Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NÓI VỀ ĐẢNG VÀ ĐẢNG VIÊN

 CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NÓI VỀ ĐẢNG VÀ ĐẢNG VIÊN


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài nói và viết về Đảng, vai trò, nhiệm vụ của Đảng và mỗi đảng viên trước nhân dân, Tổ quốc, dân tộc. Dưới đây là những lời trích của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Đảng và đảng viên:


"Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".

(Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tập 12, tr 510).


"Đảng không phải là nơi để thăng quan, tiến chức, để phát tài. Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai cấp".

(Sđd, tập 8, tr.34).


"NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ.

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân".

(Sđd, tập 5, tr.698)


"Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!"

(Sđd, tập 10, tr 2)


"Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình".

(Sđd, tập 12, tr 510)


"Đảng ta tuy nhiều người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người".

(Sđd, tập 5, tr.553)


"Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối và chính sách của Đảng, tôn trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng".

(Sđd, tập 11, tr.23)


"Đảng ta thành tích khá nhiều, nhưng khuyết điểm cũng không ít. Chúng ta cần phải thật thà tự phê bình để sửa chữa. Phải cố sửa chữa để tiến bộ".

(Sđd, tập 6, tr.166)


Phải thường xuyên nghiêm chỉnh phê bình và thật thà tự phê bình để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, để cùng nhau tiến bộ. Làm cách mạng thì có đúng có sai. Cố nhiên đúng phải là chính, sai là phụ. Có sai thì chúng ta giúp nhau kiên quyết sửa chữa và cùng nhau hăng hái tiến lên".

(Sđd, tập 11, tr. 154)


"Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng. Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng đều được thi hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng. Trái lại, nếu chi bộ kém thì công việc không trôi chảy".

(Sđd, tập 11, tr.161)


"...cán bộ là cái gốc của mọi công việc".

( Sđd, tập 5, tr 269)


"Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém".

(Sđd, tập 5, tr.273)


"Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ "cộng sản" mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho các đồng chí đó".

(Sđd, tập 5, tr.552)


"Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng".

(Sđd, tập 9, tr290)


"Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hóa, chính trị của nhân dân".

(Sđd, tập 5, tr.250)


"Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc. Để làm tròn nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, Đảng phải mạnh, toàn Đảng tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí. Cho nên chỉnh Đảng là việc chính, phải đặc biệt chú trọng"…

Cảnh báo lừa đảo mua bán tiền giả trên mạng xã hội

 Cảnh báo lừa đảo mua bán tiền giả trên mạng xã hội:


Theo Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT), thời gian gần đây, hiện tượng mua bán tiền giả trên các mạng xã hội như Facebook, TikTok đang phổ biến và gây lo ngại.


Chỉ cần tìm kiếm cụm từ "tiền giả", hàng loạt các tài khoản cá nhân và hội nhóm liên quan sẽ xuất hiện. Các thông tin bình luận phía dưới phần lớn là người bán nhắn nhủ sẽ báo giá riêng vào tài khoản cá nhân của khách hàng.


Người bán thường để lại thông tin mập mờ trên bài đăng và khuyến khích khách hàng nhắn tin trực tiếp để được báo giá. Ngoài ra, ngay khi người mua truy cập vào trang cá nhân của người bán, họ sẽ lập tức nhận được tin nhắn riêng giới thiệu về dịch vụ bán tiền giả.


Các bài viết và clip quảng cáo rao bán tiền giả với nhiều mệnh giá khác nhau, ví dụ như 1 triệu đồng mua được 10 triệu đồng, có tài khoản rao bán 1 triệu đồng được 14 triệu đồng không phải đặt cọc trước và được kiểm tra hàng.


Người mua càng đặt số lượng lớn, tỷ lệ quy đổi sẽ càng ưu đãi. Việc thanh toán không yêu cầu đặt cọc trước, khách hàng nhận hàng qua bưu điện, kiểm tra thanh toán trực tiếp cho nhân viên bưu điện hoặc người giao tới và được kiểm tra trước khi nhận hàng. Đáng chú ý, các tin nhắn từ các tài khoản là học sinh, sinh viên và người trẻ tuổi chiếm phần nhiều.


Để phòng tránh thủ đoạn lừa đảo tinh vi này, Cục An toàn thông tin khuyến cáo người dân nên lựa chọn các cơ sở uy tín để thực hiện giao dịch đổi tiền. Không tham gia vào giao dịch tiền tệ không rõ nguồn gốc trên mạng xã hội hoặc qua các nền tảng không chính thức.


Trước khi thực hiện bất kỳ giao dịch nào, hãy xác minh kỹ danh tính đối tác, nguồn gốc giao dịch cũng như các thông tin liên quan. Sử dụng các kênh giao dịch chính thức và có giấy tờ hợp pháp; cảnh giác với các yêu cầu chuyển tiền trước./.

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền ngày càng tăng đối với đất nước đang bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

 Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền ngày càng tăng đối với đất nước đang bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc:


Trên thế giới đảng cầm quyền được dùng ở cả các nước tư bản chủ nghĩa và các nước xã hội chủ nghĩa. Đảng cầm quyền là chính đảng thông qua phương thức hoạt động nào đó (bầu cử dân chủ, đảo chính, đấu tranh cách mạng...), giành được quyền thiết lập và điều hành bộ máy chính quyền để thực hiện cương lĩnh, mục tiêu của đảng theo quy định của pháp luật.


Ở phần lớn các nước tư bản chủ nghĩa đảng cầm quyền dùng để chỉ đảng chính trị thắng cử thông qua bầu cử dân chủ cạnh tranh, tuân theo pháp luật quốc gia. Ở các nước xã hội chủ nghĩa đảng cầm quyền được dùng để chỉ thời kỳ đảng cộng sản, thường thông qua cuộc đấu tranh cách mạng vô sản hoặc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, lật đổ bộ máy chính quyền của giai cấp bóc lột, thiết lập nhà nước kiểu mới - nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, để thực hiện mục đích của đảng là xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.


Ở Việt Nam, từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành Đảng cầm quyền và là Đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo Nhân dân hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là sự phản ánh thời kỳ cách mạng đã giành được chính quyền, Đảng được Nhân dân ủy quyền lãnh đạo thiết lập và sử dụng bộ máy nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân và dân tộc.


Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra những nguy cơ chung của đảng cộng sản cầm quyền, đó là nguy cơ sai lầm về đường lối và quan liêu, xa dân. Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức và từng bước ngăn chặn, đẩy lùi các nguy cơ đó, đồng thời nhận thức thêm các nguy cơ mới. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ 4 nguy cơ nổi bật của nước ta: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế thế giới do điểm xuất phát thấp, nhịp độ tăng trưởng chưa cao và vững chắc, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, chịu trách nhiệm và quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, bởi vậy, 4 nguy cơ nêu trên của đất nước cũng là 4 nguy cơ của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.


Tại Đại hội X, Đảng nhấn mạnh: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”.


Đại hội XII của Đảng khẳng định 4 nguy cơ, thách thức nêu trên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, nghiêm trọng hơn, như tình trạng tham nhũng, lãng phí, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng Internet để chống phá; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; vấn đề “lợi ích nhóm”; niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, chế độ có mặt bị giảm sút. Nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây là nguy cơ liên quan đến vận mệnh của Đảng, của chế độ ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.


Đại hội XIII của Đảng nhận định: 4 nguy cơ vẫn còn tồn tại, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có mặt gay gắt hơn. “Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn. Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hóa, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới”.


Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo lãnh đạo Nhà nước và xã hội.


Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ: Đảng Cộng sản ra đời, tồn tại và phát triển là để lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động lật đổ xã hội áp bức, bóc lột, xây dựng chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội; lật đổ chế độ cũ, đập tan nhà nước áp bức, bóc lột Đảng Cộng sản mới hoàn thành được một nhiệm vụ đầu tiên; nhiệm vụ tiếp theo rất nặng nề, phức tạp của Đảng là lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ thành quả cách mạng. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tường Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.


Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy và lãnh đạo hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở để thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Hệ thống chính trị do giai cấp cầm quyền lập ra và chỉ đạo hoạt động nên hệ thống chính trị ở các nước đều mang bản chất của giai cấp cầm quyền. Hệ thống chính trị ở Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, thể hiện tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định việc xây dựng và hoạt động đúng hướng của hệ thống chính trị, quyết định để hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp công nhân. Hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm các tổ chức như đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền lực chính trị đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội. Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay là một chỉnh thể thống nhất, bao gồm các tổ chức: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.


Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta


Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Thưc tiễnkhẳng định Đảng là lực lượng chính trị duy nhất có đầy đủ năng lực, điều kiện cầm quyền xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đem lại độc lập, tự do, ấm no hạnh phúc thực sự cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cho dân tộc. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.


Trong điều kiện đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đảng ta cần có những giải pháp đột phá: “Tập trung hoàn thiện thể chế, tiếp tục nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng; tăng cường năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua đổi mới việc xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là việc ban hành nghị quyết; đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của Đảng, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tăng cường củng cố niềm tin của Nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Tiếp tục nghiên cứu sắp xếp, tinh gọn đơn vị hành chính các cấp theo hướng giảm đầu mối trực thuộc Trung ương, giảm cấp hành chính trung gian, chú trọng xây dựng cấp cơ sở vững mạnh, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, nhất là công tác thẩm định, đánh giá cán bộ; tập trụng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ cấp cơ sở; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung làm động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Tăng cường siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả. Đặc biệt chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; kiên quyết, kiên trì đây mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực”.


Ba là, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo đất nước phát triển về mọi mặt đồng thời thiết lập mối quan hệ hòa bình, hữu nghị với các quốc gia dân tộc khác trong cộng đồng quốc tế


Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền có sứ mệnh làm cho đất nước phát triển về mọi mặt và chịu trách nhiệm về sự phát triển của đất nước trước Nhân dân, trước dân tộc. Đảng đã lãnh đạo Nhân dân Việt Nam đánh đuổi thực dân, đế quốc xâm lược, thống nhất đất nước, đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình đổi mới vừa qua, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền đã lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc, hội nhập sâu rộng với các nước trên thế giới, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.


Là Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước Nhân dân, dân tộc về sự phát triển của đất nước, luôn nỗ lực phấn đấu làm tròn trách nhiệm của đảng cầm quyền. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, là chủ thể xác định đường lối đối ngoại của đất nước, quyết định những vấn đề chiến lược, sách lược trong quan hệ đối ngoại. Trên cơ sở đường lối đối ngoại của Đảng đã xác định, Nhà nước cụ thể hóa thành chính sách đối ngoại, thiết lập mối quan hệ hòa bình, hữu nghị với các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong quan hệ đối ngoại đều dựa trên đường lối, quan điểm đối ngoại của Đảng.


Bốn là, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là chủ thể gìn giữ, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc


Đảng Cộng sản cầm quyền là người tập hợp, đoàn kết toàn thể Nhân dân lao động trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc tạo thành sức mạnh to lớn thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Sở dĩ, Đảng tập hợp, đoàn kết được toàn dân tộc là nhờ đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, phù hợp với lợi ích Nhân dân, dân tộc. Đảng không có lợi ích nào ngoài lợi ích của Nhân dân, của đất nước, của dân tộc.


Gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân là một nguyên lý trong học thuyết Mác-Lênin về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân. Ngay từ khi ra đời, Đảng phải dựa vào Nhân dân, liên hệ mật thiết với dân để tuyên truyền vận động Nhân dân, tập hợp Nhân dân, lãnh đạo Nhân dân đứng lên làm cách mạng. Thắt chặt mối quan hệ gắn bó mật thiết với Nhân dân thì Đảng mới có sức mạnh, Nhân dân là động lực của cách mạng, bổ sung nguồn sinh lực cho Đảng. Nhờ gắn bó mật thiết với Nhân dân, phát huy sức mạnh vô địch của Nhân dân mà Đảng đã lãnh đạo Nhân dân giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám; trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược; trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.


Hiện nay, trong điều kiện nước ta phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, những căn bệnh của đảng cầm quyền như quan liêu, tham nhũng, hách dịch cửa quyền, xa dân có cơ hội phát triển... làm giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng. Vì thế, hơn lúc nào hết Đảng phải tăng cường củng cổ mối quan hệ mật thiết với Nhân dân, đấu tranh, khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, tham nhũng và các tiêu cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên góp phần nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng trong điều kiện đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.

95 MÙA XUÂN CÓ ĐẢNG

 95 MÙA XUÂN CÓ ĐẢNG 


Hôm nay (3-2-2025) kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam khi sắc xuân đang căng tràn.


Chúng ta càng thêm tự hào 95 mùa xuân có Đảng. Thời gian là thuốc thử kỳ diệu, minh chứng sức mạnh phi thường của đội tiên phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam.


Đảng ta đã kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam với đầy ắp niềm tin yêu của tình dân, nghĩa Đảng vượt qua ghềnh thác, tiến mạnh mẽ và vững chắc trên con đường độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, khẳng định vị thế của Việt Nam ngày càng nâng cao trong khu vực và trên thế giới.


Lịch sử ghi đậm dấu ấn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã làm nên thắng lợi vĩ đại Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kết thúc vẻ vang là Đại thắng mùa Xuân năm 1975; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tạo ra thế và lực mạnh mẽ cho đất nước đi tới tương lai rực rỡ, vững tin bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. 


Năm 2024, dù chịu nhiều tác động từ những bất ổn của tình hình chính trị, kinh tế thế giới, trong nước thiên tai, bão, lũ gây hậu quả nặng nề nhưng đất nước luôn ổn định chính trị, độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững, kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới; công tác xây dựng Đảng đạt kết quả tích cực và toàn diện. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được triển khai quyết liệt, khẩn trương.


Mừng Đảng ta tròn 95 tuổi, từng cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên với quyết tâm cao nhất phấn đấu hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ Đại hội XIII, lập nhiều thành tích chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước; tổ chức thành công đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng.


Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh qua hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành đã không ngừng lớn mạnh, cùng nhân dân làm nên những chiến công chói lọi. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội quyết tâm phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, thực hiện thắng lợi mục tiêu năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; tạo tiền đề, động lực vững chắc xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.


Đảng soi đường, mở lối, dẫn dắt dân tộc ta đi tới bến bờ hạnh phúc, vinh quang. Hướng về Đảng, vững tin theo Đảng, mọi người dân Việt Nam tự hào phát huy truyền thống đoàn kết, anh dũng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước bứt phá, tiến lên.

RẠNG RỠ VIỆT NAM

 RẠNG RỠ VIỆT NAM


Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm có bài viết với tiêu đề: "Rạng rỡ Việt Nam". Trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của đồng chí Tổng Bí thư.


Một mùa Xuân mới đang về, mang theo niềm hân hoan, sức sống mới trên khắp mọi miền của Tổ quốc. Mùa xuân này càng trở nên ý nghĩa hơn khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2025) như một mốc son chói lọi để cả nước bước vào một chặng đường phát triển mới, hướng tới một tương lai rạng ngời.


Trong suốt 95 Xuân qua, Đảng ta – đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam – đã lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn gian nan, thử thách, làm nên những thắng lợi, thành tựu vĩ đại, ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử vẻ vang của dân tộc.


Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt và với một sứ mệnh đặc biệt. Từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta và áp đặt ách thống trị tàn bạo, khiến dân tộc ta chịu cảnh nô lệ, lầm than. Với truyền thống yêu nước và tinh thần không chịu khuất phục, nhân dân ta đã vùng lên đấu tranh liên tục và mạnh mẽ bằng nhiều con đường với nhiều khuynh hướng khác nhau, từ phong trào Cần Vương đến khởi nghĩa Yên Thế, từ các phong trào Đông Du, Đông kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến khởi nghĩa Yên Bái... Nhân dân ta đã đấu tranh vô cùng anh dũng và chịu nhiều hy sinh, nhưng đều không thành công vì thiếu một đường lối đúng đắn, chưa tập hợp và phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, thiếu một phương pháp đấu tranh thích hợp và nhất là chưa có được một tổ chức lãnh đạo, một chính đảng đáp ứng được yêu cầu của  dân tộc và của thời đại.


Cùng lúc đó, trên thế giới, sự phát triển của phong trào công nhân cùng thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một chân trời mới, thắp sáng hy vọng cho các dân tộc bị áp bức, bóc lột, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành độc lập trên khắp các châu lục.


Trước yêu cầu của lịch sử và với một khát vọng cháy bỏng về giải phóng dân tộc, người thanh niên yêu nước nồng nàn Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đi khắp các châu lục, qua gần 30 quốc gia, hàng trăm thành phố, vượt qua muôn vàn gian khổ, chông gai và làm rất nhiều nghề để kiếm sống, để học những “sàng khôn” của nhân loại. Chính hành trình này đã giúp Người thanh niên Việt Nam hiểu rõ cội nguồn những khổ đau của các tầng lớp nhân dân lao động là ở sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản đế quốc và hình thành nên ý thức giai cấp rõ rệt. Với quyết tâm hướng tới: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, Nguyễn Tất Thành đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin một cách tự nhiên, như một tất yếu lịch sử và đã tìm thấy ở đó những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.


Trước yêu cầu lịch sử và dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin,  người thanh niên Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành nhiều hoạt động, dày công chuẩn bị cả về tư tưởng, lý luận và con người cho sự ra đời của một tổ chức chính trị tiên phong lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam thông qua các tác phẩm như Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường Kách Mệnh (1927), đào tạo cán bộ cách mạng và thúc đẩy phong trào đấu tranh trong nước.


Ngày 3/2/1930, tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc), dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã diễn ra, thống nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một quyết định có ý nghĩa lịch sử trọng đại, quy tụ các tổ chức cộng sản Việt Nam thành một lực lượng duy nhất, có đường lối cách mạng rõ ràng, thống nhất. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã xác định con đường cơ bản của cách mạng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc. Sự kiện lịch sử này đã chấm dứt cuộc khủng hoảng đường lối và tổ chức của cách mạng Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nước ta - kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội.


Từ khi thành lập, với đường lối đúng đắn, với phương pháp thích hợp và sáng tạo, với năng lực tổ chức thực tiễn và sự chiến đấu ngoan cường, hy sinh anh dũng của nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, và sự tin yêu, đùm bọc, hết lòng che chở, bảo vệ của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước giành được những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử và thời đại.


Chỉ trong vòng 15 năm sau khi ra đời, Đảng ta đã không ngừng phát triển và lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, thành lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào ngày 2/9/1945, xoá bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam, mở ra chương mới của lịch sử dân tộc. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và cuộc sống của chính mình.


Ngay sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách; cùng một lúc phải đương đầu với "giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm". Trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta kiên cường bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ, đồng thời tích cực chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Với đường lối đúng đắn, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù trong chín năm kháng chiến gian khổ và anh dũng, đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954) về hòa bình ở Đông Dương.


Trong suốt hơn hai mươi năm sau đó, đất nước ta bị chia cắt và chưa có hoà bình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với một ý chí sắt đá và quyết tâm không gì có thể lay chuyển, nhân dân ta đã vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, thực hiện cuộc kháng chiến vĩ đại, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, viết nên một trong những trang sử hào hùng nhất của dân tộc, một sự kiện có tầm vóc quốc tế và có tính thời đại sâu sắc. Đây là sự hiện thực hóa của tầm nhìn và quyết tâm mà Đảng ta đã đưa ra từ Đại hội III (tháng 9/1960): “Nước Việt Nam ta là một, dân tộc Việt Nam ta là một. Nhất định nước ta sẽ được thống nhất trên cơ sở độc lập và dân chủ, nhất định dân tộc sẽ được đoàn tụ trong hòa bình, tự do và hạnh phúc. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng ý chí thống nhất Tổ quốc của nhân dân cả nước ta quyết không bao giờ lay chuyển và cuối cùng chúng ta nhất định sẽ giành được thắng lợi”.


Trong lúc phải khẩn trương khắc phục những hậu quả vô cùng nặng nề do chiến tranh để lại, đất nước ta lại tiếp tục phải đương đầu với những thử thách mới. Đảng tiếp tục lãnh đạo toàn quân và toàn dân ta vừa ra sức khôi phục kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân, vừa kiên cường chiến đấu giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và không gian sinh tồn của dân tộc. Đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với nhân dân Campuchia.


Trước những yêu cầu mới trong phát triển đất nước, để khắc phục những bất cập của cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp dẫn tới khủng hoảng kinh tế-xã hội những năm sau chiến tranh, trên cơ sở tổng kết sáng kiến, sáng tạo trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và sự thực thi của cả hệ thống chính trị và nhân dân, Đảng ta đã đề ra và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới ra đời đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn quá trình xây dựng nền kinh tế, nền quốc phòng, an ninh, công tác đối ngoại của đất nước, thể hiện bản lĩnh vững vàng, tư duy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước.


Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã vượt qua mọi khó khăn, vươn tới những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây, cô lập, đến nay Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đã đạt trên 470 tỉ USD, đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93 % (theo chuẩn đa chiều) so với mức 60% năm 1986. Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng nâng cao. Cục diện đối ngoại không ngừng được mở rộng; vị thế, uy tín của đất nước không ngừng được lan tỏa, có những đóng góp tích cực vào giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu, đã thực hiện nhiều nhiệm vụ trong vai trò thành viên ASEAN, Liên hợp quốc và các tổ chức, thể chế quốc tế khác được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.


Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam suốt 95 năm qua bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định hàng đầu, cùng sự hy sinh, chiến đấu, lao động sáng tạo của toàn dân, toàn quân dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Trong những thời điểm khó khăn, thử thách, Đảng ta đã thể hiện rõ bản lĩnh, tinh thần đoàn kết, là một khối thống nhất về ý chí và hành động, từ đó lãnh đạo, chỉ đạo cả hệ thống chính trị nỗ lực cố gắng đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện trên các lĩnh vực. Đồng thời, thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, vững mạnh, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân. Thực tiễn đó đã khẳng định: ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ năng lực, bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm và uy tín để lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.  


Nhìn lại chặng đường 95 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn vô hạn và thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - vị lãnh tụ thiên tài, người Anh hùng giải phóng dân tộc, người đã khai sáng con đường cách mạng, làm rạng danh non sông ta, đất nước ta. Chúng ta cũng thành kính tưởng nhớ các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng, các anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí đã chiến đấu kiên cường và hy sinh quên mình trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc và ấm no của nhân dân.


Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công lao của những người có công với nước, các gia đình liệt sĩ, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động, các thương binh, bệnh binh, các đồng chí từng bị giam cầm trong nhà tù của thực dân, đế quốc, các chiến sĩ đã chiến đấu trên mọi mặt trận và thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, các cựu chiến bình và những người miệt mài lao động, sáng tạo làm ra của cải vật chất cho xã hội. Chúng ta cũng luôn biết ơn các đồng chí, bạn bè quốc tế đã luôn đồng hành, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây, cũng như tiếp tục hợp tác, hỗ trợ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày nay.


Nhìn lại lịch sử, truyền thống vẻ vang và đầy tự hào của Đảng trong 95 năm qua, chúng ta càng thấy rõ hơn trách nhiệm của thế hệ lãnh đạo và đảng viên hôm nay trong tiến trình lịch sử của dân tộc. Sứ mệnh của Đảng hiện nay là phải lãnh đạo, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu; bảo đảm mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới, vì hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Ưu tiên hàng đầu là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao.


Để tiếp tục gánh vác trọng trách đó của lịch sử, Đảng phải không ngừng lớn mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu và sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Đảng phải luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, phát huy dân chủ trong nội bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, trong sạch, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, Đảng phải không ngừng hoàn thiện lý luận, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, tạo nền tảng vững chắc để lãnh đạo đất nước phát triển nhanh và bền vững. Trước những yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và những thách thức từ tình hình thế giới, công tác xây dựng Đảng càng cần được quan tâm, đổi mới và thực hiện quyết liệt hơn nữa, tập trung vào các nhóm vấn đề trọng tâm sau đây:


Một là, tiếp tục kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Đảng ta ra đời với sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu đấu tranh giành độc lập, đến khi trở thành Đảng cầm quyền, Đảng luôn kiên định mục tiêu giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng không tồn tại vì lợi ích riêng mà hoạt động vì quyền lợi của toàn dân. Quyền lực lãnh đạo của Đảng không phải tự thân mà có, mà do nhân dân trao quyền, là sự ủy thác của nhân dân. Đảng không có mục đích nào khác là đấu tranh vì lợi ích của nhân dân, quốc gia và dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Chính vì vậy, Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu cao nhất, giữ vững bản chất cách mạng và vai trò tiên phong của mình. Trong bối cảnh hiện nay, Đảng càng phải kiên định nền tảng tư tưởng của mình, tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, bảo vệ vững chắc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, Đảng phải không ngừng đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để tiếp tục dẫn dắt dân tộc trên con đường phát triển trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Hai là, không ngừng hoàn thiện hệ thống lý luận của Đảng. Nền tảng lý luận vững chắc là kim chỉ nam cho hành động của Đảng, quyết định sự đúng đắn trong đường lối lãnh đạo và chiến lược phát triển đất nước. Trải qua hơn 95 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng đã đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm, từng bước phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về quốc phòng, an ninh và đối ngoại cùng nhiều lĩnh vực quan trọng khác. Việc hoàn thiện nền tảng lý luận là yêu cầu cấp thiết để Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước trong bối cảnh thế giới hôm nay đang diễn ra những biến chuyển sâu sắc trên tất cả các mặt của đời sống. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, thực tiễn luôn đặt ra những vấn đề mới, đòi hỏi Đảng phải không ngừng tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận.


Công tác tổng kết thực tiễn cần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá chính xác kết quả đạt được, thẳng thắn, khách quan chỉ ra những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm và nguyên nhân; nhận diện rõ những điểm nghẽn, nút thắt đang kìm hãm sự phát triển của đất nước, từ đó đề xuất các giải pháp đột phá, tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình phát triển trong thời gian tới. Công tác nghiên cứu cũng cần chỉ rõ hơn đâu là cơ hội lớn cần tận dụng, đâu là thách thức lớn cần vượt qua, những yếu tố mới của thực tiễn cần bổ sung là gì. Sự thẳng thắn, khách quan, khoa học, trung thực, kiên định và thận trọng là cần thiết để tránh sai lầm, duy ý chí. Các vấn đề này cần được làm rõ trong quá trình xây dựng các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Đây không chỉ là công việc của cơ quan chuyên môn của Đảng mà còn đòi hỏi sự tham gia của toàn hệ thống chính trị, đội ngũ trí thức, các cơ quan nghiên cứu lý luận và từng cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước.


Ba là, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại, phát triển của Đảng. Cần không ngừng củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của từng tổ chức Đảng; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, làm nòng cốt trong hệ thống chính trị và gắn bó mật thiết với nhân dân. Đồng thời, cần tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát để giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí cần được tiếp tục triển khai quyết liệt, đồng bộ, toàn diện, bài bản, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, góp phần làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng. Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu các cấp ủy đảng cần đề cao trách nhiệm nêu gương, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, kịp thời giải quyết những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội. Đồng thời, cần phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, bảo đảm Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo trung thành với lợi ích của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân.


Bốn là, quyết tâm củng cố tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, khắc phục tình trạng cồng kềnh, chồng chéo. Trong nhiều kỳ đại hội gần đây, các văn kiện đại hội đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Đảng cũng đã liên tục ban hành nhiều Nghị quyết, Kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đồng bộ, tổng thể, chưa gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại... Chính vì vậy, cho đến nay tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, còn trùng lắp, chồng chéo; phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót hoặc không đầu tư thích đáng. So với những thay đổi to lớn của đất nước sau 40 năm đổi mới, sự phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và những thành tựu khoa học công nghệ, tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta cơ bản vẫn theo mô hình được thiết kế từ hàng chục năm trước, nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện mới là trái với quy luật phát triển; tạo ra tình trạng “Nói không đi đôi với làm”. Vì vậy, công tác trọng tâm trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới là xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.


Năm là, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp. Trước yêu cầu phát triển và hội nhập ngày càng cao, đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, phải đáp ứng những tiêu chuẩn quan trọng: có bản lĩnh chính trị vững vàng; có đạo đức trong sáng, tinh thần trách nhiệm cao, thực sự gương mẫu, liêm chính, tận tụy phục vụ nhân dân, không vụ lợi cá nhân, không tham nhũng, tiêu cực; có tư duy đổi mới, sáng tạo; biết nắm bắt cơ hội, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, không né tránh, trì trệ, thụ động trước những vấn đề mới phát sinh; có năng lực thực tiễn, khả năng lãnh đạo, quản lý. Để làm được điều này, cần đổi mới mạnh mẽ tư duy trong công tác cán bộ. Các quy trình về công tác cán bộ phải trở thành cơ chế để lựa chọn người tốt nhất, người xứng đáng nhất, chứ không phải là cơ chế để hợp thức hóa việc tuyển chọn, bổ nhiệm, đề bạt người không đảm bảo tiêu chuẩn, không thực sự tiêu biểu, không thực sự vì dân. Ngoài việc minh bạch hóa quy trình bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ và tăng cường kiểm tra, giám sát, cần xây dựng cơ chế phát hiện, bảo vệ và trọng dụng người tài, đồng thời có cơ chế xử lý trách nhiệm rõ ràng, trong đó ai giới thiệu, bổ nhiệm cán bộ sai tiêu chuẩn, thiếu phẩm chất, yếu năng lực thì phải chịu trách nhiệm. Đồng thời, cần kiên quyết chống chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm trong công tác quy hoạch, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ.


Sáu là, tăng cường công tác ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng. Các tiến bộ về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội. Việc ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ vào công tác xây dựng Đảng không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là một bước đột phá nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới. Công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo sẽ góp phần hiện đại hóa công tác quản lý đảng viên, điều hành tổ chức Đảng. Việc xây dựng hệ thống quản lý đảng viên trên nền tảng số giúp tăng cường tính minh bạch, chính xác và hiệu quả trong quản lý hồ sơ, quá trình công tác, đánh giá, phân loại đảng viên. Điều này giúp các cấp ủy nắm bắt chính xác tình hình đội ngũ, từ đó có cơ chế đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển hợp lý, khắc phục tình trạng quan liêu, thiếu thực tiễn. Công nghệ số cũng giúp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng. Các nền tảng số, mạng xã hội có thể được sử dụng để tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng đến đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân một cách nhanh chóng, sinh động, hiệu quả. Các công nghệ mới cũng giúp nâng cao năng lực phát hiện sớm các vấn đề nổi cộm, phân tích, dự báo, đề xuất giải pháp phù hợp. Công nghệ số cung cấp dữ liệu chính xác, khách quan, giúp các cấp ủy đưa ra quyết định đúng đắn, dựa trên những phân tích khoa học thay vì cảm tính.


Bảy là, nhiệm vụ trọng tâm cấp bách trong năm 2025 của các cấp ủy đảng, từng chi bộ, mỗi đảng viên tập trung sức lực, trí tuệ cùng nhân dân phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đã được nêu trong các Nghị quyết của các cấp ủy Đảng, đặc biệt chú trọng các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội; tổ chức tiến hành đại hội đại biểu Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trong đó chú trọng đóng góp ý kiến vào nội dung văn kiện của Đảng;  giới thiệu và lựa chọn những người thật tiêu biểu, vì nước, vì dân tham gia vào hệ thống chính trị các cấp; tạo không khí thật sự dân chủ, đoàn kết, hăng say lao động sản xuất, xây dựng, phát triển quê hương đất nước trong mọi tầng lớp nhân dân.


Nhìn lại 95 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng, chúng ta có quyền tự hào và hoàn toàn tin tưởng vào tương lai rạng rỡ của Đảng và của dân tộc. Năm 1945, khi lãnh đạo toàn dân thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta chỉ có gần 5.000 đảng viên, nhưng với đường lối đúng đắn, tinh thần kiên trung, ý chí quật cường và lòng yêu nước, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi vẻ vang, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đến năm 1960, khi đất nước bước vào giai đoạn kháng chiến trường kỳ chống Mỹ cứu nước, số lượng đảng viên đã tăng lên khoảng 500.000 người, trở thành hạt nhân dẫn dắt toàn dân tộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước. Ngày nay, với hơn 5,4 triệu đảng viên, lực lượng của chúng ta không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đủ sức gánh vác trọng trách đưa đất nước tiến lên trong thời kỳ mới. Mỗi đảng viên chính là biểu tượng của niềm tin, trí tuệ và ý chí đoàn kết của cả dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ tiếp tục hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình. Vững tin vào sức mạnh của Đảng và sự đoàn kết của toàn dân tộc, chúng ta khẳng định: Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta sẽ đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới, xây dựng một tương lai huy hoàng, rạng rỡ cho dân tộc Việt Nam.

ĐẢNG MÃI LÀ MÙA XUÂN TƯƠI ĐẸP NHẤT

 ĐẢNG MÃI LÀ MÙA XUÂN TƯƠI ĐẸP NHẤT


Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 là mốc son lịch sử đánh dấu bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam. Trong 95 năm đồng hành cùng dân tộc, Đảng khẳng định được vai trò sứ mệnh lịch sử của mình đối với cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn, ngày càng phát triển, góp phần khẳng định và nâng tầm vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Ý Đảng, lòng dân hòa quyện, Đảng luôn được nhân dân tin yêu, ủng hộ, xứng đáng là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.


Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, đây chính là cơ sở để Đảng nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam. Lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Khởi đầu là thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân Pháp và triều đình phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Tiếp đến là thắng lợi của các cuộc kháng chiến “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ở Điện Biên Phủ và đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng đất nước, đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và mới, bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, non sông thu về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một trong những trang sử chói lọi nhất của lịch sử dân tộc. Với những thắng lợi đó, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực tiễn đó đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.


Cuối năm 1985, đầu năm 1986, do ảnh hưởng từ những biến động chính trị của thế giới, đặc biệt sự khủng hoảng trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội đòi hỏi Đảng ta phải đánh giá, nhìn nhận và phải đổi mới. Trước bối cảnh đó, Đảng tỏ rõ bản lĩnh của mình, chủ động khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, bao gồm đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức cán bộ, đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác. Đại hội đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tạo ra bước đột phá lớn, toàn diện, đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên. Những thành công to lớn trong công cuộc đổi mới kinh tế đất nước sau gần 40 năm đã chứng minh định hướng, chủ trương và phương thức đổi mới của Đảng là đúng đắn; cho thấy khả năng lãnh đạo đất nước xoay chuyển tình thế, kịp thời thích nghi với bối cảnh chính trị - kinh tế mới của quốc tế nhưng vẫn giữ được những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.


Nhìn lại lịch sử 95 năm từ khi có Đảng dẫn đường và những thành tựu của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta càng thêm tự hào về những cống hiến vinh quang, vĩ đại của Đảng. Những chủ trương, đường lối, định hướng đúng đắn của Đảng là nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Khẳng định lòng tin của Đảng vào nhân dân, của nhân dân vào Đảng. Trong trái tim mỗi người dân Việt Nam, Đảng chính là mùa xuân tràn đầy sức sống mãnh liệt, mang lại ấm no, hạnh phúc.


Năm 2024, năm bản lề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cả nhiệm kỳ theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khép lại, đây cũng là dấu mốc 55 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2024). Trong bản Di chúc, điều đầu tiên mà Người căn dặn: “Trước hết nói về Đảng - nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Thực hiện di huấn của Người, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị cùng với sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế, tình hình chính trị - xã hội của đất nước tiếp tục đạt được nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực, kinh tế tiếp tục là điểm sáng, tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực và thế giới. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và dự kiến sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (khoảng 7.500 USD). Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay, Việt Nam không những bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Tăng trưởng kinh tế phục hồi tích cực, cả năm ước đạt khoảng 6,8 - 7%, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra, được các tổ chức quốc tế đánh giá tích cực về triển vọng tăng trưởng. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát trong điều kiện tăng lương tối thiểu ở mức cao. Kết cấu hạ tầng giao thông, hạ tầng điện có bước đột phá mới, hoàn thành đưa vào khai thác thêm 109 km đường cao tốc, nâng tổng chiều dài đường bộ cao tốc cả nước lên hơn 2.021 km. Hạ tầng viễn thông, hạ tầng số được thúc đẩy phát triển, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số và chính phủ số... Làm tốt công tác bảo đảm an sinh xã hội, lao động, việc làm, cải thiện đời sống người dân; xây dựng và tổ chức hiệu quả kế hoạch triển khai phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trong 2025”. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, bảo đảm gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao…


Một thành tựu không thể không kể đến đó là xây dựng tinh thần quốc tế vô sản chân chính, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nâng cao vị thế đất nước trong hội nhập quốc tế. Thực thi đường lối đối ngoại đúng đắn theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng; hiện đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hoặc đối tác chiến lược với tất cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và mở rộng quan hệ kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam đã và đang thể hiện tốt vai trò là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế; có nhiều sáng kiến, đề xuất và chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả các hoạt động của ASEAN, tổ chức Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chức quốc tế khác.


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Một năm bắt đầu từ mùa xuân”. Xuân mới 2025 Ất Tỵ đã về với tâm thế mới, khí thế mới và niềm tin hy vọng về những thành tựu mới. Nhớ về ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam với sự tự hào, niềm tin tưởng tuyệt đối, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, thấm nhuần và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, góp phần làm cho Đảng gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân, làm cho đạo đức, văn minh của Đảng ngày càng tỏa sáng, để một Việt Nam luôn hùng cường, thịnh vượng, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là mùa xuân tươi đẹp nhất!./.

MÔI TRƯỜNG QUÂN ĐỘI GIÚP CON NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH

 MÔI TRƯỜNG QUÂN ĐỘI GIÚP CON NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH


Với kỷ luật nghiêm minh, tình đồng chí, đồng đội gắn bó là yếu tố quan trọng giúp con người từng bước trưởng thành...


Có một câu danh ngôn rất ý nghĩa: “Khi bạn nghiêm khắc với bản thân, cuộc sống tự nhiên sẽ dễ dàng. Khi bạn dễ dàng với bản thân, cuộc sống tự nhiên sẽ khó khăn”.


Khi được rèn luyện, học tập, sinh hoạt trong một môi trường có tính kỷ luật thì chắc chắn mỗi chúng ta sẽ trưởng thành hơn. 

Mặt khác, nói là “kỷ luật thép” - đó chính là việc chúng ta đang tự bồi dưỡng, tự hoàn thiện bản thân mình; là ý thức, là những hành động tất yếu phải thực hiện và nằm trong khả năng của mỗi chúng ta. Thực tế, hầu hết bộ đội đều thực hiện tốt kỷ luật. Kỷ luật là sức mạnh của quân đội, nhờ có sức mạnh đó mà Quân đội ta đã chiến thắng nhiều kẻ thù; rèn luyện nên những người lính không ngại gian lao, không quản khó khăn, luôn vững vàng tiến lên phía trước.

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 95 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930 - 03/02/2025)

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 95 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930 - 03/02/2025).


⭐️ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Không những khắc phục được sự không thống nhất về tổ chức mà còn chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị. Đảng ra đời gánh vác sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam, phấn đấu vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Khi dân tộc có Đảng lãnh đạo đã viết tiếp những trang sử vàng chói lọi, lập nên nhiều chiến công rạng rỡ.


⭐️ Trong 95 năm qua (1930-2025), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đã đi qua mọi chặng đường gian khổ để bảo vệ và xây dựng vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

DỰNG CÂY NÊU – BÁO HIỆU TẾT VỀ

 DỰNG CÂY NÊU – BÁO HIỆU TẾT VỀ 🌸


Lễ dựng nêu hay còn gọi là lễ Thượng tiêu là nghi thức không thể thiếu trong dịp Tết Nguyên đán tại Việt Nam. Khi cây nêu được dựng lên là báo hiệu ngày Tết chính thức bắt đầu.


Theo quan niệm truyền thống dân gian, việc dựng cây nêu ngày Tết mang ý nghĩa chính là để xua đuổi ma quỷ và những điều bất hạnh của năm cũ, cầu mong một năm mới tốt lành. 


Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, việc dựng nêu và treo các vật phẩm trên ngọn cây có nhiều hình thức khác nhau, tùy theo phong tục và tập quán của từng nơi. Thậm chí việc dựng cây nêu không chỉ có vào ngày Tết mà còn có thể ở một số lễ hội dân gian. Tuy nhiên cây nêu vẫn chủ yếu được dựng lên vào ngày Tết Nguyên đán như một phong tục truyền thống phổ biến ở khắp mọi miền của đất nước.

95 NĂM CÓ ÐẢNG DẪN ĐƯỜNG, ĐẤT NƯỚC ĂM ẮP NHỮNG MÙA HY VỌNG

  95 NĂM CÓ ÐẢNG DẪN ĐƯỜNG, ĐẤT NƯỚC ĂM ẮP NHỮNG MÙA HY VỌNG

 

Suốt 95 năm qua, kể từ khi ra đời vào ngày 3-2-1930, Đảng ta không ngừng hoàn thiện mình, xứng đáng là người cầm lái vĩ đại đưa đất nước đến những bến bờ vinh quang, trên tất cả mặt trận, lĩnh vực. Mùa xuân này, trước thềm kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, chúng ta lại ăm ắp những niềm hy vọng về hiện thực hóa mục tiêu mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn là “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.


1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời thực sự là bước ngoặt vô cùng quan trọng, mang tính quyết định đối với lịch sử cách mạng nước ta, cũng như sự phát triển của đất nước. Những mốc son chói lọi mà đất nước ta giành được dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng trong suốt 95 năm qua là sự khẳng định hùng hồn, đanh thép, thuyết phục đối với toàn thế giới. Có thể chia thành các giai đoạn cụ thể sau, gắn liền với những nhiệm vụ, mục tiêu mà Đảng ta đề ra. 


Thứ nhất, đó là thời kỳ Đảng lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền (1930-1945), kết thúc bằng thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.


Thứ hai, đó là thời kỳ Đảng lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước (1945-1975). Trong thời kỳ này, Đảng ta không ngừng xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945-1954); tiến hành công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954-1975). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc, là một sự kiện có tầm quốc tế và có tính thời đại sâu sắc.


Thứ ba, thời kỳ tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, thực hiện công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1975 đến nay. Trong thời kỳ này, có thể chia thành 2 giai đoạn chính. Từ năm 1975-1986, Đảng lãnh đạo nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế - xã hội vừa chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cùng với quân, dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng; đồng thời tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động. Trước những thách thức của thời kỳ mới, Đảng ta đã tổng kết thực tiễn, hoạch định đường lối đổi mới... Từ năm 1986 đến nay, trên cơ sở đánh giá tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, nước ta đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế…


Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm vô giá. Điều hết sức quan trọng, Đảng ta luôn chú trọng xây dựng gắn liền với chỉnh đốn, để phát huy những điểm tích cực, những thành tựu đã đạt, đồng thời khắc phục những tồn tại, hạn chế, yếu kém để không bị suy yếu. Đặc biệt, trong 3 khóa liên tiếp gần đây - Đại hội XI, XII và XIII, Đảng ta đều chọn Hội nghị Trung ương 4, hội nghị đầu mỗi khóa để bàn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều đó chứng tỏ mặc dù đã lãnh đạo đất nước đạt được nhiều thành tựu to lớn nhưng Đảng ta không say sưa hãnh diện mà luôn “tự soi, tự sửa”, áp dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, phù hợp với bối cảnh tình hình trong nước và thế giới. 


Trong bối cảnh tình hình thế giới nhiều biến động khó lường hiện nay, cục diện thế giới thay đổi mạnh mẽ, Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Chiều 25-11-2024, tại buổi trao đổi chuyên đề “Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới, đây cũng là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập nước. Sự biến chuyển có tính thời đại đem đến thời cơ, thuận lợi mới nhưng cũng xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức mới, trong đó thách thức nổi trội hơn. Tuy nhiên, thời cơ, vận hội vẫn có thể xuất hiện giữa những đột biến trong cục diện thế giới. Vấn đề là chúng ta làm sao phải nắm bắt được thời cơ, vận hội đó”.


Sự nắm bắt thời cơ, vận hội đã lập tức được nhìn nhận, thực hiện một cách nhanh chóng, khẩn trương, quyết liệt, với quyết tâm chính trị cao nhất, đó là nội dung nổi bật liên quan đến khơi thông điểm nghẽn, nhất là điểm nghẽn thể chế, để đất nước vươn mình; là cuộc cách mạng quyết liệt đổi mới, cải cách toàn diện bộ máy của hệ thống chính trị: tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả… Những kết quả bước đầu đã có, đầy tích cực, khởi động mau chóng, sâu rộng những thông điệp để đất nước bước vào kỷ nguyên mới một cách khoa học, vững vàng, hiệu quả.


2. Tôi may mắn được thăm, làm việc với một số đảng cộng sản trên thế giới, từ khu vực, châu lục đến toàn cầu. Ở đâu cũng cảm thấy tự hào khi bạn bè thế giới ngưỡng mộ, đánh giá cao sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, kể từ khi thành lập đến nay đã tròn 95 mùa xuân. Trung tuần tháng 11-2023, trong chuyến thăm, làm việc với Đảng Cộng sản Australia tại Sydney, ông Andrew Irving, Tổng Thư ký Đảng Cộng sản Australia đánh giá cao lịch sử quan hệ tốt đẹp với Đảng Cộng sản Việt Nam và mong muốn tìm hiểu về tình hình kinh tế, chính trị của Việt Nam, đặc biệt là về quá trình đổi mới, để làm kinh nghiệm tham khảo nhằm phát triển đường hướng hoạt động của Đảng Cộng sản Australia trong thời gian tới. Ông cũng cho biết, Đảng Cộng sản Australia có ý tưởng muốn cử những thành viên trẻ sang tìm hiểu về Đảng Cộng sản, trau dồi lý luận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như học hỏi quá trình phát triển của Việt Nam, về chủ nghĩa dân tộc và thời đại... 


Hay trước đó, vào cuối tháng 7-2019, là những buổi làm việc với lãnh đạo Đảng Marxist - Leninist, đảng cộng sản về các vấn đề liên quan đến quá trình thành lập, phát triển của các đảng trong điều kiện hiện nay, phương hướng hoạt động trong thời gian tới. Đại diện các đảng đều đánh giá rất cao những thành tựu Việt Nam đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tại những buổi làm việc khác với các đảng cộng sản ở châu Á, châu Phi, châu Âu, những tình cảm, sự ngưỡng mộ chân thành, thán phục dành cho Đảng ta là từ trái tim, là sự ngưỡng mộ bè bạn, thắm tình đồng chí. Đặc biệt ở châu Phi, 2 nước Angola và Mozambique, khi chúng tôi đến, rất nhiều người chúng tôi gặp đều ồ lên vui mừng, chân thành và tha thiết, ngưỡng mộ khi nhắc đến những cụm từ gắn liền với người dân “lục địa đen”, là niềm hứng khởi để họ thoát khỏi ách đô hộ thực dân, đó là những tên người, tên đất, như: “Việt Nam, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ”… Điều đó là một trong những biểu hiện sinh động, là minh chứng rõ nét từ sự nhìn nhận quốc tế về sự thừa nhận “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đó là nhận xét khách quan, chân xác, chứ không phải những điều chúng ta tự nói hay, nói đẹp về mình.


3. Đảng ta ra đời vào mùa xuân, mùa của hy vọng, của sự đâm chồi nảy lộc. Suốt 95 năm qua, Đảng đã luôn cầu thị, nghiêm khắc, nhanh chóng, kịp thời, quyết liệt xây dựng, chỉnh đốn để không ngừng nhận diện những hạn chế, để mau chóng tìm cách tháo gỡ, ngày càng hoàn thiện, xứng đáng với vai trò lãnh đạo, dẫn dắt đất nước đi tới những bến bờ vinh quang, để dân giàu, nước mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Trước ngưỡng cửa mùa xuân - mùa xuân thứ 95 - Đảng là người cầm lái vĩ đại, không lý do gì mà chúng ta không ăm ắp niềm hy vọng về một tương lai tươi sáng của dân tộc trong kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, kỷ nguyên thịnh vượng dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới, cho hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu...”, như Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định./.

XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, xây dựng và rèn luyện Đảng ta. Người đã để lại cho dân tộc ta, Đảng ta một sự nghiệp vẻ vang, một di sản vô giá, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh và một tấm gương trong sáng, mẫu mực, trọn đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Mối quan tâm lớn nhất, sâu sắc nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền trong sạch, vững mạnh, làm hạt nhân lãnh đạo toàn hệ thống chính trị. Đó là: xây dựng Đảng về chính trị; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng; đoàn kết trong Đảng; thực hiện phê bình và tự phê bình trong Đảng; kiểm tra, chỉnh đốn Đảng… Những lời dạy của Người chứa đựng những giá trị sâu sắc, bền vững, tiếp tục định hướng cho công tác xây dựng Đảng.

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam 

 

Cứ đến mỗi dịp kỷ niệm Ngày thành lập ĐCSVN, các thế lực thù địch lại đẩy mạnh các hoạt động chống phá với những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận bản chất, mục tiêu, lý tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Mới đây, Hiếu Chân với bài viết “Chiếc bánh vẽ “kỷ nguyên mới” trên trang Viettan  đã trắng trợn quy chụp rằng: “ĐCSVN đẩy người dân ra rìa, thủ tiêu vai trò chủ thể quốc gia của dân, bóp nghẹt tiếng nói của dân, coi dân như “thế lực thù địch”. Đây là những luận điệu rất phi lý, hoàn toàn là sai trái, cố tình phớt lờ không nghe, không thấy mục tiêu phấn đấu cao đẹp của Đảng luôn vì độc lập, tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Mục đích thâm hiểm của những luận điệu này nhằm làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.


Cần khẳng định, mục tiêu, động lực phấn đấu xuyên suốt quá trình lãnh đạo của ĐCSVN là vì hạnh phúc của Nhân dân. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Trong Cương lĩnh đầu tiên khi mới được thành lập, Đảng đã xác định, cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân; sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Đến Cương lĩnh 2011, Đảng ta tiếp tục kiên định khẳng định, tất cả vì lợi ích chân chính của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân. Đặc biệt, mục tiêu, khát vọng vì hạnh phúc của Nhân dân đã được thể hiện ngay dưới quốc hiệu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đó là “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”.


Xuyên suốt các kỳ đại hội trong thời kỳ đổi mới, Đảng đều kiên định với quyết tâm chiến lược giữ vững nền độc lập cho dân tộc và phấn đấu để đất nước phát triển vì tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Tiếp nối tinh thần của các kỳ đại hội, Đại hội XIII của Đảng đã đề cao khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đặc biệt coi trọng bảo đảm hạnh phúc của Nhân dân. Theo đó, Đảng xác định đến năm 2025, GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 – 5.000 USD; tỷ lệ lao động qua đào tạo là 70%; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; tỷ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1-1,5% hằng năm; có 10 bác sĩ và 30 giường bệnh/vạn dân; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 95% dân số; tuổi thọ trung bình đạt khoảng 74,5 tuổi… Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao (GDP bình quân đầu người ước đạt khoảng 7.500 USD/năm). Đến năm 2045, Kỷ niệm 100 năm thành lập nước: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Các chỉ tiêu cụ thể này được Đảng xác định không có mục đích nào khác là nhằm đem lại hạnh phúc cho Nhân dân.


Dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, Nhân dân đã được hưởng tự do, hạnh phúc thực sự trên thực tế. Trong thời kỳ phong kiến và thực dân, đế quốc, Nhân dân ta không có hạnh phúc, bởi không có quyền làm chủ, phải chịu sự áp bức, bóc lột và kiếp sống nô lệ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành được thắng lợi, Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhân dân thực sự được làm chủ, trực tiếp xây dựng nên chính quyền các cấp, bầu ra đại biểu đại diện cho quyền và lợi ích của chính mình, nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân.


Đăc biệt, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, mang lại cuộc sống hạnh phúc cho Nhân dân. Hiện nay, Nhân dân Việt Nam không chỉ có cơm ăn, áo mặc, mà còn ăn ngon, mặc đẹp; từ đô thị đến làng quê, đâu đâu cũng khang trang với cuộc sống hạnh phúc. Thu nhập bình quân đầu người không ngừng được cải thiện và Việt Nam đã được vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình trên thế giới. Việt Nam đã được xếp vào nhóm các quốc gia có chỉ số phát triển con người cao trong suốt ba năm gần đây, đứng thứ 107 trên 193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam cũng là quốc gia có chỉ số hạnh phúc được xếp hạng cao trên thế giới. Theo Báo cáo hạnh phúc thế giới 2023 (The World Happiness Report), Việt Nam đứng thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á và thứ 65 trên thế giới với điểm số hạnh phúc đạt 5,8. Theo đó, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022, lên vị trí 65 năm 2023. Và trong bảng xếp hạng các quốc gia hạnh phúc của Báo cáo hạnh phúc thế giới 2024, Việt Nam đứng thứ 54, tăng 11 bậc so với năm 2023.


 Hạnh phúc của Nhân dân luôn là mục tiêu phấn đấu của ĐCSVN ngay từ khi thành lập cho đến ngày hôm nay. Vì vậy, dù Hiếu Chân và các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc như thế nào đi chăng nữa, thì mục tiêu vì hạnh phúc Nhân dân của Đảng tiếp tục là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong tương lai. Theo đó, mỗi người dân cần tỉnh táo, nêu cao cảnh giác và vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

DANH DỰ CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN

DANH DỰ CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN 


Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, “danh dự” luôn là điều cao quý, thiêng liêng nhất. Danh dự không phải tự nhiên có được, cũng không phải “từ trên trời sa xuống” mà được hình thành từ quá trình tu dưỡng đạo đức cách mạng, tôi rèn qua “lửa đỏ và nước lạnh”. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải giữ cho được tư cách, đạo đức, danh dự của người đảng viên, người cán bộ cách mạng, đồng thời yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ vững “liêm sỉ” và “danh dự” của người cách mạng. Với mỗi người cán bộ, đảng viên, hai từ “danh dự” luôn là điều cao quý, thiêng liêng nhất.


Điều thiêng liêng của người đảng viên


Danh dự là một trong những phẩm chất cao quý của mỗi con người. Đó là nền tảng đạo đức của con người chân chính. Danh dự có ý nghĩa rất lớn thúc đẩy con người làm điều thiện, điều tốt, ngừa điều ác, điều xấu. Người xưa trọng danh dự như mạng sống, thậm chí còn hơn cả mạng sống vì danh dự là điều còn mãi. Đối với người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, liêm sỉ, danh dự lại càng phải được coi trọng hàng đầu.


Theo V.I. Lênin: Lý tưởng đạo đức cao quý nhất của người cộng sản, của đạo đức cộng sản luôn gắn bó với lý tưởng chính trị, là động lực thúc đẩy lý tưởng chính trị trở thành hiện thực cách mạng xã hội chủ nghĩa. Lênin đặc biệt nhấn mạnh: Mỗi cán bộ, đảng viên nếu không tự bôi nhọ đạo đức, thanh danh của mình thì không ai có thể hạ thấp được uy tín của họ.


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người lãnh đạo phải biết trọng danh dự, giữ liêm sỉ, không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. Thấm nhuần tư tưởng của Người, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh: Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cần khắc cốt, ghi tâm những lời dạy của Bác, phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực.


Nhìn vào thực tiễn cách mạng của dân tộc ta, đã chứng minh rất rõ điều này, để giữ danh dự, uy tín của Đảng, hàng vạn đảng viên dù phải chịu đòn tra tấn cực hình của kẻ thù, nếm mật nằm gai, đói rét, đau đớn về thể xác, đày đọa về tinh thần nhưng vẫn kiên trung, một lòng với Đảng, với Tổ quốc và dân tộc, cho đến hôm nay, mỗi khi nhắc lại, chúng ta vẫn thầm cảm phục.


Đó là các đảng viên kiên trung trên các con tàu không số, khi bị giặc bắt, moi gan, mổ bụng vẫn đinh ninh “lời thề  sắt son với Đảng” không để con đường bị lộ. Là hình ảnh những chiến sĩ tình báo, bị quân thù cưa chân 4 lần, chặt hết 10 đầu ngón tay, lòng vẫn vững vàng như sắt đá, kiên trung với Đảng.


“Danh dự” ấy đã được khẳng định trong lời tuyên thệ của người đảng viên tại buổi lễ kết nạp Đảng thiêng liêng của mình. Đó là giây phút trang trọng, xúc động, tự hào khi được kết nạp vào Đảng, đó là lời thề trước Đảng về lòng trung thành, phấn đấu theo lý tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ của đảng viên, chấp hành kỷ luật của Đảng, giữ gìn đạo đức, phẩm chất của người cộng sản và góp phần xây dựng Đảng vững mạnh. Đó không chỉ là một câu khẩu hiệu mà chính là lời thề danh dự của người đảng viên.


Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực hiện sứ mệnh, trách nhiệm, lòng trung thành của người đảng viên vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Lời thề thiêng liêng, cao quý ấy chính là sức mạnh, động lực giúp các thế hệ cán bộ, đảng viên tiền bối sẵn sàng chịu đựng, chấp nhận gian khổ, hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, nhân dân tin theo Đảng, sẵn sàng đùm bọc, chở che cho cán bộ, đảng viên, hy sinh cho Đảng, gọi Đảng là “Đảng ta” một cách trìu mến, trân trọng.


Đừng để lời thề danh dự của người đảng viên bị phai nhạt


Trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới hiện nay, phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng ta, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, đạo đức, về trí tuệ, trình độ lý luận, về năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực tiễn, về bản lĩnh chính trị; tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, giữ trọn niềm tin của nhân dân.


Thế nhưng, có một thực tế không thể phủ nhận rằng, khi đất nước không còn chiến tranh, vậy mà trước những tác động của nền kinh tế thị trường, những níu kéo của danh vọng, quyền lực, hàng loạt quan chức cấp cao đã phải hầu tòa, hàng nghìn đảng viên phải đứng trước vành móng ngựa, họ không còn giữ được phẩm giá của mình, không còn giữ được lời thề thiêng liêng mà họ đã tuyên thệ trong ngày gia nhập Đảng. Cá biệt một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm các chuẩn mực đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, lợi ích nhóm, chạy theo lợi ích kinh tế.


Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhiều lần nhấn mạnh: “Ai chả thích của, thích tiền. Nhưng tôi nói, danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Đồng thời khẳng định: “Cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng và đất nước ta còn lâu dài, gian khổ, quyết liệt. Chúng ta mới chỉ hạn chế, ngăn ngừa được một bước. Còn tiền, còn chức, còn quyền, nếu không tu dưỡng, rèn luyện thì sẽ khó tránh khỏi cám dỗ… Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực’’.


Để khắc phục những hạn chế đó, đòi hỏi công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải tiếp tục được tiến hành một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa; đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng tự nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, luôn đề cao việc giữ gìn danh dự, lòng tự trọng của chính bản thân mình, để luôn xứng đáng đứng trong hàng ngũ của Đảng, xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của Đảng đã được xây đắp bởi biết bao xương máu, công sức của các thế hệ ông cha.


Trong đó, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt và thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đặc biệt là Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, với các chỉ thị và kết luận của Đảng về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16-6-2022 về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9-5-2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới...


Kết hợp giữa giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Chú trọng công tác phát hiện, xây dựng, biểu dương, khen thưởng và nhân rộng những mô hình điển hình trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện xa rời quần chúng nhân dân, bệnh thành tích, tham nhũng, lãng phí.


Các cấp ủy, tổ chức Đảng chủ động đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, nhất là nội dung sinh hoạt tư tưởng trong sinh hoạt Đảng; phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình, chú trọng việc bồi dưỡng, nâng cao ý thức, trách nhiệm, giữ vững danh dự, lòng tự trọng và tinh thần nỗ lực, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao của mỗi cán bộ, đảng viên. Triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đề cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, gương mẫu trong thực hiện các chuẩn mực đạo đức; giữ vững hình ảnh, danh dự, tác phong, lối sống của mỗi cán bộ, đảng viên.


Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng, tạo cho mình tấm lá chắn vững chắc trước những sóng gió, dông bão, để họ xứng đáng với niềm tin và kỳ vọng của nhân dân, giữ bằng được cho mình điều thiêng liêng nhất, đó là danh dự. Đúng như lời của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắn gửi tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng vào ngày 15-9-2021: “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho có ý nghĩa, để không phải xót xa, ân hận vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, vô liêm sỉ; tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”.

Việt Nam sẵn sàng vươn lên tầm cao mới

 Việt Nam sẵn sàng vươn lên tầm cao mới 


Những thành tựu mà Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam trong suốt 95 năm qua đã truyền cảm hứng cho nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực - đây là nhận định của Giáo sư G.Devarajan, Tổng Thư ký đảng Khối tiến lên toàn Ấn Ðộ (AIFB) trong cuộc trả lời phỏng vấn TTXVN nhân kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2025).


Theo Giáo sư Devarajan, việc Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 không chỉ là một sự kiện lịch sử có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh đấu tranh giành độc lập của Việt Nam mà còn đánh dấu một bước ngoặt trong sự chuyển biến sâu rộng hơn về chính trị, xã hội của đất nước. Giáo sư nhấn mạnh, trong 95 năm qua, Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định với lý tưởng xã hội chủ nghĩa và kiên cường trước thách thức. Giáo sư cho rằng, thành công nổi bật của Ðảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới thành lập, trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và sau này chính là khả năng tập hợp và đoàn kết các tầng lớp quần chúng nhân dân.


Theo Giáo sư Devarajan, kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986, Việt Nam có những tiến bộ vượt bậc, ngày càng vững bước trên con đường phát triển, hướng tới thịnh vượng. Việt Nam chuyển từ một trong những nước nghèo trở thành một nền kinh tế phát triển nhanh chóng, với thành tựu cải thiện đáng kể về mức sống của người dân, cơ sở hạ tầng và thành tựu phát triển con người. Những năm qua, Việt Nam tiếp tục đạt nhiều thành tựu, bảo đảm ổn định kinh tế-xã hội và phát triển bền vững.


Giáo sư Devarajan nhận định, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của thời kỳ tiến bộ mới và sẵn sàng vươn lên tầm cao mới. Theo Giáo sư, bằng cách tận dụng các thế mạnh cốt lõi, trong đó có những bài học, kinh nghiệm trong quá khứ và các chính sách lấy con người làm trung tâm, Ðảng Cộng sản Việt Nam có thể đưa đất nước hiện thực hóa tầm nhìn về một xã hội thịnh vượng và công bằng. Với nỗ lực đổi mới và hoạch định chiến lược, Việt Nam có thể vượt qua thách thức và nắm bắt cơ hội phía trước, đáp ứng nguyện vọng của người dân và đóng góp vào nỗ lực toàn cầu vì hòa bình, phát triển và công bằng.


Ðảng AIFB luôn đoàn kết và ủng hộ Ðảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam. Tổng Thư ký đảng AIFB tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, Việt Nam sẽ vượt qua mọi trở ngại và đạt được những đỉnh cao phát triển và thịnh vượng./.

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2025

Bản lĩnh Hồ Chí Minh trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Quá trình tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã tìm đến Chủ nghĩa Mác-Lênin và tiếp nhận ở đó hệ thống lý luận về đảng cộng sản. Đồng thời tỏ rõ bản lĩnh của một người có năng lực nhạy bén để tiếp cận Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng cũng có tư duy độc lập để vận dụng và phát triển sáng tạo chân lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Từ ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin

Vào lúc nhiều người trên thế giới còn ngưỡng vọng đến cách mạng tư sản, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy tính không triệt để của cách mạng tư sản khi nó vẫn còn áp bức giai cấp và áp bức dân tộc. Người đến với Quốc tế III do V.I.Lenin sáng lập đơn giản là bởi Quốc tế III hứa sẽ giúp đỡ các dân tộc thuộc địa, còn Quốc tế II không hề nhắc đến vận mệnh các dân tộc thuộc địa. Ở thời điểm lịch sử có nhiều ngã rẽ và các dân tộc thuộc địa còn bị trói buộc trong vòng tăm tối, nô dịch, việc tìm ra học thuyết Mác-Lênin - học thuyết khoa học nhất trong các học thuyết cách mạng và cách mạng nhất trong các học thuyết khoa học - thể hiện tầm nhìn và sự nhạy cảm chính trị đặc biệt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Từ sự dứt khoát về nhận thức, Nguyễn Ái Quốc đã có sự dứt khoát về hành động. Tháng 12-1920, tại Đại hội Tours, khi bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam và là một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp. Tin và đi theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp nhận ở đó học thuyết về đảng cộng sản. Từ câu nói của V.I.Lenin, rằng “hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên”, Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra sự cần thiết phải thành lập một chính đảng cộng sản ở Việt Nam. Như vậy, so với đường lối cứu nước của các bậc tiền bối, quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về sự cần thiết phải thành lập đảng cộng sản để lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam là hoàn toàn mới mẻ. Đây chính là tiền đề lý luận cho quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Quá trình chuẩn bị công phu

Nếu K.Marx và F.Engels cho rằng sự ra đời của đảng cộng sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân, nếu V.I.Lenin cho rằng đảng cộng sản ra đời là kết quả của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân thì Nguyễn Ái Quốc cho rằng trong sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam cần sự xuất hiện của yếu tố thứ ba: Phong trào yêu nước. Nắm vững đặc điểm riêng của dân tộc Việt Nam-một dân tộc có truyền thống yêu nước nồng nàn và có số lượng công nhân ít ỏi, Nguyễn Ái Quốc truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ vào phong trào công nhân mà còn vào phong trào yêu nước với bộ phận rất quan trọng là lực lượng thanh niên, trí thức yêu nước. Nhờ kết hợp nhuần nhuyễn cái phổ biến với cái đặc thù trong quy luật ra đời của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã tạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam truyền thống gắn bó chặt chẽ với dân tộc ngay từ thời khắc sinh thành.

Bản lĩnh chính trị của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự thận trọng hiếm có trong công tác tổ chức. Dù hiểu rằng “phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi” nhưng khi về Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc không thành lập ngay Đảng Cộng sản Việt Nam mà lại thành lập tổ chức tiền thân của Đảng là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong quan niệm của Người, đảng cộng sản-tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân chỉ có thể ra đời và thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình khi phong trào công nhân đã đạt trình độ tự giác; khi đã có đội ngũ cán bộ đảng nhiệt huyết, có kinh nghiệm và gắn bó mật thiết với nhân dân; khi lãnh tụ của Đảng đã có một cương lĩnh chính trị khoa học, phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Xét vào thời điểm năm 1925, cả 3 điều kiện trên đều chưa thực sự đầy đủ nên Người đã kiên nhẫn thành lập ra tổ chức mang tính quá độ, vừa tầm với thực tiễn phong trào để qua hoạt động của tổ chức này, các điều kiện thành lập Đảng mau chóng chín muồi.

Cùng với sự chuẩn bị về tổ chức, tác phẩm "Đường Kách mệnh" của Nguyễn Ái Quốc với sự phác thảo con đường giải phóng dân tộc trên nét lớn đã chuẩn bị tiền đề tư tưởng, chính trị cho công tác thành lập Đảng. Vì thế, “có thể xem trong lịch sử cách mạng Việt Nam, cuốn "Đường Kách mệnh" có vai trò như cuốn "Làm gì?" của V.I.Lenin đối với cách mạng Nga...

Nhờ hoạt động tích cực của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tư tưởng cộng sản ngày càng trở nên chiếm ưu thế ở Việt Nam. Đến cuối năm 1929, trong nước cùng lúc tồn tại 3 tổ chức cộng sản. Nguy cơ phân liệt lực lượng và đường lối giữa các tổ chức cộng sản đòi hỏi phải có một lãnh tụ đủ uy tín đứng ra làm nhiệm vụ quy tụ 3 tổ chức cộng sản làm một.

Đến hội nghị thành lập Đảng

Ở thời điểm lịch sử sôi động nhưng cũng không ít phần phức tạp, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tiến hành hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở nước ta tại Hương Cảng-Trung Quốc vào mùa xuân năm 1930. Trong hội nghị mang tính chất đại hội thành lập, tư duy sáng tạo và tinh thần độc lập, tự chủ của Nguyễn Ái Quốc đã bộc lộ hết sức rõ nét.

Thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không phải là Đảng Cộng sản Đông Dương như chủ trương của Quốc tế Cộng sản: “Là thành lập một đảng cách mạng có tính giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một đảng cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương”. Với quan điểm đảng cộng sản trước hết phải thuộc về từng dân tộc, phải được đặt trong phạm vi dân tộc để đường lối của Đảng phù hợp với điều kiện của dân tộc đó, Nguyễn Ái Quốc đã hiện thực hóa quan điểm của V.I.Lenin về quyền dân tộc tự quyết.

Thứ hai, kế thừa truyền thống đoàn kết của dân tộc và với niềm tin mãnh liệt vào lòng yêu nước của những người cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu các đại biểu tham dự hội nghị “bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”; “định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước”. Tức là, dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời bằng cách hợp nhất trọn vẹn các tổ chức cộng sản dù rằng Quốc tế Cộng sản chủ trương việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương phải trải qua quá trình “thanh lọc” để lựa chọn ra những phần tử thực sự ưu tú, thực sự cộng sản nhất trong các nhóm cộng sản. Nếu làm theo chỉ dẫn của Quốc tế Cộng sản thì “có khi không thể cho ra đời được Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930” trong khi sự phân liệt giữa các tổ chức cộng sản đang đặt ra yêu cầu cấp bách là phải nhanh chóng hợp nhất.

Thứ ba, với tinh thần độc lập, tự chủ, Nguyễn Ái Quốc đã soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta-một cương lĩnh giải phóng dân tộc nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp, thấm đượm tinh thần dân tộc. Cụ thể là, trên cơ sở thấu hiểu đặc điểm của xã hội thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã xác định rõ: Trong hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến thì chống đế quốc, giành độc lập dân tộc phải là nhiệm vụ hàng đầu. Quan điểm này có sự khác biệt lớn so với chủ trương “giai cấp đấu tranh giai cấp”, đấu tranh không khoan nhượng và kiên định với giai cấp tư sản, địa chủ của Quốc tế Cộng sản. Bên cạnh đó, cùng với việc khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam theo đúng quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc còn khẳng định tính dân tộc sâu sắc của Đảng thông qua cơ sở xã hội rộng rãi cũng như tính đại diện cho lợi ích dân tộc của Đảng. Trong Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ghi rõ: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng thời được vào Đảng”. Như vậy, điều kiện để trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là thành phần xuất thân từ giai cấp công nhân mà là sự giác ngộ lý tưởng của giai cấp đó. Những quan điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã hóa giải tính cô độc, biệt phái của Đảng Cộng sản Việt Nam cho dù giai cấp công nhân Việt Nam chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong xã hội. Điều đó đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam khắc phục căn bệnh ấu trĩ tả khuynh hết sức nguy hiểm mà V.I.Lenin từng cảnh báo trước đó. Dù có lúc quan điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc bị quy kết là hữu khuynh, “là cơ hội chủ nghĩa, chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh” nhưng lịch sử đã chứng minh sự đúng đắn và tầm nhìn vượt trội của Người. Nhờ đó, một thời đại vẻ vang trong lịch sử dân tộc đã được mở ra.