Thứ Tư, 9 tháng 7, 2025
THẾ GIỚI - VIỆT NAM: IRAQ ĐÃ TỪNG GIÚP VIỆT NAM VÀO LÚC KHÓ KHĂN NHẤT VÀ VIỆT NAM CŨNG ĐÃ Ở BÊN IRAQ KHI CẢ THẾ GIỚI QUAY LƯNG VỚI HỌ!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 🤖 ỨNG DỤNG AI CHATGPT – TRỢ THỦ ĐẮC LỰC CỦA BẠN TRONG THỜI ĐẠI SỐ!
CẢNH BÁO VỀ VIỆC LAN TRUYỀN THÔNG TIN SAI LỆCH LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC NHÂN SỰ ĐẠI HỘI ĐẢNG!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỪ MIỄN HỌC PHÍ ĐẾN MIỄN VIỆN PHÍ - NHANH CHƯA TỪNG CÓ!
KỶ NGUYÊN 'THỐNG TRỊ BẦU TRỜI' CỦA UAV TẤN CÔNG ĐÃ KHÉP LẠI?
BẮT CÁC ĐỐI TƯỢNG QUẢN TRỊ YOUTUBE “NGƯỜI ĐƯA TIN” LÀ VI PHẠM QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ?
PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC DỰ THẢO CÁC VĂN KIỆN CỦA ĐẢNG VỀ CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ!
Thứ Ba, 8 tháng 7, 2025
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ “TĂNG CƯỜNG KIỂM TRA, GIÁM SÁT VIỆC SẮP XẾP CÁN BỘ, TỔ CHỨC BỘ MÁY”!
CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TỪ VÙNG BIÊN PHỦ TỐI ĐẾN VÙNG SÁNG TỰ CHỦ, BÀI HỌC TỪ KHỦNG HOẢNG THÁI LAN - CAMPUCHIA!
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quyền con người
Quyền con người là giá trị phổ quát của nhân loại, đồng thời là nội dung cốt lõi thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán khẳng định con người là trung tâm, là chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển. Giáo dục quyền con người nhằm nâng cao nhận thức và năng lực hành động của mỗi công dân, góp phần quan trọng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng xã hội phát triển bền vững, dân chủ, văn minh và giàu mạnh.
Vai trò lãnh đạo của Đảng trong vấn đề quyền con người và giáo dục quyền con người
Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn khẳng định giá trị quyền con người gắn liền với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và tiến bộ xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quyền con người thể hiện qua các nội dung sau:
Một là, không ngừng bổ sung, hoàn thiện hệ thống quan điểm về quyền con người, đồng thời thể chế hóa nhằm đưa công tác giáo dục quyền con người vào nhà trường. Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa nhận thức chung của cộng đồng quốc tế và căn cứ vào thực tiễn Việt Nam, Đảng ta đã xác định hệ thống các quan điểm về quyền con người, quyền công dân. Trong đó, quyền con người được nhìn nhận như một giá trị phổ quát của nhân loại, mang tính giai cấp sâu sắc, gắn với độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia cũng như gắn với lịch sử, truyền thống và trình độ phát triển kinh tế của quốc gia. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác bảo đảm và thúc đẩy quyền con người.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về vấn đề này, như: Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 12-7-1992, của Ban Bí thư, về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta; Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20-7-2010, của Ban Bí thư, về công tác nhân quyền trong tình hình mới, thể hiện tầm quan trọng trong nâng cao nhận thức về quyền con người trong toàn xã hội, trong đó có vai trò của giáo dục. Hiến pháp năm 2013 và nhiều văn bản pháp luật hiện hành của Nhà nước Việt Nam đều đề cao các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cũng như các nguyên tắc về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các quy định về quyền con người và quyền công dân trong Hiến pháp là nền tảng pháp lý cao nhất cho việc ban hành các văn bản pháp luật về quyền con người và giáo dục quyền con người.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”. Tiếp nối quan điểm đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát huy tối đa nhân tố con người; con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”. Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022 nhấn mạnh: “Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Có thể khẳng định, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con người luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hết sức quan tâm trên tất cả các lĩnh vực.
Hai là, lồng ghép quyền con người trong chương trình giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức chính trị - xã hội cho cán bộ, đảng viên.
Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về vấn đề quyền con người, nhiều chính sách, chương trình, đề án liên quan đến công tác giáo dục quyền con người được ban hành. Đơn cử: Quyết định số 1309/QĐ-TTg, ngày 5-9-2017, của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt “Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân”, với quan điểm đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục một cách đồng bộ, thống nhất và hiệu quả, cập nhật và phù hợp với xu hướng tiến bộ của khu vực và thế giới; Chỉ thị số 34/CT-TTg, ngày 21-12-2021, của Thủ tướng Chính phủ, về việc tăng cường thực hiện Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân; Quyết định số 1079/QĐ-TTg, ngày 14-9-2022, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt “Đề án truyền thông về quyền con người ở Việt Nam”, trong đó nhấn mạnh truyền thông về quyền con người cần được triển khai trên cả 3 nội dung chính: phổ biến, giáo dục kiến thức về quyền con người.
Từ quan điểm chỉ đạo của Đảng và thể chế hóa chủ trương về giáo dục quyền con người, các chương trình giáo dục về quyền con người trong hệ thống chính trị từ cấp Trung ương đến địa phương được tích cực triển khai. Trong các chương trình đào tạo lý luận chính trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị cấp tỉnh, thành phố, nội dung chuyên đề về quyền con người được tích hợp ngày càng rõ rệt, sâu sắc. Đây là cơ sở để nâng cao nhận thức chính trị - pháp lý cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong cả nước về công tác giáo dục quyền con người.
Ba là, lồng ghép giáo dục quyền con người trong giáo dục phổ thông và đại học.
Giáo dục quyền con người có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm nâng cao nhận thức xã hội, giúp ngăn ngừa, hạn chế vi phạm quyền, cung cấp tri thức, trang bị kỹ năng, củng cố niềm tin, giúp mỗi người nhận thức đúng đắn ý nghĩa, giá trị của các quyền, biết tự mình bảo vệ các quyền, tuân thủ pháp luật và biết tôn trọng phẩm giá, các quyền và tự do của người khác. Giáo dục quyền con người chính là giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức pháp quyền, tinh thần hợp tác và trách nhiệm với cộng đồng - nền tảng vững chắc để tạo nên sự đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên cơ sở các quan điểm, chủ trương của Đảng, các chính sách của Nhà nước, ngành giáo dục và đào tạo đã cụ thể hóa các nội dung về quyền con người vào chương trình giáo dục phổ thông và đại học, lồng ghép nội dung quyền con người vào sách giáo khoa, chương trình học các môn, như Giáo dục công dân, Lịch sử, Ngữ văn, Giáo dục pháp luật, Giáo dục địa phương, đặc biệt trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Ngoài ra, nhiều trường đại học ngành luật, sư phạm, khoa học xã hội - nhân văn đã phát triển học phần “Quyền con người” như một môn học chính thức.
Bốn là, quan điểm đối ngoại của Đảng ta về quyền con người.
Quan điểm đối ngoại của Đảng về quyền con người được thực hiện dựa trên nguyên tắc giải quyết các vấn đề quyền con người cần thông qua đối thoại hòa bình và trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không áp đặt và can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Việc Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023 - 2025 và công bố các Báo cáo quốc gia về nhân quyền theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) thể hiện năng lực thực tiễn hóa quan điểm của Đảng trong xây dựng hình ảnh quốc gia gắn với quyền con người. Điều này càng đòi hỏi yêu cầu tất yếu tăng cường giáo dục quyền con người nhằm thực hiện đầy đủ các cam kết mà Việt Nam tham gia và là thành viên, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Kết quả đạt được trong công tác giáo dục quyền con người ở Việt Nam thời gian qua
Đối với Việt Nam, “bảo vệ quyền con người và giáo dục quyền con người là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, có tính toàn dân, toàn diện, bao trùm; bảo vệ quyền con người và giáo dục quyền con người đặt sự dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự tham gia của người dân”. Giáo dục quyền con người không đơn thuần là truyền đạt kiến thức, mà là quá trình khơi dậy ý thức trách nhiệm, năng lực thực thi quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân trong khuôn khổ pháp luật, đạo lý và cộng đồng, thể hiện ở một số kết quả sau:
Thứ nhất, Việt Nam là thành viên của nhiều điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người (hiện nay đã tham gia 7/9 điều ước quan trọng nhất của Liên hợp quốc). Các quy định của công ước đều quy định nghĩa vụ quốc gia thành viên phải giáo dục quyền con người. Liên hợp quốc cũng đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch về giáo dục quyền con người, như: Hội nghị thế giới về quyền con người (năm 1993) đã đề ra Tuyên bố Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995 - 2004), hiện nay đã thông qua 5 giai đoạn của giáo dục quyền con người, trong đó tập trung vào đối tượng giáo dục quyền con người cho trẻ em và thanh niên. Các chuẩn mực quốc tế tạo cơ sở pháp lý và định hướng cho mỗi quốc gia xây dựng các chính sách, pháp luật về quyền con người và giáo dục quyền con người.
Thứ hai, Việt Nam đạt được thành tựu to lớn trong việc phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, với tỷ lệ biết chữ trong dân số từ 15 tuổi trở lên đạt trên 95%. Đây là điều kiện tiên quyết để người dân tiếp cận được các giá trị phổ quát về quyền con người, như các quyền học tập, quyền phát triển, quyền tham gia đời sống xã hội. Đồng thời cung cấp cho người dân cơ sở pháp lý và tri thức để đồng thuận, hợp tác vì lợi ích chung, góp phần củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ ba, nhiều chương trình giáo dục đã được thiết kế dành riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số, phụ nữ, người lao động di cư, người khuyết tật, giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi hợp pháp, cơ hội phát triển và trách nhiệm công dân. Các khóa tập huấn về quyền sử dụng đất, quyền tiếp cận giáo dục và y tế tại khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa giúp người dân tự tin hơn trong việc tham gia vào đời sống xã hội. Các chương trình truyền thông cộng đồng về bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình giúp nâng cao ý thức, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, từ đó xây dựng các quan hệ cộng đồng bền vững. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và tiếp cận quyền ở cơ sở được triển khai sâu rộng tại các địa phương, gắn chặt với việc thực thi các quyền con người tại cộng đồng, như quyền tiếp cận thông tin, quyền giám sát, quyền tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội tại thôn, bản, khu dân cư. Ở nhiều địa phương, người dân đã được tuyên truyền kiến thức về quyền trẻ em, quyền phụ nữ, quyền của người khuyết tật, quyền tiếp cận dịch vụ công thông qua các chương trình phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội với chính quyền địa phương.
Thứ tư, vai trò của thế hệ trẻ trong các hoạt động xã hội, thiện nguyện, bảo vệ môi trường được tăng cường. Giáo dục quyền con người được lồng ghép hiệu quả vào các hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, truyền cảm hứng cho thanh niên, học sinh, sinh viên tích cực tham gia vào các chương trình thiện nguyện, bảo vệ môi trường, hỗ trợ người yếu thế. Điều đó thể hiện qua một số chương trình xã hội, như chiến dịch “Mùa hè xanh”, “Tiếp sức đến trường”, “Xuân yêu thương”…, góp phần lan tỏa các giá trị về tôn trọng phẩm giá, tình đoàn kết, lòng nhân ái đúng với tinh thần của giáo dục quyền con người.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; chú trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, ý thức công dân...”. Xây dựng đất nước hùng cường không chỉ là phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ, mà phải tập trung phát triển con người toàn diện, phát huy tối đa năng lực sáng tạo và phẩm giá của mỗi cá nhân. Trong xã hội hiện đại, quyền con người là “thước đo” của văn minh và tiến bộ. Giáo dục quyền con người có vai trò then chốt trong việc xây dựng đạo đức công dân, ý thức pháp quyền, tinh thần dân chủ và trách nhiệm cộng đồng là những nền tảng không thể thiếu của một xã hội văn minh, dân chủ.
Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong giáo dục quyền con người
Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đặc biệt trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đòi hỏi cần có nhận thức mới, tầm nhìn mới về giáo dục quyền con người. Để phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác giáo dục quyền con người, cần tập trung vào các nhiệm vụ sau:
Một là, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến quyền con người theo hướng đồng bộ, hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế và đặc thù văn hóa - lịch sử Việt Nam. Đề cao các giá trị nhân văn, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người; tiếp thu kinh nghiệm tốt của các nước tiên tiến trên thế giới. Từng bước xây dựng văn hóa quyền con người, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong xã hội. Xác định cụ thể nội dung, hình thức và các phương pháp giáo dục quyền con người, đối tượng giáo dục quyền con người, đặc biệt chú trọng đến đội ngũ cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, học sinh, sinh viên, doanh nhân, đồng bào theo đạo, vùng dân tộc thiểu số, ít người.
Hai là, xây dựng và triển khai các chương trình giáo dục quyền con người trong hệ thống giáo dục quốc dân, nhất là ở các cấp phổ thông và chương trình bồi dưỡng cán bộ. Lồng ghép giáo dục quyền con người với giáo dục đạo đức, pháp luật, lịch sử và truyền thống yêu nước. Cần phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả giữa sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy với sự quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ sở giáo dục, các cơ quan báo chí, truyền thông và cộng đồng trong triển khai công tác giáo dục quyền con người;
Ba là, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản, thông tin, truyền thông, văn hóa, văn nghệ trong việc tuyên truyền, phản ánh và lan tỏa các giá trị nhân văn, dân chủ, tiến bộ gắn với quyền con người. Tập trung tuyên truyền các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền con người; các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên với các hình thức, phương pháp hiện đại, đa dạng, tận dụng thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số. Tăng cường đối thoại, hợp tác quốc tế về quyền con người, qua đó làm sáng tỏ những thành tựu của Việt Nam, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Bốn là, tiếp tục đổi mới sâu sắc, toàn diện về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục quyền con người phù hợp với mọi đối tượng người học, trong đó nội dung giáo dục quyền con người cần gắn với vấn đề xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, phát huy vai trò, giá trị quyền con người xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục xây dựng, thực hiện Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện giáo dục quyền con người trong tổng thể Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Năm là, đưa nội dung đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về quyền con người, về giáo dục quyền con người trở thành chuyên đề sinh hoạt bắt buộc của các chi bộ, coi đây là nội dung kiểm điểm trong sinh hoạt chi bộ, cấp ủy định kỳ, là tiêu chí đánh giá, xếp loại cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên hằng năm. Phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên tiên phong trong việc học tập, thực hiện tuyên truyền về quyền con người, là tấm gương sáng để quần chúng, nhân dân noi theo. Thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giáo dục quyền con người. Xây dựng và phát triển đội ngũ chuyên gia, giáo viên, giảng viên, báo cáo viên về quyền con người.
Trong kỷ nguyên mới, việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quyền con người là yếu tố then chốt để thực hiện thắng lợi các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền con người. Đó là một trong những nhân tố góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng xã hội Việt Nam giàu mạnh, hùng cường.
Rèn quân, nâng sức mạnh sẵn sàng chiến đấu
Những năm qua, Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn 101 (Vùng 4 Hải quân) luôn xác định huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Với tinh thần chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, đơn vị đã tạo bước chuyển biến tích cực trong huấn luyện, rèn luyện bộ đội, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Nâng bản lĩnh chiến đấu của bộ đội
Có mặt tại thao trường của Lữ đoàn 101 vào những ngày đầu tháng 7, chúng tôi cảm nhận rõ khí thế huấn luyện khẩn trương, nghiêm túc. Dưới cái nắng bỏng rát của vùng biển Cam Ranh (Khánh Hòa), từng cán bộ, chiến sĩ miệt mài rèn luyện với quyết tâm đạt kết quả cao nhất trong từng khoa mục huấn luyện.
Tại khu vực huấn luyện của đơn vị, Trung tá Đỗ Ngọc Quý, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Tăng 867, trực tiếp chủ trì thông qua giáo án một khoa mục huấn luyện. Tình huống huấn luyện giả định được triển khai sát thực tế chiến đấu, yêu cầu đơn vị phối hợp chặt chẽ, thực hành cơ động lực lượng, hành quân xuống tàu và làm chủ các phương án tác chiến trên biển.
Đơn vị hải quân đánh bộ có cường độ huấn luyện cao, môi trường rèn luyện khắc nghiệt đòi hỏi mỗi quân nhân không chỉ có nền tảng thể lực tốt mà còn phải có bản lĩnh, ý chí vững vàng. Đại úy Hồ Minh Tuấn, Phó tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Hải quân đánh bộ cơ giới 863 cho biết: “Chúng tôi thường xuyên tổ chức kiểm tra toàn diện, từ công tác chuẩn bị văn kiện, giáo án đến thực hành huấn luyện ngoài thực địa. Từng nội dung huấn luyện đều được giám sát chặt chẽ, bảo đảm bộ đội nắm chắc lý thuyết, thuần thục thực hành”.
Trò chuyện với chúng tôi trong giờ giải lao, Binh nhất Đặng Đăng Khoa, chiến sĩ Tiểu đội 2, Trung đội 1 (Đại đội 2, Tiểu đoàn Hải quân đánh bộ cơ giới 863) chia sẻ: “Nhiệm vụ của tôi trong khoa mục là cơ động theo xe, nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí và triển khai chiến đấu. Để đáp ứng yêu cầu đó, ngoài giờ huấn luyện chính khóa, tôi thường xuyên tự rèn thể lực bằng chạy dài, kết hợp với luyện tập các môn đá bóng, cầu lông. Đặc biệt, các buổi chạy vũ trang hằng tuần và hành quân tập trung của đơn vị giúp tôi tăng sức bền và khả năng chịu đựng”.
Theo Đại úy Nguyễn Đức Quân, Đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn Hải quân đánh bộ cơ giới 863, nội dung huấn luyện tiến công địch phòng ngự ven biển, đảo đòi hỏi sự hiệp đồng chặt chẽ và các kỹ năng kỹ thuật, chiến thuật thuần thục của từng cá nhân. Vì vậy, đơn vị xác định huấn luyện phải nâng dần độ khó, lấy thực hành làm trọng tâm, luyện chắc từng người, từng tổ, từng tình huống chiến đấu cụ thể.
Chủ động, sáng tạo, vượt khó vươn lên
Chia sẻ về quá trình tổ chức huấn luyện, Thượng tá Trần Quang Phú, Phó lữ đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Lữ đoàn 101 cho biết: “Lữ đoàn luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Vùng 4 Hải quân. Nội bộ đoàn kết, thống nhất, tinh thần dân chủ được phát huy đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để đơn vị vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ”.
Thực tế, nhiệm vụ huấn luyện của các đơn vị thuộc Lữ đoàn 101 luôn đặt ra yêu cầu cao. Các khoa mục chuyên ngành hải quân đánh bộ thường tổ chức trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, thao trường chuyên dùng còn hạn chế, trang bị kỹ thuật qua nhiều năm sử dụng và thường xuyên chịu tác động của môi trường biển, đảo có độ ẩm, độ mặn cao. Có thời điểm, đơn vị phải thực hiện nhiều nhiệm vụ đan xen như huấn luyện chiến sĩ mới, huấn luyện dã ngoại kết hợp trực SSCĐ, tổ chức diễn tập đối kháng bắn đạn thật...
Khắc phục những trở ngại đó, Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn 101 đề ra nhiều giải pháp sát đúng, tổ chức thực hiện linh hoạt, sáng tạo. Công tác tham mưu huấn luyện được chú trọng ngay từ khâu xây dựng kế hoạch, tổ chức tập huấn cán bộ, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, thông qua giáo án bảo đảm thống nhất, chất lượng. Phong trào thi đua phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được đẩy mạnh, góp phần khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất, mô hình học cụ.
Các cơ quan, phân đội cũng thường xuyên quán triệt cho bộ đội về tầm quan trọng, ý nghĩa nhiệm vụ huấn luyện; động viên tư tưởng, nâng cao ý chí quyết tâm, khắc phục biểu hiện ngại khó, ngại khổ. Hoạt động cổ động thao trường, tuyên truyền thi đua được tổ chức phong phú, tạo không khí thi đua sôi nổi. Công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cũng được chú trọng, duy trì nghiêm các chế độ bảo quản, bảo dưỡng vũ khí, trang bị, bảo đảm hệ số kỹ thuật tốt nhất cho nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ.
Nhờ những giải pháp đồng bộ, hiệu quả, chất lượng huấn luyện của Lữ đoàn ngày càng được nâng cao. Giai đoạn 2020-2025, kết quả huấn luyện hằng năm đạt 100% yêu cầu, trong đó có 84,5% khá, giỏi (tăng 2,34% so với giai đoạn trước). Lữ đoàn 101 nhiều năm liền được Bộ Quốc phòng và Quân chủng Hải quân tặng danh hiệu “Đơn vị huấn luyện giỏi”.
Để giữ vững danh hiệu “Đơn vị huấn luyện giỏi” và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, thời gian tới, Lữ đoàn 101 tiếp tục đổi mới tổ chức huấn luyện, trong đó chú trọng nội dung huấn luyện đổ bộ đường biển, đường không, huấn luyện sát phương án, sát thực tế chiến đấu, tiếp tục nâng cao chất lượng rèn luyện ý chí, bản lĩnh và thể lực cho bộ đội.
CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG KẺ LỢI DỤNG TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ
Tự do ngôn luận, báo chí là những quyền cơ bản của chế độ ta đã được luật định. Tuy nhiên, thời gian qua xuất hiện nhiều bài báo trên các trang mạng xã hội có những đánh giá đi ngược lại với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Đáng chú ý là luận điệu của đối tượng có tên là Song Chi, bà cho rằng: Ở Việt Nam, số lượng báo chí nhiều và một đội ngũ nhà báo đông đảo, nhưng hoàn toàn không có tự do ngôn luận, tự do báo chí.
RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC, NHÂN CÁCH NGƯỜI CÁN BỘ QUÂN ĐỘI THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH
Trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con người và vũ khí, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng nhấn mạnh nhân tố con người giữ vai trò quyết định. Trong đó, Người rất quan tâm đến đội ngũ cán bộ, vì theo Người, cán bộ là gốc của mọi công việc. “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Tốt hoặc kém ở đây bao gồm cả 2 mặt đức và tài của người cán bộ, trong đó Người xem đức là gốc, là nhân tố quyết định sự khác biệt về bản chất của quân đội cách mạng so với quân đội của giai cấp bóc lột. Vấn đề đạo đức, nhân cách của người cán bộ quân đội nói chung, cán bộ quân sự nói riêng, cũng chính là một nội dung quan trọng gắn liền với xây dựng quân đội luôn vững mạnh về chính trị. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều công sức bồi dưỡng đạo đức và nhân cách cho đội ngũ cán bộ quân đội và chính đạo đức, nhân cách của Người là một tấm gương ngời sáng cho toàn Đảng, toàn quân và dân ta noi theo.
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO THANH NIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cho rg: tương lai của dân tộc, tiền đồ của Tổ quốc và sự thành công của cách mạng phần lớn phụ thuộc vào lực lượng thanh niên. Người chỉ rõ: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên.”. Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục, đào tạo thanh niên, trong đó giáo dục đạo đức cách mạng cho họ có vị trí quan trọng đặc biệt. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên là cơ sở, điểm xuất phát cho giáo dục các lĩnh vực khác. Đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng vững chắc của thanh niên. Nhờ có đạo đức cách mạng mà mỗi thanh niên có thể tự phấn đấu hoàn thiện mình, hình thành năng lực thực tiễn để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Người cho rằng: “Cũng như sông có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Với việc đánh giá vai trò của đạo đức cách mạng như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chỉ đạo sát thực, để giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên. Trước lúc đi xa Người còn căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.









