Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

Điều kiện khách quan ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Về kinh tế, đến những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã hình thành ở Anh, Pháp và chừng mực nhất định ở Đức. Vượt qua thời kỳ phong kiến, sự phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chứng minh tính ưu việt của nó so với các chế độ xã hội trước trong lịch sử. Nước Anh và nước Pháp đã trở thành những quốc gia tư bản hùng mạnh, làm động lực cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu. Nước Anh đã hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất vào năm 1820, trở thành cường quốc kinh tế số một lúc bấy giờ. Nước Pháp cũng đang tiến hành cách mạng công nghiệp lần nhất từ 1820 - 1860. Trong khi đó, nước Đức tuy căn bản đang còn ở giai đoạn công trường thủ công, kiến trúc thượng tầng vẫn là phong kiến với 38 công quốc khác nhau, nhưng cũng đã tiến hành cách mạng công nghiệp ở vùng Rua, Xilêri, Vecphalen, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang hình thành và tình thế cách mạng dân chủ tư sản đang chín muồi.

Từ năm 1830 đến năm 1841, ở các nước Anh, Pháp, Đức, số đầu máy hơi nước tăng chín lần, sản lượng khai thác than và sản xuất thép tăng ba lần, độ dài đường sắt tăng mười ba lần, hàng hải phát triển khá mạnh. Dù với mức độ phát triển khác nhau, nhưng châu Âu, đặc biệt là Tây Âu đã trở thành trung tâm của sự phát triển lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa, làm cơ sở cho sự phát triển về mọi mặt trong đời sống xã hội.

Về chính trị, quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản tất yếu tạo ra trong lòng nó một lực lượng đối lập là giai cấp vô sản hiện đại. Giai cấp vô sản công nghiệp ra đời, đã tạo ra một quan hệ đối lập ngày càng gay gắt với giai cấp tư sản, biểu hiện của mâu thuẫn về mặt kinh tế giữa trình độ phát triển cao và tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất với sự chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.

Giai cấp công nhân đã bước lên vũ đài chính trị với tư cách là một lực lượng chính trị - xã hội độc lập trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản. Những cuộc đấu tranh độc lập đầu tiên ra đời đã báo hiệu một thời kỳ bão táp cách mạng. Điển hình là ba cuộc đấu tranh đôc lập đầu tiên của giai cấp công nhân: Cuộc khởi nghĩa của công nhân thành phố Liông nước Pháp năm 1831 - 1834; Cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xilêdi ở Đức năm 1844 và Phong trào Hiến chương ở Anh từ năm 1838 đến năm 1848. Nhưng các cuộc cách mạng đó đều bị thất bại vì thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn và một chính đảng lãnh đạo.

Về văn hóa - tư tưởng, cùng với sự phát triển của kinh tế, chính trị, đầu thế kỷ XIX, nhân loại cũng đã đạt nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực khoa học, văn hóa và tư tưởng.

Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, đã xuất hiện những phát minh mang tính đột phá tính cách mạng vạch thời đại như: Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng do R.Maye (Đức) và P.P.Giulơ (Anh); Học thuyết tiến hóa giống loài của Đác Uyn và Học thuyết về tế bào của Slâyđen, Svan. Các phát minh đó đã chứng minh được thế giới thống nhất ở tính vật chất; luôn vận động và chuyển hóa không ngừng từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; thế giới vật chất có mối liên hệ và tác động lẫn nhau… Những thành tựu ấy đã cung cấp cơ sở, luận c khoa học để nhận thức một cách khách quan, khoa học các vấn đề của đời sống xã hội.

Về khoa học xã hội, đầu thế kỷ XIX cũng có những bước tiến bộ rõ rệt. Điển hình như: Triết học cổ điển Đức của Hêghen, PhơBách; Kinh tế chính trị học Anh của Adam SmíthĐ.Ricácđô; Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán của Xanhximông, Phuriê và Ôoen. Những tiền đề lý luận đó đã cung cấp cơ sở lý luận trực tiếp để Mác, Ăngghen kế thừa, phát triển và cho ra đời học thuyết của mình. Đúng như V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Học thuyết của ông (C.Mác) ra đời là sự thừa kế thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội”[1].

Như vậy, đến những năm 40 của thế kỷ XIX, đã xuất hiện các tiền đề về kinh tế - xã hội cho phép và đòi hỏi sự ra đời của một lý luận tiên phong dẫn đường cho sự vận động, phát triển của lịch sử.



[1] V.I.Lênin toàn tập, Tập 23, “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác” (1913), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, tr.49-50.

Hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán thế kỷ XIX

 


Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán thế kỷ XIX phủ nhận con đường đấu tranh cách mạng, mà chủ trương cải tạo xã hội bằng phương pháp tuyên truyền, bằng nêu gương, bằng con đường hòa bình phi bạo lực hoặc trông chờ vào sự “giúp đỡ”, sự thay đổi của giai cấp tư sản. Đặc biệt là cả ba ông đều chưa hiểu được sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, chưa đứng trên lập trường, lợi ích của giai cấp vô sản, chưa nhận rõ bản chất bóc lột của chế độ tư bản chủ nghĩa và chưa nhận thức đúng đắn qui luật khách quan của sự phát triển lịch sử xã hội.

Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán bế tắc, chưa tìm ra được lối thóat thật sự về kinh tế, vì họ không phát hiện ra được những quy luật kinh tế khách quan vận động trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Họ chủ trương xây dựng xã hội mới bằng con đường không tưởng như việc tuyên truyền, chờ mong vào lòng từ thiện của những nhà tư bản và sự giúp đỡ của nhà nước tư sản, coi tư tưởng về chủ nghĩa xã hội là tôn giáo mới. V.I.Lênin đánh giá: “Nó không giải thích được bản chất của chế độ nô lệ làm thuê trong chế độ tư bản chủ nghĩa, cũng không phát hiện ra được những quy luật phát triển của chế độ tư bản chủ nghĩa và cũng không tìm thấy lực lượng xã hội có khả năng trở thành người sáng tạo xã hội mới”[1].

Những mặt hạn chế đó của các ông là khó tránh khỏi vì điều kiện lịch sử xã hội của thời đó qui định. Đúng như Ph.Ăngghen đã nhận xét: hoàn cảnh lịch sử ấy đã quyết định quan điểm của những người sáng tạo ra chủ nghĩa xã hội. Tương ứng với một nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chưa thành thục, với những quan hệ giai cấp chưa thành thục thì có một lý luận chưa thành thục. Về biện pháp giải quyết những vấn đề xã hội còn nằm kín trong quan hệ kinh tế chưa phát triển, nên phải được sản sinh ra từ đầu óc con người, vì vậy, mà những tư tưởng còn mang tính không tưởng. Sau này cũng V.I.Lênin khẳng định: “Muốn làm cho chủ nghĩa xã hội thành khoa học thì trước hết phải đặt chủ nghĩa xã hội trên một cơ sở hiện thực”[2].



[1] V.I.Lênin toàn tập, Tập 23, “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác” (1913), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, tr.56-57

[2] V.I.Lênin toàn tập, Tập 23, “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác” (1913), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, tr.57

Giêxắc Uynxtenly (1609-1652)


G.Uynxtenly sinh trưởng tại thị trấn Uiga, tỉnh Lancátxia (Anh) trong một gia đình buôn bán tơ lụa và sớm bước vào kinh doanh. Ông sớm bước vào cuộc sống kinh doanh nên thủa nhỏ việc học hành của ông thiếu hệ thống và cơ bản. Tuy vậy, nhờ ý chí và năng lực tự học cao và tích cực hoạt động xã hội, cũng như tôi luyện lâu dài trong đời sống, nên ông có hiểu biết sâu sắc về nhiều vấn đề xã hội.

Trong thời kỳ nội chiến ở Anh, G.Uynxtenly đã nhận thức được nhiều vấn đề mới mẻ, nhất là chứng kiến cuộc đấu tranh sôi sục của những người nghèo khổ (tiền vô sản, thợ thủ công, nông dân... chống lại ách áp bức, bóc lột tàn nhẫn của phong kiến, quí tộc, tăng lữ, tư sản mới. G.Uynxtenly thành lập phái “Đào đất”, lúc đầu nhằm tập hợp những người lao động thiếu ruộng đất đi khai thác, phục hóa đất hoang, đất vô chủ. Về sau tổ chức này hướng các hoạt động của mình vào đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế và đấu tranh chính trị. G.Uynxtenly đã viết “Luật công bằng” để tuyên truyền vận động quần chúng. Nội dung của tác phẩm còn có tính chất như chương trình kế hoạch hành động của phái “Đào đất”. G.Uynxtenly còn hăng say nghiên cứu lý luận, cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị như: “Ngọn cờ do những người chủ trương bình đẳng chân chính dựng lên”; “Món quà năm mới giữa nghị viện và quân đội”.

Đến năm 650, phái “Đào đất” bị tan rã hoàn toàn. G.Uynxtenly tìm mọi cách trốn thóat sự truy lùng của bọn thống trị. Mặc dù trong điều kiện hết sức khó khăn, ông vẫn viết những tác phẩm mới, tuyên truyền cho các tư tưởng của mình. Trong số tác phẩm đó, có tác phẩm nổi tiếng “Luật tự do” được viết vào năm 1652 trước khi ông mất. Tác phẩm này đã chứa đựng nhiều nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng đặc sắc. 

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa của Campanenla

 


Tư tưởng xã hội chủ nghĩa của T.Campanenla thể hiện tập trung trong tác phẩm “Thành phố mặt trời”. Bằng hình thức đối thoại giữa các nhân vật trong một truyện do ông hư cấu, Campanenla đã trình bày những quan điểm có tính xã hội chủ nghĩa của mình (tuy vẫn là không tưởng) trên hàng loạt các vấn đề xã hội rộng lớn. Qua lời diễn đạt của các nhân vật, ông đã bày tỏ khát vọng của con người về một xã hội mới tốt đẹp.

Về kinh tế, “Thành phố mặt trời” là một xã hội mà về mặt kinh tế được dựa trên nền tảng chế độ công hữu toàn diện: đất đai, vườn tược, nhà cửa, công cụ sản xuất, sản phẩm lao động, các tư liệu sinh hoạt... ở đó tất cả đều là của chung, thậm chí cả chồng chung, vợ chung. Xã hội xóa bỏ mọi hình thức tư hữu, bởi vì chế độ tư hữu là nguyên nhân của mọi bất công bất bình đẳng xã hội, của mọi thói hư tật xấu của con người, nó là nguồn gốc của mọi tệ nạn xã hội.

Tổ chức quản lý lao động sản xuất được duy trì chặt chẽ, nghiêm túc, công bằng với tất cả thành viên xã hội. Trong đó, mọi người làm việc theo khả năng của mình. Không ai được chây lười, ăn cắp, thóai thác nhiệm vụ. Xã hội đều quí trọng tất cả những người lao động bởi vì không có người nào là thấp kém. Lao động nữ được ưu tiên làm việc trong các nghề thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, giáo dục, cần sự khéo léo, nhẹ nhàng, không phải tốn nhiều sức cơ bắp. Trong “Thành phố mặt trời”, “việc nghiên cứu khoa học và nghề thủ công là công việc chung của cả đàn ông, đàn bà. Chỉ có một điểm khác nhau là: những nghề nặng nhất, như cày bừa, reo trồng... đập lúa, mộc, rèn... thì đàn ông làm. Nhưng vắt sữa, chế biến... dệt khâu vá, cắt tóc, chế thuốc chữa bệnh hội hoạ, âm nhạc thì phụ nữ làm”. Trong “Thành phố mặt trời”, người ta lao động trong một ngày chỉ 4 giờ, thời gian còn lại dành để học tập, nghiên cứu khoa học, vui chơi giải trí, tập luyện thể thao, đi du lịch.

Cơ sở sản xuất của “Thành phố mặt trời” là các công xã - hình thức lao động tập thể. Lao động tập thể cùng với khoa học kỹ thuật giúp cho con người lao động dễ dàng hơn và có hiệu quả cao hơn. Lao động tập thể được tổ chức, quản lý chặt chẽ, nghiêm túc. Lao động sản xuất dựa trên tự giác của mỗi người. Những kẻ lười biếng, trốn việc bị trừng phạt, thậm chí phạm tội nặng còn bị đánh đập, bêu riếu trong thành phố để mọi người khinh bỉ. Những ai làm việc chăm chỉ, tích cực có hiệu quả cao được biểu dương, khen thưởng xứng đáng.

Chủ trương thực hiện phân phối sản phẩm lao động theo kết quả lao động và theo nhu cầu. Mọi thứ đều là của chung, nên không ai có quyền chiếm đoạt bất cứ thứ gì làm của riêng mình; ăn uống cũng ăn chung ở nhà ăn tập thể, ngồi theo hàng nam, hàng nữ đối mặt nhau. Thức ăn được bảo đảm vệ sinh, do thầy thuốc kiểm tra trước khi ăn. Mỗi lứa tuổi khác nhau có khẩu phần dinh dưỡng khác nhau đáp ứng và phù hợp với nhu cầu cơ thể và hoạt động. Campanenla quan niệm rằng với việc sở hữu tập thể, tổ chức lao động và phân phối đều nhau, có sự kiểm tra giám sát chặt chẽ, thì xã hội sẽ không có người giàu, người nghèo. Đây cũng là thể hiện tư duy máy móc và không tưởng của Campanenla.

Về chính trị, nhà nước là thiết chế xã hội được tổ chức theo kiểu cộng hòa. Các chức vụ chủ chốt đều được nhân dân tín nhiệm bầu ra, mà người đứng đầu là “ông mặt trời”. Bộ máy nhà nước là tổ chức để duy trì trật tự xã hội, bảo đảm bình đẳng, công bằng giữa các thành viên và tổ chức các hoạt động xã hội cân đối, hài hòa, thông suốt. Cơ cấu nhà nước bao gồm một trật tự từ trên xuống dưới. “Ông mặt trời”- người đứng đầu là một linh mục có uy tín và tài năng, có quyền quyết định tối cao mọi vấn đề của thành phố. Dưới “Ông mặt trời” là 3 vị quan chức đó là “Người đại biểu cho trí tuệ”, “Người đại biểu cho sức mạnh”, “Người đại biểu cho tình yêu”. “ông mặt trời” và 3 vị quan chức trên được bầu cử dân chủ chọn ra, song không bị bãi miễn và thay thế (khi còn sống và còn làm việc được). Đây là những con người tài giỏi và hoàn hảo nhất của xã hội. Dưới các quan chức trên là các chức vụ liên quan đến các công việc cụ thể hơn, các đại biểu này cũng được dân bầu cử lựa chọn. Trong “Thành phố mặt trời”, phương thức dân chủ không chỉ thể hiện qua việc bầu cử dân chủ để lựa chọn các đại biểu xứng đáng vào các chức vụ mà còn thể hiện qua cơ chế qui định sự tiếp xúc thường xuyên giữa các quan chức với nhân dân, tổ chức phê bình của dân với các quan chức.

Để quản lý xã hội, “Thành phố mặt trời” ban hành và thực hiện một hệ thống các luật, được soạn thảo ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện và giám sát, được công bố công khai trên các bức tường của “Thành phố mặt trời” để mọi người biết và chấp hành. Những người phạm tội: lười biếng, bội bạc, vô ơn, cáu giận, dối trá, kiêu căng... bị đem ra trước dân xét xử, kết tội và thi hành án. Mức độ hình phạt có nhiều bậc từ thấp đến cao. Cảnh cáo không cho ăn ở nhà ăn tập thể, không cho tiếp xúc với phụ nữ, đánh đòn, trục xuất khỏi thành phố với các tội danh bình thường. Còn các tội nghiêm trọng như hiếp dâm, chống lại người cai quản, thi hành công vụ, phản bội nhà nước, chống lại nhân dân và phỉ báng chúa thì có thể bị tử hình.

Để bảo vệ Thành phố mặt trời, nhà nước rất quan tâm đến xây dựng hệ thống phòng thủ: xây thành đắp luỹ, chế tạo vũ khí, tuyển quân, luyện quân, thực hiện vũ trang toàn dân. Cùng với coi trọng xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố, chế tạo vũ khí tinh xảo, nhà nước rất quan tâm giáo dục ý thức bảo vệ Thành phố, nâng cao trình độ hiểu biết về mọi mặt cho toàn dân... để tạo nên sức mạnh chiến đấu tổng hợp.

Như vậy, các quan điểm về chính trị của Campanenla có nhiều ý tưởng sâu sắc mang tính xã hội chủ nghĩa mà đến nay đã được thực tiễn xã hội xác nhận. Đó là chế độ nhà nước cộng hòa, dân chủ, quan hệ xã hội bình đẳng, công bằng. Điều đó hoàn toàn tương phản với hiện thực xã hội Italia đương thời.

Về văn hóa xã hội, trong “Thành phố mặt trời”, người ta giáo dục phổ cập cho mọi người theo các cấp học từ thấp đến cao. Giáo dục tri thức, học vấn kết hợp với giáo dục nghề nghiệp và gắn liền với hoạt động sản xuất xã hội, nghiên cứu khoa học. Trong giáo dục, chống lý thuyết suông, mà gắn học với hành. Chú ý cả giáo dục văn hóa, nghề nghiệp với giáo dục ý thức trách nhiệm, đạo đức cho mọi công dân của Thành phố.

Việc chăm lo y tế cho mọi người là mối quan tâm lớn của nhà nước và toàn xã hội. Bảo vệ sức khoẻ không chỉ được thực hiện thông qua việc rút ngắn thời gian lao động, cải thiện điều kiện làm việc, chú ý đến độ tuổi, tăng cường luyện tập thân thể mà còn được chú ý qua giữ gìn vệ sinh ăn uống, kiểm tra sức khoẻ định kỳ, mở mang các bệnh viện và tăng cường đội ngũ thày thuốc, sản xuất các loại thuốc chữa bệnh. Xã hội còn chú ý trang bị những tri thức khoa học, y tế để mọi người có ý thức tự phòng bệnh và chữa bệnh.

Quan hệ hôn nhân - gia đình của Campanenla có nhiều quan niệm tiến bộ. Ông chủ trương, đàn ông trước 21 tuổi và phụ nữ trước 19 tuổi không được quan hệ tình dục và không được sinh con, vì nó sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ và nòi giống cũng như sự phát triển của thanh thiếu niên. Những người thực hiện đúng được nhà nước biểu dương và xã hội tôn trọng. Ai vi phạm sẽ bị xử phạt. Tuy nhiên, quan niệm của Campanenla về hôn nhân và gia đình có yếu tố lạc hậu. Đó là ông đưa quan niệm: chung vợ, chung chồng, bởi ông cho rằng con người cũng là tài sản xã hội. Vì thế, tất cả tài sản xã hội là của chung thì vợ chồng cũng là của chung.

Về vấn đề con người, Campanenla cho rằng con người đều phải được bình đẳng, được đối xử công bằng, không ai là nô lệ của ai. Cần giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Campanenla đề cao giá trị tự do của con người. Vì tự do, con người dám đứng lên tranh đấu và sẵn sàng hy sinh cả tính mạng mình.

Tômađô Campanenla (1568-1639)

 


T.Campanenla sinh ở Calabri thuộc miền Nam Italia, trong một gia đình đóng giày dép. Tuy vậy, ông vẫn được gia đình, chăm lo tới việc học tập chu đáo. Trong các tu viện, ông được nghiên cứu sâu về thần học, triết học, văn học. Ngay từ hồi trẻ, ông đã nổi tiếng là người có học vấn cao ở Italia. T.Campanenla vừa là nhà tư tưởng, vừa là nhà hoạt động thực tiễn. Năm 23 tuổi, ông đã có tác phẩm triết học đầu tay rất nổi tiếng là cuốn “Triết học dựa trên cảm giác”. Ông đã dũng cảm đứng lên chống chính phủ và giáo hội, bênh vực người lao động và từng bị chính quyền bắt giam. Ông cũng là một trong những người tổ chức lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống thực dân Tây Ba Nha. Cuộc khởi nghĩa sớm bị dập tắt và ông bị bắt lần thứ hai, bị giam cầm tới 27 năm. Trong thời gian bị tù đầy, ông vẫn viết những tác phẩm khích lệ nhân dân đứng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Năm 1624, ông được ra tù, lại tiếp tục hoạt động, lại bị bắt lần thứ ba và bị giam cầm 2 năm nữa. Sau đó ông phải sống lưu vong ở Pháp cho đến khi mất. Ông viết nhiều tác phẩm, nhưng nổi tiếng nhất là tác phẩm “Thành phố mặt trời”. Tác phẩm này được viết từ năm 1601 và trong thời gian ông bị cầm tù, sau đó đã được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng: Italia, Latinh, Đức, Pháp, Nga.

Giá trị và hạn chế của tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong tác phẩm “Không tưởng”

 


Về giá trị, với tư cách là nhà tư tưởng, Tômát Morơ đã để lại cho hậu thế một mô hình tương đối toàn diện về xã hội cộng sản chủ nghĩa, trong đó giá trị đặc sắc là tư tưởng xóa bỏ chế độ tư hữu. Tư tưởng này vào thời đại các ông là “không tưởng”, nhưng sau khi chủ nghĩa Mác ra đời đã chứng minh tính hiện thực của nó. Những tư tưởng trong tác phẩm “Không tưởng” đã phác họa sâu sắc ước vọng về một xã hội tốt đẹp trong tương lai cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Những vấn đề đó không phải đơn thuần phản ảnh những mong muốn chủ quan ảo tưởng của Tômát Morơ, mà là sự phản ảnh nguyện vọng mang xu hướng khách quan của nhân loại trong quá trình tìm tòi chân lý và vươn tới lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng con người. Vì vậy, tác phẩm “Không tưởng” có giá trị lịch sử mở đầu chủ nghĩa xã hội không tưởng thời cận đại- một trong những giá trị tư tưởng sau này được chủ nghĩa xã hội khoa học kế thừa và phát triển trong điều kiện mới.

Về hạn chế, những phác hoạ mô hình xã hội mới trong tác phẩm là không tưởng tuy có nhiều dự báo thiên tài, sâu sắc có ý nghĩa vạch thời đại, song đó chỉ là sản phẩm của tư duy thuần tuý, chưa có cơ sở hiện thực. Ph.Ăngghen chỉ ra những hạn chế của tác phẩm là “trong thời kỳ mà giai cấp vô sản còn ít phát triển, còn nhìn địa vị bản thân mình một cách cũng ảo tưởng, thì bức tranh ảo tưởng về xã hội tương lai là phù hợp với những nguyện vọng bản năng đầu tiên của công nhân muốn hoàn toàn cải biến xã hội”[1]. Về hình thức, tác phẩm “Không tưởng” có tính chất như là tác phẩm văn học viễn tưởng, chưa phải là một hệ thống lý luận được luận chứng khoa học và càng chưa phải một cương lĩnh chính trị mang tính cách mạng để thay đổi xã hội hiện tồn.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 4,“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.641.

Tác phẩm “Không tưởng” đã trình bày dự án tổng thể về một xã hội tương lai tốt đẹp

 


Về kinh tế, nền kinh tế của xã hội trong “Không tưởng” được Tômát Morơ xác định là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (chủ yếu là ruộng đất) và tư liệu tiêu dùng. Nhà nước trực tiếp tổ chức, quản lý sản xuất, và phân phối sản phẩm theo nguyên tắc bình đẳng, điều chỉnh lực lượng lao động xã hội và độc quyền ngoại thương. Tế bào kinh tế cơ bản của xã hội là gia đình. Lao động sản xuất nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng, nhưng rất nặng nhọc, vất vả, nên tất cả mọi người đều có nghĩa vụ lao động nông nghiệp. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ lao động nông nghiệp của mỗi công dân là 2 năm và luân phiên nhau.

Về phân phối, trong xã hội, thực hiện phân phối theo nhu cầu. Xã hội quản lý toàn bộ sản phẩm lao động (cả nông nghiệp và các ngành nghề khác), và sau đó phân phối cho các thành viên xã hội. Tômát Morơ luận giải rằng nếu trong xã hội không còn người ăn bám, mọi người đều lao động hết khả năng của mình trong thời gian (6 giờ/ ngày) thì xã hội sẽ đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của các thành viên. Hơn nữa, con người trong xã hội “Không tưởng” là những người tự trọng, có đạo đức, họ chỉ đòi hỏi xã hội đáp ứng những thứ tối cần thiết cho cuộc sống chứ không sử dụng của cải xa hoa, lãng phí.

Tômát Morơ quan tâm đến công tác tổ chức quản lý. Ông chủ trương tổ chức các nhà ăn tập thể, phân chia bình đẳng các sản phẩm, các tư liệu tiêu dùng. Xã hội thực hiện phân phối nhà cửa, vườn tược cho các gia đình một cách công bằng với diện tích nhất định. Cứ 10 năm một lần lại phân phối lại theo lối rút thăm. Tômát Morơ chủ trương điều tiết các hoạt động của con người đảm bảo tính cân đối, hài hòa, hợp lý giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa làm việc và nghỉ ngơi, giữa hưởng thụ vật chất và giải trí tinh thần, giữa lao động để kiếm sống và học tập nâng cao trình độ hiểu biết về mọi mặt.

Về chính trị, trong xã hội “không tưởng”, vẫn tồn tại nhà nước. Song nhà nước được tổ chức lên do nhu cầu quản lý xã hội và đáp ứng ý nguyện của nhân dân. Tất cả các nhân viên bộ máy nhà nước nắm giữ các cương vị đều được lựa chọn thông qua bầu cử dân chủ bằng bỏ phiếu kín. Nhà nước thật sự là bộ máy của nhân dân để quản lý và giải quyết các quan hệ xã hội. Bộ máy và đội ngũ công chức nhà nước có phương thức và phong cách làm việc dân chủ, cởi mở, lịch sự tôn trọng nhân dân. Ông chủ trương các vấn đề liên quan đến cuộc sống của nhân dân đều được đem ra lấy ý kiến nhân dân, được bàn bạc kỹ lưỡng trước khi đưa ra các quyết định cuối cùng.

Về văn hóa - xã hội, Tômát Morơ đặc biệt quan tâm đến giáo dục - đào tạo. Giáo dục - đào tạo là trách nhiệm của toàn xã hội. Tất cả trẻ em đều được đi học không mất tiền, được nuôi dưỡng chu đáo trong các trường học. Thực hiện sự bình đẳng và công bằng trong giáo dục, xóa bỏ đặc quyền học tập của con cái các gia đình giàu có. Các trường học tuỳ theo cấp học mà có chương trình giáo dục chung. Thanh niên đều được hưởng thụ học vấn cao cấp, bắt buộc. Kết hợp chặt chẽ với học nghề, học văn hóa với lao động sản xuất trong các xưởng thủ công và trên đồng ruộng.

Trong xã hội “Không tưởng”, quan hệ hôn nhân - gia đình dựa trên tinh thần tự nguyện giữa nam và nữ. Họ có quyền tự do lựa chọn vợ chồng mà không chịu sự ép buộc nào. Tuổi kết hôn cũng được qui định cụ thể: nam trên 22 tuổi, nữ trên 18 tuổi. Thực hiện chế độ một vợ một chồng và được bảo hộ của pháp luật. Xã hội thừa nhận quyền tự do ly hôn của cả nam và nữ. Tuy nhiên, theo Tômát Morơ, quyền này rất ít khi phải dùng đến vì hôn nhân đã dựa trên cơ sở tình yêu tự nguyện, hơn nữa các thành viên xã hội, nam và nữ đều được xã hội giáo dục chu đáo, họ sẽ có nhận thức đúng đắn và giải quyết các quan hệ hôn nhân- gia đình hài hòa, tránh xảy ra đổ vỡ.

Về quan điểm và thái độ đối với tôn giáo, trong xã hội “không tưởng”, tôn giáo vẫn tồn tại, song đó là thứ tôn giáo được duy lý hóa. Trong các giáo lý và hoạt động tôn giáo không còn những cái gì trái với lý trí lành mạnh của con người, và làm tổn hại đến đời sống xã hội. Tôn giáo quan tâm đến đời sống đạo đức xã hội, đến các hoạt động từ thiện, mang tính nhân văn. Tômát Morơ đưa ra chủ trương “bầu cha cố”. Mọi hoạt động của giáo hội và các cha cố là hướng con người làm việc thiện, giúp con người có cuộc sống phù hợp với qui luật tự nhiên.

Về quan niệm đạo đức xã hội, Tômát Morơ cho rằng người có đức hạnh là người có cuộc sống phù hợp, tôn trọng qui luật tự nhiên và không làm gì tổn hại đến lợi ích xã hội và lợi ích của người khác. Ông nói con người có đạo đức phải “hướng tới cái lợi của mình trong chừng mực không được gây nên bất lợi cho người khác”. Ông cũng đề cập đến các vấn đề làm thế nào để cho bộ máy nhà nước trong sạch hơn, biện pháp chống hối lộ, dùng tiền để mua danh bán chức, vơ vét của công.

Quan điểm về vấn đề con người, trong xã hội “Không tưởng” theo Tômát Morơ, con người là giá trị cao nhất và không gì có thể so sánh được với sinh mạng con người. Xã hội tôn trọng, thương yêu mỗi con người cụ thể, trước hết là người lao động- người làm nên mọi của cải và giá trị xã hội. Xã hội phải bênh vực những con người nghèo khổ, bị áp bức. Tất cả mọi hoạt động của xã hội: lao động sản xuất, chính trị, văn hóa, giáo dục, hôn nhân, gia đình, tôn giáo... đều phải hướng tới mục tiêu làm cho con người sống hạnh phúc và sung sướng hơn. Sự quan tâm của xã hội tới con người phải thể hiện qua những việc làm cụ thể: bảo đảm thời gian ngủ, nghỉ, hoạt động văn hóa, tinh thần; phân phối sản phẩm công bằng; chăm lo giáo dục y tế...

Tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng

 


Tác phẩm “Không tưởng” của Tômát Morơ mở đầu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội không tưởng

Tômát Morơ (1478-1535) là đại biểu tiêu biểu đầu tiên của chủ nghĩa xã hội không tưởng. Tômát Morơ sinh năm 1478, trong một gia đình trí thức ở Anh, bố là luật sư, gia đình có 6 người, sống trong hoàn cảnh đầy đủ, hòa thuận, bình đẳng và được giáo dục chu đáo. Hồi nhỏ, ông đã được hưởng thụ sự giáo dục đầy đủ, chu đáo của gia đình và nhà trường; đặc biệt là ý thức tự học tập và rèn luyện. Vì vậy, khi đã trưởng thành, ông có trình độ học vấn sâu rộng nhiều lĩnh vực, nhất là về văn học. Ông là một nhà văn xuất sắc trong phong trào Phục Hưng ở Anh. Ông có một gia đình hạnh phúc, hòa thuận, mọi người hết sức thương yêu và quan tâm lẫn nhau.

Tômát Morơ bắt đầu tham gia hoạt động chính trị từ 1504. Nhờ tài năng và uy tín, đến 1529, ông trở thành Huân tước tể tướng: một chức vụ cao nhất của chính quyền (sau nhà vua). Là một nhà nhân đạo, có tình thương yêu con người, ông muốn bằng cương vị và uy tín của mình, đề xuất nhiều chủ trương cải cách xã hội theo hướng tiến bộ. Tuy nhiên, cũng chính vì vậy, ông đã mâu thuẫn với nhà vua. Các quan điểm tiến bộ, chủ trương chính sách ông đề xuất hoặc thực hiện bị triều đình qui vào tội “phản quốc”. Do có những hoạt động chống chính quyền, ông bị tước hết chức vụ, giam ngục tối và kết tội tử hình vào ngày 06/7/1535. Tômát Morơ là một nhà văn, nhà tư tưởng và nhà chính trị có nhiều quan điểm tiến bộ, nhân đạo, ông đã viết nhiều tác phẩm văn học có nội dung xã hội sâu sắc. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là cuốn “UTOPI”- Không tưởng.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong tác phẩm “Không tưởng”

Trước hết, trong tác phẩm Không tưởng, Tômát Morơ đã phê phán sâu sắc chế độ xã hội đương thời ở nước Anh và châu Âu. Lúc bấy giờ, các cuộc nổi dậy của quần chúng, nhất là của nông dân, bị nhà nước phong kiến chuyên chế tàn sát đẫm máu. Theo Tômát Morơ, cái nhà nước cai trị dân chúng chỉ là công cụ để bọn giàu có bảo vệ lợi ích và thỏa mãn ham muốn càng giàu có hơn của chúng. Giới quí tộc sinh sôi nảy nở, bợ đỡ, nịnh nọt nhà vua để cầu lợi cho mình, Tômát Morơ coi đây là cái tệ nạn cơ bản và đầu tiên tiêu biểu của xã hội đương thời. Đối lập với cuộc sống cùng cực, đói rách, lang thang của người dân là cuộc sống xa hoa, trụy lạc, phè phỡn của bọn vua chúa, quan lại, quí tộc. Xã hội hình thành hai cực đối lập, hai trạng thái tương phản nhưng gắn liền nhau giữa những kẻ giàu có tột đỉnh và những người dân nghèo đói tận cùng.

Tômát Morơ nguyền rủa tính tàn bạo, bất chấp đạo lý và lương tâm của bọn tư sản mới trong thời kỳ tích luỹ ban đầu của chủ nghĩa tư bản. Những hành động bạo lực trắng trợn, vô lý, những thủ đoạn tước đoạt thâm hiểm, tinh vi của bọn bóc lột đối với nông dân đã được Tômát Morơ phơi bày với thái độ căm phẫn, chua cay bằng hình tượng rùng rợn: “Cừu ăn thịt người”. Tômát Morơ viết rằng, những con cừu của các ngài thường ngày nó hiền lành, ăn rất ít... thế mà nghe nói chúng đã trở thành háu ăn và bất trị, đến mức ăn cả thịt người, làm cho ruộng vườn, nhà cửa và phố phường bị tàn phá tan hoang. Hình tượng “cừu ăn thịt người” sau này được C.Mác dùng lại khi phân tích quá trình tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản trong Bộ tư bản.

Tômát Morơ đã chỉ ra được nguyên nhân sâu xa của thực trạng bóc lột, tàn nhẫn và áp bức nặng nề của chế độ xã hội đương thời: đó là chế độ tư hữu. Theo Tômát Morơ, dưới chế độ tư hữu thì không thể có công bằng và bình đẳng xã hội. Do đó, cần xóa bỏ chế độ tư hữu - nguồn gốc của mọi bất công đó. Ông viết “Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng không thể phân phối mọi thứ ngang nhau và công bằng cũng như không thể quản lý công việc của mọi người một cách tốt nhất, có kết quả bằng cách nào khác ngoài việc hoàn toàn xóa bỏ tư hữu”. Tư tưởng phủ nhận chế độ tư hữu trong “Không tưởng” của Tômát Morơ là một tư tưởng độc đáo, sáng tạo và có tính cách mạng lúc bấy giờ, chứng minh cho tư tưởng cộng sản chủ nghĩa triệt để của ông, mặc dù “ông không có thày học và người tiền bối”1



1 V.P.Vônghim, Lược khảo tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước Mác, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979, tr.224.

Hoàn cảnh lịch sử thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại

 


Hy Lạp và La Mã cổ đại chính là vùng đất hội tụ các điều kiện làm nảy sinh những mầm mống tư tưởng có tính chất xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa từ rất sớm trên thế giới.

Sự chuyển biến chế độ công xã nguyên thuỷ sang chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại là một quá trình lâu dài, từ thế kỷ XI đến thế kỷ VIII trước công nguyên, đó là thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thủy. Trong xã hội bắt đầu có sự phân hóa kẻ giàu người nghèo và bắt đầu xuất hiện các nhân tố mầm mống của giai cấp và nhà nước. Chế độ nô lệ ở Hy Lạp cổ đại tuy ra đời muộn so với một số nước khác, song đã phát triển rất nhanh và mang tính chất điển hình của chế độ chiếm hữu nô lệ trên thế giới. Do bị áp bức tàn bạo, giai cấp nô lệ đã vùng dậy đấu tranh chống giai cấp chủ nô ngày càng quyết liệt.

La Mã cổ đại lúc đầu chủ yếu là vùng đất thuộc đất nước Italia ngày nay. Đó là vùng đất có nhiều thành bang, trong đó thành La Mã là trung tâm hồi bấy giờ, mà theo truyền thuyết đó là do Romoluytx lập ra. Chế độ chiếm hữu nô lệ ở La Mã cổ đại cũng tương tự như Hy Lạp cổ đại. Người nô lệ ở đây bị đối xử có phần còn tàn bạo hơn so với Hy Lạp cổ đại. Bọn chủ nô La Mã làm giàu rất nhanh chóng bằng các cuộc chiến tranh xâm lược và bằng thủ đoạn chiếm đoạt nô lệ, nô lệ bị trừng trị bằng nhiều hình phạt tàn ác và dã man.

Những người nô lệ ở La Mã cũng như ở Hy Lạp cổ đại đấu tranh bằng nhiều hình thức như huỷ hoại các công cụ sản xuất, cướp phá mùa màng, tài sản của quý tộc, chủ nô, bỏ trốn, bạo động có tổ chức, vũ trang khởi nghĩa... Chính những cuộc đấu tranh ấy là mảnh đất hiện thực làm nảy sinh những mầm mống tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoặc cộng sản chủ nghĩa ban đầu mộc mạc và đơn sơ.

Phương pháp nghiên cứu lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa

 


Phương pháp lôgic trong nghiên cứu môn Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi sự khái quát hóa cao các sự kiện, các quan niệm, quan điểm thành những luận điểm. Các luận điểm khái quát này phải bao quát được những vấn đề cụ thể trong tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở một giai đoạn lịch sử nhất định, thể hiện được những thuộc tính chung, đặc điểm chung của một khuynh hướng, trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa nào đó. Trên cơ sở đó, tìm ra và làm sáng tỏ tính quy luật của sự phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa, rút ra được những bài học kinh nghiệm, những kết luận đúng đắn. Phương pháp lôgic trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng đặt ra sự cần thiết phải sắp xếp các quan niệm phân tích theo một trật tự có cấu trúc chặt chẽ, hợp lý, khúc triết.

Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa là một bộ môn thuộc khoa học lịch sử tư tưởng, do đó, bên cạnh việc nắm vững phương pháp nghiên cứu lịch sử, cần thiết phải sử dụng phương pháp lôgic và kết hợp lịch sử- lôgic. Kết hợp lịch sử - lôgic phải được sử dụng nhuần nhuyễn trong nghiên cứu. Việc sử dụng phương pháp lịch sử - lôgic làm cho việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa vừa có tính lý luận, tính hệ thống cao; vừa phong phú, đa dạng, sinh động làm cho việc nghiên cứu đạt được chiều rộng và chiều sâu cần thiết.

Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu đa ngành, liên ngành khác: phân tích, tổng hợp, điều tra thu thập, xử lý tư liệu, tài liệu, thống kê, so sánh... làm cho việc nghiên cứu đạt được chất lượng và hiệu quả cao.