Thứ Ba, 1 tháng 7, 2025

 

ĐỂ CÓ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ XÃ HỘI KỊP THỜI

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được các thành tựu nổi bật về phát triển xã hội. Đặc biệt, trên cơ sở đánh giá lại những kết quả về lĩnh vực này mà các Đại hội Đảng trước đó đã khẳng định, văn kiện Đại hội XIII đã xác định một trong các nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ là: “...tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam".[1]

Song, do nhiều nguyên nhân đẫn đến sai lệch xã hội đã kìm hãm đến quá trình tăng trưởng và phát triển của đất nước. Từ kết quả nghiên cứu thực thực tiễn phát triển xã hội Việt Nam sau 40 năm đổi mới, dưới tác động chủ yếu của mặt trái nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; những bấp cập, yếu kém trong quản lý xã hội của bộ máy Nhà nước, chúng tôi nhận thấy một số nguyên nhân dẫn đến sai lệch xã hội như sau:

Một là, do những sai lệch trong hệ thống giá trị. Hệ thống giá trị trong xã hội được hình thành qua các thời kỳ lịch sử nhất định và do vậy nó mang tính lịch sử; nó sẽ mất đi khi không còn phù hợp với thực tiễn xã hội song nó lại được hình thành mới khi thực tiễn biến đổi. Hệ thống giá trị được chia thành các giá trị chung phố quát (giá trị nhân loại) và các giá trị thuộc về một giai cấp hay tầng lớp nào đó. Bất kỳ một sự chệch hướng giá trị của xã hội hiện hành đều có thể bị coi là sai lệch xã hội.

Hai là, do sự biến đổi các chuẩn mực xã hội. Trong đời sống xã hội, chuẩn mực xã hội là những quy ước chung của cả công đồng hay một nhóm xã hội nhất định, quy định những hành vi cụ thể của mỗi cá nhân trong mỗi tình huống cụ thể nhất định. Sự xem nhẹ các chuẩn mực xã hội, không tuân thủ các chuẩn mực xã hội có thể dẫn tới những hành vi sai lệch xã hội. Tuy nhiên, cũng như bất kỳ hiện tượng xã hội nào, chuẩn mực xã hội cũng luôn biến đổi theo thời gian. Chuẩn mực đã biến đổi hoặc bị bóp méo hoặc không được áp dụng đúng chỗ thì dẫn đến hành vi sai lệch xã hội.

Ba là, do sự thay đổi các quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình con người cùng nhau hoạt động sản xuất và tinh thần. Quan hệ sản xuất vật chất là quan hệ cơ bản, là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội, là mối quan hệ cơ bản, chi phối các mối quan hệ khác. Sự vận động và phát triển của quan hệ sản xuất kéo theo sự thay đổi của các quan hệ xã hội. Chuẩn mực, giá trị xã hội vừa phản ánh các quan hệ xã hội vừa điều chỉnh các quan hệ xã hội các quan hệ xã hội thay đổi sẽ làm cho hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội cũng biến đổi và dẫn đến các hành vi sai lệch xã hội.

Bốn là, do sự rối loạn các thiết chế xã hội. Các thiết chế xã hội có chức năng điều chỉnh, hướng dẫn và kiểm soát hành vi con người phù hợp với các chuẩn mực mà thiết chế xã hội tạo ra. Chúng được thiết lập trên các nhu cầu cơ bản của xã hội. Các thiết chế xã hội có vai trò kiểm soát và quản lý xã hội. Tuy nhiên, trong không ít tình huống vì nhiều lý do khác nhau dẫn đến thiết chế xã hội không được vận hành một cách bình thường, thậm chí rối loạn dẫn tới mất ổn định xã hội. Vì vậy, bất kỳ một sự rối loạn hay đổ vỡ thiết chế xã hội nào đều trở thành vấn đề xã hội nghiêm trọng, dẫn đến hành vi sai lệch xã hội.

Để kịp thời điều chỉnh, khắc phục sai lệch xã hội, một trong những công cụ quan trọng là đổi mới thiết chế và thể chế trong lĩnh vực này./.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, tII, tr 336.

Chức năng giáo dục của gia đình

 


Đây là chức năng quan trọng của gia đình, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của các thành viên trong gia đình và yêu cầu của xã hội. Thực hiện chức năng này, gia đình có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống của mỗi người. Bởi vì, ngay khi sinh ra, trước tiên mỗi người đều chịu sự giáo dục trực tiếp của cha mẹ, người thân trong gia đình. Gia đình là một môi trường văn hóa, giáo dục. Trong môi trường này, mỗi thành viên đều là những chủ thể sáng tạo những giá trị văn hóa, chủ thể giáo dục. Đồng thời cũng là những người hưởng thụ giá trị văn hóa và là khách thể chịu sự giáo dục của các thành viên khác trong gia đình.

Nội dung của giáo dục gia đình tương đối toàn diện, cả giáo dục tri thức và kinh nghiệm, giáo dục đạo đức và lối sống, giáo dục nhân cách, thẩm mỹ, ý thức cộng đồng. Nguyên tắc giáo dục trong gia đình là tôn trọng nhân cách, quyền uy, thống nhất mục tiêu giáo dục, nghiêm khắc nhưng lại khoan dung, độ lượng. Phương pháp giáo dục của gia đình cũng rất đa dạng, song chủ yếu là phương pháp nêu gương, thuyết phục. Ngoài ra, các thành viên trong gia đình chịu ảnh hưởng không ít của tư tưởng, lối sống, tâm lý, gia phong của gia đình truyền thống. Dù giáo dục xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng, có ý nghĩa quyết định, nhưng có những nội dung và phương pháp giáo dục gia đình mang lại hiệu quả lớn không thể thay thế. Giáo dục gia đình còn bao hàm cả tự giáo dục. Do đó, chủ thể giáo dục gia đình cơ bản và chủ yếu vẫn là thế hệ cha mẹ, ông bà đối với con cháu.

Giáo dục gia đình là một bộ phận quan trọng và có quan hệ hỗ trợ, bổ sung hoàn thiện thêm cho giáo dục nhà trường và xã hội. Do đó, dù giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội có phát triển lên trình độ nào, giáo dục gia đình vẫn được coi là một thành tố của nền giáo dục xã hội nói chung phục vụ các lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị trong bất cứ thời đại nào, khi xã hội còn giai cấp và phân chia giai cấp. Đồng thời, cần phải phê phán hành vi bạo lực trong giáo dục gia đình; tư tưởng xem nhẹ giáo dục gia đình, cha mẹ sinh con trời sinh tính...

Chức năng giáo dục của gia đình thực sự góp phần rất quan trọng vào việc đào tạo thế hệ trẻ, xây dựng con người mới nói chung, và việc duy trì, phát triển đạo đức, văn hóa dân tộc. Giáo dục gia đình là một bộ phận của giáo dục xã hội. Giáo dục trong gia đình giai đoạn hiện nay đòi hỏi sự cố gắng cao về những hiểu biết về khoa học, tâm lý... của cha mẹ và mọi thành viên khác trong gia đình. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa các môi trường giáo dục (gia đình - nhà trường - xã hội) để tiến tới mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.

Gia đình là tế bào của xã hội

 


Gia đình có vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội. Ph. Ăngghen đã chỉ rõ: “Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp... Những trật tự xã hội, trong đó có những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất nhất định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình”[1].

Sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất, tái sản xuất ra con người là các hoạt động bảo đảm cho xã hội ra đời, tồn tại và phát triển. Gia đình như một tế bào tự nhiên, là một đơn vị cơ sở để tạo nên cơ thể - xã hội. Gia đình tái tạo ra con người, con người là chủ thể của các hoạt động xã hội. Vì vậy, muốn có một xã hội phát triển lành mạnh thì phải quan tâm xây dựng tế bào gia đình thật tốt, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “... nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”[2].

Mức độ tác động của gia đình đối với xã hội lại phụ thuộc vào bản chất từng chế độ xã hội, vào đường lối, chính sách của giai cấp cầm quyền và phụ thuộc vào chính bản thân mô hình, kết cấu, đặc điểm của mỗi hình thức gia đình trong lịch sử. Vì vậy, trong mỗi giai đoạn của lịch sử, tác động của gia đình đối với xã hội là không hoàn toàn giống nhau. Trong các xã hội dựa trên cơ sở của chế độ chiếm hữu về tư liệu sản xuất, sự bất bình đẳng trong quan hệ xã hội và quan hệ gia đình đã hạn chế rất lớn đến sự tác động của gia đình đối với xã hội. Chỉ khi con người được yên ấm, hòa thuận trong gia đình, thì mới có thể yên tâm lao động, sáng tạo và đóng góp sức mình cho xã hội và ngược lại. Chính vì vậy, trong xã hội chủ nghĩa quan tâm xây dựng quan hệ xã hội, quan hệ gia đình bình đẳng, hạnh phúc là vấn đề hết sức quan trọng.



[1] C. Mác và Ph. Ăng ghen, Toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2002, tr. 44.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 300.

Khái niệm gia đình


Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì và củng cố chủ yếu trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng, cùng với những quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình.

Với tính cách một hình thức cộng đồng tổ chức đời sống xã hội, gia đình được hình thành từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Xuất phát từ nhu cầu bảo tồn và duy trì nòi giống, từ sự cần thiết phải nương tựa vào nhau để sinh tồn, các hình thức quần tụ giữa nam giới và nữ giới, những hình thức cộng đồng tổ chức đời sống gia đình đã xuất hiện. Đồng thời, sự vận động và phát triển của gia đình lại chịu ảnh hưởng quyết định của điều kiện khách quan như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Trong lịch sử đã xuất hiện các hình thức gia đình khác nhau: gia đình tập thể, gia đình cặp đôi và gia đình cá thể. Cơ sở hình thành gia đình là hai mối quan hệ cơ bản, đó là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống. Những mối liên hệ này tồn tại trong sự gắn bó, liên kết, ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau bởi nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người, được quy định bằng pháp lý và đạo lý.

Quan hệ hôn nhân là cơ sở, nền tảng hình thành nên các mối quan hệ khác trong gia đình, là cơ sở pháp lý cho sự tồn tại của mỗi gia đình. Hôn nhân trong bất cứ thời đại nào cũng có thể và cần phải được xã hội thừa nhận, ở những mức độ, trình độ khác nhau. Trong chế độ tư hữu và các xã hội có sự phân chia giai cấp, sự thừa nhận đó được thể hiện về mặt pháp luật, bên cạnh sự thừa nhận của cộng đồng, của các chuẩn mực văn hoá và lối sống của truyền thống trong cộng đồng. Sự phù hợp về trạng thái tâm lý, tình cảm, lối sống giữa đôi nam nữ trước khi đi đến hôn nhân và là cơ sở trực tiếp cho hôn nhân được gọi là tình yêu. Cũng như hôn nhân, tình yêu của mỗi thời đại, mỗi giai cấp và tầng lớp, mỗi dân tộc và cộng đồng tâm lý văn hoá cũng có những giá trị và chuẩn mực riêng, với những biểu hiện riêng, cụ thể và sinh động.

Quan hệ huyết thống là quan hệ cơ bản đặc trưng của gia đình. Trong gia đình, cùng với quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống được coi là quan hệ cơ bản nhất. Tuy nhiên, quan hệ này cũng có những thay đổi theo tiến trình lịch sử. Những sự thay đổi ấy được quy định, chịu sự chi phối của các điều kiện kinh tế, văn hoá, chính trị của xã hội. Mặt khác, quan hệ huyết thống ấy cũng gia nhập, đan xen vào các quan hệ kinh tế - xã hội và chính trị - xã hội của mỗi thời đại.

Ngay từ đầu, xuất phát từ yêu cầu được đặt ra trong quan hệ với tự nhiên và giữa con người với nhau, cộng đồng gia đình đã luôn cư trú, quần tụ trong một không gian sinh tồn. Lúc đầu là trong một hang đá, hốc cây... sau là trong một mái nhà... Dù không gian sinh tồn ấy ngày càng mở rộng và chịu sự chi phối của các quan hệ kinh tế - xã hội, nhưng nhu cầu quần tụ vẫn luôn được đặt ra. Quan hệ ấy gọi là quan hệ quần tụ trong một không gian sinh tồn. Ngày nay, khái niệm không gian sinh tồn của gia đình không còn giữ nguyên nghĩa như một giới hạn địa lý thuần tuý. Mức độ quan tâm giữa các thành viên gia đình đã được xã hội thay thế, đảm nhận ở mức độ đáng kể, sự quan tâm, chăm sóc giữa các thành viên, các thế hệ trong mỗi gia đình không vì thế mà mất đi. Trái lại nó được củng cố, được thực hiện nhờ những thiết bị, phương tiện và tiện nghi ngày càng hiện đại, đầy đủ hơn.

Nuôi dưỡng là một nghĩa vụ, một trách nhiệm, đồng thời còn là một quyền lợi thiêng liêng của gia đình, của các thành viên gia đình đối với nhau. Quan hệ ấy là quan hệ nuôi dưỡng giữa các thành viên và thế hệ thành viên trong gia đình. Ngoài ra, đó còn là hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, giữa các thành viên khoẻ mạnh có thuận lợi trong làm ăn sinh sống đối với các thành viên gặp những khó khăn, những rủi ro về sức khoẻ, về làm ăn sinh sống. Mặc dù xã hội phát triển, sự quan tâm của xã hội đối với gia đình và các thành viên gia đình thông qua các chính sách bảo hiểm, chăm sóc y tế, dưỡng lão. Nhưng nuôi dưỡng của gia đình có những đặc thù mà xã hội dù hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế và càng không nên đặt vấn đề thay thế hoàn toàn. 

Khái niệm và bản chất của tôn giáo


Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ.

Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện tự nhiên và lịch sử xã hội nhất định. Xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước tự nhiên và xã hội. C.Mác khẳng định: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[1].

Thực chất vấn đề tôn giáo, là những mâu thuẫn, xung đột lợi ích nảy sinh trong quan hệ giữa các tôn giáo, giữa người có tôn giáo và không có tôn giáo, giữa người có tôn giáo ở trong nước với người có tôn giáo ở nước ngoài, giữa chủ nghĩa xã hội với tôn giáo; giữa quần chúng cách mạng với kẻ thù lợi dụng tôn giáo để chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 570. 

Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, từng bước khắc phục sự chênh lệch về mọi mặt giữa các dân tộc.

 


Do điều kiện tự nhiên và hậu quả của các chế độ xã hội trong lịch sử, các dân tộc ở nước ta còn có sự chênh lệch về mọi mặt giữa các dân tộc. Vì vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính sách dân tộc phải hướng tới từng bước khắc phục khoảng cách chênh lệch về trình độ giữa các dân tộc. Khắc phục sự chênh lệch ấy là thực hiện bình đẳng dân tộc và phải dựa vào sự đoàn kết, tinh thần tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc. Mặt khác, bình đẳng dân tộc còn biểu hiện ở việc đấu tranh chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi và tự ti dân tộc.

Tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau là sự hỗ trợ lẫn nhau về vật chất, tinh thần, kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và phát triển giữa dân tộc đông người với dân tộc ít người, giữa dân tộc tộc ở miền xuôi với dân ở miền núi... và ngược lại. Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của sự phát triển triển bền vững của cộng đồng quốc gia dân tộc.

Về chính trị, điều quan trọng nhất, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi. Cố nhiên cán bộ người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương, nhưng phải làm sao cho cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự tự quản lý lấy công việc ở địa phương, chứ không phải là bao biện làm thay. Người cán bộ phải vừa phải có đạo đức cách mạng, có lập trường giai cấp vững vàng, vừa phải nắm vững đường lối chính sách của Đảng, học phải gắn với thực hành, lý luận gắn với thực tiễn. Đồng thời, phải đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, làm ảnh hưởng đến khối đoàn kết dân tộc.

Về kinh tế, động viên, lãnh đạo đồng bào miền núi tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Mở rộng giao lưu kinh tế, giữa các dân tộc, giữa các vùng, miền của đất nước. Phát triển nông nghiệp toàn diện, tùy điều kiện của từng địa phương mà phát triển cây lương thực hay cây ăn quả, cây công nghiệp. Đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các ngành nông, lâm nghiệp, đẩy mạnh phong trào cải tiến công cụ sản xuất và khắc phục tình trạng xói mòn đất. Kết hợp chặt chẽ công nghiệp địa phương, thủ công nghiệp và nông nghiệp; sản xuất, chế biến và giao lưu hàng hóa.

Về văn hóa, phải tôn trọng những giá trị, bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của các dân tộc, tạo điều kiện để văn hóa các dân tộc phát triển hài hòa trong sự phát triển chung của quốc gia đa dân tộc. Đảm bảo cho các dân tộc có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, có quyền hưởng thụ không chỉ những giá trị văn hóa của dân tộc mình mà còn được hưởng thụ giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam, chú ý tính thống nhất trong sự đa dạng của văn hóa các dân tộc đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại.

Tính tất yếu khách quan giải quyết vấn đề dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội


Xuất phát từ những sai lầm, khuyết điểm của Đảng và Nhà nước trong quản lý kinh tế - xã hội và thực hiện chính sách dân tộc: Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, một số đảng cộng sản không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức không đúng về vấn đề dân tộc, có biểu hiện chủ quan, nóng vội, áp dụng mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội cho các dân tộc mà không tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển và những đặc thù về tâm lý, văn hóa dân tộc. Mặt khác, một số nhà nước đề cao chủ nghĩa dân tộc trong cuộc đối đầu ý thức hệ với chủ nghĩa tư bản, có tư tưởng dân tộc nước lớn làm cho quan hệ dân tộc diễn ra theo chiều hướng tiêu cực, ảnh hưởng đến đoàn kết giữa các dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Xuất phát từ những tác động tiêu cực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội thế giới đến các dân tộc: Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển tác động mạnh mẽ đến tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đưa đến một hệ quả chinh trị - xã hội với cả những thuận lợi, cơ hội, phát triển và khó khăn, suy thoái, thách thức. Trong xu thế toàn cầu hoá, tác động mạnh mẽ đến quan hệ dân tộc, làm cho các dân tộc tộc phụ thuộc vào nhau nhiều hơn. Toàn cầu hóa xóa nhòa ranh giới giữa các dân tộc, xuất hiện tư tưởng coi “cái toàn cầu” cao hơn chủ quyền quốc gia dân tộc, làm cho các dân tộc nhỏ có nguy cơ bị tụt hậu, không có cơ hội tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, mất chủ quyền, lợi ích bị xâm hại, ảnh hưởng đến sự ổn định của dân tộc và nền hòa bình của đất nước, đe dọa đến lợi ích của các dân tộc, thổi bùng ngọn lửa xung đột, tranh chấp tài nguyên, lãnh thổ và bảo vệ các giá trị văn hóa.

Xuất phát từ những mâu thuẫn, vướng mắc giữa các dân tộc do lịch sử để lại: Mâu thuẫn lợi ích tộc người, dân tộc về lãnh thổ, tài nguyên, chính trị, kinh tế và giải quyết không đúng đắn quá trình tộc người, duy trì quan hệ bất bình đẳng giữa các dân tộc, tộc người; không có chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc ít người, đồng hóa cưỡng bức, dung túng cho chủ nghĩa dân tộc, dùng bạo lực đàn áp các tộc người để áp đặt quan điểm, chính sách của nhà cầm quyền làm cho xung đột giữa các dân tộc ngày càng tăng lên. Các mâu thuẫn đó lại bị các thế lực chính trị lợi dụng khoét sâu, kích động làm cho mối quan hệ dân tộc càng phức tạp thêm.

Xuất phát từ sự thức tỉnh ý thức tự giác tộc người, dân tộc trong quá trình phát triển: Ý thức tộc người, dân tộc được thức tỉnh và đi đến đấu tranh đòi các quyền dân tộc, đề cao độc lập tự chủ, tự quyết, tự cường, chống lại sự can thiệp áp đặt từ bên ngoài. Đây là một xu thế trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia dân tộc hiện nay. Như Đảng ta nhận định: “Các quốc gia độc lập ngày càng tăng cường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và quyết định con đường phát triển của mình”[1].

Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong giải quyết vấn đề dân tộc: Chủ nghĩa đế quốc với nhiều âm mưu thủ đoạn để áp bức, bóc lột và nô dịch các dân tộc, chia rẽ, lợi dụng, kích động mâu thuẫn dân tộc để chống phá cách mạng, hoặc lấy đó làm mục tiêu, vũ khí gây mất ổn định, kiềm chế sự phát triển, đồng thời bằng các phương thức khác nhau lôi kéo và ép buộc các dân tộc chậm phát triển chịu sự chi phối và lệ thuộc vào chúng. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, lợi dụng những sai lầm của đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc giải quyết vấn đề dân tộc, chúng đã kích động và hỗ trợ cho các thế lực dân tộc cực đoan gây nên sự chia rẽ, kỳ thị dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm suy yếu chế độ xã hội chủ nghĩa.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2001, tr. 65. 

Chức năng tái sản xuất ra con người của gia đình

 


Tái sản xuất ra chính bản thân con người là một chức năng cơ bản và riêng có của gia đình. Chức năng này bao gồm các nội dung cơ bản: tái sản xuất, duy trì nòi giống, nuôi dưỡng nâng cao thể lực, trí lực bảo đảm tái sản xuất nguồn lao động và sức lao động cho xã hội. Hoạt động sinh con đẻ cái của con người trước hết xuất phát từ nhu cầu tồn tại của chính con người và của xã hội. Chức năng này đáp ứng nhu cầu rất tự nhiên, chính đáng của con người. Nhưng tốc độ gia tăng dân số, mật độ dân cư và nhiều yếu tố khác liên quan đến các vấn đề chiến lược và trình độ phát triển kinh tế, xã hội. Vì vậy sinh đẻ của mỗi gia đình không chỉ là việc riêng của gia đình mà còn là một nội dung quan trọng của mỗi quốc gia và toàn nhân loại. Tùy theo từng quốc gia, khu vực và nhu cầu của xã hội, chức năng này được thực hiện theo xu hướng hạn chế hay khuyến khích. Chiến lược về dân số hợp lý, có kế hoạch nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, là mục tiêu, động lực quan trọng nhất của phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Mặt khác, trình độ phát triển kinh tế văn hóa, xã hội sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực mà gia đình cung cấp.

Gia đình là nơi bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc

 


Gia đình là nơi tiếp thu, giữ gìn và lưu truyền các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Thông qua các câu chuyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, cha mẹ, ông bà là những người thầy đầu tiên dạy dỗ, nuôi dưỡng tâm hồn, phát triển tư duy và từng bước giáo dục hình thành nhân cách cho mỗi con người. Qua lao động, qua việc xử lý các mối quan hệ hằng ngày, gia đình đã truyền thụ cho con trẻ những nét đẹp của truyền thống gia đình, dòng họ, truyền thống văn hóa dân tộc. Từ đó mỗi cá nhân hình thành và bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tình cộng đồng, lòng nhân ái, tinh thần tự lực, tự cường, anh hùng trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, chăm chỉ cần cù trong lao động sản xuất... Gia đình cũng giữ vai trò đặc biệt quan trọng tới số lượng, chất lượng dân số và cơ cấu dân cư của quốc gia.

Vì vậy, việc xây dựng gia đình mới là một trong những vấn đề quan trọng của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đánh giá đúng vị trí của gia đình trong chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”[1].



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 300

Gia đình là một tổ chức kinh tế, tiêu dùng


Khi hình thành gia đình cá thể - hôn nhân một vợ một chồng, thì vai trò kinh tế gia đình là rất quan trọng. Trong giai đoạn đầu của xã hội xã hội chủ nghĩa còn sản xuất hàng hóa, còn nhiều thành phần kinh tế và kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước chưa đáp ứng đầy đủ và phong phú của cuộc sống, thì kinh tế cá nhân và tiểu chủ hoạt động phần lớn dưới hình thức hộ gia đình là một bộ phận đông đảo, có tiềm năng to lớn, và có vị trí quan trọng lâu dài. Hoạt động kinh tế hộ gia đình có mức độ và hình thức khác nhau ở mỗi dạng gia đình cụ thể, nhưng đều vì mục đích tăng thu nhập, làm giàu chính đáng, tạo nên điều kiện vật chất để thúc đẩy các vai trò, chức năng của gia đình, góp phần phát triển gia đình và xã hội. Nhất là hiện nay, khi Việt Nam đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, gia đình với việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, đây là nguồn lực quyết định đến sự phát triển, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Do đó, cần có chính sách giúp đỡ, hỗ trợ để kinh tế gia đình phát triển.

Việc tiêu dùng của gia đình hướng vào mua sắm các sản phẩm phục vụ đời sống vật chất, cũng như đời sống tinh thần của gia đình. Điều này thường phụ thuộc nhiều vào mức độ thu nhập và đóng góp chung từ kết quả lao động của các thành viên trong hoạt động kinh tế gia đình hoặc xã hội. Khi xã hội càng phát triển thì càng thúc đẩy việc mua sắm các sản phẩm, các thiết bị, dụng cụ, dịch vụ sinh hoạt hằng ngày càng nhiều hơn và thuận tiện hơn. Thực tế cho thấy, việc tiêu dùng vật chất và thỏa nãm tinh thần ngày càng được mở rộng và đa dạng bằng hệ thống các dịch vụ và phúc lợi xã hội. Nhưng điều đó tuyệt nhiên không thay thế hoàn toàn chức năng tiêu dùng của gia đình. Tổ chức tiêu dùng về đời sống vật chất và tinh thần của gia đình có chiều hướng đi vào chiều sâu, đáp ứng nhu cầu phong phú, duy trì sắc thái và sở thích sinh hoạt riêng của từng gia đình và của các thành viên.

Công việc nội trợ gia đình vẫn cần thiết và mang tính chất của một bộ phận hoạt động kinh tế - xã hội nhằm tái tạo và phát triển sức lao động, cũng như trí lực và thể lực nói chung của mọi thành viên trong gia đình. Trong đó, việc chăm sóc những thành viên là trẻ em, người già, người yếu thế (tàn tật, cô đơn...), là nhiệm vụ rất đáng lưu ý, cần được ưu tiên và bằng phương thức phù hợp với tâm lý, khoa học và điều kiện của gia đình và xã hội. Quan tâm lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình vừa là trách nhiệm, vừa là đạo lý. Trong chủ nghĩa xã hội cần tạo cho gia đình có những điều kiện thuận lợi để nghỉ ngơi, hưởng thụ hợp lý và chính đáng các thành quả lao động của mình. Việc động viên các gia đình nâng cao thu nhập, trên cơ sở đó định hướng cho sự tiêu dùng lành mạnh, tạo điều kiện tốt để kiến thức khoa học và các phương tiện kỹ thuật hiện đại vào cuộc sống nội trợ góp phần giải phóng phụ nữ... là những vấn đề thiết thực cho sự nghiệp xây dựng gia đình văn hóa. 

Gia đình là tổ ấm thân yêu đem lại hạnh phúc cho con người

 


Từ thuở lọt lòng cho đến suốt cuộc đời, mỗi thành viên trong gia đình được nuôi dưỡng, chăm sóc để trở thành công dân của xã hội, lao động cống hiến và hưởng thụ, đóng góp cho xã hội. Ở trong gia đình, hằng ngày diễn ra các quan hệ thiêng liêng, sâu đậm giữa vợ - chồng, cha mẹ - con, anh - em, những người đồng tâm, đồng cảm, nâng đỡ nhau suốt cả cuộc đời. Có rất nhiều vấn đề ngoài môi trường gia đình, không có thể ở đâu đáp ứng và giải quyết có hiệu quả. Sự yên ổn, hạnh phúc mỗi gia đình là tiền đề, điều kiện quan trọng cho sự hình thành, phát triển nhân cách của mỗi thành viên. Chỉ trong môi trường yên ấm của gia đình, cá nhân mới cảm thấy yên bình, hạnh phúc và có động lực để phấn đấu trở thành con người xã hội tốt. Vì vậy, muốn xây dựng xã hội phải chú ý xây dựng gia đình, nó là trách nhiệm, là một bộ phận cấu thành trong chỉnh thể các mục tiêu phấn đấu của xã hội, vì sự ổn định và phát triển của chính xã hội.

Gia đình là cầu nối giữa các thành viên trong gia đình và xã hội


Thông qua các hoạt động tổ chức đời sống trong gia đình và của gia đình, mỗi cá nhân, mỗi gia đình tiếp nhận, chịu sự tác động và “phản ứng” lại đối với những tác động của xã hội, thông qua các tổ chức, các thiết chế, chính sách... của xã hội. Sự đồng thuận hay không đồng thuận giữa gia đình với những tác động từ xã hội, nhà nước sẽ tạo ra kết quả tốt hay xấu của mỗi chế độ xã hội, mỗi thời đại.

Gia đình là cộng đồng xã hội đầu tiên mà mỗi cá nhân sinh sống, có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của từng người. Chỉ trong gia đình mới thể hiện được quan hệ tình cảm thiêng liêng, sâu đậm giữa vợ chồng, giữa cha mẹ với con cái, anh chị em với nhau mà không cộng đồng nào có được và có thể thay thế.

Gia đình cũng là một trong những cộng đồng để xã hội tác động đến cá nhân. Có những vấn đề quản lý xã hội phải thông qua hoạt động của gia đình để tác động đến cá nhân. Nhiều thông tin, hiện tượng của xã hội thông qua lăng kính gia đình mà tác động tích cực hay tiêu cực đến sự phát triển của mỗi cá nhân về tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhân cách, v.v... Xã hội nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về mỗi cá nhân khi xem xét họ trong các quan hệ xã hội và quan hệ với gia đình. Nghĩa vụ, quyền lợi của mỗi cá nhân được thực hiện dưới sự hợp tác của các thành viên trong gia đình. Chính vì vậy, ở bất cứ xã hội nào, giai cấp cầm quyền muốn quản lý xã hội theo yêu cầu của mình cũng đều coi trọng việc xây dựng và củng cố gia đình. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, để xây dựng một xã hội thực sự bình đẳng, con người được giải phóng, giai cấp công nhân chủ trương bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, thực hiện bình đẳng trong gia đình, giải phóng phụ nữ. 

Kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân

 


Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa yêu nước chân chính là chủ nghĩa yêu nước thật sự nhân đạo, nó đối lập với chủ nghĩa yêu nước tư sản; đó là lòng trung thành của nhân dân lao động đối với chế độ và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Còn chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là hệ thống các quan điểm, tư tưởng, tình cảm và hành động đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau của giai cấp công nhân, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong cuộc đấu tranh cách mạng nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và lợi ích của giai cấp công nhân trên thế giới.

Kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân có nhiều nội dung phong phú và đa dạng và được thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Hiện nay, những nội dung chính của sự kết hợp đó là: Giai cấp công nhân ở từng nước trước hết phải giành được độc lập dân tộc, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước mình, đồng thời gắn chặt tiến trình cách mạng nước mình với cách mạng thế giới và làm tròn nghĩa vụ đối với quốc tế.

Cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin

 


Cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin được thể hiện trong tác phẩm “Quyền dân tộc tự quyết” viết năm 1914. Nội dung cơ bản gồm ba vấn đề chính như sau:

Các dân tộc đều có quyền bình đẳng: Bình đẳng là quyền thiêng liêng của các dân tộc, các dân tộc dù đa số hay thiểu số, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hay thấp đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau, không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi và áp bức bóc lột dân tộc khác. Thực chất của bình đẳng dân tộc theo V.I.Lênin là xoá bỏ nạn nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác, để trên cơ sở đó mà dần dần từng bước xoá bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc.

Các dân tộc đều có quyền tự quyết: Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự quyết định, lựa chọn chế độ chính trị - xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình mà không một dân tộc nào khác có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau cùng phát triển.

Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại: Đây là một nội dung cơ bản, quan trọng trong cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin, phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Nó bảo đảm cho phong trào dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi.

Quản lý sự phát triển về xã hội của tập thể quân nhân

 


Mục đích quản lý sự phát triển về xã hội của tập thể quân nhân là tạo ra những tập thể lao động quân sự thống nhất về ý chí và hành động, có quan hệ xã hội, đạo đức lành mạnh, có tính tổ chức kỷ luật, hiệp đồng lập công tập thể.

Nhiệm vụ quản lý sự phát triển về xã hội của tập thể quân nhân là sắp xếp, bố trí công việc từng người quân nhân phải đạt được các yêu cầu: một là, hiệu quả tối ưu; hai là, tạo điều kiện cho cá nhân phát triển toàn diện, đúng khả năng, sở trường của từng người theo phương châm “dụng nhân như dụng mộc”, “vì việc xếp người, chứ không phải vì người xếp việc”. Tổ chức và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong tập thể quân nhân và giữa các tập thể quân nhân theo hướng đoàn kết, thống nhất, tương trợ lẫn nhau, dân chủ, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, giải quyết hài hòa các lợi ích. Trong tập thể quân nhân có quan hệ chính thức và quan hệ không chính thức, đòi hỏi phải phát hiện kịp thời, giải quyết dứt điểm các quan hệ tiêu cực, thiếu lành mạnh. Xây dựng môi trường văn hóa chính trị - xã hội, xây dựng bầu không khí tâm lý lành mạnh trong tập thể quân nhân, tạo ra trạng thái tâm lý thoải mái, tin tưởng, đòi hỏi lẫn nhau, dân chủ, cởi mở, tự do tư tưởng trên tinh thần đoàn kết, nhân ái và xây dựng.

Yêu cầu quản lý sự phát triển về xã hội của tập thể quân nhân cần tạo được lòng tin giữa các thế hệ, các lứa tuổi, đồng chí, đồng đội với nhau. Mọi quân nhân được thông tin đầy đủ, chính xác, định hướng tư tưởng kịp thời, đúng hướng, hướng dẫn dư luận. Bảo đảm quyền lợi, chế độ công khai, công bằng theo tinh thần “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”[1], phê phán chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, cục bộ địa phương trong công tác sắp xếp, bố trí, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 224.

Mở rộng và hoàn thiện các hình thức dân chủ trong tình hình hiện nay

 


Đảng ta khẳng định: Tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ nhà nước, nhất là việc giám sát, kiểm tra của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan và cán bộ, công chức nhà nước.

Dân chủ đại diện là hình thức nhân dân tham gia quản lý nhà nước thông qua các đại diện được bầu cử; thay mặt cho cử tri trong việc thực hiện các chức năng hoạch định chính sách, quản lý nhà nước và xã hội. Dân chủ đại diện ở Việt Nam được thực hiện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Ngoài ra, nhân dân còn làm chủ thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp của nhân dân được lập nên theo nguyên tắc tự nguyện. Để nâng cao chất lượng hình thức dân chủ đại diện cần nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của các cơ quan đại diện như Quốc hội, Hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các cấp, các tổ chức chính trị xã hội và người đại biểu. Vì vậy, không ngừng đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động, chất lượng sinh hoạt của các tổ chức đó theo hướng mở rộng dân chủ; qui chế, điều kiện thuận lợi để các đại biểu phản ảnh ý kiến nhân dân. Đồng thời, các đại biểu và tổ chức đó phải thật sự có năng lực, tâm huyết, trách nhiệm, có phẩm chất đạo đức tác phong công tác gần dân, trọng dân, hiểu dân. Điều đó có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện ý chí, quyền lực nhân dân, phát huy quyền dân chủ của nhân dân.

Dân chủ trực tiếp là hình thức mà qua đó nhân dân bằng hành vi của mình trực tiếp thực hiện quyền làm chủ nhà nước và xã hội. Những hình thức dân chủ trực tiếp phổ biến nhất gồm: nhân dân tham gia thành lập bộ máy nhà nước thông qua bầu cử và ứng cử; biểu quyết khi nhà nước trưng cầu ý kiến; tham gia quản lý nhà nước; bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; giám sát hoạt động của nhà nước, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước. Việc thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp phụ thuộc rất lớn vào trình độ dân trí, ý thức và năng lực thực thi dân chủ của người dân như phải hiểu biết đường lối, chính sách, pháp luật, các quy chế, cơ chế, các chế độ quy định, điều lệ của các tổ chức. Đồng thời đòi hỏi phải tạo ra môi trường dân chủ rộng rãi, thuận lợi, không ngừng đổi mới hoàn thiện các quy chế dân chủ nhất là ở cơ sở để người dân có thể thực hiện có hiệu quả quyền dân chủ của họ.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần hộ gia đình


Đây là giải pháp quan trọng, tạo ra các điều kiện cơ sở vật chất, tinh thần cho gia đình phát triển lành mạnh. Sự phát triển của gia đình gắn liền với những điều kiện kinh tế - xã hội và do điều kiện kinh tế - xã hội quy định. Sự no ấm về đời sống vật chất, lành mạnh và phong phú về đời sống văn hoá tinh thần là những tiền đề vững chắc bảo đảm cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, đạo đức của các thành viên gia đình, đồng thời góp phần thiết thực vào việc chuẩn bị nguồn lực con người và phát huy nguồn lực con người cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các thành viên gia đình có nội dung toàn diện: bảo đảm cho các gia đình có đời sống vật chất ngày càng no đủ, dồi dào; nơi ở và làm việc, nghỉ ngơi khang trang, sạch đẹp; phương tiện đi lại thuận lợi cho học tập, công tác, sinh hoạt; có đời sống tinh thần phong phú dựa trên nền tảng vật chất kỹ thuật hiện đại, phù hợp với khả năng lao động, cống hiến của mỗi gia đình và từng thành viên phù hợp với sự phát triển của xã hội.

Ở nước ta hiện nay, một bộ phận gia đình thuộc các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng có khoảng cách khá lớn về thu nhập và đời sống với tốc độ chung của cả nước. Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần có chính sách ưu tiên phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội nhằm nâng dần thu nhập, mức sống, chất lượng sống, xóa đói, giảm nghèo cho các gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa bằng các Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. 

Quân đội thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta

 


Quân đội nhân dân Việt Nam là một thành tố của hệ thống chính trị, là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc. Những năm qua Quân đội đã phát huy tốt vai trò chức năng đội quân công tác, trong đó có thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ toàn quân về vấn đề tôn giáo, công tác tôn giáo, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ trì các cấp được nâng cao. Các đơn vị trong toàn quân đã có nhiều hoạt động tích cực tham gia hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào các tôn giáo, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, phòng, chống dịch bệnh, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, gia đình văn hóa, giúp đồng bào phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt.

Công tác dân vận ở vùng đồng bào tôn giáo được tiến hành với nhiều nội dung, hình thức phong phú, mang lại hiệu quả thiết thực như: “Hành quân dã ngoại làm công tác dân vận”, “Gắn kết hộ người Kinh với hộ đồng bào dân tộc thiểu số”, giúp đồng bào phát triển kinh tế hộ gia đình; “Xóa một hộ đói, giảm một hộ nghèo”; phong trào “Họ đạo gương mẫu”..., góp phần động viên tư tưởng, phát huy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tạo sự đồng thuận, niềm tin của các chức sắc, tín đồ và nhân dân vùng tôn giáo vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; củng cố tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở. Đồng thời, làm cho quần chúng nhân dân hiểu rõ và nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh, ngăn ngừa, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.

Các vấn đề có liên quan đến quốc phòng - an ninh ở vùng đồng bào tôn giáo như vấn đề về đất đai, cơ sở vật chất của các tôn giáo được phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và các cơ quan chức năng ở địa phương giải quyết đúng pháp luật.

Trong những năm tới, tình hình tôn giáo thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng được truyền bá nhanh chóng giữa các quốc gia tăng lên; chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiếp tục lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta. Do vậy, để thực hiện tốt chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất; trong thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, Quân đội cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

Tiếp tục quán triệt, học tập nắm vững các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Tập trung tổ chức quán triệt, phổ biến đến mọi quân nhân Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII; Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về quân đội thực hiện công tác tôn giáo trong tình hình mới, qua đó, làm cho mọi quân nhân thống nhất nhận thức, nâng cao trách nhiệm, gương mẫu thực hiện tốt chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.

Thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc thiểu số, các tôn giáo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nội dung tuyên truyền vận động ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, phù hợp với trình độ dân trí, tập quán và lối sống của từng dân tộc, từng tôn giáo. Phát huy vai trò của những người có uy tín, nòng cốt trong các dân tộc thiểu số, các tôn giáo, nhất là các quân nhân người dân tộc thiểu số và quân nhân có tín ngưỡng tôn giáo để làm tốt công tác tuyên truyền, vận động ở địa bàn nơi đóng quân.

Tích cực tham gia xây dựng cơ sở địa phương vùng các tôn giáo vững mạnh toàn diện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể địa phương tiến hành điều tra, khảo sát, nắm vững tình hình tín ngưỡng, tôn giáo, nắm diễn biến hoạt động và những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên từng địa bàn, từ đó đề xuất chủ trương, biện pháp đấu tranh phòng, chống có hiệu quả nhất, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống xảy ra.

Tích cực đổi mới nội dung, hình thức công tác dân vận ở các địa phương vùng đồng bào tôn giáo. Chú trọng cơ sở địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo phù hợp với nhiệm vụ của đơn vị và đặc điểm từng địa phương. Phối hợp với các lực lượng chức năng thực hiện có hiệu quả chương trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh gắn với phát huy vai trò các già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc, người có uy tín trong đồng bào các dân tộc, tôn giáo, tạo sự đồng thuận trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ của địa phương.

Chủ động tham mưu giúp các địa phương vùng đồng bào tôn giáo xây dựng cơ sở chính trị, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội. Tích cực giúp đỡ đồng bào các tôn giáo phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành, nghề sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, phòng chống thiên tai, dịch bệnh; xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Tham gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, khu vực phòng thủ vững chắc ở vùng tôn giáo.

Tham mưu và phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể địa phương xây dựng phương án tác chiến trị an, giữ gìn an ninh, trật tự địa bàn; vận động thanh niên các tôn giáo thực hiện nghĩa vụ quân sự; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trên địa bàn đẩy mạnh tuyên truyền, vận động đồng bào nâng cao cảnh giác, tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, hành động lợi dụng tôn giáo gây mất ổn định chính trị ở cơ sở.

Thực hiện tốt chính sách tôn giáo đối với quân nhân là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, các tôn giáo. Phát huy dân chủ, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, bình đẳng về mọi mặt giữa quân nhân có đạo và không có đạo; tạo điều kiện cho mọi quân nhân là con em dân tộc thiểu số, có đạo tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

 

Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo.

 


Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[1]. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo tập trung ở các nội dung sau:

Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Khoản 1, Điều 6, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”.

Đảng ta khẳng định, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân, là đã thực sự tôn trọng sự tồn tại khách quan của tôn giáo hiện nay. Quan điểm trên của Đảng là cơ sở bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của một bộ phận quần chúng nhân dân; Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm và bảo đảm nhu cầu sinh hoạt tinh thần của bộ phận quần chúng nhân dân có đạo; thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật; các tôn giáo được quyền hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và bình đẳng trước pháp luật.

Hai là, thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.

Quan điểm của Đảng thể hiện, các tôn giáo được bảo đảm hoạt động bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật cho phép; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống cách mạng của của đồng bào có đạo, tôn vinh những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Nghiêm cấm việc đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”[2]

Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.

Đại đa số tín đồ, chức sắc là nhân dân lao động, công tác tôn giáo không phải là hạn chế hay xóa bỏ tôn giáo mà thực chất là tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng có đạo nhận rõ nghĩa vụ và quyền lợi của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng ta khẳng định: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[3]

Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

Giải quyết vấn đề tôn giáo là vấn đề chiến lược liên quan đến mọi mặt đời sống chính trị - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước. Cho nên công tác tôn giáo đòi hỏi phải có sự tham gia và thực hiện của toàn xã hội, trọng tâm là hệ thống chính trị. Khi giải quyết các vấn đề về tôn giáo phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, tuân theo luật pháp Nhà nước, là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế - xã hội; tổ chức và cán bộ trực tiếp làm công tác tôn giáo có vai trò quyết định sự thành công trong công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo và đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.

Năm là, mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ, tín đồ các tôn giáo có quyền tiến hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo, học tập giáo lý, đạo đức, phục vụ lễ nghi tôn giáo tại cơ sở thờ tự nếu như các hoạt động đó không trái với chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, không được lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm trái với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không được hoạt động mê tín dị đoan.

Chính sách của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo.

Một là, thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Phát huy các nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng. Phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, mê tín, dị đoan”[4]

Hai là, to điềụ kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Khoản 1, Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 ghi rõ: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

Ba là, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo” trong quần chúng, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, tăng cường thông tin tuyên truyền về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo; tự giác và phối hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống đối chế độ.

Năm là, hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 171.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 50 - 51.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 171.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 144.

Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

 


Việt Nam là một quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo, nhiều người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau đang tồn tại. Hiện nay (tính đến tháng 12 năm 2020), Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo với hơn 27 triệu tín đồ, chiếm khoảng 28% dân số cả nước, trên 55.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự[1].

Đại đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, chủ yếu là nông dân cư trú trên địa bàn cả nước, một bộ phận tín đồ là đồng bào dân tộc thiểu số theo các tôn giáo cư trú ở các địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.

Trong công cuộc đổi mới đất nước, cơ bản chức sắc, chức việc và tín đồ các tôn giáo tích cực thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hành đạo trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Phát huy tinh thần yêu nước, gắn bó với dân tộc, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Tình hình tôn giáo ổn định; đa số chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần đấu tranh, phản bác luận điệu xuyên tạc, vu cáo chính quyền vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo”[2].



[1] Bộ Nội vụ, Danh mục các tổ chức tôn giáo, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo tính đến tháng 12/2020 (Kèm theo Công văn số 6955/BNV-TGCP, ngày 28/12/2020 của Bộ Nội vụ).

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 45.