Về kinh tế, đến những năm
40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã hình
thành ở Anh, Pháp và chừng mực nhất định ở Đức. Vượt qua thời kỳ phong
kiến, sự phát triển mạnh mẽ của phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chứng minh tính ưu việt
của nó so với các chế độ xã hội trước trong lịch sử. Nước Anh và
nước Pháp đã trở thành những quốc gia tư bản hùng mạnh, làm động lực cho sự
phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu. Nước Anh đã hoàn thành cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ nhất vào năm 1820, trở thành cường quốc kinh tế số một
lúc bấy giờ. Nước Pháp cũng đang tiến hành cách mạng công nghiệp lần nhất từ
1820 - 1860. Trong khi đó,
nước Đức tuy căn bản đang còn ở giai đoạn công trường thủ công, kiến trúc
thượng tầng vẫn là phong kiến với 38 công quốc khác nhau, nhưng cũng đã tiến
hành cách mạng công nghiệp ở vùng Rua, Xilêri, Vecphalen, phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa đang hình thành và tình thế cách mạng dân chủ tư sản đang chín
muồi.
Từ năm 1830 đến năm 1841, ở các nước Anh, Pháp, Đức, số đầu máy hơi nước tăng chín lần, sản lượng khai thác than và sản xuất thép
tăng ba lần, độ dài đường sắt tăng mười ba lần, hàng hải phát triển khá mạnh. Dù với mức độ phát triển khác nhau, nhưng
châu Âu, đặc biệt là Tây Âu đã trở thành trung tâm của sự phát triển
lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa, làm cơ sở cho sự phát triển về mọi
mặt trong đời sống xã hội.
Về chính trị, quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư
bản tất yếu tạo ra trong lòng nó một lực lượng đối lập là giai cấp vô sản hiện
đại. Giai cấp vô sản công nghiệp ra đời, đã tạo ra một quan hệ đối lập ngày
càng gay gắt với giai cấp tư sản, biểu hiện của mâu thuẫn về mặt kinh tế giữa
trình độ phát triển cao và tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất với sự
chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.
Giai cấp công nhân đã bước lên vũ đài chính trị với
tư cách là một lực lượng chính trị - xã hội độc lập trong cuộc đấu tranh chống
giai cấp tư sản. Những cuộc đấu tranh độc lập đầu tiên ra đời đã báo hiệu một
thời kỳ bão táp cách mạng. Điển hình là ba cuộc đấu tranh đôc lập đầu tiên của giai cấp công
nhân: Cuộc khởi nghĩa của công nhân thành phố Liông nước Pháp năm 1831 - 1834;
Cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xilêdi ở Đức năm 1844 và Phong trào Hiến chương ở Anh từ năm 1838 đến năm 1848. Nhưng các cuộc cách mạng đó đều bị thất bại vì thiếu một đường lối cách
mạng đúng đắn và một chính đảng lãnh đạo.
Về văn hóa - tư
tưởng, cùng với sự
phát triển của kinh tế, chính trị, đầu thế kỷ XIX, nhân loại cũng đã đạt nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực khoa
học, văn hóa và tư tưởng.
Trong lĩnh vực khoa học tự
nhiên, đã xuất hiện những phát minh mang tính đột phá và tính cách
mạng vạch thời đại như: Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng do R.Maye (Đức) và
P.P.Giulơ (Anh); Học thuyết tiến
hóa giống loài của Đác Uyn và Học thuyết về tế bào của Slâyđen, Svan. Các phát
minh đó đã chứng minh được thế giới thống nhất ở tính vật chất; luôn vận động
và chuyển hóa không ngừng từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện;
thế giới vật chất có mối liên hệ và tác động lẫn nhau… Những thành tựu ấy đã
cung cấp cơ sở, luận cứ khoa học để nhận thức một cách khách quan, khoa
học các vấn đề của đời sống xã hội.
Về khoa học xã hội,
đầu thế kỷ XIX cũng có những bước tiến bộ rõ rệt. Điển hình như: Triết học
cổ điển Đức của Hêghen, PhơBách; Kinh tế chính trị học Anh của Adam Smíth và Đ.Ricácđô; Chủ nghĩa xã hội không
tưởng phê phán của Xanhximông, Phuriê và Ôoen. Những tiền đề lý luận đó đã cung
cấp cơ sở lý luận trực tiếp để Mác, Ăngghen kế thừa, phát triển và cho ra đời học thuyết
của mình. Đúng như V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Học thuyết của ông (C.Mác) ra đời là sự
thừa kế thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất
trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội”[1].
Như
vậy, đến những năm 40 của thế kỷ
XIX, đã xuất hiện các tiền đề về kinh tế - xã hội cho phép
và đòi hỏi sự ra đời của một lý luận tiên phong dẫn đường cho
sự vận động, phát triển của lịch sử.
[1] V.I.Lênin toàn tập,
Tập 23, “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác”
(1913), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật,
Hà Nội, 2002, tr.49-50.