Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2025
VIỆT NAM - THẾ GIỚI: TÌNH CẢM CỦA THỤY ĐIỂN ĐỐI VỚI VIỆT NAM!
Thứ Năm, 12 tháng 6, 2025
GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG “CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN” NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG
Tác hại của chủ nghĩa cá nhân đối với năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng là rất lớn; việc nhận diện chủ nghĩa cá nhân cũng rất phức tạp và có nhiều khó khăn, gian khổ trong đấu tranh, vì đó là những hạn chế, khuyết điểm tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi người đảng viên và tổ chức đảng. Mặc dù “...việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần là một khó khăn, đau xót”[1], nhưng không phải vì thế mà chấp nhận sống chung, buông xuôi, không dám đấu tranh, ngược lại càng phải kiên quyết, kiên trì, bền bỉ, quyết liệt chống chủ nghĩa cá nhân trong mỗi cá nhân đảng viên và tổ chức đảng. Do vậy, để đấu tranh, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:
Vở bi hài kịch của những kẻ ngụy biện đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền”
Thay vì ăn năn, hối cải trước bản án của pháp luật để từ đó sửa chữa, cải tạo tốt, sớm trở về với cộng đồng thì một số đối tượng được các thế lực thù địch và tổ chức phản động lưu vong cổ suý, gắn mác “tù nhân lương tâm” tìm mọi cách chống phá đất nước bằng nhiều chiêu trò khác nhau, trong đó có màn kịch tuyệt thực.
Phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc về sửa đổi Hiến pháp hiện nay
Đẩy mạnh tổng kết, thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nhiều nghị quyết quan trọng khác của Đảng, vừa qua Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 ban hành kế hoạch, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp. Tuy nhiên lợi dụng vào việc này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lại tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc, cần cảnh giác, đấu tranh phản bác.
Giữ nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” trong tinh gọn bộ máy
Để thực hiện thành công cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị cần triển khai đồng bộ, hiệu quả nhiều việc, trong đó, một vấn đề đặc biệt quan trọng là công tác cán bộ.
Hiện tượng “chạy chức” và “chia phần”
Có dịp tiếp xúc, trò chuyện với một số cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan, đơn vị, địa phương thuộc diện phải sáp nhập, sắp xếp, tổ chức lại, chúng tôi cảm nhận được suy nghĩ, cách hành xử khác nhau của mỗi người. Phần nhiều cán bộ, công chức bày tỏ sự tin tưởng vào chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, coi việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị là tất yếu khách quan, từ đó luôn nỗ lực, quyết tâm làm việc và nghiêm chỉnh chấp hành sự phân công, sắp xếp của tổ chức. Một số nhận thấy trình độ, năng lực không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới hoặc phải làm việc xa gia đình, điều kiện hoàn cảnh khó khăn, hoặc tìm được cơ hội việc làm phù hợp bên ngoài... nên chủ động xin nghỉ hưu sớm và hài lòng với những chính sách hỗ trợ của Nhà nước.
Phê phán luận điệu xuyên tạc các nghị quyết “bộ tứ trụ cột”
Các Nghị quyết của Bộ Chính trị mới ban hành gồm: Nghị quyết 57; Nghị quyết 59; Nghị quyết 66 và Nghị quyết 68 được xem là “bộ tứ trụ cột” đang được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân triển khai trong thực tiễn. Dư luận đánh giá rất cao việc Đảng ban hành các nghị quyết này và kỳ vọng vào sự phát triển của đất nước. Dù vậy, vẫn có những tiếng nói thiếu hiểu biết, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta, phủ nhận những kết quả mà đất nước đã và đang đạt được.
Đấu tranh, phản bác những luận điệu bịa đặt, sai trái liên quan đến phát triển kinh tế tư nhân trên lĩnh vực biển, đảo trong giai đoạn hiện nay
Đất nước ta, với lợi thế địa lý sở hữu đường bờ biển dài, hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ và vị trí chiến lược trên Biển Đông, đứng trước những cơ hội to lớn để phát triển kinh tế biển, đồng thời cũng đối mặt với những thách thức không nhỏ trong việc bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia; Tiềm năng kinh tế biển vô cùng phong phú, bao gồm tài nguyên dầu khí, hải sản, du lịch biển, vận tải biển và hệ thống cảng biển hiện đại, mạng lưới giao thông đa phương thức kết nối ven biển với nội địa đã và đang tạo nên một hành lang kinh tế động lực, thúc đẩy giao thương và hội nhập quốc tế. Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ mục tiêu chiến lược: Đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn.
“CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN” VÀ SỰ SUY GIẢM NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu có ý nghĩa quan trọng đảm bảo cho tổ chức đảng lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, tiêu biểu. Tuy nhiên, hiện nay, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng đang có biểu hiện suy giảm. Sự suy giảm đó có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp đó là do chủ nghĩa cá nhân. Chính vì vậy, việc nhận thức đúng đắn về bản chất, tác hại để tăng cường đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa các nhân trong các tổ chức đảng là vấn đề có tính cấp thiết hiện nay, góp phần quan trọng đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng.
“CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN” VỚI NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu có ý nghĩa quan trọng đảm bảo cho tổ chức đảng lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, tiêu biểu. Tuy nhiên, hiện nay, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng có mối quan hệ với chủ nghĩa cá nhân..
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA TIKTOK TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Xuất hiện không lâu nhưng TikTok nhanh chóng trở thành ứng dụng có lượng người sử dụng nhiều nhất tại Việt Nam và trên thế giới, vì vậy, TikTok có những ảnh hưởng đến quyết định ứng xử của công chúng với sản phẩm của cơ quan báo chí bởi cách mà nền tảng này hướng tới. Sự phát triển theo cấp số nhân của TikTok đặt ra cho các cơ quan báo chí phải phát triển mạng xã hội TikTok như một kênh truyền thông nhằm tuyên truyền các thông tin về kinh tế, chính trị, xã hội. Đặc biệt, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phòng chống các quan điểm sai trái là vấn đề cấp thiết khi mạng xã hội này có sức ảnh hưởng ngày một lớn trên mọi bình diện với người dùng Việt Nam. Để làm được điều đó, điều kiện tiên quyết là nhận thức đúng đắn về bản chất của mạng xã hội TikTok, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao vai trò của TikTok trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thực hiện đồng bộ các giải pháp về nâng cao nhận thức trong việc sử dụng mạng xã hội của nhân dân.
VAI TRÒ CỦA TIKTOK TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Douyin (ứng dụng sáng tạo video ngắn) từng gây rúng động thị trường internet Trung Quốc với 100 triệu người dùng sau một năm ra mắt và thu hút 1 tỷ lượt xem video mỗi ngày. Sau một năm, Douyin bước ra thế giới với tên gọi là TikTok. TikTok nổi bật với các tính năng như hiệu ứng đặc biệt, âm nhạc đa dạng và các thử thách sáng tạo. Tuy nhiên, TikTok cũng phải đối mặt với nhiều thách thức về bảo mật và an toàn thông tin, cũng như những nội dung không phù hợp và gây tranh cãi. Với mục đích tiếp nối thành công của thương hiệu Douyin, TikTok tỏ ra buông lỏng khâu kiểm định, nhằm thu hút người dùng bằng sự dễ tiếp cận. Những yếu tố đó tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Một là, nội dung không được kiểm định trước khi đăng tải dẫn đến tình trạng xuất hiện nhiều video tuyên truyền về nhiều luồng tư tưởng, hệ giá trị khác nhau, gây ra sự dao động, hoài nghi trong một bộ phận dân chúng đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hai là, những lỗ hổng bảo mật nghiêm trọng trên TikTok cho phép tin tặc (hackers) lợi dụng để khai thác, đăng nhập trái phép vào tài khoản người dùng, lan truyền thông tin giả, đánh cắp danh tính, giả mạo nhân thân và đăng tải các nội dung không được pháp luật cho phép. Tuy nhiên, việc sở hữu một tài khoản TikTok đang trở thành trào lưu và xu hướng của công chúng, nhất là thế hệ trẻ. Trong vòng ba năm hoạt động (2017 - 2020), TikTok đã nhanh chóng trở thành một trong những ứng dụng video phổ biến nhất đối với thế hệ Millennials (những người sinh từ năm 1981 đến năm 1996) và Zoomers (những người sinh từ năm 1997 đến năm 2012). TikTok hiện diện ở hơn 150 thị trường và hỗ trợ 75 ngôn ngữ trên toàn thế giới, trở thành ứng dụng được tìm kiếm và tải xuống nhiều nhất vào tháng 01/2022. Người dùng TikTok chủ yếu là giới trẻ (độ tuổi từ 16 đến 24, chiếm 41% tổng số người dùng), trong đó 55,6% là nam và 44,4% là nữ. Có tới 90% truy cập ứng dụng hàng ngày, 68% xem video do người khác đăng tải và 55% đăng tải video của chính họ. Mỗi ngày, người dùng TikTok thường dành trung bình 52 phút để tạo hoặc xem video, với hơn 1 tỷ video được xem hàng ngày. TikTok đã giới thiệu nhiều tính năng mới như TikTok LIVE, TikTok for Business và TikTok Shopping, thu hút người dùng và hỗ trợ cả trong lĩnh vực kinh doanh. Xu hướng sử dụng TikTok để khám phá sản phẩm và mua sắm trực tuyến đồng thời cũng biến mạng xã hội này trở thành kênh quảng cáo quan trọng cho nhiều thương hiệu lớn.
Từ vị trí, vai trò của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa trong liên minh giai cấp.
.Trong chế độ tư bản chủ nghĩa,
giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chủ nghĩa
tư bản xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi
toàn thế giới. Trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ đó, đòi hỏi giai cấp
công nhân phải tập hợp và lôi kéo được nông dân, trí thức và các giai tầng khác
trong xã hội, tạo lực lượng hùng hậu nhằm xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Giai cấp nông dân là một lực
lượng xã hội đông đảo, có vai trò quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Trong xã hội cũ, họ bị bóc lột nặng nề, có nguyện vọng được giải phóng, song do
địa vị kinh tế - xã hội quy định, họ không thể tự giải phóng cho mình, mà phải
liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân, chịu sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân để giải phóng cho giai cấp mình và phát triển.
Trí thức có vai trò rất quan
trọng đối với sự phát triển xã hội. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, trí thức cũng
bị bóc lột và cũng có khát vọng được giải phóng, được cống hiến cho sự phát
triển xã hội. Nhưng do địa vị kinh tế - xã hội quy định, trí thức không thể tự
giải phóng cho mình, họ chỉ được giải phóng và phát huy vai trò của mình khi
liên minh với giai cấp công nhân và chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Đánh giá về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức, V.I.Lênin khẳng định: “Trước
sự liên minh của các đại biểu khoa học, giai cấp vô sản và giới kỹ thuật thì
không một thế lực đen tối nào đứng vững được”2.
Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
Liên minh
giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách
mạng xã hội chủ nghĩa là hình thức hợp tác đặc biệt giữa giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cuộc đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư
bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Liên minh giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
khác về bản chất so với các liên minh giai cấp từng có trong lịch sử. Nếu như
các hình thức liên minh khác là nhất thời, vụ lợi, không dựa trên sự thống nhất
về lợi ích. Trái lại, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức là hình thức liên minh tự nguyện. Bởi vì, trong xã hội tư
bản chủ nghĩa, họ đều bị bóc lột nặng nề và cùng có chung kẻ thù là giai cấp tư
sản; họ đều có chung khát vọng được giải phóng để trở thành người làm chủ xã
hội và được cống hiến, phát huy trí tuệ nhằm xây dựng một chế độ mới tự do,
bình đẳng, không có áp bức, bóc lột. Điều đó đã thôi thúc và gắn kết họ với
nhau, tự nguyện đứng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột và xây dựng xã hội mới
- xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa.
Liên minh giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là liên minh có nội dung toàn
diện, mang tính lâu dài, bền vững dựa trên sự thống nhất về lợi ích căn bản.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng có nội dung toàn diện trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, trong
cuộc đấu tranh ấy, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
cùng sát cánh bên nhau chiến đấu để giành thắng lợi cuối cùng. Mặt khác, do
được xây dựng trên cơ sở sự thống nhất về lợi ích căn bản, nên liên minh của họ
có nội dung toàn diện, mang tính tự giác, lâu dài, bền vững trong suốt tiến
trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, từ giai đoạn giành chính quyền, thiết lập
chuyên chính vô sản đến giai đoạn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã
hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Quản lý sự phát triển về xã hội của tập thể quân nhân
Mục đích quản lý sự phát triển về xã hội
của tập thể quân nhân là tạo ra những tập thể lao động quân sự thống nhất về ý
chí và hành động, có quan hệ xã hội, đạo đức lành mạnh, có tính tổ chức kỷ luật,
hiệp đồng lập công tập thể.
Nhiệm vụ quản lý sự phát triển về xã hội
của tập thể quân nhân là sắp xếp, bố trí công việc từng người quân nhân phải đạt
được các yêu cầu: một là, hiệu quả tối ưu; hai là, tạo điều kiện cho cá nhân
phát triển toàn diện, đúng khả năng, sở trường của từng người theo phương châm
“dụng nhân như dụng mộc”, “vì việc xếp người, chứ không phải vì người xếp việc”.
Tổ chức và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong tập thể quân nhân và giữa
các tập thể quân nhân theo hướng đoàn kết, thống nhất, tương trợ lẫn nhau, dân
chủ, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, giải quyết hài hòa các lợi ích. Trong
tập thể quân nhân có quan hệ chính thức và quan hệ không chính thức, đòi hỏi phải
phát hiện kịp thời, giải quyết dứt điểm các quan hệ tiêu cực, thiếu lành mạnh.
Xây dựng môi trường văn hóa chính trị - xã hội, xây dựng bầu không khí tâm lý
lành mạnh trong tập thể quân nhân, tạo ra trạng thái tâm lý thoải mái, tin tưởng,
đòi hỏi lẫn nhau, dân chủ, cởi mở, tự do tư tưởng trên tinh thần đoàn kết, nhân
ái và xây dựng.
Yêu cầu quản lý sự phát triển về xã hội
của tập thể quân nhân cần tạo được lòng tin giữa các thế hệ, các lứa tuổi, đồng
chí, đồng đội với nhau. Mọi quân nhân được thông tin đầy đủ, chính xác, định hướng
tư tưởng kịp thời, đúng hướng, hướng dẫn dư luận. Bảo đảm quyền lợi, chế độ
công khai, công bằng theo tinh thần “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”[1], phê phán chủ nghĩa cá nhân,
ích kỷ, hẹp hòi, cục bộ địa phương trong công tác sắp xếp, bố trí, đề bạt, bổ
nhiệm cán bộ.
Nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý xã hội
Quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là sự
nghiệp của toàn dân và toàn xã hội. Sự tham gia của nhân dân vào quyền lực
chính trị là một đặc trưng của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, khẳng định vai
trò quan trọng của nhân dân trong quản lý nhà nước, đồng thời, xác định rõ những
nhiệm vụ mà nhà nước thực hiện trong việc bảo đảm những điều kiện cơ bản để
nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Do vậy, việc mở rộng và thu
hút nhân dân tích cực tham gia vào quản lý xã hội, qua đó, tăng cường sự kiểm
soát của xã hội đối với những cơ quan quản lý của nhà nước là con đường đáng
tin cậy nhất nhằm khắc phục bệnh quan liêu - một biểu hiện của sự xa cách giữa khách thể và chủ thể quản lý: “Cần xây dựng ngay chế độ dân
chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham
gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước, không có “sự giám
sát” từ trên, không có quan lại”[1].
Nội dung nguyên tắc nhân dân tham gia
quản lý xã hội thông qua hình thức tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà
nước, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện ở việc trực tiếp
làm việc trong các cơ quan của bộ máy nhà nước; thảo luận các vấn đề chung của
đất nước và địa phương; giám sát hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước,
cán bộ, công chức nhà nước; trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân
trong quản lý nhà nước. Ngoài ra, nhân dân có thể tham gia gián tiếp vào hoạt động
của các cơ quan nhà nước thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu
xứng đáng, thay mặt nhân dân vào cơ quan quyền lực nhà nước. Đây là hình thức tham gia rộng rãi nhất của nhân dân vào
hoạt động quản lý nhà nước về xã hội.
Nhân dân tham gia vào quản lý xã hội
thể hiện chủ yếu thông qua các tổ chức xã hội, biểu hiện ở việc nhà nước tạo điều
kiện thuận lợi để nhân dân tham gia tích cực vào hoạt động của các tổ chức xã hội.
Các tổ chức xã hội là công cụ đắc lực của
nhân dân trong việc thực hiện quyền tham gia vào quản lý xã hội. Thông qua các
hoạt động của các tổ chức xã hội, vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân
dân trong quản lý xã hội được phát huy. Đây là một hình thức hoạt động có ý
nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm dân chủ và mở rộng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa. Nguyên tắc
nhân dân tham gia quản lý xã hội còn được thể hiện ở việc tham gia trực tiếp
vào hoạt động tự quản ở cơ sở. Đây là hoạt động mang tính chất tự quản cao, do
chính nhân dân tự thực hiện ở nơi cư trú, làm việc, sinh hoạt như hoạt động bảo
vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường,... Thông qua những hoạt động mang tính chất tự quản cao, người dân là những
chủ thể tham gia quản lý xã hội tích cực nhất, và quyền tham gia quản lý nhà
nước, quản lý xã hội được nhà nước tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Các hình
thức nhân dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội tạo điều kiện phát huy sức
lực, trí tuệ của nhân dân trong quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa.
Không ngừng nâng cao quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa
Quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là tổng
thể những hoạt động có mục đích của nhà nước xã hội chủ nghĩa, các cộng đồng, tổ
chức xã hội và nhân dân dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản tác động đến toàn bộ
hệ thống xã hội hoặc đến từng lĩnh vực, từng khâu của hệ thống đó nhằm giải quyết
các vấn đề xã hội, duy trì và phát triển xã hội theo mục tiêu của chủ nghĩa xã
hội.
Quản lý xã hội là vấn đề có tính quy luật của cách
mạng xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ chính trị trung tâm, chủ yếu của đảng cộng sản
và nhà nước xã hội chủ nghĩa sau khi giành được chính quyền và trong suốt thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực chất của quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là
những hoạt động tác động có ý thức, có mục đích của đảng cộng sản, nhà nước xã
hội chủ nghĩa, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đến toàn bộ các quá
trình xã hội, bảo đảm cho hệ thống xã hội hoạt động tối ưu, phát triển theo
đúng quy luật khách quan và những tiêu chí phát triển đã xác định trong xây
dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Mục đích quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa
nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực trong nước và ngoài nước phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc
xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ chủ yếu của quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là làm
cho hoạt động của nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các quan hệ giữa
con người với con người trong xã hội,... phù hợp yêu cầu quy luật khách quan; sử
dụng những điều kiện khách quan để điều chỉnh xã hội, kiểm soát xã hội và giải
quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển nhằm đạt hiệu quả tối
ưu. Trong đó, thống kê và kiểm soát xã hội
là nhiệm vụ cơ bản, mấu chốt nhất của nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. V.I.Lênin đã khẳng định: thống kê và kiểm soát xã hội, nó làm cho
“hết thảy mọi công dân đều biến thành người làm công của nhà nước do công nhân
vũ trang cấu thành. Hết thảy mọi công dân đều trở thành nhân viên và công nhân
của một “Xanh-đi-ca” nhà nước duy nhất của toàn dân. Tất cả vấn đề là làm cho họ
cùng có những cống hiến ngang nhau, giữ đúng mức độ lao động và lĩnh tiền ngang
nhau”[1].
Chủ thể quản lý xã hội xã hội chủ
nghĩa là hệ thống chính trị, trọng tâm là nhà nước và nhân dân dưới sự lãnh đạo
của đảng cộng sản. Đảng cộng sản lãnh đạo, quản lý xã hội bằng đường lối, chính
sách, thông qua nhà nước và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa do mình sáng lập.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là cơ quan quyền lực chính trị, có vai trò là chủ thể
quan trọng nhất thực hiện quản lý nhà nước về mặt xã hội; thông qua những quy định,
luật lệ làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội, nhằm duy trì, quản lý, xây dựng xã hội mới. Các tổ chức chính trị - xã hội
với tư cách là những tổ chức do nhân dân lập nên và là một trong những bộ phận
cấu thành hệ thống chính trị, có vai trò tổ chức và huy động mọi nguồn lực của
nhân dân thực hiện chức năng quản lý xã hội theo quy định của pháp luật.
Đối tượng quản lý xã hội xã hội chủ
nghĩa là con người, các hoạt động và các quan hệ của cộng đồng người trong xã hội
trên tất cả các lĩnh vực, các quá trình xã hội cùng các nguồn tài nguyên khác của
đất nước. Cơ chế quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là đảng lãnh đạo, nhà nước quản
lý, nhân dân lao động làm chủ, bảo đảm mọi quyền lực xã hội thuộc về nhân dân,
dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp
trí thức. Phạm vi quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa toàn diện trên tất cả các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc
phòng, an ninh, đối ngoại, tư tưởng và các quan hệ giữa con người với con người
trong xã hội. Loại
hình quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa bao gồm quản lý nhà nước, quản lý hành
chính công, quản lý kinh tế, quản lý ngành,... Phương tiện quản lý xã hội xã hội
chủ nghĩa là đường lối, chủ trương, chính sách; hiến pháp, pháp luật; các đòn bẩy
tín dụng, ngân hàng, khen thưởng; dư luận xã hội; đạo đức xã hội;…
Mở rộng và hoàn thiện các hình thức dân chủ trong tình hình hiện nay
Đảng ta khẳng định: Tiếp tục phát huy tốt hơn
và nhiều hơn quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ đại diện và
dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ nhà nước, nhất là
việc giám sát, kiểm tra của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan và cán bộ,
công chức nhà nước.
Dân chủ đại diện là hình thức nhân dân tham
gia quản lý nhà nước thông qua các đại diện được bầu cử; thay mặt cho cử tri
trong việc thực hiện các chức năng hoạch định chính sách, quản lý nhà nước và
xã hội. Dân chủ đại diện ở Việt Nam được thực hiện thông qua Quốc hội và Hội
đồng nhân dân các cấp. Ngoài ra, nhân dân còn làm chủ thông qua các tổ chức
chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp của nhân dân được lập nên theo nguyên
tắc tự nguyện. Để nâng cao chất lượng hình thức dân chủ đại diện cần nâng
cao chất lượng hiệu quả hoạt động của các cơ quan đại diện như Quốc hội, Hội
đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các cấp, các tổ chức chính trị xã hội và người
đại biểu. Vì vậy, không ngừng đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động,
chất lượng sinh hoạt của các tổ chức đó theo hướng mở rộng dân chủ; qui chế,
điều kiện thuận lợi để các đại biểu phản ảnh ý kiến nhân dân. Đồng thời, các
đại biểu và tổ chức đó phải thật sự có năng lực, tâm huyết, trách nhiệm, có
phẩm chất đạo đức tác phong công tác gần dân, trọng dân, hiểu dân. Điều đó có ý
nghĩa to lớn đối với việc thực hiện ý chí, quyền lực nhân dân, phát huy quyền
dân chủ của nhân dân.
Dân chủ trực tiếp là hình thức mà qua đó nhân
dân bằng hành vi của mình trực tiếp thực hiện quyền làm chủ nhà nước và xã hội.
Những hình thức dân chủ trực tiếp phổ biến nhất gồm: nhân dân tham gia thành
lập bộ máy nhà nước thông qua bầu cử và ứng cử; biểu quyết khi nhà nước trưng
cầu ý kiến; tham gia quản lý nhà nước; bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội
đồng nhân dân; giám sát hoạt động của nhà nước, cơ quan nhà nước, cán bộ, công
chức nhà nước. Việc thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp phụ thuộc rất lớn vào
trình độ dân trí, ý thức và năng lực thực thi dân chủ của người dân như phải
hiểu biết đường lối, chính sách, pháp luật, các quy chế, cơ chế, các chế độ quy
định, điều lệ của các tổ chức. Đồng thời đòi hỏi phải tạo ra môi trường dân chủ
rộng rãi, thuận lợi, không ngừng đổi mới hoàn thiện các quy chế dân chủ nhất là
ở cơ sở để người dân có thể thực hiện có hiệu quả quyền dân chủ của họ.
Bản chất, đặc điểm hệ thống chính trị ở Việt Nam
Bản chất của hệ thống chính trị ở Việt Nam là
hệ thống chuyên chính vô sản, nòng cốt là nhà nước xã hội chủ nghĩa. Thông qua
Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo toàn xã hội để nhân dân
phát huy và thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mình. Hay nói cách khác, bản
chất của hệ thống chính trị nước ta chính là bản chất của nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa. Bản chất đó được hình thành từ những cơ sở kinh tế, chính trị, xã
hội khách quan là chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu, nhân dân là
người làm chủ thông qua nhà nước xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng
nhằm xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, con người được phát triển
toàn diện.
Do điều kiện lịch sử ra đời, tồn tại và phát
triển của mình, hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay có một số đặc điểm sau đây:
Nền tảng tư tưởng của hệ
thống chính trị nước ta là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự thống nhất giữa bản chất cách mạng và khoa học trong
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành thuộc tính nội tại và trở
thành đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị nước ta. Đồng thời nó quy định sự
thống nhất giữa tính cách mạng và tính
khoa học trong tổ chức và vận hành của hệ thống chính trị nước ta hiện
nay.
Hệ thống chính trị là hệ
thống chính trị nhất nguyên, đặt dưới sự lãnh đạo chính trị duy nhất của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Trong điều kiện cụ thể ở
nước ta, trải qua các giai đoạn cách mạng đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam
là đảng chính trị duy nhất có khả năng tập hợp được đông đảo quần chúng lao
động để thực hiện lý tưởng mà Đảng đề xướng và được nhân dân tiếp nhận như là
sự lựa chọn của chính mình. Hiện nay, quá trình đổi mới phát triển đất nước,
tuy cơ cấu xã hội - giai cấp có đa dạng hơn, sự phân cực xã hội có rõ hơn ...,
nhưng những thành quả của đổi mới đã cho tất cả những người lao động thấy rằng
chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thì mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh” mới có thể đạt được. Đó là cơ sở vững chắc bảo đảm
tính nhất nguyên của hệ thống chính trị nước ta.
Hệ thống chính trị ở nước
ta được tổ chức chặt chẽ theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Hệ thống chính trị nước ta được tổ chức chặt chẽ từ Trung
ương đến các địa phương theo nguyên tắc tập trung dân chủ và có sự phân cấp
nhất định. Nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ bản bảo đảm cho hệ thống
chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành động, nhằm phát huy tính
đồng bộ sức mạnh của toàn hệ thống trong sự kết hợp chặt chẽ sức mạnh của từng
yếu tố cấu thành hệ thống từ cấp Trung ương đến cấp địa phương thuộc mọi cấp độ
tồn tại của hệ thống chính trị.
Hệ thống chính trị ở Việt Nam có sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi. Hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; Hiến pháp và pháp luật do Nhà nước trong hệ thống đó đưa ra là sự thể chế hóa đường lối chính trị của Đảng, mọi chính sách đều quán triệt quan điểm giai cấp công nhân và nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Tính nhân dân của hệ thống chính trị ở nước ta biểu hiện: Nhà nước ấy do nhân dân lập ra thông qua tổng tuyển cử tự do, nó là cơ chế bảo đảm quyền lực của nhân dân, sức mạnh của hệ thống ấy bắt nguồn từ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, mọi chủ trương mà hệ thống đó đưa ra là thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, vì nhân dân. Tính dân tộc của hệ thống chính trị ở nước ta biểu hiện ở chỗ: nó ra đời từ cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài nhằm giải phóng dân tộc; ở mọi giai đoạn cách mạng từ khi chính quyền thuộc về tay nhân dân, hệ thống ấy luôn xem việc tổ chức và động viên cả dân tộc nhằm bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc gắn liền với sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là hoạt động cơ bản trong toàn bộ hoạt động của mình.
Sự ra đời, phát triển của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa
Chế độ dân chủ xã hội
chủ nghĩa là toàn bộ những thể chế,
thiết chế, cơ chế chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa, thể hiện và bảo đảm
quyền lực thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa được phôi thai từ thực
tiễn đấu tranh giai cấp ở Pháp là Công xã Paris (1871), tuy nhiên, chỉ đến khi
Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, với sự ra đời của nhà nước xã hội chủ
nghĩa đầu tiên trên thế giới, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa mới được xác lập,
đánh dấu bước phát triển mới về chất của dân chủ. Quá trình phát triển của chế
độ dân chủ xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện,
có sự kế thừa giá trị của các chế độ dân chủ trước đó, và bổ sung, làm sâu sắc
thêm những giá trị của chế độ dân chủ mới. Nguyên tắc cơ bản của
chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ
giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc
quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Càng hoàn thiện bao nhiêu, chế độ dân chủ xã
hội chủ nghĩa lại càng tự tiêu vong bấy nhiêu. Thực chất của sự tiêu vong này
theo V.I.Lênin, đó là tính chính trị của dân chủ sẽ mất đi trên cơ sở không
ngừng mở rộng dân chủ đối với nhân dân, xác lập địa vị chủ thể quyền lực của
nhân dân, tạo điều kiện cho họ tham gia ngày càng đông đảo và ngày càng có ý
nghĩa quyết định vào sự quản lý nhà nước, quản lý xã hội (xã hội tự quản). Quá
trình đó làm cho dân chủ trở thành một thói quen, một tập quán trong sinh hoạt
xã hội để đến lúc nó không còn tồn tại như một thể chế nhà nước, một chế độ,
tức là mất đi tính chính trị của nó. Tuy nhiên, theo chủ nghĩa Mác - Lênin, đây
là quá trình lâu dài, khi xã hội đạt đến trình độ phát triển rất cao, xã hội
không còn sự phân chia giai cấp, đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa đạt tới mức độ
hoàn thiện, khi đó dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là một chế độ nhà nước
cũng tiêu vong, không còn nữa.
Các tổ chức chính trị - xã hội.
Các tổ chức chính
trị - xã hội là nơi tập hợp quần chúng, phản ánh ý chí, nguyện vọng và lợi ích
của các tầng lớp nhân dân. Các tổ chức chính trị - xã hội là bộ phận
không tách rời của hệ thống chính trị và là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân, một trong những công cụ bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Những tổ chức này có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết dân
tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa; đại diện, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội
viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng đảng,
nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân,
tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với đảng, nhà nước, góp phần thực hiện và
thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế đảng lãnh đạo,
nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm
chủ.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là trụ cột của hệ
thống chính trị xã hội chủ nghĩa, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí, quyền lực
của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý
toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Nhà nước là phương tiện quan trọng nhất
của nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Trên cơ sở đường lối quan điểm
của Đảng, Nhà nước thể chế hoá thành Hiến pháp, pháp luật và các quy định pháp
luật khác để quản lý xã hội. Hoạt động của nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng nhưng có tính độc lập tương đối, với các công cụ và phương thức quản lý
riêng. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, được tổ chức và thực hiện theo
nguyên tắc: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm
soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp.
Đảng Cộng sản vừa là thành tố, vừa là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
Đảng Cộng sản vừa là thành tố, vừa là lực
lượng lãnh đạo hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Mục đích của Đảng Cộng sản
là xây dựng một xã hội độc lập, dân chủ, công bằng, không còn người bóc
lột người, thực hiện
thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Đảng
Cộng sản là đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng
cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng
công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và
bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền, do đó
giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị và trong xã hội: Đảng không chỉ
là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị mà còn là lực lượng lãnh đạo
toàn hệ thống chính trị và lãnh đạo toàn bộ xã hội. Đảng gắn bó mật thiết với
nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát
của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.
Đặc điểm hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
Hệ thống
chính trị xã hội chủ nghĩa ra
đời, tồn tại, phát triển gắn với sự ra đời, phát trỉển của nhà nước xã hội chủ
nghĩa.
Ở các nước đi theo con đường
xã hội chủ nghĩa, đảng cầm quyền với nhiều tên gọi khác nhau (như đảng cộng
sản, đảng lao động, đảng nhân dân cách mạng) ra đời trong phong trào cách mạng
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã tập hợp và lãnh đạo quần chúng
nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội nhằm xoá bỏ nhà nước cũ (nhà nước
phong kiến nhà nước tư sản) và thiết lập nhà nước mới - nhà nước xã hội chủ
nghĩa. Kể từ khi nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời thì hệ thống chính trị xã hội
chủ nghĩa cũng được hình thành, trong đó bao gồm nhà nước, đảng cầm quyền và
các tổ chức chính trị - xã hội khác, nó tồn tại và phát triển cùng với sự tồn
tại và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Như vậy, hệ thống chính trị xã
hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới được thiết lập gắn liền với sự ra đời của
nhà nước Nga xô viết sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917.
Các tổ chức thành viên hệ
thống chính trị đều là những tố chức hợp pháp, được tổ chức và hoạt động trong
khuôn khổ pháp luật; có sự phân định rõ ràng về nhiệm vụ cơ bản nhằm thực thi
quyền lực nhân dân trong xã hội. Sự
tồn tại, hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
đều được quy định chặt chẽ trong hiến pháp và các đạo luật. Trong hệ thống
chính trị xã hội chủ nghĩa, đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo nhà nước và các tổ
chức chính trị xã hội bằng các phương thức khác nhau; nhà nước xã hội chủ nghĩa
quản lí tập trung, thống nhất xã hội theo chủ trương, đường lối, chính sách của
đảng cộng sản và trên cơ sở hiến pháp, pháp luật; các tổ chức chính trị xã hội
tham gia quản lí nhà nước, quản lí xã hội theo hiến pháp, pháp luật.
Hệ thống
chính trị xã hội chủ nghĩa mang bản chất dân chủ, gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra,
giám sát của nhân dân. Đây là đặc
điểm có tính nguyên tắc của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Đặc điểm này
khẳng định hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa không chỉ gắn với chính trị,
quyền lực chính trị, mà còn gắn với xã hội. Trong hệ thống chính trị xã hội chủ
nghĩa, có các tồ chức chính trị (như Đảng, Nhà nước), các tổ chức vừa có tính
chính trị, vừa có tính xã hội (các tổ chức chính trị - xã
hội). Do vậy, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa không đứng trên xã hội, tách
khỏi đời sống xã hội (như những lực lượng chính trị áp bức xã hội trong các xã
hội có bóc lột), mà là một bộ phận của xã hội, gắn bó chặt chẽ với xã hội. Cầu
nối quan trọng giữa hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa với xã hội chính là các
tổ chức chính trị - xã hội.
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội có mối
quan hệ với nhau, vận hành theo một cơ chế chính trị nhất định, bảo đảm cho
việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền trong quan hệ với các
giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội khác. Hệ
thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, nhà nước và thực
hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó hệ thống chính trị mang
bản chất giai cấp của giai cấp cầm quyền. Hệ thống chính trị gồm hai bộ phận cơ
bản. Thứ nhất, là các tổ chức chính trị xã hội bao gồm các đảng phái chính trị,
nhà nước; các tổ chức chính trị khác; Các tổ chức chính trị- xã hội được thừa
nhận và liên kết trong một chỉnh thể. Thứ
hai, là cơ chế chính trị bảo đảm cho sự vận hành của hệ thống chính trị,
xác định vị trí và mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống chính trị, giữa
toàn bộ hệ thống chính trị và của mỗi thành tố hệ thống chính trị đối với xã
hội. Việc hình thành và hoạt động của các thành tố trong hệ thống chính trị
được quy định và chi phối bởi hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền, quan điểm của
các đảng phái chính trị, các chuẩn mực và truyền thống chính trị, cũng như hiện
thực đời sống chính trị trong điều kiện lịch sử xác định. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thể, bao gồm toàn bộ
những tổ chức chính trị - xã hội hoạt động hợp pháp, cùng với những cơ chế
chính trị bảo đảm thực hiện quyền lực xã hội thuộc về nhân dân nhằm xây dựng và
bảo vệ vững chắc tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hệ
thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thể các tổ chức chính trị- xã hội
bao gồm: Đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa và các tổ chức chính trị- xã
hội khác (Mặt trận, Công đoàn, Phụ nữ, Thanh niên...) hoạt động hợp pháp, với
những cơ chế chính trị thích hợp bảo đảm vị trí, vai trò của các tổ chức chính
trị - xã hội đó và giải quyết các mối quan hệ giữa các thành tố đó với nhau, và
của cả hệ thống chính trị với xã hội, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đồng nhất với
hệ thống chuyên chính vô sản, đó là hệ thống chính trị nhất nguyên do Đảng cộng
sản lãnh đạo, vận hành theo cơ chế: Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân
lao động làm chủ. Cơ chế này xác định và bảo đảm cho vị trí, vai trò và mối
quan hệ của các thành tố trong hệ thống chính trị, bảo đảm quyền lực thuộc về
nhân dân. V.I.Lênin khẳng định: “Không có một đảng sắt thép được tôi luyện
trong đấu tranh, không có một đảng được sự tín nhiệm của tất cả những phần tử
trung thực trong giai cấp, không có một đảng biết nhận xét tâm trạng của quần
chúng và biết tác động vào tâm trạng đó thì không thể tiến hành thắng lợi cuộc
đấu tranh ấy được”1. Do đó, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của đảng
Mác - Lênin đối với hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa và toàn xã hội là
nguyên tắc tối cao, là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển chế độ
dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa có chức năng
cơ bản là xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền
lực thuộc về nhân dân. Mỗi thành tố cấu thành hệ thống chính trị, tuỳ theo đặc
điểm, tính chất, nhiệm vụ của mình có chức năng xác định. Trong đó, Đảng cộng
sản vừa là hạt nhân lãnh đạo, vừa là một thành tố của hệ thống chính trị, là
thành viên của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng cộng sản đại biểu cho ý chí
và lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc, liên hệ mật
thiết với nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật xã hội chủ
nghĩa.
Trách nhiệm Quân đội nhân dân Việt Nam trong xu thế phát triển của thời đại ngày nay
Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, là lực
lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Việc nắm vững những vấn
đề lý luận về thời đại góp phần làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ cơ sở
khoa học tất yếu của sự lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta. Đi lên chủ nghĩa xã hội là lựa
chọn hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế tất yếu của lịch sử. Mặc dù, trong
những giai đoạn khác nhau của thời đại, cuộc đấu tranh cách mạng không tránh
khỏi những khó khăn, thử thách, nhưng nếu có nhận thức lý luận vững vàng về thời đại, chúng ta sẽ không nao núng, luôn giữ
vững được niềm tin cách mạng.
Nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong Quân đội phải ra sức học tập, rèn
luyện nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, bản chất giai cấp công nhân; hiểu biết sâu
sắc về thời đại hiện nay, nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, lý luận về
thời đại, không ngừng xây dựng niềm tin, bản lĩnh, ý chí cách mạng. Bên cạnh
đó, phải không ngừng trau dồi tri thức lý luận, rèn luyện bản lĩnh cách mạng,
tham gia đấu tranh có hiệu quả chống lại các quan điểm phản động, sai trái liên
quan đến vấn đề thời đại, góp phần bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của
Đảng, củng cố sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.
Xu thế các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt.
Mặc dù giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội còn mâu thuẫn và đối
lập nhau về lợi ích, ý thức hệ nhưng sự hợp tác và đấu tranh đã trở thành xu
thế vận động tất yếu của thế giới hiện nay. Bởi vì các nước xã hội chủ nghĩa có
nền kinh tế phát triển thấp, khoa học và công nghệ chưa phát triển, cần tranh
thủ công nghệ của các nước tư bản phát triển để nâng cao đời sống, tăng cường
năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập. Còn các các nước tư bản chủ nghĩa
với mục đích thu lợi nhuận đòi hỏi phải mở rộng đầu tư, giao lưu, hợp tác, kể
cả với các nước xã hội chủ nghĩa.
Đấu tranh và hợp tác cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ
chính trị- xã hội khác nhau là nguyên tắc, phương pháp xử lý quan hệ quốc tế
hiện nay. Khi nhu cầu hội nhập ngày càng gia tăng, thì môi trường hoà bình, ổn
định là điều kiện để hội nhập tốt hơn, hiệu quả hơn. Trước bối cảnh cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại, xu hướng toàn cầu hoá và những vấn đề mang
tính toàn cầu, các quốc gia dân tộc không thể tự mình độc lập giải quyết mọi
vấn đề, buộc phải có sự hợp tác, liên kết. Hơn nữa, xu thế hòa bình giúp cho
các nước liên kết, hợp tác sâu rộng trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn
hoá, với hình thức hợp tác từ song phương đến đa phương, từ khu vực đến quốc
tế.
Dù không đồng đều, song sự hợp tác liên kết giữa các nước có chế độ
chính trị khác nhau đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho các bên. Tuy nhiên,
do bản chất chế độ và lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc, giai cấp, lực lượng
khác nhau nên sự hợp tác, liên kết đó chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Cội nguồn của
những mâu thuẫn là vấn đề lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế. Các bên tham gia
hợp tác, liên kết đều muốn lợi nhiều. Nhưng nhiều khi lợi cho đối tượng này lại
có thể gây tổn hại cho đối tượng khác. Vì thế, quá trình hợp tác, liên kết cũng
là nơi diễn ra cuộc đấu tranh giữa các lợi ích, mà chủ thể của các lợi ích này
là các tập đoàn kinh tế, các giai cấp, dân tộc, quốc gia và liên quốc gia.
Xu thế các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, tiến bộ kiên trì đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Phong trào cộng sản quốc tế có những dấu hiệu phục hồi rõ nét và vẫn là
một lực lượng chính trị to lớn trong thời đại ngày nay. Các đảng cộng sản cầm
quyền đã vượt qua được những thử thách khắc nghiệt nhất, tiếp tục lãnh đạo xây
dựng chủ nghĩa xã hội trong cải cách và đổi mới. Các đảng cộng sản chưa cầm
quyền có những điều chỉnh đường lối chiến lược và sách lược, đấu tranh bằng
nhiều hình thức đa dạng, đổi mới tập hợp lực lượng, cải thiện vai trò, vị trí
trong đời sống chính trị đất nước.
Sự củng cố, lớn mạnh của các đảng cộng sản cầm quyền và sự phục hồi nhất định của các đảng cộng sản ở các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển, đặc biệt là sự phát triển của trào lưu cánh tả Mỹ Latinh đang mở ra triển vọng mới cho phong trào cộng sản, công nhân quốc tế trong thế kỷ XXI. Mặc dù chủ nghĩa xã hội đang gặp khó khăn rất lớn do sự chống phá của các thế lực thù địch, nhưng các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân quốc tế vẫn là lực lượng đi đầu, là nòng cốt trong cuộc đấu tranh chống lại những thế lực gây chiến, bảo vệ hòa bình thế giới cũng như sự phát triển và tiến bộ của nhân loại.
Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường.
Đối với các nước đang phát triển, do sự phụ thuộc vào các nước tư bản
phát triển về khoa học, công nghệ và vốn, nên họ đang đứng trước những thách
thức lớn. Việc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đấu tranh
chống sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bối
cảnh quốc tế hiện nay. Cùng với việc khắc phục khó khăn để phát triển kinh tế -
xã hội, nhiều nước đang cố gắng giữ ổn định về chính trị, tạo môi trường hoà
bình, thực hiện chính sách hoà giải, hoà hợp dân tộc, chủ động hội nhập quốc
tế, góp phần xây dựng một trật tự kinh tế quốc tế công bằng, bình đẳng và hợp
lý.
Các dân tộc ngày càng hiểu rõ giá trị của độc lập, tự chủ, tự cường.
Bài học thực tiễn sâu sắc là mất độc lập, tự chủ, đất nước thường rơi vào cảnh
đói nghèo, bất công, vị thế trên trường quốc tế giảm sút. Đồng thời, những tấm
gương về một dân tộc nhỏ bé đã chủ động, sáng tạo đấu tranh giành độc lập, tự
chủ và phát triển đang cổ vũ cho các dân tộc khác noi theo. Hiện nay, các dân
tộc đang tích cực đấu tranh đòi độc lập, tự chủ chống lại mưu đồ áp bức, bóc
lột của chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Tuy gặp nhiều khó khăn, song các nước khác
vẫn quyết tâm chống lại các hình thức can thiệp, áp đặt của các nước tư bản,
đòi thiết lập trật tự thế giới mới công bằng, bình đẳng, giữ gìn độc lập tự
chủ.
Vai trò, trách nhiệm Quân đội nhân dân Việt Nam vể công tác tôn giáo
Quán triệt sâu sắc
quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và tôn giáo, quan điểm chính sách dân tộc, tôn
giáo của Đảng và Nhà nước, nội dung công tác dân tộc, tôn giáo của quân đội. Nắm
chắc tình hình ở đơn vị và địa bàn. Tích cực tuyên truyền về chính sách đại
đoàn kết dât tộc, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo với nhau. Tăng cường
công tác dân vận, nhất là dân vận vùng tôn giáo.
Thực hiện tốt
chính sách dân tộc, tôn giáo đối với quân nhân có đạo và người đồng bào dân tộc.
Tích cực giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng quân nhân có đạo và dân tộc ít người trở
thành quân nhân tốt, cán bộ, đảng viên phục vụ quân đội và địa phương sau khi
giải ngũ. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các hiện tượng mê tín dị đoan, vi phạm
chính sách dân tộc, tôn giáo trong đơn vị. Phối hợp cùng chính quyền, đoàn thể
làm tốt công tác vận động nhân dân nâng cao cảnh giác cách mạng để vô hiệu hoá
mọi sự lợi dụng tôn giáo của kẻ thù. Tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại mọi
âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng của
các thế lực thù địch.
Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay.
Thực hiện quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trên cơ sở
pháp luật. Chăm lo đời sống vật chất, tinh
thần của đồng bào, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đảm bảo cho đồng
bào có cuộc sống sống “tốt đời, đẹp đạo”. Hướng dẫn các chức sắc tôn
giáo, giáo hội hoạt động theo đúng pháp luật, ủng hộ các xu hướng tiến bộ trong
các tôn giáo, làm cho giáo hội ngày càng gắn bó với dân tộc và sự nghiệp cách mạng
của toàn dân, thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của tôn giáo ở một quốc gia độc
lập.
Luôn luôn cảnh
giác, kịp thời chống lại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng
các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân,
chống chủ nghĩa xã hội. Những quan hệ quốc tế và đối ngoại liên quan đến tôn
giáo phải tuân theo chế độ và chính sách chung về quan hệ quốc tế đối ngoại của
Nhà nước và theo quy định của pháp luật.
Quan điểm về tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay.
Tôn trọng và bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của công
dân. Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không
phân biệt người theo đạo và không theo đạo, cũng như giữa các tôn giáo khác
nhau. Đoàn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo và không theo tôn giáo trong
khối đại đoàn kết toàn dân. Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng tôn
giáo phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa; gìn giữ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.
Những hoạt động
tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp
của tín đồ được bảo đảm. Những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được
tôn trọng và phát huy. Mọi hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để làm mất trật
tự an toàn xã hội, phương hại nền độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đoàn kết
toàn dân, chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây tổn hại
các giá trị đạo đức, lối sống, văn hoá của dân tộc, ngăn cản tín đồ, chức sắc
các tôn giáo thực hiện nghĩa vụ công dân, đều bị xử lý theo pháp luật. Hoạt động
mê tín phải phê phán và loại bỏ.
Các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
đoàn thể, các tổ chức xã hội và các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm làm tốt
công tác vận động quần chúng và thực hiện đúng đắn chính sách tôn giáo của Đảng
và Nhà nước.
Đặc điểm, tình hình tôn giáo ở Việt Nam
Đặc
điểm tôn giáo ở Việt Nam.
Việt Nam là quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn
giáo, các tôn giáo hoạt động ôn hoà; một số tôn giáo ngoại nhập ít nhiều bị Việt
Nam hoá; các tôn giáo mang đậm tính chất
dân tộc, vì dân, vì nước. Đời sống tôn giáo ở Việt Nam thay đổi theo hoàn cảnh
chính trị, tôn giáo vận hành theo lối tiểu nông. Hiện nay, một số tôn giáo bị
các thế lực thù địch phản động trong và ngoài nước lợi dụng vì mục đích chính
trị; hoạt động tôn giáo trong những năm gần đây có biểu hiện mang tính chất thị
trường.
Tình
hình tôn giáo ở Việt Nam.
Việt Nam là quốc gia có nhiều
tôn giáo khác nhau, chủ yếu du nhập từ nước ngoài vào. Có tôn giáo du nhập vào nước ta từ những thế kỷ đầu
của công nguyên. Hiện nay, ở nước ta có 6 tôn giáo lớn đang tồn tại và hoạt động,
đó là Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao đài, Hoà hảo với số tín đồ
trên 26,5 triệu[1]. Có người
cùng lúc tham gia nhiều hành vi tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Trong những năm
gần đây hoạt động của các tôn giáo có xu hướng gia tăng, ảnh hưởng không nhỏ đến
mọi mặt đời sống của cá nhân và đời sống xã hội.
Tín đồ tôn giáo ở nước ta đại bộ phận là nông dân
và nhân dân lao động. Đây là yếu tố quan trọng phản ánh lợi ích cơ bản của họ
thống nhất với lợi ích của giai cấp công nhân, lợi ích dân tộc, là cơ sở khách
quan thuận lợi trong đoàn kết dân tộc, tập hợp lực lượng thực hiện sự nghiệp
cách mạng của Đảng. Thực tế, mặc dù có tín ngưỡng tôn giáo, nhưng cơ bản đồng
bào các tôn giáo là người có tinh thần yêu nước, có ý thức gắn bó cùng dân tộc,
dễ gần và đi theo cách mạng. Nhiều tín đồ, chức sắc tôn giáo đã tích cực góp phần
xứng đáng cùng khối đại đoàn kết toàn dân trong các cuộc đấu tranh giành độc lập,
tự do của dân tộc và trong xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp cách mạng
của Đảng ta, dân tộc ta có phần đóng góp đáng kể của đông đảo quần chúng có tín
ngưỡng tôn giáo.
Trong những năm
qua, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân trong đó có đồng
bào các tôn giáo được cải thiện, cơ sở thờ tự được tu bổ, xây dựng mới khang
trang, đẹp đẽ. Các lễ hội tôn giáo diễn ra đa dạng và sôi động ở nhiều nơi.
Đời sống tín ngưỡng,
tôn giáo được cải thiện đã làm cho đồng bào tôn giáo tăng thêm niềm tin vào Đảng,
Nhà nước. Đồng bào ngày càng nhận rõ lợi ích của bản thân và lợi ích của tôn
giáo mình gắn bó với lợi ích của đất nước. Ý thức dân tộc, ý thức, trách nhiệm
công dân của đồng bào tôn giáo được nâng lên, đồng thời ý thức tình cảm tôn
giáo cũng được tôn trọng, đảm bảo.
Tuy nhiên, tình
hình tôn giáo hiện nay còn có những biểu hiện phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố
có thể gây mất ổn định. Vẫn còn một số người chưa tuân thủ pháp luật, các hiện
tượng truyền đạo trái pháp luật, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê
tín dị đoan vẫn còn diễn ra, ảnh hưởng không nhỏ đến mọi mặt đời sống của cá
nhân và đời sống xã hội.
Một bộ phận đồng
bào tôn giáo chưa thật sự thông hiểu đầy đủ luật pháp và chính sách tôn giáo của
Đảng và Nhà nước, khi tình cảm tôn giáo bị kích động, đồng bào dễ bị lôi kéo
vào những hoạt động trái pháp luật. Ở một số nơi nhất là ở vùng dân tộc thiểu số,
kẻ địch đang ra sức lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành hoạt động chống
đối, kích động tín đồ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính
trị.
Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn
giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới: Điều
đó nói lên rằng, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản
thân tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải
xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực
trong tôn giáo là gián tiếp đấu tranh với cái thế giới đang cần có ảo tưởng. Điều
cần thiết trước hết phải xác lập được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất
công, nghèo đói và thất học cùng những tệ nạn nảy sinh trong xã hội.
Có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề
tôn giáo: Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn
giáo đối với đời sống xã hội không như nhau. Quan điểm, thái độ của các giáo hội,
giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn có sự khác biệt. Vì
vậy cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với
những vấn đề có liên quan đến tôn giáo.
Tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tính ngưỡng, tôn
giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân: Các tôn giáo hoạt động trong
khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Quyền ấy không chỉ thể hiện về
mặt pháp lý mà còn được thực hiện trên thực tiễn một cách nhất quán, xuyên suốt,
lâu dài của Đảng. Tuy nhiên, đi đôi với việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do
tính ngưỡng phải chống lại những kẻ lợi dụng tự do tín ngưỡng để chống phá cách
mạng.
Phân biệt hai mặt nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo và
lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo (mặt chính trị và mặt tư tưởng): Vì có sự phân biệt
được hai mặt đó mới tránh khỏi khuynh hướng tả hoặc hữu trong quá trình quản
lý, ứng xử với những vấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tôn giáo. Nhu cầu tín ngưỡng,
tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của đồng bào có đạo sẽ còn tồn tại lâu
dài, phải được tôn trọng và bảo đảm. Mọi biểu hiện vi phạm quyền ấy là trái với
tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin.


