Thứ Tư, 30 tháng 7, 2025

Phương hướng xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các điều kiện để hình thành gia đình mới không xuất hiện và có tác dụng đầy đủ ngay lập tức mà chỉ có thể hoàn chỉnh dần từng bước. Lúc đầu, xã hội mới còn tồn tại nhiều gia đình được tạo lập từ xã hội cũ, nhiều yếu tố của gia đình cũ còn ảnh hưởng trong các tầng lớp dân cư. Xây dựng gia đình mới bắt đầu từ việc cải tạo những gia đình cũ theo tinh thần của chủ nghĩa xã hội, gắn liền với việc giáo dục lớp thanh niên đến với tình yêu và hôn nhân tiến bộ. Do xã hội còn nhiều thành phần kinh tế và các giai cấp khác nhau, việc chuyển biến, hình thành yếu tố gia đình mới sẽ ở mức độ khác nhau trong các gia đình ở từng loại dân cư.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Sửa đổi, bổ sung năm 2011) xác định: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”[1]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Khắc phục bệnh thành tích, bệnh hình thức, thực hiện các chuẩn mực văn hóa gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh. Đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ”[2].

Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030,  mục tiêu chung trong xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam là xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội. Để đạt được mục tiêu đó, cần chú ý một số định hướng sau:

Một là, gia đình là tế bào của xã hội; nơi duy trì nòi giống; môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách con người và lưu giữ, trao truyền các giá trị văn hóa của dân tộc; là nền tảng xây dựng xã hội hạnh phúc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Hai là, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển bền vững; là trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội.

Ba là, phát huy vai trò của gia đình nhằm tạo môi trường giáo dục sớm, góp phần xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, phát triển toàn diện, trở thành trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi để các gia đình nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần, tiếp cận các giá trị tốt đẹp của nền văn hóa, văn minh nhân loại và các thành tựu của khoa học công nghệ.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 77.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NXb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 145. 

Chức năng thoả mãn nhu cầu tâm, sinh lý của các thành viên

 


Đây là chức năng quan trọng, có tính văn hoá - xã hội của gia đình, cùng các chức năng khác góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc. Sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình vừa là nhu cầu tình cảm, vừa là trách nhiệm, đạo lý, lương tâm của mỗi người.

Nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến giới tính và giới, tâm lý lứa tuổi và thế hệ, những căng thẳng mệt mỏi về thể xác và tâm hồn trong lao động và công tác... nhiều khi có thể được giải quyết trong một môi trường gia đình hoà thuận. Sự hiểu biết, cảm thông, chia sẻ và đáp ứng các nhu cầu tâm sinh lý giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái... làm cho mỗi thành viên có điều kiện sống lạc quan, khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần là những tiền đề cần thiết cho một thái độ, hành vi tích cực trong cuộc sống gia đình và xã hội.

Như vậy, gia đình là thiết chế đa năng. Trên đây là những chức năng cơ bản nhất. Thông qua việc thực hiện các chức năng này mà gia đình tồn tại và phát triển, đồng thời tác động đến tiến bộ chung của xã hội. Các chức năng được thực hiện trong sự thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau. Việc phân chia các nội dung của chúng chỉ là tương đối. Nhiều khi, các chức năng được thể hiện tổng hợp trong một công việc hoặc nhiều hoạt động của gia đình. Ở từng nơi và các giai đoạn khác nhau, nội dung và vị trí của mỗi chức năng có thể biến đổi phù hợp. Mọi thành viên gia đình, tuỳ thuộc vào vị thế, lứa tuổi... đều có quyền và nghĩa vụ vun đắp cho tổ ấm gia đình, đều phải tham gia vào thực hiện chức năng này của gia đình với các mức độ khác nhau. Trong đó, trước hết phải kể đến vai trò của những bậc làm cha, làm mẹ, đặc biệt là phụ nữ.

Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình

 


Hoạt động kinh tế và tổ chức đời sống là một chức năng cơ bản đảm bảo cho sự phát triển tiến bộ của gia đình. Nó xuất phát từ nhu cầu khách quan của mỗi thành viên và từng gia đình. Thực hiện tốt chức năng này không những tạo cho gia đình có cơ sở để tổ chức tốt đời sống, nuôi dạy con cái mà còn đóng góp to lớn đối với sự phát triển của xã hội. Cũng như các đơn vị kinh tế khác, gia đình tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và tái sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Tuy nhiên, đặc thù của gia đình khác các đơn vị kinh tế khác là ở chỗ, gia đình là cộng đồng duy nhất tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất sức lao động - yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất của xã hội.

Gia đình còn là một đơn vị tiêu dùng trong xã hội. Gia đình thực hiện chức năng này để duy trì đời sống của gia đình về lao động sản xuất cũng như các sinh hoạt trong gia đình. Đó là sử dụng hợp lý các khoản thu nhập của các thành viên trong gia đình vào việc bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của mỗi thành viên cùng với việc sử dụng quỹ thời gian nhàn rỗi để tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhằm nâng cao sức khỏe, đồng thời duy trì sở thích, sắc thái riêng của mỗi người. Tuy nhiên, cần phải phê phán các hình thức làm giàu không chính đáng, vun vén lợi ích cá nhân; không biết quý trọng tài sản, đua đòi, lãng phí. 

Gia đình là một chủ thể sở hữu tài sản, gồm cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Vị trí của các thành viên trong gia đình trong quan hệ sở hữu tài sản có thể không hoàn toàn giống nhau. Ở mỗi chế độ xã hội, xét về bản chất, quan hệ sở hữu trong gia đình bị chi phối bởi quan hệ xã hội.Cùng với sự phát triển của xã hội, ở các hình thức gia đình khác nhau hoặc ngay cả ở một hình thức gia đình, tùy theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, chức năng kinh tế của gia đình có sự khác nhau về quy mô sản xuất, sở hữu tư liệu sản xuất và phân phối. Vị trí, vai trò của kinh tế gia đình và mối quan hệ của kinh tế gia đình với các đơn vị kinh tế khác trong các xã hội cũng không hoàn toàn giống nhau.

Gia đình cần tạo điều kiện thuận lợi để các thành viên nghỉ ngơi, hưởng thụ hợp lý và chính đáng các thành quả lao động của mình. Việc động viên các gia đình nâng cao thu nhập, trên cơ sở đó định hướng cho tiêu dùng lành mạnh, tạo điều kiện tốt để kiến thức khoa học và các phương tiện kỹ thuật đi vào cuộc sống, góp phần giải phóng phụ nữ... là những vấn đề thiết thực cho sự nghiệp xây dựng gia đình mới.

Xu hướng phát triển của dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

 


Dân tộc (tộc người): Là một cộng đồng người ổn định được hình thành trong lịch sử, có chung một nguồn gốc, đặc điểm sinh hoạt kinh tế, có chung một ngôn ngữ, một nền văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Dân tộc - tộc người thường được nhận biết qua những đặc trưng chủ yếu như: Các thành viên trong cùng một dân tộc có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế; có một ngôn ngữ chung (thường là tiếng mẹ đẻ); có chung đặc điểm sinh hoạt văn hóa; có chung một ý thức tự giác dân tộc được biểu hiện cao nhất ở việc tự nhận tên gọi của dân tộc mình. Trên thực tế, có tộc người có đủ các đặc trưng trên, nhưng có tộc người không còn đủ các đặc trưng, trong trường hợp đó, ý thức tự giác tộc người là tiêu chí nhận biết còn lại cuối cùng của dân tộc.

Dân tộc (quốc gia dân tộc): Là một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, chế độ chính trị và nền kinh tế thống nhất, chung một ngôn ngữ và một nền văn hóa. Theo nghĩa này, dân tộc có các đặc trưng sau: Có một lãnh thổ chung, được phân định bằng đường biên giới giữa các quốc gia, mà trên lãnh thổ đó có một hay nhiều tộc người cùng sinh sống; có đời sống kinh tế chung, với một thị trường, một đồng tiền chung thống nhất làm nền tảng, điều kiện vật chất cơ bản bảo đảm sự cố kết bền chặt của quốc gia dân tộc; có một ngôn ngữ giao tiếp chung, trong quốc gia dân tộc - quốc ngữ, thường là ngôn ngữ của dân tộc đa số được chọn làm ngôn ngữ chung trong giao tiếp; có tâm lý chung biểu hiện ở nền văn hóa, tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc, là yếu tố cơ bản đối với các quốc gia dân tộc; có một thể chế chính trị với một nhà nước thống nhất để quản lý, điều hành mọi hoạt động của quốc gia dân tộc và quan hệ với các quốc gia dân tộc khác, đây là đặc trưng quan trọng quy định bản chất chính trị và sự phát triển của quốc gia dân tộc.

Nghiên cứu vấn đề dân tộc, phong trào dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin đã chỉ ra hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc:

Xu hướng thứ nhất, các dân tộc tách ra để trở thành các dân tộc độc lập, các cộng đồng dân cư tách ra để xác lập cộng đồng dân tộc độc lập. Trong thực tế, xu hướng này biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc, thành các quốc gia độc lập mà ở đó, mỗi dân tộc có quyền quyết định vận mệnh chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình. Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản như: Phong trào đấu tranh chống áp bức, bóc lột để thành lập các quốc gia dân tộc độc lập.

Xu hướng thứ hai, liên hiệp lại với nhau giữa các dân tộc, đó là xu hướng các tộc người trong cùng một quốc gia hoặc nhiều dân tộc ở các quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Xu hướng này do nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ, giao lưu kinh tế, văn hoá và xu thế toàn cầu hoá. Xu hướng này tác động mạnh mẽ khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.

Trong thời đại hiện nay, hai xu hướng của sự phát triển dân tộc được biểu hiện rất phong phú và đa dạng trên phạm vi toàn thế giới:  

Xét trong phạm vi các quốc gia xã hội chủ nghĩa có nhiều dân tộc (tộc người), hai xu hướng này phát huy tác dụng cùng chiều, bổ sung hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong từng tộc người và trong cả cộng đồng dân tộc. Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các dân tộc. Tuy nhiên, sự hoà quyện đó không xoá bỏ sắc thái và những đặc thù của dân tộc. Ngược lại, nó bảo lưu, giữ gìn và phát huy những tinh hoa, bản sắc dân tộc. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa cả hai xu hướng trên đều loại trừ các tư tưởng và hành vi kỳ thị dân tộc, chia rẽ dân tộc, tự ti dân tộc, dân tộc hẹp hòi…

Xét trên phạm vi thế giới, hai xu hướng này biểu hiện nổi bật ở phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nô dịch đòi giành lấy quyền tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình. Thời đại ngày nay, còn có xu hướng các dân tộc muốn xích lại gần nhau để hợp thành một quốc gia thống nhất. Các dân tộc có lợi ích chung mang tính khu vực dựa trên những yếu tố gần nhau về địa lý, giống nhau về môi trường thiên nhiên, tương đồng về mặt văn hoá…đều có nhu cầu nguyện vọng liên kết với nhau để phát triển.

Dân tộc xã hội chủ nghĩa là loại hình dân tộc phát triển cao nhất trong lịch sử, ra đời và phát triển gắn liền với thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Dân tộc xã hội chủ nghĩa mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của dân tộc nói chung. Tuy nhiên, dân tộc xã hội chủ nghĩa còn có những đặc điểm riêng: Có nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là chủ yếu; giai cấp công nhân là người đại diện, nhân dân lao động làm chủ. Cơ cấu xã hội - giai cấp dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo; quan hệ bình đẳng, không có bóc lột, lợi ích dân tộc gắn liền lợi ích giai cấp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất đa dạng, kết hợp truyền thống với hiện đại.

Thực chất của vấn đề dân tộc là sự mâu thuẫn, xung đột lợi ích trong nội bộ tộc người, giữa các tộc người trong quốc gia đa tộc, giữa các quốc gia dân tộc, nhất là về các quyền cơ bản của các dân tộc: Quyền được tồn tại với tính cách là một tộc người, dân tộc; quyền độc lập của tộc người, dân tộc; quyền dân tộc tự quyết, quyền dân tộc bình đẳng; quyền độc lập về kinh tế và những điều kiện để phát triển kinh tế lâu dài, bền vững; quyền giữ gìn và phát triển ngôn ngữ, bản sắc văn hoá....Giải quyết vấn đề dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo nên động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng nhân dân lao động khỏi sự áp bức, bóc lột và nô dịch, góp phần thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản.

Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ nhằm phát huy vai trò của các chủ thể trong khối liên minh

 


Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối, là tiền đề quan trọng để thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô sẽ tạo điều kiện để phát huy vai trò, thế mạnh của các thành phần kinh tế, của các vùng, miền, góp phần làm cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, bền vững. Rõ ràng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế đất nước, nâng cao đời sống của nhân dân, qua đó góp phần củng cố và tăng cường khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Nghị quyết Ðại hội lần thứ XIII của Ðảng xác định, cần phải: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”1.

Đẩy mạnh nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng các thành tựu của khoa học- công nghệ hiện đại, những thành tựu mới của cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong tất cả các ngành, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ. Bởi vì, khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Do đó, phải đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ. Tích cực ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới vào sản xuất công nghiệp, nông nghiệp làm cho năng suất lao động ngày càng tăng, sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và hướng mạnh sang xuất khẩu… làm cơ sở vững chắc cho sự phát triển của nền kinh tế thống nhất.



1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 337.

Xây dựng và thực hiện có hiệu quả hệ thống các chính sách đối với các chủ thể trong khối liên minh

 


Đối với giai cấp công nhân, quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng phát triển cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động; bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc, nhà ở, các công trình phúc lợi phục vụ công nhân; sửa đổi bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,… để bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân. 

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân”1.

Đối với giai cấp nông dân, xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân; tạo điều kiện hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ để giai cấp nông dân thực sự là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông thôn. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Gắn xây dựng giai cấp nông dân với phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn”1.

Đối với đội ngũ trí thức, “Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học”2. Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo; trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ, tôn vinh xứng đáng những cống hiến của trí thức; gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với trí thức và ngược lại.



1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 167.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hình thức liên kết, hợp tác đặc biệt giữa ba lực lượng cơ bản trong xã hội nhằm đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là sự liên kết, hợp tác đặc biệt giữa ba lực lượng căn bản trong xã hội. Đây là liên minh tự nguyện của các giai cấp và tầng lớp cơ bản nhất trong xã hội, giữ vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển.

Đây là liên minh toàn diện, tự nguyện, lâu dài và bền vững, vì nội dung liên minh thể hiện cả về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quân sự, quốc phòng - an ninh. Sự liên minh toàn diện ấy có cơ sở từ mục đích của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn đấu tranh lật đổ sự thống trị của thực dân, phong kiến để giành chính quyền, liên minh về chính trị - quân sự có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, quyết định đến sự thắng lợi của cách mạng. Trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, liên minh về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp cách mạng phát triển vững chắc.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là cơ sở để củng cố tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội. Xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp cách mạng lâu dài, gian khổ, phức tạp, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam mới giành được thắng lợi.

Trong giai đoạn hiện nay khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ở Việt Nam chính là cơ sở tạo ra động lực cơ bản thực hiện thắng lợi mục tiêu sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

Từ sự thống nhất về lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa trong liên minh giai cấp.

Lợi ích chính là cơ sở khách quan cho sự hình thành, phát triển của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là động lực thúc đẩy giai cấp công nhân, giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức liên minh với nhau.

Về lợi ích trước mắt, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, ngoài giai cấp công nhân bị bóc lột hết sức nặng nề, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cũng bị giai cấp tư sản bóc lột thậm tệ. Trong xã hội ấy, công nhân, nông dân và trí thức chỉ là thân phận nô lệ, hoàn toàn không có tự do và dân chủ, vì vậy lợi ích trước mắt của họ là được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản để trở thành người tự do thực sự. Điều này phản ánh ý chí, nguyện vọng của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cuộc đấu tranh để giải phóng cho mình.

Lợi ích lâu dài của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là họ được cùng nhau xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Ở đó họ được làm chủ trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, cùng được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn tồn tại giai cấp và đấu tranh giai cấp. Các giai cấp, tầng lớp có lợi ích căn bản thống nhất với nhau, song cũng còn lợi ích riêng của mỗi giai tầng. Để để đạt được lợi ích lâu dài và bảo đảm sự thống nhất về lợi ích của mỗi giai cấp, tầng lớp, đòi hỏi phải không ngừng củng cố và phát triển liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Như vậy, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đều thống nhất với nhau. Bảo đảm tốt lợi ích trước mắt là tiền đề, điều kiện để thực hiện lợi ích lâu dài của cả khối liên minh. Để thực hiện được vấn đề đó, điều có ý nghĩa quyết định là phải đặt khối liên minh này dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong là Đảng cộng sản.  

Thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân thế giới từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đến nay đã chứng minh rằng ở đâu và lúc nào, giai cấp công nhân liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác, thì cách mạng giành thắng lợi. Nếu không liên minh được với các lực lượng trên thì cách mạng sẽ gặp khó khăn thậm chí thất bại. Bài học từ Công xã Pari bị thất bại do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cơ bản là giai cấp công nhân Pháp không thực hiện được liên minh với giai cấp nông dân, người bạn đồng minh tự nhiên của mình. Vì vậy, đã không tập hợp được lực lượng cách mạng đông đảo và không tạo ra được sức mạnh để tiêu diệt kẻ thù, cách mạng đã bị dìm trong tuần lễ đẫm máu của giai cấp tư sản Pháp. Cách mạng Tháng Mười năm 1917 thành công là do Đảng Bônsêvích Nga đứng đầu là V.I.Lênin đã vận dụng nguyên lý về liên minh giai cấp của chủ nghĩa Mác vào điều kiện cách mạng nước Nga để tập hợp đông đảo giai cấp công nhân, các lực lượng quần chúng cách mạng khác nhất là những người nông dân mặc áo lính dưới chế độ Nga Hoàng nên đã tạo ra sức mạnh tổng hợp đưa các mạng đến thắng lợi. Chính nhờ dựa vào khối liên minh vững chắc này mà Đảng Bônsêvích đã lãnh đạo đưa Liên Xô trở thành cường quốc về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, trở thành một thành chì của chủ nghĩa xã hội thế giới.

Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô đầu những năm 90 của thế kỷ XX do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân là đã không chú trọng duy trì xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động trong đó đặc biệt là trí thức.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đã được xây dựng và đóng vai trò quyết định thắng lợi của cách mạng. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đặc biệt là thắng lợi của công cuộc đổi mới hơn 35 năm qua, đã chứng minh cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nòng cốt.

Từ vị trí, vai trò của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa trong liên minh giai cấp.

 


.Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chủ nghĩa tư bản xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ đó, đòi hỏi giai cấp công nhân phải tập hợp và lôi kéo được nông dân, trí thức và các giai tầng khác trong xã hội, tạo lực lượng hùng hậu nhằm xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

Giai cấp nông dân là một lực lượng xã hội đông đảo, có vai trò quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong xã hội cũ, họ bị bóc lột nặng nề, có nguyện vọng được giải phóng, song do địa vị kinh tế - xã hội quy định, họ không thể tự giải phóng cho mình, mà phải liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân, chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân để giải phóng cho giai cấp mình và phát triển.

Trí thức có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, trí thức cũng bị bóc lột và cũng có khát vọng được giải phóng, được cống hiến cho sự phát triển xã hội. Nhưng do địa vị kinh tế - xã hội quy định, trí thức không thể tự giải phóng cho mình, họ chỉ được giải phóng và phát huy vai trò của mình khi liên minh với giai cấp công nhân và chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Đánh giá về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức, V.I.Lênin khẳng định: “Trước sự liên minh của các đại biểu khoa học, giai cấp vô sản và giới kỹ thuật thì không một thế lực đen tối nào đứng vững được”2.



2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 218.

Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa là hình thức hợp tác đặc biệt giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cuộc đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa khác về bản chất so với các liên minh giai cấp từng có trong lịch sử. Nếu như các hình thức liên minh khác là nhất thời, vụ lợi, không dựa trên sự thống nhất về lợi ích. Trái lại, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là hình thức liên minh tự nguyện. Bởi vì, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, họ đều bị bóc lột nặng nề và cùng có chung kẻ thù là giai cấp tư sản; họ đều có chung khát vọng được giải phóng để trở thành người làm chủ xã hội và được cống hiến, phát huy trí tuệ nhằm xây dựng một chế độ mới tự do, bình đẳng, không có áp bức, bóc lột. Điều đó đã thôi thúc và gắn kết họ với nhau, tự nguyện đứng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột và xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là liên minh có nội dung toàn diện, mang tính lâu dài, bền vững dựa trên sự thống nhất về lợi ích căn bản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng có nội dung toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, trong cuộc đấu tranh ấy, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cùng sát cánh bên nhau chiến đấu để giành thắng lợi cuối cùng. Mặt khác, do được xây dựng trên cơ sở sự thống nhất về lợi ích căn bản, nên liên minh của họ có nội dung toàn diện, mang tính tự giác, lâu dài, bền vững trong suốt tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, từ giai đoạn giành chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản đến giai đoạn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý xã hội

 


Quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân và toàn xã hội. Sự tham gia của nhân dân vào quyền lực chính trị là một đặc trưng của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân trong quản lý nhà nước, đồng thời, xác định rõ những nhiệm vụ mà nhà nước thực hiện trong việc bảo đảm những điều kiện cơ bản để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Do vậy, việc mở rộng và thu hút nhân dân tích cực tham gia vào quản lý xã hội, qua đó, tăng cường sự kiểm soát của xã hội đối với những cơ quan quản lý của nhà nước là con đường đáng tin cậy nhất nhằm khắc phục bệnh quan liêu - một biểu hiện của sự xa cách giữa khách thể và chủ thể quản lý: “Cần xây dựng ngay chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước, không có “sự giám sát” từ trên, không có quan lại”[1].

Nội dung nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý xã hội thông qua hình thức tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện ở việc trực tiếp làm việc trong các cơ quan của bộ máy nhà nước; thảo luận các vấn đề chung của đất nước và địa phương; giám sát hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước; trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân trong quản lý nhà nước. Ngoài ra, nhân dân có thể tham gia gián tiếp vào hoạt động của các cơ quan nhà nước thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng, thay mặt nhân dân vào cơ quan quyền lực nhà nước. Đây là hình thức tham gia rộng rãi nhất của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước về xã hội.

Nhân dân tham gia vào quản lý xã hội thể hiện chủ yếu thông qua các tổ chức xã hội, biểu hiện ở việc nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia tích cực vào hoạt động của các tổ chức xã hội. Các tổ chức xã hội là công cụ đắc lực của nhân dân trong việc thực hiện quyền tham gia vào quản lý xã hội. Thông qua các hoạt động của các tổ chức xã hội, vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân trong quản lý xã hội được phát huy. Đây là một hình thức hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm dân chủ và mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý xã hội còn được thể hiện ở việc tham gia trực tiếp vào hoạt động tự quản ở cơ sở. Đây là hoạt động mang tính chất tự quản cao, do chính nhân dân tự thực hiện ở nơi cư trú, làm việc, sinh hoạt như hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường,... Thông qua những hoạt động mang tính chất tự quản cao, người dân là những chủ thể tham gia quản lý xã hội tích cực nhất, và quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội được nhà nước tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Các hình thức nhân dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội tạo điều kiện phát huy sức lực, trí tuệ của nhân dân trong quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa.

 

 



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 31, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 337.

Không ngừng nâng cao quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa

 


Quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là tổng thể những hoạt động có mục đích của nhà nước xã hội chủ nghĩa, các cộng đồng, tổ chức xã hội và nhân dân dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản tác động đến toàn bộ hệ thống xã hội hoặc đến từng lĩnh vực, từng khâu của hệ thống đó nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, duy trì và phát triển xã hội theo mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Quản lý xã hội là vấn đề có tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ chính trị trung tâm, chủ yếu của đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa sau khi giành được chính quyền và trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực chất của quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là những hoạt động tác động có ý thức, có mục đích của đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đến toàn bộ các quá trình xã hội, bảo đảm cho hệ thống xã hội hoạt động tối ưu, phát triển theo đúng quy luật khách quan và những tiêu chí phát triển đã xác định trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Mục đích quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực trong nước và ngoài nước phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ chủ yếu của quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là làm cho hoạt động của nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các quan hệ giữa con người với con người trong xã hội,... phù hợp yêu cầu quy luật khách quan; sử dụng những điều kiện khách quan để điều chỉnh xã hội, kiểm soát xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển nhằm đạt hiệu quả tối ưu. Trong đó, thống kê và kiểm soát xã hội là nhiệm vụ cơ bản, mấu chốt nhất của nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin đã khẳng định: thống kê và kiểm soát xã hội, nó làm cho “hết thảy mọi công dân đều biến thành người làm công của nhà nước do công nhân vũ trang cấu thành. Hết thảy mọi công dân đều trở thành nhân viên và công nhân của một “Xanh-đi-ca” nhà nước duy nhất của toàn dân. Tất cả vấn đề là làm cho họ cùng có những cống hiến ngang nhau, giữ đúng mức độ lao động và lĩnh tiền ngang nhau”[1].

Chủ thể quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là hệ thống chính trị, trọng tâm là nhà nước và nhân dân dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Đảng cộng sản lãnh đạo, quản lý xã hội bằng đường lối, chính sách, thông qua nhà nước và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa do mình sáng lập. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là cơ quan quyền lực chính trị, có vai trò là chủ thể quan trọng nhất thực hiện quản lý nhà nước về mặt xã hội; thông qua những quy định, luật lệ làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội, nhằm duy trì, quản lý, xây dựng xã hội mới. Các tổ chức chính trị - xã hội với tư cách là những tổ chức do nhân dân lập nên và là một trong những bộ phận cấu thành hệ thống chính trị, có vai trò tổ chức và huy động mọi nguồn lực của nhân dân thực hiện chức năng quản lý xã hội theo quy định của pháp luật.

Đối tượng quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là con người, các hoạt động và các quan hệ của cộng đồng người trong xã hội trên tất cả các lĩnh vực, các quá trình xã hội cùng các nguồn tài nguyên khác của đất nước. Cơ chế quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ, bảo đảm mọi quyền lực xã hội thuộc về nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Phạm vi quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tư tưởng và các quan hệ giữa con người với con người trong xã hội. Loại hình quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa bao gồm quản lý nhà nước, quản lý hành chính công, quản lý kinh tế, quản lý ngành,... Phương tiện quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là đường lối, chủ trương, chính sách; hiến pháp, pháp luật; các đòn bẩy tín dụng, ngân hàng, khen thưởng; dư luận xã hội; đạo đức xã hội;…



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 124.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THAY THẾ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ BẰNG MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH LÀ KHÔNG PHÙ HỢP!

     Cử tri đề nghị xem xét có thể chuyển đổi hình thức học môn học này thành khóa huấn luyện về QPAN cho sinh viên tương tự như huấn luyện nghĩa vụ quân sự (NVQS) nhưng thời gian rút ngắn trong vòng 9 tháng đến một năm để sinh viên sau khi tốt nghiệp không phải tham gia NVQS, nhằm tạo điều kiện cho các em sớm có cơ hội tìm kiếm việc làm và sự ổn định công việc do không bị gián đoạn bởi việc tham gia NVQS.

Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội chuyển kiến nghị của cử tri tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) đến Bộ Quốc phòng theo Công văn số 602/UBDNGS15 ngày 21-5-2025 với nội dung: “Theo quy định của pháp luật, hiện nay, sinh viên cao đẳng, đại học bắt buộc phải học môn Giáo dục quốc phòng và an ninh (QPAN). Cử tri đề nghị xem xét có thể chuyển đổi hình thức học môn học này thành khóa huấn luyện về QPAN cho sinh viên tương tự như huấn luyện nghĩa vụ quân sự (NVQS) nhưng thời gian rút ngắn trong vòng 9 tháng đến một năm để sinh viên sau khi tốt nghiệp không phải tham gia NVQS, nhằm tạo điều kiện cho các em sớm có cơ hội tìm kiếm việc làm và sự ổn định công việc do không bị gián đoạn bởi việc tham gia NVQS.

Đồng thời, cùng với quy định trên cần nghiên cứu để có quy định cho phép tạm hoãn NVQS đối với trường hợp sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông có nguyện vọng lao động ở nước ngoài hoặc tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước nhưng phải có cam kết tham gia NVQS trước 25 tuổi; kèm với đó cần có chế tài cụ thể để ràng buộc trách nhiệm, nhất là quy định mức xử phạt cao đối với hành vi vi phạm, trốn tránh NVQS”.

Ngày 14-7-2025, Bộ Quốc phòng trả lời kiến nghị này như sau:
Mục tiêu giáo dục QPAN cho sinh viên được quy định tại khoản 2, Điều 12, Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh năm 2013: “Bảo đảm cho người học có kiến thức cơ bản về quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về QPAN; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng LLVT nhân dân; bổ sung kiến thức về phòng thủ dân sự và kỹ năng quân sự, sẵn sàng thực hiện NVQS bảo vệ Tổ quốc”.

Về thực hiện, tạm hoãn, miễn NVQS, Điều 45, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định:

1. Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.

2. Công dân phải thực hiện NVQS và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

Điều 4, Luật NVQS năm 2015 quy định:

1. NVQS là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân. Thực hiện NVQS bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân.

2. Công dân trong độ tuổi thực hiện NVQS, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện NVQS theo quy định của luật này.

Điều 41, Luật NVQS năm 2015 quy định tạm hoãn và miễn thực hiện NVQS, trong đó không quy định việc tạm hoãn đối với các trường hợp tốt nghiệp trung học phổ thông có nguyện vọng đi lao động ở nước ngoài hoặc tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước.

Về xử lý vi phạm trong lĩnh vực NVQS, Khoản 1, Điều 59, Luật NVQS năm 2015 quy định: Tổ chức, cá nhân có hành vi trốn tránh, chống đối, cản trở việc thực hiện NVQS thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Chế tài xử lý vi phạm cụ thể được quy định từ Điều 332 đến Điều 335, Bộ luật Hình sự hiện hành và Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 9-10-2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 37/2022/NĐ-CP ngày 6-6-2022 của Chính phủ.

Như vậy, Hiến pháp và pháp luật hiện nay đã quy định rõ ràng việc thực hiện, tạm hoãn, miễn NVQS; các quy định mức xử phạt đối với hành vi vi phạm trốn tránh NVQS. Các quy định hiện nay bảo đảm công bằng xã hội, thuận tiện trong công tác quản lý và tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ.

Hiện trên phạm vi cả nước, công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ bình quân hơn 55%, riêng tỉnh Quảng Bình (cũ) là 64% so với tổng số thanh niên trong độ tuổi sẵn sàng nhập ngũ. Việc mở rộng thêm đối tượng tạm hoãn thực hiện NVQS như kiến nghị của cử tri là chưa phù hợp với tình hình hiện nay, vì sẽ làm giảm nguồn tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ hằng năm, phát sinh thủ tục hành chính trong lĩnh vực NVQS, tạo kẽ hở để nhiều đối tượng lợi dụng trốn tránh, nảy sinh tiêu cực trong triển khai thực hiện và gây mất công bằng xã hội.

Từ những quy định của pháp luật trên, việc chuyển đổi hình thức môn Giáo dục quốc phòng và an ninh thành khóa huấn luyện về QPAN cho sinh viên tương tự như huấn luyện NVQS là không phù hợp./.
Ảnh: Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh, Đại học Cần Thơ kiểm tra kết thúc học phần trên máy bắn tập MPT-03 cho sinh viên.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG HỘI ĐÀM VỚI BỘ TRƯỞNG QUỐC PHÒNG INDONESIA.

     Sáng 30-7, ngay sau lễ đón tại trụ sở Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã hội đàm với ngài Sjafrie Sjamsoeddin, Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia đang thăm chính thức Việt Nam.

Tham dự hội đàm có Thiếu tướng Nguyễn Bá Lực, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, Việt Nam và Indonesia là hai nước láng giềng có chung đường biên giới trên biển, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Cộng đồng ASEAN. Việc nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 3-2025 là dấu mốc lịch sử, mở ra chương mới trong quan hệ giữa hai nước, trong đó hợp tác chính trị, quốc phòng, an ninh là những trụ cột quan trọng.

Theo Đại tướng Phan Văn Giang, thời gian qua, quan hệ hợp tác quốc phòng song phương đã đạt được những kết quả tốt đẹp, đóng góp quan trọng vào việc củng cố sự tin cậy chính trị giữa hai nước, nổi bật trên các lĩnh vực: Trao đổi đoàn, tiếp xúc các cấp, nhất là cấp cao được hai bên coi trọng; hợp tác giữa các quân, binh chủng và lực lượng thực thi pháp luật trên biển tiếp tục là điểm sáng; hợp tác công nghiệp quốc phòng đạt kết quả tích cực; hợp tác trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, hợp tác giữa các cơ quan nghiên cứu chiến lược được thúc đẩy; tích cực tham vấn, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương, nhất là các cơ chế do ASEAN dẫn dắt và các sự kiện quốc tế do mỗi bên tổ chức.

Đại tướng Phan Văn Giang chúc mừng Indonesia vừa qua tổ chức thành công Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Indonesia lần thứ 10 (tháng 6-2025); trân trọng cảm ơn Indonesia đã cử đoàn sang Việt Nam dự Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024.

Đại tướng Phan Văn Giang đề nghị thời gian tới, hai bên tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác tin cậy, toàn diện, thực chất, trọng tâm là: Trao đổi đoàn, gặp gỡ, tiếp xúc cấp cao và các cấp; tiếp tục phát huy hiệu quả các cơ chế hiện có, nhất là cơ chế đối thoại chính sách quốc phòng; hợp tác đào tạo; hợp tác quân, binh chủng, công nghiệp quốc phòng; tiếp tục tham vấn chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các cơ chế, diễn đàn đa phương.

Về phần mình, ngài Sjafrie Sjamsoeddin nhấn mạnh tới sự phát triển của quan hệ hợp tác quốc phòng song phương trên tinh thần tin cậy giữa hai bên; khẳng định chuyến thăm là một dấu mốc trong quan hệ hợp tác quốc phòng Indonesia - Việt Nam. Ngài Sjafrie Sjamsoeddin đề nghị Bộ Quốc phòng hai nước thúc đẩy hợp tác hơn nữa, phù hợp với khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện được thiết lập nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Indonesia của Tổng Bí thư Tô Lâm hồi tháng 3-2025.

Tại hội đàm, hai bên cũng trao đổi về tình hình thế giới, khu vực và các vấn đề cùng quan tâm. Đại tướng Phan Văn Giang khẳng định quan điểm nhất quán của Việt Nam là giải quyết mọi bất đồng ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế./.



Theo QĐND 
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG CHỦ TRÌ LỄ ĐÓN BỘ TRƯỞNG QUỐC PHÒNG INDONESIA.

     Sáng 30-7, tại trụ sở Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chủ trì lễ đón ngài Sjafrie Sjamsoeddin, Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia thăm chính thức Việt Nam.

Tham dự lễ đón có Thiếu tướng Nguyễn Bá Lực, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chuyến thăm nhằm duy trì tiếp xúc cấp cao, góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước, hai quân đội ngày càng thực chất, hiệu quả, thiết thực, hướng tới kỷ niệm 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Indonesia (30-12-1955 / 30-12-2025); là cơ hội để hai bên trao đổi, thống nhất định hướng hợp tác quốc phòng song phương thời gian tới.

Thời gian qua, quan hệ Việt Nam - Indonesia có sự phát triển toàn diện. Đặc biệt, việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Tô Lâm hồi tháng 3-2025 là dấu mốc lịch sử trong quan hệ hai nước; thể hiện quyết tâm chính trị của hai bên trong việc đưa quan hệ hợp tác ngày càng tin cậy, thực chất, hiệu quả, trong đó hợp tác quốc phòng, an ninh là một trong những trụ cột quan trọng.

Cùng với sự phát triển tốt đẹp của quan hệ song phương, hợp tác quốc phòng Việt Nam - Indonesia đạt những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực, nổi bật là trao đổi đoàn các cấp; duy trì hiệu quả các cơ chế tham vấn, đối thoại; hợp tác đào tạo, hợp tác giữa các quân, binh chủng; công nghiệp quốc phòng; phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn, cơ chế đa phương...





Theo QĐND 
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG DỰ KHAI MẠC ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ BỘ TỔNG THAM MƯU - CƠ QUAN BỘ QUỐC PHÒNG LẦN THỨ XIX, NHIỆM KỲ 2025-2030!

     Sáng 29-7, tại Hà Nội, Đảng bộ Bộ Tổng Tham mưu - Cơ quan Bộ Quốc phòng tổ chức trọng thể Đại hội đại biểu lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2025-2030. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dự, chỉ đạo.

Cùng dự Đại hội có các đồng chí: Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (BQP); Đại tướng Ngô Xuân Lịch, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó chủ tịch Quốc hội khóa XIV, nguyên Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Thượng tướng Phạm Hoài Nam; Thượng tướng Nguyễn Hồng Thái; Thượng tướng Lê Huy Vịnh; Thượng tướng Nguyễn Văn Hiền.

Các đồng chí Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam: Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng; Thượng tướng Nguyễn Quang Ngọc, Ủy viên Trung ương Đảng; Trung tướng Thái Đại Ngọc, Ủy viên Trung ương Đảng; Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn; Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa; Trung tướng Phạm Trường Sơn; Thiếu tướng Nguyễn Bá Lực.

Đại biểu Thủ trưởng Tổng cục Chính trị có Thượng tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; đại biểu các cơ quan chức năng của Tổng cục Chính trị và 299 đại biểu đại diện cho hơn 9.000 đảng viên trong toàn đảng bộ.

Trước giờ khai mạc, đoàn đại biểu do đồng chí Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Bí thư Đảng ủy BTTM - Cơ quan BQP, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam làm trưởng đoàn đã dâng hoa, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và dâng hương tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ trên đường Bắc Sơn.

Phương châm của Đại hội: “Đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, đột phá, phát triển”. Chủ đề của Đại hội: “Phát huy truyền thống Bộ Tổng Tham mưu anh hùng; xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội có nhiệm vụ: Tổng kết thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ nhiệm kỳ 2020 - 2025; xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo nhiệm kỳ 2025 - 2030; thông qua chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội; thảo luận đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị của Quân ủy Trung ương trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII; bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới; bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII.

Phát biểu chỉ đạo Đại hội, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, Đảng bộ BTTM-Cơ quan BQP là một trong những đảng bộ lớn, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội, với gần 700 tổ chức Đảng và hơn 9.000 đảng viên. Trong 5 năm qua, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, từ xung đột ở Trung Đông, châu Âu cho đến những bất ổn ngay trong khu vực ASEAN, Đảng bộ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Quân ủy Trung ương, BQP, cùng sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, Đảng bộ BTTM-Cơ quan BQP đã phát huy cao độ truyền thống "Trung thành, mưu lược; tận tụy, sáng tạo; đoàn kết, hiệp đồng; quyết chiến, quyết thắng". Trong đó, nổi bật là đã lãnh đạo thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng; chỉ huy, chỉ đạo nâng cao sức mạnh, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân và dân quân tự vệ; phối hợp hiệu quả xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh cả về tiềm lực và thế trận. Lực lượng dân quân tự vệ chiếm 1,41% dân số, là lực lượng nòng cốt sẵn sàng ứng phó trong cả thời bình và khi có tình huống.

Đề cập đến các nhiệm vụ an ninh phi truyền thống, Đại tướng Phan Văn Giang nêu rõ, trong dịch Covid-19 hay các tình huống thiên tai, sự cố bất thường như ở Nghệ An, Sơn La, hay các hoạt động hỗ trợ nhân đạo quốc tế tại Thổ Nhĩ Kỳ, Myanmar… cán bộ, chiến sĩ BTTM đều nêu cao tinh thần dấn thân, xung kích, không chần chừ, không e ngại hiểm nguy, sẵn sàng hy sinh vì nhiệm vụ. Hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ vì thế ngày càng được lan tỏa mạnh mẽ, được nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, trân trọng.

Cùng với Tổng cục Chính trị, BTTM đã chủ trì tham mưu, triển khai nhiều nghị quyết lớn như Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 230 của Quân ủy Trung ương, Kế hoạch 1228 của BQP. Trong nhiệm kỳ, gần 4.000 tổ chức được điều chỉnh, xây dựng nên một tổ chức quân đội cơ bản tinh, gọn, mạnh. Công tác huấn luyện, diễn tập được đổi mới sâu rộng, sát thực tiễn, trong điều kiện thời gian chuẩn bị ngắn, yêu cầu sử dụng vũ khí trang bị hiện đại ngày càng cao, tạo sức nén lớn, đòi hỏi cán bộ, sĩ quan không ngừng học hỏi, rèn luyện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Đồng chí Bộ trưởng đánh giá cao việc BTTM đã chủ động tham gia hiệu quả các hoạt động đối ngoại quốc phòng, xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn diện. Hình ảnh bộ đội Việt Nam trong hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, không chỉ thể hiện tính kỷ luật, bài bản mà còn tỏa sáng bởi nghĩa tình, tinh thần nhân đạo, trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.

Đảng bộ BTTM-Cơ quan BQP được xây dựng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức Đảng trực thuộc được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ, lãnh đạo cơ quan đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chấp hành nghiêm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, nội bộ đoàn kết thống nhất, là một trong những đảng bộ trong sạch, vững mạnh tiêu biểu trong toàn quân.

Đại tướng Phan Văn Giang đặc biệt biểu dương nỗ lực của Đảng bộ trong triển khai phong trào “bình dân học vụ số”, một nội dung khó, mới, nhưng đã được toàn hệ thống vào cuộc đồng bộ, có hiệu quả rõ rệt.

Về phương hướng nhiệm kỳ tới, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh 6 trọng tâm nhiệm vụ mà Đảng bộ BTTM-Cơ quan BQP cần tập trung thực hiện trong nhiệm kỳ tới, đó là: Tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Đại hội XII của Đảng bộ Quân đội, triển khai quyết liệt chủ trương xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại ngay từ năm 2025; chủ động tham mưu, hoàn thiện thể chế, pháp luật về quân sự, quốc phòng, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn; nghiên cứu tham mưu, đề xuất xây dựng tổ chức Quân đội có số lượng, cơ cấu hợp lý, thực sự tinh nhuệ, có những đơn vị chiến lược mang tính răn đe cao như Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa; thực hiện hiệu quả chuyển đổi số, đẩy mạnh phong trào “bình dân học vụ số”, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ, nhất là trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, huấn luyện, diễn tập; lãnh đạo xây dựng cơ quan, đơn vị BTTM vững mạnh về chính trị, phát huy giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới; tiếp tục xây dựng Đảng bộ BTTM-Cơ quan BQP trong sạch, vững mạnh tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu ngang tầm nhiệm vụ.

Đại tướng Phan Văn Giang đề nghị Đại hội tập trung thảo luận sâu các văn kiện trình Đại hội, nhất là những nội dung về quốc phòng, an ninh và công tác xây dựng Đảng, những lĩnh vực BTTM có thế mạnh. Đồng thời, cần phát huy trách nhiệm, tham gia góp ý vào báo cáo chính trị của Quân ủy Trung ương, làm rõ kết quả, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt là những nội dung liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ của BTTM. Đồng chí đề nghị đại biểu đề cao trách nhiệm, sáng suốt lựa chọn, bầu những đồng chí thực sự tiêu biểu tham gia vào Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, bảo đảm có cơ cấu hợp lý, vừa có tính liên tục, có tính kế thừa và đạt kết quả tốt.

Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang tin tưởng Đại hội Đảng bộ BTTM-Cơ quan BQP lần thứ XIX sẽ thành công tốt đẹp, góp phần quan trọng vào thành công Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng.

Trong buổi sáng, Đại hội thực hiện các nội dung: Báo cáo kết quả Đại hội tại phiên trù bị, kết quả thẩm tra tư cách đại biểu; thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện; bầu và công bố kết quả bầu Ban chấp hành Đảng bộ BTTM - Cơ quan BQP nhiệm kỳ 2025-2030.

Buổi chiều, Đại hội tiếp tục thực hiện các nội dung: Thảo luận, kết luận các ý kiến tham gia vào các văn kiện; Đảng ủy họp phiên thứ nhất bầu Ban Thường vụ, Bí thư, Phó bí thư, Ủy ban Kiểm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy nhiệm kỳ 2025-2030./.




Theo QĐND 
Môi trường ST.