, Đảng quan tâm hơn nữa đến việc cử đại diện tham gia sự kiện quốc tế, khu vực và nhất là với các nước láng giềng; tăng cường các hình thức điện đàm, hội đàm, gặp gỡ, hội nghị đa phương trực tiếp hoặc trực tuyến ở các cấp.

Đối với các ban Đảng, các cấp, các ngành, cần chú trọng hơn đến việc gặp gỡ, đối thoại, trao đổi trên kênh song phương và đa phương; đào tạo cán bộ, ký kết các thỏa thuận hợp tác, kết nghĩa giữa các địa phương của Việt Nam và các nước trên thế giới... Coi trọng triển khai, thực hiện hiệu quả các thỏa thuận, chương trình hợp tác đã ký kết giữa các Đảng bộ trực thuộc Trung ương với các đảng đối tác để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đối ngoại Đảng.

Đóng góp chung vào những thành công của đối ngoại Đảng, có vai trò quan trọng của hệ thống các cơ quan đại diện Việt Nam, cán bộ, đảng viên làm công tác đối ngoại ở nước ngoài mà phần đông là các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Thật đáng ghi nhận vì đến nay, Việt Nam đã có gần 100 cơ quan đại diện ở nước ngoài, trải khắp các châu lục và ở mỗi cơ quan này đều đã thành lập tổ chức Đảng lãnh đạo một cách trực tiếp, toàn diện.

Đây là lực lượng tuyến đầu thực hiện công tác thông tin đối ngoại tại địa bàn ngoài nước; do vậy, các tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên thực hiện nhiệm vụ ở nước ngoài cần đề cao vai trò, trách nhiệm, tích cực quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, về vai trò, sứ mệnh, bản chất tốt đẹp của Đảng Cộng sản Việt Nam đến với bạn bè quốc tế; đồng thời thu thập những thông tin có chọn lọc về tình hình, sự phát triển của thế giới, khu vực, về các vấn đề được dư luận và nhân dân trong nước quan tâm; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; tạo sự đồng thuận, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước; kêu gọi, thu hút sự hợp tác, hỗ trợ của thế giới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

3. Trong một thế giới đa cực, diễn biến phức tạp, mau lẹ, các cấp cần tiếp tục đổi mới hơn nữa nội dung, phương thức hoạt động, không ngừng nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại Đảng, với phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến", "chủ động linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả”, bảo đảm phối hợp tổng thể, chặt chẽ, đồng bộ giữa các trụ cột đối ngoại. Phát huy vai trò của đối ngoại Đảng trong thúc đẩy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược đáp ứng đúng và trúng yêu cầu của tình hình mới.

Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại, nhất là các vấn đề tác động trực tiếp, lâu dài đến an ninh và phát triển đất nước. Thường xuyên theo dõi, nghiên cứu, nắm chắc và dự báo đúng tình hình để kịp thời có đối sách và giải pháp phù hợp. Tích cực triển khai, hiện thực hóa các đề án, chiến lược lớn trong lĩnh vực đối ngoại, an ninh, quốc phòng, trong đó có Nghị quyết về những định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, Chiến lược Đối ngoại Việt Nam đến năm 2030. Đồng thời, không ngừng đổi mới tư duy đối ngoại phù hợp với tình hình mới; tăng cường tính chủ động, tính chiến lược và tính đồng bộ, toàn diện trong tất cả các khâu, từ nghiên cứu dự báo đến tham mưu, xử lý các vấn đề đối ngoại và tổ chức, triển khai các hoạt động đối ngoại Đảng.

Phát huy mạnh mẽ vai trò đầu mối trong quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với hoạt động đối ngoại của toàn bộ hệ thống chính trị, nâng cao tính thiết thực, hiệu quả của các hoạt động đối ngoại Đảng. Tập trung mở rộng và phát triển về chiều sâu các mối quan hệ đối ngoại của Đảng, tăng cường sự tin cậy, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho quan hệ song phương. 

Tiếp tục tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện và tin cậy với các đảng cầm quyền ở các nước láng giềng có chung biên giới, các nước xã hội chủ nghĩa, đưa quan hệ vào chiều sâu, củng cố sự tin cậy chính trị, tạo nền tảng chính trị vững chắc, giữ vai trò định hướng chiến lược cho quan hệ song phương; đồng thời, phát huy mạnh mẽ lợi thế đặc thù của kênh đối ngoại Đảng để góp phần giải quyết hiệu quả các vấn đề lớn trong quan hệ song phương với các nước này. 

Cùng với đó, cần tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ với các đảng cầm quyền, đảng tham chính, đảng có vị trí và vai trò quan trọng trong việc hình thành và triển khai chính sách của các nước đối với Việt Nam; tăng cường thực chất quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân có vị trí, vai trò trên chính trường các nước, có nhiều ảnh hưởng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và ở từng khu vực để tạo lực lượng hậu thuẫn chính trị.

Tiếp tục phát huy vai trò của đối ngoại Đảng để đóng góp thiết thực cho công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là việc tiếp thu kinh nghiệm xây dựng Đảng, kinh nghiệm lãnh đạo, điều hành đất nước. Đồng thời, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, tranh thủ sự đoàn kết và ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao uy tín quốc tế, vị thế của Đảng và đất nước, tạo thuận lợi cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đề ra tại Đại hội XIII của Đảng.

Để đáp ứng yêu cầu của công tác đối ngoại Đảng trong thời kỳ mới, cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, bản lĩnh và trí tuệ, hiện đại, chuyên nghiệp về phong cách, phương pháp làm việc, có tinh thần đổi mới, sáng tạo; quyết liệt phòng, chống mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xuống cấp về đạo đức, lối sống trong đội ngũ làm công tác ngoại giao.

Tiếp tục coi trọng xây dựng, chỉnh đốn Đảng và công tác cán bộ, trong đó có đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá cán bộ ngoại giao, nhất là với cán bộ cấp chiến lược, lãnh đạo, quản lý; từng bước xây dựng, phát triển đội ngũ chuyên gia có trình độ đạt tầm khu vực và quốc tế. Kiện toàn tổ chức, bộ máy ngành ngoại giao Đảng tinh gọn, khoa học, hợp lý và hiệu quả. Đẩy mạnh hiện đại hóa, chuyển đổi số ngành ngoại giao Đảng./.



Theo QĐND
Yêu nước ST.

DẤU ẤN ĐỐI NGOẠI ĐẢNG TRONG NỀN NGOẠI GIAO VIỆT NAM!

BÀI 2: KHẲNG ĐỊNH “TÂM” VÀ “TẦM” CỦA ĐẢNG!
         Trong hàng loạt thông tin được viện dẫn để chống phá công tác đối ngoại Đảng, thế lực thù địch, phản động hướng mũi công kích vào việc quy kết: Đảng Cộng sản Việt Nam không hề và chưa hề có tên trên “bản đồ chính trường quốc tế”. Nếu có chỉ là sự bám víu, đối ngoại theo kiểu “nói leo, ăn theo”. Thế nhưng, đây thực chất chỉ là những lời “múa môi, sáo ngữ”, cố tình bóp méo, phủ nhận sự thật!

1. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhiều lần khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những kết quả và thành tựu đạt được trong thời gian qua là sản phẩm kết tinh sự sáng tạo của quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; trong đó có đóng góp hết sức quan trọng của công tác đối ngoại Đảng. Qua đó, “thế” và “lực”, “tâm” và “tầm”, uy tín và thanh danh của Đảng, đất nước được khẳng định vững chắc trên chính trường quốc tế.

Trong bối cảnh đất nước phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thách thức, bằng ý chí, quyết tâm cao và tinh thần: "Tiền hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng", "Dọc ngang thông suốt", Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng “tự chỉnh đốn” để không ngừng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ trong điều kiện mới.

Trong suốt 3 nhiệm kỳ Đại hội Đảng liên tiếp (XI, XII, XIII), với việc kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, vai trò, vị thế của Đảng không ngừng được củng cố, tăng cường; góp phần tạo nên bước chuyển mới trên nhiều lĩnh vực, trong đó có công tác đối ngoại Đảng, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ghi nhận: “Càng đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng của chúng ta càng mạnh lên, càng củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho bộ máy trong sạch, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại”.

Sự ổn định bên trong là tiền đề quan trọng để Đảng đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Đảng trên trường quốc tế. Tất cả các sự kiện, ngày lễ lớn của Đảng luôn nhận được sự quan tâm theo dõi, ủng hộ của các chính đảng, tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia trên thế giới.

Sau khi Đại hội XIII của Đảng được tổ chức thành công, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận 215 điện mừng từ 105 đảng, 4 tổ chức khu vực và quốc tế, 76 tổ chức hữu nghị, 15 đoàn ngoại giao và 15 cá nhân đến từ 79 nước. Dịp kỷ niệm Ngày thành lập Đảng hằng năm luôn nhận được chuyến thăm, chúc mừng từ các chính đảng, tổ chức, bạn bè quốc tế. Đây là minh chứng sinh động cho uy tín của Đảng ta và sự cảm phục đặc biệt mà các quốc gia, chính đảng, nguyên thủ quốc gia trên thế giới dành cho Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thật tự hào khi tính đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia; trong đó 96 đảng Cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Đây là con số ấn tượng, riêng có mà một chính đảng cầm quyền trên thế giới thiết lập nên. Cùng với đó, từ sau Đại hội XIII của Đảng đến đầu tháng 7-2023, các hoạt động đối ngoại cấp cao đã đóng góp quan trọng vào tăng cường sự tin cậy chính trị, tạo đà thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác giữa nước ta với các đối tác, bạn bè quốc tế. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trực tiếp chủ trì, tham gia khoảng 150 cuộc tiếp xúc, điện đàm, thư và điện đối ngoại, các cuộc hội đàm trực tiếp hoặc trực tuyến, các cuộc tiếp, làm việc, dự hội nghị quốc tế với các vị lãnh đạo đảng, nhà nước, tổ chức quốc tế. Cùng với đó, nhiều hoạt động đối ngoại hết sức sôi động, có ý nghĩa trên nhiều phương diện được các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, các đồng chí đứng đầu ban Đảng, tổ chức chính trị - xã hội và lãnh đạo các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương thực hiện một cách chủ động, sáng tạo, hiệu quả.

2. Hoạt động đối ngoại Đảng đã tạo nền tảng chính trị quan trọng cho việc ổn định, mở rộng và thắt chặt quan hệ song phương giữa nước ta với các nước; đồng thời góp phần giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến an ninh và phát triển đất nước, cũng như các vấn đề nảy sinh trong quan hệ song phương. Điểm lại các hoạt động đối ngoại của đất nước từ tháng 7-2023 đến tháng 6-2024 có thể thấy, trong thời gian ngắn, lãnh đạo nhiều quốc gia, nhất là các nước có tầm ảnh hưởng trong khu vực và trên thế giới có chuyến thăm cấp nhà nước đến Việt Nam và nhận được sự đón tiếp trọng thị, chân thành, chu đáo từ các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước Việt Nam. 

Có thể kể đến như từ ngày 10 đến ngày 11-9-2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì đón Tổng thống Mỹ Joe Biden thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam. Việc hai quốc gia từng đứng ở hai bên chiến tuyến, có thể chế chính trị khác biệt (từng được cho là đối lập), cùng ra Tuyên bố chung nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện và đề ra phương hướng cho hợp tác lâu dài là sự kiện ngoại giao mang tính biệt lệ, có dấu ấn lịch sử đặc biệt quan trọng.

Cũng trong năm 2023, từ ngày 12 đến 13-12-2023, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và phu nhân đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và phu nhân. Chuyến thăm lần này cùng với chuyến thăm lịch sử tới Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ ngày 30-10 đến 1-11-2022, ngay sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc có ý nghĩa quan trọng, để lại dấu ấn lịch sử cho quan hệ của Đảng Cộng sản hai nước. Trả lời báo chí về kết quả chuyến thăm, đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương nhấn mạnh, chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao của Đảng, Nhà nước Trung Quốc thành công tốt đẹp, đạt được nhiều kết quả lớn, thể hiện sự coi trọng cao độ của Đảng, Nhà nước Trung Quốc và cá nhân đồng chí Tập Cận Bình đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam cũng như đối với uy tín của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. 

Và vào cuối tháng 6 năm 2024, nhận lời mời của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin đã thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam từ ngày 19 đến 20-6-2024. Đây là chuyến thăm với nhiều ý nghĩa quan trọng, là một điểm nhấn nổi bật của đối ngoại Việt Nam năm 2024. Chuyến thăm thể hiện sự coi trọng dành cho Việt Nam trong triển khai chính sách đối ngoại hướng Đông của Nga. Trong hơn hai thập kỷ lãnh đạo Liên bang Nga, đây là lần thứ năm Tổng thống Vladimir Putin thăm Việt Nam, đồng thời là một trong những chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi tái đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ thứ 5 vào tháng 3-2024.

Những chuyến đi của Tổng thống Vladimir Putin để lại dấu ấn đậm nét và đóng góp vào việc tạo dựng những nền tảng quan trọng cho sự phát triển của quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga, trong đó có việc khởi xướng, ủng hộ thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Liên bang Nga năm 2001 và nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2012...

Từ việc thực hiện đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng và dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, bao gồm 190/193 nước thành viên Liên hợp quốc. 

Trong đó, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với hơn 30 nước; bao gồm 5 nước thành viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu (G7) và tất cả thành viên ASEAN. Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 220 đối tác, hơn 70 nước đã công nhận quy chế kinh tế thị trường đối với Việt Nam. Cùng với đó, Việt Nam hiện là thành viên của hơn 70 tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và toàn cầu. Đây là những minh chứng sinh động, thuyết phục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và là tiền đề vững chắc để tiếp tục nâng tầm uy tín, vị thế của Đảng, của đất nước trên tất cả các lĩnh vực, các mối quan hệ quốc tế.

Thực tế còn cho thấy, đã có không ít các chính đảng, tổ chức, bạn bè quốc tế bày tỏ thiện chí, sự ủng hộ và mong muốn học hỏi kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, các hoạt động trao đổi lý luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn với các chính đảng qua nhiều hình thức khác nhau được tăng cường và tổ chức thực hiện ngày càng hiệu quả. Đảng ta đã phối hợp tổ chức thành công Hội thảo Lý luận lần thứ chín với Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; Trao đổi Lý luận lần thứ mười với Đảng Cộng sản Nhật Bản; Đối thoại Lý luận lần thứ bảy với Đảng Dân chủ Xã hội Đức (SPD) và Đối thoại Chính sách lần thứ ba với Đảng Cánh tả Đức… Các hội thảo trao đổi, đối thoại lý luận, chính sách có ý nghĩa quan trọng để các bên tổng kết và chia sẻ thành tựu về lý luận và thực tiễn lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước. Qua đó, Đảng ta có điều kiện tích lũy thêm kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; về xây dựng đảng; về lãnh đạo, quản lý đất nước và giải quyết các vấn đề trên tất cả các lĩnh vực...

95 năm đã trôi qua kể từ Ngày thành lập Đảng, với bản lĩnh, trí tuệ, tài năng tuyệt vời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang chèo lái sự nghiệp cách mạng nói chung, công tác đối ngoại Đảng nói riêng đạt nhiều thành tựu hết sức to lớn; là nền móng vững chắc đưa sự nghiệp cách mạng đi đến những thắng lợi vẻ vang. Đó cũng chính là bằng chứng sinh động, thuyết phục giúp bóc trần mọi luận điệu, thủ đoạn của những kẻ phản động, chống phá đang cố tình hạ bệ thành quả công tác đối ngoại của Đảng ta!
(Còn nữa)

Theo QĐND
Yêu nước ST.

DẤU ẤN ĐỐI NGOẠI ĐẢNG TRONG NỀN NGOẠI GIAO VIỆT NAM!

BÀI 1: ĐỐI NGOẠI ĐẢNG - MỘT TRUYỀN THỐNG QUÝ BÁU!
     Với mưu đồ, thủ đoạn tinh vi, thâm độc, thời gian qua, các thế lực thù địch liên tục tung ra nhiều chiêu trò hòng hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và phủ nhận thành quả đối ngoại Đảng - một trụ cột quan trọng của mặt trận đối ngoại Việt Nam. Thế nhưng, tất cả những chiêu trò ấy đều bị ánh sáng sự thật xua tan, phủ nhận; càng làm cho dư luận trong và ngoài nước thêm vững tin vào vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời bày tỏ sự tán dương, cảm phục trước thành quả có dấu ấn lịch sử của công tác đối ngoại Đảng!

Không khó để nhận ra, các thành phần phản động, chống phá cách mạng luôn cố ý lấp liếm, quy chụp rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ giỏi lãnh đạo “đánh nhau”, chứ không biết gì về đối ngoại; và nếu có cũng chỉ là sự ăn may, hoặc “tô hồng” thành tích. Thực tế, đối ngoại của Đảng là một truyền thống quý báu và kết quả đối ngoại Đảng là những thành tựu hết sức to lớn, có dấu ấn lịch sử.

1. Những ngày qua, trên một số trang mạng địa chỉ ở nước ngoài đăng tải nhiều bài viết có nội dung cắt ghép, bóp méo sự thật một cách trắng trợn, hòng “minh chứng” cho những chủ ý xấu xa. Các bài viết, video này có nội dung cố tình đặt điều: Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là nguyên thủ quốc gia nên không được các nước trên thế giới tiếp đón ngoại giao bằng nghi thức trang trọng; kết quả đối ngoại Đảng chỉ là sự bịa đặt, hoặc là hệ quả tất yếu của đối ngoại Nhà nước, ngoại giao nhân dân.

Nhiều “chủ bút” lớn tiếng rêu rao: Đảng tiến hành đối ngoại cũng chẳng qua là vì lợi ích của Đảng - của một nhóm quyền lực, chứ không vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong khi, một số đối tượng chống phá giả danh khoa học hoặc đội lốt “diễn giả” hồ đồ quy kết hoạt động đối ngoại Đảng là không cần thiết, chỉ nặng hình thức.

Với những danh nghĩa tự xưng là: “Luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ, nhân quyền”, “người Việt yêu nước”...; thông qua các hình thức trá hình, như: “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn”, “kiến nghị”… cho Nhà nước Việt Nam, các thế lực thù địch và thành phần bất mãn, hiềm khích cố tình đan cài nhiều nội dung sai lệch, nhằm hạ thấp, phủ nhận kết quả công tác đối ngoại Đảng. Trong khi đó, các blogger, tài khoản mạng xã hội và các website có địa chỉ ở nước ngoài chủ ý tung tin thất thiệt về những chỉ đạo đối ngoại sai lầm của Đảng trong giải quyết mối quan hệ bạn - thù, trong ứng xử với đối tác, đối tượng. Chúng “khuyên nhủ” Việt Nam nên từ bỏ chính sách “ngoại giao cây tre” vì không thể “gió chiều nào, ngả chiều ấy”; không thể chọn phe để ứng xử ngoại giao “thiếu đạo hiếu”, “thiếu nghĩa tình” với các nước láng giềng, đối tác truyền thống.

Không khó để nhận ra những thủ đoạn trên là hòng cố tình chống phá quá trình thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng ta; nhằm gây hoang mang, dao động đối với một bộ phận cán bộ, quần chúng; dễ nảy sinh các biểu hiện tư tưởng “xét lại”, “phủ nhận lịch sử”; làm thui chột động lực phấn đấu, nỗ lực cống hiến vì một nước Việt Nam đang trên đà phát triển, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các quốc gia trên thế giới. Hơn thế, các luận điệu chống phá còn hướng đến việc phá hoại, ngăn cản nỗ lực mở rộng quan hệ đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam với các nước, các chính đảng trên thế giới; khiến dư luận trong và ngoài nước nhìn nhận, đánh giá sai lệch về vị thế, vai trò, bản chất, truyền thống và sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Từ sự nguy hại đặc biệt đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng phải không ngừng học tập, nghiên cứu, nắm chắc tình hình; luôn đề cao cảnh giác cách mạng để có tâm thế sẵn sàng, vững vàng trong tham gia phòng ngừa, đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá bằng tinh thần, trách nhiệm cao nhất, mang lại hiệu quả cao nhất!

2. Những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch dù thâm độc, xảo quyệt, nhưng xét về bản chất, đó là những luận điệu vu khống, quy chụp, không có căn cứ và mang đậm màu sắc phản động. Đó là những tiếng nói lạc lõng, bịa đặt của những kẻ lạc lối, chắc chắn không thể phủ nhận thành quả của công tác đối ngoại Đảng trong nền ngoại giao Việt Nam.

Thực tiễn chứng minh: Ngay từ trước khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (năm 1945), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng, phát huy hiệu quả vai trò của đối ngoại Đảng nhằm phục vụ mục tiêu cao nhất lúc đó là giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình hoạt động cách mạng, vận động thành lập Đảng cho đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930), đích thân lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng đã trực tiếp tiến hành công tác đối ngoại Đảng trên nhiều phương diện, bằng nhiều hình thức linh hoạt, sáng tạo. Trên cương vị là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, các đồng chí lão thành cách mạng, các bậc tiền bối đã giải quyết tốt mối quan hệ với lãnh đạo của nhiều chính đảng, nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là với các đảng Cộng sản; thậm chí là với chính khách, chính đảng ở phương Tây và cả ở chính quốc gia đi xâm lược Việt Nam.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 1-11-1949, cơ quan chuyên trách về công tác đối ngoại của Đảng được thành lập với tên gọi Phòng Lào - Miên Trung ương (tiền thân của Ban Đối ngoại Trung ương ngày nay), trực thuộc Ban Thường vụ Trung ương. Sự kiện đó có ý nghĩa hết sức quan trọng, đánh dấu việc “định danh” một mũi giáp công mới, hết sức quan trọng trong lĩnh vực đối ngoại - đó là đối ngoại Đảng.

Suốt quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đối ngoại Đảng luôn chủ động mở rộng quan hệ, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các chính đảng, các phong trào tiến bộ trên thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam; tạo nên mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn, kết thành sức mạnh tổng hợp, đưa các cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi cuối cùng.

Bước vào giai đoạn đổi mới đất nước, đối ngoại Đảng phát huy vai trò chủ động, góp phần phá thế cô lập, bao vây, cấm vận; vượt qua những biến cố và sóng gió của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế trên thế giới; phối hợp hiệu quả trong việc tham mưu, đề xuất đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại. Đối ngoại Đảng có nhiều đóng góp quyết định trong việc duy trì và thúc đẩy môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; tranh thủ các điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững. Đối ngoại Đảng đã tạo nguồn sức mạnh mới, tạo thế đứng vững chãi cho nền ngoại giao nước ta với ba trụ cột (đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân); bổ sung, hỗ trợ hiệu quả, cùng nhau triển khai thắng lợi đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam.

3. Xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm đề ra phương hướng và các giải pháp cụ thể liên quan đến công tác đối ngoại Đảng. Đặc biệt, ngày 18-2-2019, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW, “Về tăng cường và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại Đảng trong tình hình mới” là dấu mốc quan trọng thể hiện sự phát triển về tư duy lý luận, khẳng định vai trò quan trọng của đối ngoại Đảng. Chỉ thị nhấn mạnh, “tăng cường đối ngoại Đảng là định hướng chiến lược đối ngoại quan trọng hàng đầu” và “là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng làm công tác đối ngoại là nòng cốt”; đề ra nhiệm vụ mở rộng và đưa các mối quan hệ đối ngoại Đảng đi vào chiều sâu, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho quan hệ song phương, tranh thủ sự ủng hộ và tạo thêm sự hỗ trợ về mặt chính trị cho quan hệ nhà nước, cũng như đối ngoại nhân dân.

Tiến trình lịch sử cho thấy, công tác đối ngoại Đảng đã kế thừa, phát huy, nâng lên tầm cao mới truyền thống, bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao Việt Nam. Đó là cung cách ngoại giao đầy hào khí, giàu nhân văn, trọng lẽ phải, tôn trọng công lý và vì chính nghĩa. Đối ngoại Đảng giữ vai trò chỉ đạo, dẫn dắt nền ngoại giao nước nhà theo hướng hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước, văn hóa dân tộc, truyền thống ngoại giao Việt Nam với tinh hoa văn hóa và kinh nghiệm ngoại giao thế giới. Trong đó, luôn đề cao mục tiêu độc lập dân tộc, tinh thần hòa hiếu, hữu nghị, dùng ngoại giao để đẩy lùi xung đột, nguy cơ chiến tranh; giải quyết bất đồng bằng phương pháp hòa bình; gắn với thực tiễn sinh động, mau lẹ của thế giới, đưa Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy của thời đại.

Trong hoạt động đối ngoại Đảng, Đảng ta luôn quán triệt nhất quán, xuyên suốt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là "phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ" để biết mình, biết người, luôn làm chủ tình thế; hiểu rõ vị trí địa chiến lược của Việt Nam trong mối quan hệ giữa các nước lớn và khu vực. Đặc biệt, coi trọng việc xử lý khéo léo quan hệ với các nước; luôn "biết mình, biết người", "biết thời, biết thế" để hành xử “đủ tâm” và “đúng tầm”; thực hiện "cương nhu kết hợp", "tùy cơ ứng biến",“dĩ bất biến, ứng vạn biến”… vì lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc.

Đối ngoại Đảng đã góp phần xây dựng và phát triển một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Đó là: Mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Với bề dày truyền thống quý báu, công tác đối ngoại Đảng hiện nay đã có những bước tiến to lớn, đóng góp quan trọng vào những thắng lợi vẻ vang của sự nghiệp cách mạng, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Công tác đối ngoại là một điểm sáng trong toàn bộ những thành tựu chung của đất nước”, và “ngành Ngoại giao đã đóng vai trò tiên phong trong thời bình, góp phần bảo vệ an ninh, độc lập và chủ quyền đất nước”./.
(Còn nữa)

Theo QĐND 
Yêu nước ST.