Thứ Năm, 21 tháng 8, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM 1945 VÀ BÀI HỌC VỀ XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” HIỆN NAY!

     Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một mốc son chói lọi trong lịch sử nhân loại thế kỷ 20, mở ra kỷ nguyên “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” ở nước ta. Thắng lợi vĩ đại này không phải từ ưu thế vũ khí hay sự hỗ trợ của liên minh quốc tế, mà chính từ sức mạnh nội sinh của dân tộc-sức mạnh hội tụ, đoàn kết lòng dân, được Đảng tổ chức, lãnh đạo và phát huy tối đa; chuyển hóa lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí độc lập và khát vọng tự do, dân chủ của toàn dân thành một thế trận chính trị, tinh thần thống nhất, toàn diện và chủ động.

Đây là minh chứng điển hình cho nghệ thuật tổ chức lòng dân thành sức mạnh chiến lược. Mỗi người dân, tổ chức, lực lượng và cộng đồng đều trở thành một mắt xích trong cuộc tổng khởi nghĩa. Đảng không chỉ tuyên truyền, vận động, khơi dậy lòng dân mà còn kiến tạo một kết cấu chính trị có khả năng quy tụ, định hướng và tổ chức, điều phối mọi nguồn lực xã hội, tạo nên “thế trận lòng dân”, sức mạnh toàn dân, chỉ đạo đồng loạt hành động đúng thời điểm quyết định để giành thắng lợi. Bài học lớn được đúc rút là chỉ khi nhân dân được đặt ở trung tâm, được dẫn dắt bằng lý tưởng cao đẹp, được tổ chức, hướng dẫn bằng phương pháp khoa học thì cách mạng mới giành thắng lợi. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, bài học ấy vẫn giữ nguyên giá trị, cần được nhận thức, vận dụng và phát huy ở tầm cao mới, nhất là trong tư duy chiến lược xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong tình hình mới.

Một là, lòng dân là tài sản quốc gia, cần được bảo vệ như nguồn lực chiến lược quan trọng nhất, cần lập thành thế trận liên hoàn, vững chắc, tạo sức mạnh to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho thấy, lòng dân không chỉ là niềm tin vào Đảng, biểu hiện cảm xúc mang tính đạo đức xã hội, mà chính là nguồn lực chiến lược, tài sản quốc gia có giá trị sống còn trong mọi giai đoạn lịch sử. Chỉ trong vòng 15 ngày, toàn dân từ Bắc chí Nam đã nhất tề đứng dậy giành chính quyền, chấm dứt gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp và hơn 1.000 năm chế độ phong kiến, thiết lập nền dân chủ cộng hòa đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Thắng lợi đó không đến từ sức mạnh vũ khí hay nguồn viện trợ bên ngoài, mà từ “thế trận lòng dân” vững chắc, nhân dân trở thành trung tâm và chủ thể hành động của cách mạng.

Trong bối cảnh hiện nay, bài học về lòng dân càng trở nên cấp thiết. Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới, thế giới nhiều biến động, những hình thái xâm lăng không chỉ mang dáng dấp xe tăng, đại bác mà còn ẩn mình trong các “cuộc chiến không khói súng”: Chiến tranh nhận thức, thao túng thông tin, tấn công mạng, xâm nhập hệ giá trị văn hóa-tư tưởng; nguy cơ “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra hằng ngày, nhất là trên không gian mạng. Thêm vào đó, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ deepfake, thuật toán phân cực dư luận đặt ra những thách thức chưa từng có đối với việc quản lý và giữ vững lòng dân. Nếu không tổ chức lòng dân thành thế trận liên hoàn, đa tầng, tích hợp, thông minh, thích ứng nhanh thì rất dễ bị phân hóa, chia rẽ, thậm chí bị lôi kéo, thao túng. Vì vậy, lòng dân phải được xem là tài sản quốc gia, được bảo vệ như biên giới lãnh thổ, được đo lường, theo dõi, tổ chức và dẫn dắt một cách khoa học. Xây dựng “thế trận lòng dân liên hoàn” chính là cách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ gốc, ngay trong nhân tâm.

Hai là, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí chiến đấu của toàn dân là nền tảng tư tưởng-chính trị để tổ chức và vận hành “thế trận lòng dân”.

Trong mọi cuộc cách mạng, yếu tố quyết định không phải là vũ khí mà là sức mạnh chính trị, tinh thần được hun đúc từ chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào dân tộc và ý chí chiến đấu đến cùng vì độc lập, tự do. Đây chính là nền tảng tư tưởng, chính trị, văn hóa tạo nên tính chính danh, tính bền bỉ và sức bùng nổ của mọi phong trào cách mạng. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chứng minh điều đó trong điều kiện hết sức khó khăn.

Hiện nay, bên cạnh thuận lợi và thời cơ, chúng ta đối mặt với nhiều nguy cơ: Sự phai nhạt bản sắc văn hóa, phân hóa tư tưởng xã hội, mất phương hướng giá trị ở một bộ phận thanh niên, xu hướng thực dụng gia tăng. Do đó, việc phát huy và hiện đại hóa chủ nghĩa yêu nước trở thành yêu cầu cấp thiết. Chủ nghĩa yêu nước phải được chuyển hóa thành hành vi công dân, năng lực sáng tạo, trách nhiệm xã hội, bản lĩnh quốc gia trong hội nhập toàn cầu. Lòng tự hào dân tộc cần thể hiện bằng hành động cụ thể: Bảo vệ sự thật, đấu tranh chống tin giả; gìn giữ ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam trên không gian số; khuyến khích tinh thần đổi mới sáng tạo trong thế hệ trẻ.

Để đạt được điều đó, các cấp, các ngành cần triển khai một hệ sinh thái tinh thần quốc gia, trong đó chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi, được giáo dục xuyên suốt từ gia đình-nhà trường-xã hội, gắn với chương trình chuyển đổi số quốc gia và các chính sách phát triển. Cần tạo dựng những không gian thể hiện lòng yêu nước hiện đại như bảo tàng số, nền tảng AI kể chuyện lịch sử, mạng xã hội lan tỏa tinh thần dân tộc, cơ sở dữ liệu quốc gia ghi nhận sáng kiến công dân. “Thế trận lòng dân” vì thế sẽ không chỉ dừng lại ở những phong trào truyền thống mà còn chuyển hóa thành năng lực chính trị-xã hội có thể huy động trong mọi tình huống.

Ba là, kết hợp chặt chẽ “thế trận lòng dân” với quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân để kiến tạo thế trận tổng hợp vững chắc bảo vệ Tổ quốc.

Một quốc gia chỉ có thể tự bảo vệ vững chắc trước mọi nguy cơ nếu xây dựng được một thế trận tổng hợp: Lòng dân là nền móng tinh thần, quốc phòng toàn dân là cánh tay hành động, an ninh nhân dân là vành đai bảo vệ từ bên trong. Đây là sự thống nhất biện chứng giữa 3 trụ cột chiến lược: “Thế trận lòng dân”-quốc phòng toàn dân-an ninh nhân dân; trong đó, “thế trận lòng dân” giữ vai trò định hướng và lan tỏa nguồn lực; quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân là khả năng huy động, phối hợp lực lượng để phát hiện, xử lý, vô hiệu hóa các nguy cơ từ bên ngoài và bên trong.

Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám là minh chứng tiêu biểu. Khi thời cơ đến, chính sự phối hợp giữa lực lượng chính trị (Việt Minh), lực lượng vũ trang cách mạng và hàng triệu quần chúng nhân dân có tổ chức đã nhanh chóng giành chính quyền trên phạm vi cả nước.

Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Đây là quan điểm, chủ trương xuyên suốt, thể hiện tư duy chiến lược của Đảng. Khi được tổ chức bài bản, “thế trận lòng dân” trở thành lớp “lá chắn mềm” nhưng bền vững, góp phần giữ vững ổn định xã hội, tạo đồng thuận và củng cố niềm tin, là điều kiện thiết yếu để phát huy hiệu quả thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.

Bốn là, xây dựng “hệ sinh thái lòng dân” phù hợp thời kỳ cách mạng mới.

Lịch sử cách mạng Việt Nam chứng minh một chân lý: Lòng dân là cội nguồn sức mạnh, là nền tảng quyết định thắng lợi. Trong Cách mạng Tháng Tám, dù chưa có chính quyền hợp pháp nhưng Đảng ta đã tổ chức thành công một "hệ sinh thái lòng dân", kết hợp nhịp nhàng giữa yếu tố vật chất và tinh thần, truyền thống và cách mạng, tổ chức và tự giác.

Ngày nay, đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều thời cơ, đồng thời cũng nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, cơ hội triệt để lợi dụng những khoảng trống trong nhận thức, việc thực hiện chính sách và diễn biến tâm lý xã hội để chống phá cách mạng Việt Nam. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng và phát triển một hệ sinh thái lòng dân hiện đại, tích hợp, thích ứng, vượt khỏi giới hạn tổ chức hành chính truyền thống, hướng tới cấu trúc liên thông đa trục.

Trên nền tảng chính trị, tư tưởng, văn hóa, giáo dục, cần hình thành giá trị chung, niềm tin bền vững, bản lĩnh quốc gia. Thông qua trục thông tin, truyền thông, dư luận, cần kiến tạo không gian đối thoại tích cực, định hướng nhận thức xã hội. Trục kinh tế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo sẽ chuyển hóa lòng dân thành động lực phát triển. Trục ngoại giao và bản sắc văn hóa góp phần lan tỏa hình ảnh đất nước ra thế giới. Khi được tổ chức đồng bộ, "hệ sinh thái lòng dân" Việt Nam trong kỷ nguyên mới sẽ trở thành sức mạnh mềm vững chắc, tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGÀY QUỐC KHÁNH RỰC RỠ TRONG KÝ ỨC ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP!

     Những ngày cuối tháng 8/1945, Hà Nội rộn rã như trái tim của một đất nước vừa hồi sinh. Từ căn gác ở số 48 Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh miệt mài bên bàn ăn, khi viết tay, khi gõ máy chữ, hoàn thiện Tuyên ngôn Độc lập - văn kiện đánh dấu sự thay đổi vĩ đại trong lịch sử dân tộc.

Ngoài phố, cờ đỏ sao vàng rợp trời, tiếng hát cách mạng vang từ sáng đến khuya. Quân dân thủ đô gấp rút chuẩn bị cho ngày ra mắt Chính phủ lâm thời, bảo vệ chính quyền vừa giành được. Bên trong căn phòng, từng câu chữ Bác Hồ viết ra mang theo hơi thở của lịch sử, chuẩn bị cho khoảnh khắc long trọng nhất vào ngày 2/9.

Khi Tuyên ngôn kết thúc, toàn quảng trường vang lời thề độc lập: "Không đi lính cho Pháp, Không làm việc cho Pháp, Không bán lương thực cho Pháp, Không đưa đường cho Pháp!".

Đại tướng Võ Nguyên Giáp xem đó là ngày "chế độ thực dân Pháp bị đưa ra cho toàn dân Việt Nam công khai xét xử", chấm dứt vĩnh viễn ách nô lệ.

Ngày 2/9, theo Đại tướng, mở ra cho dân tộc một “Kỷ nguyên Độc lập, Tự do, Hạnh phúc”. Với mỗi người dân, giá trị ấy trở thành lời thề sắt son, quyết giữ gìn dù phía trước còn muôn vàn thử thách./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẦM VÓC VĨ ĐẠI, Ý NGHĨA TO LỚN CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2-9!

     Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở Việt Nam, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2-9 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi đã trở thành thiên anh hùng ca bất hủ, khẳng định chân lý và niềm tin bất diệt: Một dân tộc có thể đất không rộng, người không đông, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, vũ khí còn thô sơ, phương tiện quân sự thiếu thốn trăm bề, nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt, bản lĩnh, trí tuệ và đạo đức của một Đảng cách mạng chân chính, sự chung sức “trên dưới đồng lòng, nhất hô bá ứng” thì dân tộc ấy vẫn có thể làm nên những sự kiện lịch sử vĩ đại có tầm vóc và đi vào lịch sử của dân tộc và thế giới như một địa chỉ đỏ, một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa điển hình ở khu vực và trên thế giới.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Trong quá trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, ba cột mốc chói lọi bằng vàng: Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Chiến thắng Điện Biên Phủ và Chiến thắng mùa Xuân 1975 mãi mãi sáng ngời trong sử sách. Nhân dân Việt Nam đã làm nên câu chuyện thần kỳ tưởng chừng không thể làm được giữa thế kỷ XX. Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế kém phát triển, đánh thắng những cường quốc, đế quốc chủ yếu bằng sức của chính mình, nêu gương anh dũng, bất khuất, trí tuệ, tài năng trước toàn thế giới”.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 càng làm sáng ngời chân lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh, quân đội trong thời đại ngày nay: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều phụ thuộc vào trạng thái tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”, “Chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhất định thất bại, cách mạng giải phóng của các dân tộc nhất định thành công”. Quan điểm của Đảng, chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: “Không một quân đội nào, không có khí giới nào có thể đánh gục ngã được tinh thần hy sinh của cả dân tộc; nhất là ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của quân và dân ta”.
Thực tiễn quá trình đấu tranh gian khổ chống ách đô hộ của thực dân Pháp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, đặc biệt là quyết định táo bạo đầy sáng suốt trong thay đổi phương châm tác chiến ở tầm chiến lược: “Lựa tình thế, chớp thời cơ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là minh chứng sinh động nhất về bản chất cách mạng, tiến bộ, chính nghĩa và nhân văn sâu sắc của Cách mạng Tháng Tám. Thực tiễn đấu tranh cách mạng đó đã bác bỏ mọi quan điểm sai trái, bôi đen của các thế lực thù địch, phản động về sự kiện lịch sử này, càng khẳng định rõ bản chất cách mạng của Đảng ta: Đảng của dân, do dân, dựa vào dân và vì dân, lãnh đạo nhân dân chiến đấu vì hòa bình, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Qua đó càng làm sáng ngời mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân - Đảng hết lòng vì dân, dân một lòng tin và theo Đảng, càng thấm đẫm tầm vóc, giá trị, ý nghĩa lý luận và bài học thực tiễn sâu sắc quý báu của thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trong thời đại ngày nay.
Thắng lợi vang dội của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 đã một lần nữa khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần quyết tử “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của dân tộc Việt Nam anh hùng. Bản lĩnh Việt Nam, tầm vóc và tinh thần Cách mạng Tháng Tám mãi âm vang, trường tồn, bất diệt, mãi là nguồn động lực to lớn khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; truyền cảm hứng, cổ vũ và lan tỏa các giá trị truyền thống cao đẹp cho các thế hệ trên hành trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 🇻🇳 PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI LỄ KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CHÍNH PHỦ🇻🇳

     Sáng 20 tháng 8, tại Hà Nội, đã diễn ra Lễ kỷ niệm trọng thể 80 năm thành lập Chính phủ (28/8/1945 – 28/8/2025) và Hội nghị gặp mặt các thế hệ Lãnh đạo công tác tại Chính phủ, Bộ, Cơ quan ngang bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và có bài phát biểu quan trọng tại Lễ kỷ niệm.

Xin trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư:
"Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Kính thưa các đồng chí Lãnh đạo công tác tại Chính phủ, Bộ, Cơ quan ngang bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ qua các thời kỳ,

Thưa các đồng chí Lãnh đạo Chính phủ và quý vị đại biểu,

Hôm nay, trong không khí thiêng liêng của mùa thu lịch sử, khi cả dân tộc hướng về kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, chúng ta thật xúc động và tự hào được sum họp nơi đây để dự Lễ kỷ niệm 80 năm thành lập Chính phủ, được cùng các đồng chí Lãnh đạo công tác tại Chính phủ qua các thời kỳ nhìn lại chặng đường vẻ vang của dân tộc, tri ân sâu sắc những cống hiến to lớn, quan trọng của các đồng chí đi trước, cùng nhau khẳng định ý chí tiến lên vì một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi trân trọng gửi tới các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Chính phủ các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ và các đồng chí đại biểu lời chào trân trọng, lời thăm hỏi ân cần và những lời chúc sức khỏe, chúc thọ các đồng chí để các đồng chí tiếp tục chứng kiến sự phát triển của đất nước.

Thưa các đồng chí,

Tám mươi năm trước, trong những ngày lịch sử long trời lở đất, dưới ngọn cờ của Đảng, toàn dân tộc vùng lên làm chủ vận mệnh của mình. 

Chính quyền cách mạng non trẻ ra đời giữa muôn vàn khó khăn: thù trong, giặc ngoài, giặc đói, giặc dốt hoành hành, ngân khố trống rỗng. 

Thế nhưng, chính trong khắc nghiệt ấy đã rèn đúc nên bản lĩnh thép của một Chính phủ của dân, do dân, vì dân. Những người nông dân, công nhân, trí thức được giác ngộ đã "xắn tay áo" dựng xây Nhà nước mới trên nền tảng độc lập dân tộc và khát vọng tự do, hạnh phúc. 

Từ buổi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ấy, biết bao thế hệ cán bộ lãnh đạo Chính phủ, từ Trung ương tới cơ sở, đã bước vào giai đoạn thử thách, giai đoạn cam go, mọi cái đều bỡ ngỡ, gian nan. 

Các đồng chí vừa là người điều hành quốc gia, vừa là người lính nơi tuyến đầu quản trị, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân; vừa là kiến trúc sư thiết kế thể chế, vừa là người thợ cả dựng lên những thiết chế đầu tiên của một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt.

Lịch sử đã chứng kiến hai cuộc trường kỳ kháng chiến vĩ đại, nơi ý chí của dân tộc kết tinh thành sức mạnh vô song. 

Trong những năm tháng ấy, các thế hệ lãnh đạo Chính phủ và các cơ quan thuộc chính phủ đã gánh trên vai cả một "cỗ máy" quốc gia vận hành trong chiến tranh: chuyển hóa nguồn lực ít ỏi thành sức mạnh toàn dân; tổ chức sản xuất, hậu cần; điều phối chính sách, giữ vững kỷ cương; huy động trí tuệ, tài lực và lòng dân, sức dân cho tiền tuyến. 

Từ "hạt gạo chia đôi", từ "bát cơm sẻ nửa", Chính phủ của chúng ta đã hiện thực hóa tinh thần "dĩ bất biến, ứng vạn biến": kiên định mục tiêu độc lập tự do, nhưng linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo trong mọi sách lược. 

Đó là những năm tháng mà mỗi văn bản chỉ đạo, mỗi quyết định điều hành đều in đậm dấu ấn trách nhiệm với sinh mệnh quốc gia; nơi mà mỗi tấc đất giải phóng, mỗi nhà máy, công trường, làng xóm, thôn bản, những mái trường, trạm y tế, nhà văn hóa được xây dựng, được khôi phục sau các trận bom của kẻ thù đều có bóng dáng của những người "đầu tàu gánh vác" trong bộ máy Chính phủ.

Ngày đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, các đồng chí lại đứng trước một sứ mệnh vô cùng nặng nề, trọng đại: hàn gắn vết thương chiến tranh, khắc phục hậu quả đổ nát, đưa cả dân tộc bước vào thời kỳ kiến thiết, phát triển. 

Đó là giai đoạn mà từng đồng vốn, từng ký gạo, từng mét vải đều quý như vàng; mỗi quyết sách đều là sự cân nhắc đầy trăn trở giữa nhu cầu bức thiết và nguồn lực hạn hẹp. 

Giữa bộn bề thiếu thốn ấy, các thế hệ lãnh đạo Chính phủ và các cơ quan thuộc chính phủ đã kiên trì tìm đường đổi mới quản trị, thí điểm những cơ chế mới, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực xã hội. 

Khi Đổi mới được khởi xướng, chúng ta một lần nữa đi đầu trong đột phá tư duy: chuyển từ cơ chế tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặt nền móng cho một thời kỳ phát triển mới, nơi pháp luật, thị trường và kỷ cương quản trị trở thành bệ đỡ cho sáng tạo và khởi nghiệp.

Trong tiến trình cách mạng, để có ngày hôm nay, chúng ta không thể không nhắc tới công lao, đóng góp của các thành viên Chính phủ. 

Từ Ủy ban Cách mạng tiền Chính phủ trước khởi nghĩa như: Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời hình thành từ trước tháng 8/1945 (nền móng của mô hình Chính phủ sau này), đến Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ liên hiệp lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Sau đó chúng ta có Chính phủ chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Cũng trong giai đoạn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (từ năm 1946 đến năm 1976), chúng ta biểu dương, đánh giá cao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (từ năm 1969 đến năm 1976), đã trực tiếp lãnh đạo cách mạng miền Nam, cùng đồng hành với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. 

Tiếp đó là Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 đến nay, như trong báo cáo của đồng chí Thủ tướng, cũng đã chỉ rất rõ những thành tựu trong những giai đoạn Chính phủ kể trên.

Từ những bước đi đầu tiên đầy thận trọng cho tới những cải cách thể chế ngày càng hoàn thiện, bộ máy Chính phủ qua các thời kỳ đã bền bỉ đắp nền cho sự chuyển mình của đất nước. 

Mỗi kế hoạch 5 năm, mỗi chương trình mục tiêu quốc gia, mỗi dự án hạ tầng chiến lược là một viên gạch trong đại công trình dựng xây Tổ quốc; mỗi nỗ lực giảm nghèo, mở rộng an sinh, phổ cập giáo dục và bảo hiểm y tế, hiện đại hóa nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới là một cầu nối để không ai bị bỏ lại phía sau. 

Trên mặt trận đối ngoại, Chính phủ đã cùng toàn hệ thống chính trị kiên định đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; mở rộng quan hệ đối tác; đưa Việt Nam trở thành thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. 

Những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, những kết nối hạ tầng chiến lược, những tuyến cao tốc, cảng biển, sân bay, những khu công nghiệp, khu công nghệ cao mọc lên là bằng chứng sống động của một Việt Nam đổi thay từng ngày.

Kính thưa các đồng chí,

Đằng sau những con số tăng trưởng là mồ hôi, trí tuệ và tâm huyết của biết bao nhà quản trị quốc gia từ Trung ương đến địa phương. 

Đằng sau sự chuyển mình của nền kinh tế là những đêm trắng họp bàn, là những bản thảo viết đi viết lại, là những cuộc đối thoại bền bỉ với doanh nghiệp và người dân để tìm ra lời giải hài hòa lợi ích. 

Đằng sau sự thịnh vượng đang đến gần là những hy sinh lặng lẽ của nhiều thế hệ cán bộ giữ mình trong sạch, thượng tôn pháp luật, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, trước hết. 

Hôm nay, tôi xin thay mặt Đảng, Nhà nước và Nhân dân, bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với các thế hệ Lãnh đạo Chính phủ và các Cơ quan thuộc chính phủ qua các thời kỳ, những người đã góp mồ hôi, xương máu, tuổi trẻ và cả tính mạng của mình để xây nền hành chính, quản trị quốc gia; xin trân trọng tưởng nhớ những đồng chí đã đi xa, những người anh hùng, liệt sĩ, các bậc tiền bối đã hiến dâng trọn đời cho Tổ quốc.

Tri ân là để khắc ghi, và khắc ghi là để tiếp bước. Truyền thống quý báu của Chính phủ có thể gói gọn trong mấy chữ: bản lĩnh-kỷ cương- đoàn kết-liêm chính-hành động-sáng tạo-hiệu quả-vì dân. Bản lĩnh để đứng vững giữa đổi thay; kỷ cương để hệ thống vận hành thông suốt; đoàn kết là sức mạnh; liêm chính để giữ lòng dân; hành động để biến nghị quyết thành hiện thực; sáng tạo để vượt qua thách thức; hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; và vì dân, để mọi chính sách đều tìm về mục tiêu tối thượng là hạnh phúc, ấm no của mỗi người dân Việt Nam.

Thưa các đồng chí,

Mỗi dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện trong đại của dân tộc, Ban chấp hành Trung ương đều tổ chức các cuộc gặp gỡ để thăm hỏi, ghi nhận, tri ân những người có công với nước, đã có những đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước; để ôn lại lịch sử hào hùng của dân tộc, của đảng, của nhân dân, để lắng nghe ý kiến của các đồng chí nhằm tiếp tục lãnh đạo điều hành đất nước, đưa đất nước tiếp tục được trường tồn vĩnh cửu trong hòa bình và phát triển. 

Năm nay, Lãnh đạo Đảng tổ chức các cuộc gặp với các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo đảng, nhà nước, các đồng chí lão thành cách mạng, các mẹ Việt Nam anh hùng, những người có công và thân nhân người có công với đất nước, với cách mạng; tướng lĩnh, sỹ quan, cựu chiến binh, những người chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân, các thế hệ lãnh đạo chính phủ, đại biểu quốc hội qua các thời kỳ, trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sỹ, các doanh nghiệp, đại diện những người lao động, đại diện các tôn giáo, các dân tộc, đại diện các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế... cuộc gặp hôm nay nằm trong chuỗi các sự kiến đó và Tôi được biết đây là lần đầu tiên Chính phủ tổ chức cuộc gặp gỡ với thành phần như hôm nay.

Kính thưa các đồng chí,

Nhìn lại để đi tới, tri ân để tiếp bước. Mỗi chặng đường chúng ta đi qua đều thấm đẫm dấu ấn của đoàn kết, trí tuệ và kỷ luật; của kiên định mục tiêu, linh hoạt sách lược; của ý Đảng hòa quyện lòng dân. Chúng ta tự hào về truyền thống, chúng ta tôn vinh thành quả 80 năm qua và trong thời điểm bước ngoặt hiện nay, chúng ta càng cần hành động trên tinh thần cách mạng tấn công như các bậc tiền bối đã từng làm.

Trước những mái đầu bạc phơ mà tinh anh, sáng suốt; trước những trái tim đã trải qua bao gian lao mà vẫn cháy bỏng yêu nước thương dân, chúng tôi luôn trân trọng và càng thấy trách nhiệm nặng nề. 

Mỗi đồng chí là một pho sử sống, là một tấm gương để thế hệ hôm nay và mai sau học hỏi, để vững bước tiến vào tương lai.

Tôi mong và tin rằng, các đồng chí, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, sẽ tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ hiện nay: góp ý thẳng thắn, xây dựng, truyền cảm hứng, nâng đỡ lớp trẻ, lan tỏa những giá trị tốt đẹp. 

Xin các đồng chí tiếp tục giữ gìn sức khỏe, tiếp tục viết, tiếp tục trao đổi, tiếp tục lắng nghe và truyền lại "nghệ thuật quản trị quốc gia" đã được rèn đúc qua cả một đời cống hiến. 

Xin các đồng chí hãy tiếp tục là "ngọn lửa ấm" để mỗi người cán bộ hôm nay, trong những lúc khó khăn nhất, vẫn nhớ đường, vững bước.

Xin kính chúc các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí Nguyên lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, Cơ quan ngang bộ và Cơ quan thuộc chính phủ qua các thời kỳ, các vị đại biểu sức khỏe, trường thọ, hạnh phúc, sống vui, sống khỏe để chứng kiến những thành tựu của Cách mạng, của dân tộc Việt Nam khi đất nước tròn 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và tròn 100 năm ngày Quốc khánh.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!"
Yêu nước ST.

Thứ Tư, 20 tháng 8, 2025

VỀ SỰ KIỆN LIÊN XÔ SỤP ĐỔ: ĐỒ PHẢN BỘI!

     Tháng 2/1991, tạp chí National Geographic đăng bức ảnh một đại tá quân đội Xô viết cầm quốc kỳ Liên Xô đang giận dữ hét câu "Đồ phản bội" vào mặt một người đàn ông mặc áo da màu đen. Chú thích ảnh như sau:" Hét vào mặt: một đại tá quân đội Xô viết cầm cờ đỏ đối mặt với người biểu tình ủng hộ dân chủ tại cuộc diễu hành nhân Ngày quốc tế lao động ở Quảng trường Đỏ năm 1990".

Tác giả bức ảnh là nhiếp ảnh gia kỳ cựu Steve Raymer. 

Thời điểm bức ảnh được chụp, mình đang chuẩn bị bảo vệ tốt nghiệp, chẳng đi chơi được đâu dù vẫn đang ở Moskva. Đó là thời kỳ Liên Xô rất loạn lạc, lực lượng theo phe dân chủ, muốn lật đổ chế độ tự do tung hoành, biểu tình hô vang các khẩu hiệu chống Chính quyền Xô viết. Hôm 1/5/1990, giữa dòng người diễu hành qua Quảng trường Đỏ đã xuất hiện nhiều kẻ như thế!

Đừng quên hôm qua 19/8/2025, tròn 34 năm ngày xảy ra Chính biến ở Liên Xô với hậu quả dẫn đến sự sụp đổ của LX cuối năm 1991.

Nhân dịp này, một cư dân trên mạng Nga là SAM88 bình luận: "Tôi nghĩ khá dễ hiểu, tại sao một đại tá đã nghỉ hưu của Quân đội Liên Xô, một cựu chiến binh của Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, người đã bảo vệ Liên Xô khỏi kẻ thù dưới lá cờ Đỏ, sau những tiếng hô (chống Đảng, chống Chính quyền) như vậy lại vô cùng phẫn nộ và liền có ngay hành động bảo vệ Tổ quốc Xô viết và lá cờ Đỏ như thế.

Nói chung, độc giả thân mến, ngay cả Gorbachev, người thực sự đã trở thành kẻ phản bội Tổ quốc và người dân của mình, đã mở đường cho chủ nghĩa chống Xô viết khi cho phép thực hiện các cuộc tấn công như vậy vào Liên Xô và lịch sử của nó. Thật không may, chủ nghĩa chống Liên Xô vẫn chưa biến mất ở Nga ngay cả ngày nay...

Những người chống Liên Xô thuộc mọi tầng lớp và cấp bậc, bao gồm cả "giới tinh hoa", tiếp tục viết lại lịch sử Xô viết, bóp méo và phỉ báng nó.

Theo tôi, bức ảnh một đại tá với Cờ đỏ, đối đầu với một người đàn ông mặc áo khoác da, vẫn còn phù hợp cho đến ngày nay theo nhiều cách.

Tại sao?

Bởi vì trong xã hội chúng ta ngày nay, tôi tin chắc rằng, vẫn còn rất nhiều người mà đối với họ lá Cờ đỏ - lá cờ đã cùng ông cha ta xông lên trong các trận đánh trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại – vẫn là thiêng liêng! Đối với họ, lá Cờ đỏ vẫn là hiện thân của những thành tựu xã hội vĩ đại dành cho nhân dân, là hiện thân của công bằng đích thực!!!

Cũng như trong xã hội chúng ta ngày nay vẫn có những người mà biểu tượng chính là kẻ trong bức ảnh kia, mặc áo da đen… Những kẻ ngay trong thời kỳ cải tổ Gorbachev đã rời khỏi hàng ngũ Đảng Cộng sản Liên Xô, nhanh chóng “đổi màu” thành “dân chủ” và những người ủng hộ quan hệ thị trường tư bản chủ nghĩa, trong khi không quên chỉ trích và bôi nhọ Liên Xô – đất nước mà họ đã nợ rất nhiều trong cuộc đời mình"

Chí lý!

Thật đáng buồn, ở ta hiện cũng đang có những kẻ như thế, dù họ đã từng được Chế độ đãi ngộ và trọng dụng vào những vị trí khá cao. Cứ vào mỗi dịp đất nước có lễ trọng, là họ lại ngoi lên, như sợ người đời quên lãng, gửi "tâm thư" đề xuất nọ ý kiến kia một cách hết sức vô lý và ngớ ngẩn. Đó là những tiếngsủa vô cùng lạc lõng trong lúc đoàn người vẫn đồng lòng tiến về phía trước!
Yêu nước ST.

VỀ SỰ KIỆN LIÊN XÔ SỤP ĐỔ: ĐẤT NƯỚC CHÚNG TA ĐÃ MẤT!

🇷🇺🇷🇺🇷🇺🇻🇳🇻🇳🇻🇳
“Bạn chỉ có thể trở thành một người cộng sản khi bạn làm giàu trí nhớ của mình bằng kiến thức về tất cả sự giàu có mà nhân loại đã tạo ra.”
V. I. Lenin

Ngày của đất nước không tồn tại

Liên Xô được thành lập vào ngày 30 tháng 12 năm 1922, khi Đại hội Xô viết Liên Xô lần thứ nhất thông qua Tuyên bố về việc thành lập Liên Xô.

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga (RSFSR) hợp nhất với Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina và Byelorussia và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Ngoại Kavkaz. Các nước cộng hòa này được thành lập sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại năm 1917.

Trong những năm tiếp theo, các nước cộng hòa khác cũng được thành lập và sáp nhập vào Liên Xô. Từ năm 1956 đến năm 1991, Liên Xô bao gồm 15 nước cộng hòa liên bang: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Byelorussia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakhstan, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Azerbaijan, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Litva, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Latvia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kirghizia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tajikistan, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Armenia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Turkmenistan và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Estonia.

Vào nửa cuối những năm 1980, giới nomenklatura toàn Liên bang đang suy tàn, một bộ phận muốn trở thành tầng lớp quý tộc mới, noi gương giới tinh hoa phương Tây, đã bắt đầu một cuộc "cải tổ" mang tính hủy diệt. Cuộc cải tổ này được giới nomenklatura địa phương ủng hộ, bắt đầu khuấy động làn sóng chủ nghĩa dân tộc và ly khai. Nhìn chung, một bộ phận giới tinh hoa Liên Xô muốn chiếm đoạt của cải của nhân dân, trở thành những ông hoàng, sa hoàng, khan và lãnh chúa mới, và một bộ phận muốn tham gia vào giới tinh hoa mafia toàn cầu (ý tưởng hội tụ).

Lực lượng an ninh trước đó đã bị "giải giáp" bởi một làn sóng thanh trừng, thay đổi nhân sự, thông tin sai lệch và vu khống. Do đó, nếu không có lệnh trấn áp "cột trụ thứ năm" và kẻ thù của nhân dân, KGB và quân đội đã không làm gì cả. Họ nói rằng quân đội nằm ngoài chính trị.

Nhân dân, phần lớn ủng hộ việc duy trì Liên bang, thấy mình không có lãnh đạo, không có cơ cấu tổ chức (đảng và các lãnh đạo Komsomol hoặc tham gia vào sự sụp đổ hoặc rút lui). Cộng thêm một cuộc tấn công thông tin mạnh mẽ từ phương tiện truyền thông vào chủ nghĩa cộng sản,Lịch sử Liên Xô.

Do đó, sự sụp đổ của Liên Xô hầu như không gặp phải sự kháng cự nào. Ngoại trừ nỗ lực kín đáo của Ủy ban Khẩn cấp Nhà nước (SECC) vào tháng 8 năm 1991, khi một bộ phận lãnh đạo Liên Xô tìm cách lật đổ Gorbachev và lập lại trật tự trong nước. Nỗ lực này đã thất bại. Có lẽ, ngay từ đầu, đây là một hành động khiêu khích nhằm mục đích đẩy nhanh sự sụp đổ của Liên Xô, và các lãnh đạo SECC đã bị lợi dụng "trong bóng tối".

Đến tháng 9 năm 1991, Litva, Latvia và Estonia đã rời khỏi Liên Xô. Ngày 8 tháng 12 năm 1991, tại Belovezhskaya Pushcha, Tổng thống Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga Boris Yeltsin, Tổng thống Ukraine Leonid Kravchuk và Chủ tịch Hội đồng Tối cao Cộng hòa Belarus Stanislav Shushkevich đã ký Hiệp định Giải thể Liên Xô.

Nếu vào thời điểm đó, họ bị bắt và bị xử tử một cách công khai, Liên Xô đã có thể được cứu vãn. Việc hiện đại hóa và hiện đại hóa - đặc biệt là những gì Trung Quốc đã làm. Tiếc thay, vào thời điểm đó, trong ban lãnh đạo Liên Xô không có ai ngang tầm Stalin hay Napoleon để vô hiệu hóa kẻ thù của nhân dân và cứu vãn nền văn minh Xô Viết.

Ngày 21 tháng 12, tại Alma-Ata, lãnh đạo 11 nước cộng hòa đã ký nghị định thư về việc thành lập Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (CIS). Những người yêu nước gọi sự thành lập này là "hy vọng của Hitler đã thành hiện thực". Điều mà Quốc trưởng điên cuồng, toàn bộ phương Tây, và khối NATO do Hoa Kỳ dẫn đầu, không thể làm được, thì đã bị những kẻ thù nội bộ của nhân dân, những người theo chủ nghĩa Vlasov và Bander mới, làm thay.

Ngày 25 tháng 12, tổng thống đầu tiên và cuối cùng của Liên Xô, Mikhail Gorbachev, từ chức, và ngày hôm sau Liên Xô tan rã.

Nền văn minh tương lai

Những kẻ làm chủ mới của cuộc sống, 1% người giàu và những người hầu của họ, đã hạ thấp và chỉ trích Liên Xô theo mọi cách (Liên Xô Vĩ đại và Bị vu khống ). Họ đã tạo ra và ủng hộ những huyền thoại rằng những người Bolshevik đã lật đổ Sa hoàng và phá hủy Đế quốc Nga "thịnh vượng", rằng phe Đỏ đã gây ra một cuộc Nội chiến đẫm máu, giết hại và làm chết đói hàng triệu người trong thời kỳ Khủng bố Đỏ. Rằng những người Cộng sản đã tạo ra một đế chế toàn trị, biến người dân Liên Xô thành nô lệ. Rằng "chế độ đẫm máu" của Stalin và Beria đã giết hại hàng chục triệu người, đã phát động một cuộc chiến tranh xâm lược chống lại Phần Lan "hòa bình" (Tại sao Liên Xô lại tấn công Phần Lan , chiếm đóng vùng Baltic, và cùng với Đức Quốc xã phá hủy và chiếm đóng Ba Lan "yêu chuộng hòa bình"?

Rằng chế độ Stalin đang chuẩn bị những cuộc chiến tranh xâm lược mới ở châu Âu, phát động Thế chiến II, và thậm chí còn tồi tệ hơn cả Đức Quốc xã. Rằng nhân dân đã chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, nhưng với cái giá khủng khiếp. Những người Cộng sản đã thực sự "áp đảo" quân đội Đức Quốc xã bằng xác chết, rồi chiếm đóng Đông Âu, đàn áp tự do và độc lập của người Ba Lan, Hungary, Bulgaria, Romania, Đông Đức, v.v. Rằng Moskva đã đàn áp tự do ở Đông Âu và trên toàn thế giới trong nhiều thập kỷ.

Tuy nhiên, nhân dân vẫn giữ được ký ức tươi sáng về Liên Xô. Về công lý xã hội. Về đạo đức lương tâm , khi một người Liên Xô của những năm 1940-1960 rõ ràng cao hơn về mặt đạo đức và văn hóa so với một người Nga cuối thế kỷ 20 - đầu thế kỷ 21.

Về một ý tưởng vĩ đại, một nơi xa xôi tươi đẹp. Khi chúng ta đang xây dựng một nền văn minh tiên tiến của tương lai.

Chúng ta đã chiến thắng Thế chiến thứ hai. Trong cuộc chiến này, dự án tương lai của Liên Xô chẳng khác nào một cái xương trong cổ họng đối với toàn bộ giới tinh hoa-mafia phát xít trên thế giới. Xét cho cùng, Liên Xô, bằng tấm gương của mình, đã cho thấy khả năng tồn tại trong xã hội mà không có sự phân chia thành "người được chọn" (giàu có) và người bị ruồng bỏ, thành kẻ thua cuộc-nghèo khổ. Rằng có thể tạo ra một nền văn minh thế giới, được tổ chức như một gia đình , một bản giao hưởng, một sự đồng thuận của các dân tộc, chứ không phải là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa apartheid và chủ nghĩa thực dân, một phiên bản tư bản của nền văn minh nô lệ.

Sau đó, Liên Xô đã đánh bại bệnh dịch hạch nâu và đen ở châu Âu (chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa Quốc xã). Nhờ đó, hệ thống thuộc địa đã bị phá hủy. Trao cho nhiều thế hệ người dân quyền lựa chọn, ý chí. Cơ hội để tạo ra một thế giới tự do và công bằng hơn.

Tạo ra một thế giới-vũ trụ-khác biệt, một xã hội tri thức, phục vụ và sáng tạo. Thế giới phương Tây, hệ thống tư bản ký sinh săn mồi đã bị nền văn minh Liên Xô đánh bại một cách khách quan. Ngay trong những năm 1970 và 1980, đã có những thời điểm khủng hoảng, một cuộc Đại suy thoái mới đang đến gần. Chỉ có sự tàn phá và cướp bóc của Liên Xô mới cứu phương Tây khỏi một kịch bản thảm khốc.

Về một siêu cường, mà nếu không có nó, không một vấn đề quan trọng nào trên thế giới được giải quyết. Về an ninh quân sự, khi người dân Liên Xô sống và làm việc hòa bình dưới sự bảo vệ của lá chắn hạt nhân và thanh kiếm, quân đội Liên Xô hùng mạnh nhất thế giới. Khi không ai dám tấn công chúng ta, ném bom các thành phố của chúng ta.

Về quốc gia lớn nhất về diện tích và lớn thứ ba về dân số.

Về một bước nhảy vọt vĩ đại và chất lượng vào tương lai.Khi từ năm 1913 đến năm 1986, đất nước đã tăng trưởng của cải quốc gia hơn 50 lần, thu nhập quốc dân tăng 94 lần. Số lượng sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học tăng 40 lần, số lượng bác sĩ tăng gần 50 lần. Thu nhập quốc dân của Liên Xô vào năm 1986 bằng 66% thu nhập quốc dân của Hoa Kỳ, sản xuất công nghiệp - 80%, nông nghiệp - 85%. Hãy so sánh với các chỉ số khốn khổ hiện tại, khi một tiểu bang của Hoa Kỳ như California lại giàu có hơn toàn bộ Liên bang Nga!

Một minh họa khác, nhưng chất lượng cao về việc thế giới đã mất đi một nền văn minh vĩ đại và tươi sáng như thế nào vào năm 1991. Năm 1914, có 13,8 nghìn thư viện ở Đế quốc Nga, thì vào năm 1941 - đã là 95 nghìn! Nếu vào năm 1914, một thư viện có trung bình 680 cuốn sách, thì vào giữa những năm 30, một thư viện Liên Xô trung bình có hơn 4 nghìn cuốn sách!

Khoa học, văn hóa, nghệ thuật, trường học và thể thao của Liên Xô đã chiếm những vị trí hàng đầu trên thế giới! Liên Xô đã mở ra kỷ nguyên không gian trong lịch sử nhân loại , phóng vệ tinh đầu tiên vào không gian, đưa con người đầu tiên,Tên lửa đẩy , xây dựng sân bay vũ trụ đầu tiên (Baikonur), phóng trạm quỹ đạo đầu tiên trên thế giới (Salyut-1)./.
Yêu nước ST.

Văn hóa Nga là nền văn hóa dễ nhận biết nhất thế giới vào thời điểm đó. Nước Nga vĩ đại (Liên Xô) đã truyền lại những tiêu chuẩn và giá trị tiên tiến của mình cho nhân loại.

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SỰ LÃNH ĐẠO TÀI TÌNH, SÁNG SUỐT CỦA ĐẢNG - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945!

     Cách đây tròn 80 năm, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã đưa đất nước ta từ thân phận nô lệ trở thành quốc gia độc lập, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong cuộc hành trình ấy, sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng Cộng sản Đông Dương, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, là nhân tố quyết định thắng lợi.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện vĩ đại, trang sử chói lọi nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 20. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc đã nhất tề đứng lên lật đổ chính quyền thực dân, phong kiến, xóa bỏ ách thống trị hơn 80 năm của đế quốc Pháp và chấm dứt ách đô hộ quân phiệt Nhật Bản, giành lại chính quyền về tay nhân dân, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới của đất nước, kỷ nguyên độc lập dân tộc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Như Văn kiện Đại hội II của Đảng đã khẳng định: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa, là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn, là thắng lợi của sự lãnh đạo sáng suốt và kiên cường của Đảng”[1].

Bài viết này tập trung phân tích, làm rõ vai trò lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, nhân tố quyết định của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thể hiện trên 3 yếu tố nổi bật: (1) Hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn, sáng suốt; (2) xây dựng và tổ chức lực lượng rộng khắp; (3) nghệ thuật sáng tạo trong nắm bắt thời cơ và tổ chức khởi nghĩa thành công.

Vai trò của Đảng trong tầm nhìn và hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn, sáng suốt

Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã thể hiện tư duy và tầm nhìn chiến lược vượt trội so với các phong trào đấu tranh yêu nước trước đó khi khẳng định con đường giải phóng dân tộc không thể tách rời CNXH. Đây không chỉ là lựa chọn lý luận mà là kết quả rút ra từ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam và phong trào cộng sản quốc tế. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được hội nghị thành lập Đảng thông qua đã xác định: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[2]. Như vậy, ngay từ đầu Đảng ta đã khẳng định đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Độc lập dân tộc vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân. Cái mới và sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhận thức về bản chất của chủ nghĩa xã hội chính là phát hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa từ sự kết tinh tất cả những lý tưởng về giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội khỏi áp bức, bất công, mang lại tự do, dân chủ, công bằng và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Nói cách khác, CNXH là ước mơ ngàn đời của mọi người dân lao động, mọi dân tộc cần lao, yêu chuộng hòa bình. Diễn giải một các giản dị, CNXH nghĩa là nơi “đưa quần chúng đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho mọi người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng”[3]; và “xây dựng cho nhân dân một đời sống ngày càng sung sướng. Đó là CNXH”[4]. Vì thế, CNXH là điều kiện để bảo đảm sự bền vững của độc lập dân tộc và lợi ích, hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng này vừa mang tính cách mạng triệt để, tính nhân văn cao cả, vừa phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử của nước ta, cũng là chưa từng có tiền lệ trong cách mạng Việt Nam; đã trở thành một tư tưởng nền tảng, chỉ đạo, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử gần 100 năm qua.

Sự sáng tạo trong đường lối cách mạng của Đảng thể hiện rõ trong việc xác định hình thái cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, là bước chuyển tiếp tất yếu hướng tới cách mạng xã hội chủ nghĩa. Một nhận thức lý luận nhất quán và xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng là giai cấp luôn gắn liền với dân tộc, là một bộ phận không tách rời của dân tộc, giải phóng dân tộc cũng chính là điều kiện để giải phóng giai cấp. Đảng chủ trương xây dựng khối liên minh công-nông là lực lượng nòng cốt của cách mạng, nhưng đồng thời phải mở rộng đến các tầng lớp yêu nước khác như trí thức, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và một bộ phận địa chủ có tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Nói cách khác, đường lối cách mạng của Đảng không tách rời tính chất của dân tộc, đặt dân tộc trong mối quan hệ chặt chẽ với mục tiêu của cách mạng vô sản, của mục tiêu xây dựng CNXH, giải quyết các vấn đề dân tộc hài hòa với các yêu cầu, mục tiêu của giai cấp, hướng tới của CNXH. Đây là nền tảng, cơ sở để hình thành và không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh to lớn, điều kiện không thể thiếu của những thành công vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Trong các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và nhất là cao trào 1939-1945, Đảng không ngừng tôi luyện bản lĩnh, rút kinh nghiệm từ thất bại, mở rộng lực lượng, phát triển căn cứ địa. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), trước tình hình chính trị quốc tế và trong nước thay đổi nhanh chóng, Đảng đã thể hiện sự nhạy bén về tư duy, tầm nhìn xa trông rộng và năng lực đổi mới nhận thức chiến lược, tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong đường lối cách mạng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị 8 của Trung ương Đảng đã quyết định chuyển trọng tâm từ cách mạng ruộng đất sang giải phóng dân tộc, xác định kẻ thù chính là đế quốc phát xít xâm lược, từ đó đề ra nhiệm vụ tối cao là đánh đuổi phát xít Nhật, giành độc lập dân tộc. Hội nghị xác định: Nhiệm vụ trước hết và bức thiết nhất của cách mạng Việt Nam lúc này là phải giành được độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân, do đó tạm gác khẩu hiệu: “Tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày”; đề ra chủ trương tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo; giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công, tiến tới thực hiện người cày có ruộng; chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước ở Đông Dương; tăng cường lãnh đạo việc thành lập và phát triển các tổ chức vũ trang, nửa vũ trang; chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Để tập hợp được mọi người dân Việt Nam yêu nước trong một khối đại đoàn kết thống nhất, tạo thành sức mạnh lật đổ chế độ thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, hội nghị quyết định thành lập một mặt trận thống nhất dân tộc lấy tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh hội (gọi tắt là Việt Minh). Chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh thể hiện sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đồng thời mở ra hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng lớn, linh hoạt, tạo ra sự đồng thuận và ủng hộ rộng rãi trong xã hội.

Từ Cương lĩnh đầu tiên năm 1930 đến Hội nghị Trung ương 8 (năm 1941), tư tưởng “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” đã trở thành định hướng xuyên suốt. Trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo đó, Đảng Cộng sản đã nắm bắt kịp thời những diễn biến thời cuộc và biến đổi tình hình trong nước và thế giới, đề ra những chủ trương, định hướng đúng đắn, sáng suốt và kịp thời, dẫn tới thắng lợi của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Tháng Tám năm 1945.

Sự tài tình và sáng suốt trong việc xây dựng và tập hợp lực lượng cách mạng

Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không thể tách rời vai trò, sự tài tình, sáng suốt của Đảng trong huy động và tổ chức lực lượng cách mạng. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, trong khi khẳng định “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp”, “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày” để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng, Đảng Cộng sản cũng đồng thời khẳng định yêu cầu phải tập hợp một lực lượng quần chúng rộng rãi ngoài hai giai cấp công nhân và nông dân: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt... để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng lập hiến…) thì phải đánh đổ…”[5].

Đây là một chủ trương vô cùng sáng suốt dựa trên sự nhìn nhận đánh giá rất đúng đắn bối cảnh, tình hình kinh tế-xã hội và những đặc thù văn hóa của Việt Nam. Vào thời điểm năm 1930, nền kinh tế nước ta chủ yếu là sản xuất nông nghiệp manh mún, kỹ thuật canh tác lạc hậu. Chính sách cai trị, bóc lột khắc nghiệt của thực dân Pháp càng đẩy nền kinh tế của xứ Đông Dương vào lạc hậu, chậm phát triển. Sự ra đời của giai cấp công nhân nước ta gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Một khi nền công nghiệp còn rất nhỏ bé, chủ yếu là khai khoáng và một số cơ sở dệt may, chế biến nông sản, tất yếu kéo theo lực lượng công nhân vừa nhỏ bé lại phân tán. Theo thống kê, đến cuối năm 1929, tổng số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư bản Pháp là hơn 22 vạn người, trong đó có 5,3 vạn thợ mỏ, 8,6 vạn công nhân các ngành công thương nghiệp, 8,1 vạn công nhân các đồn điền trồng cây công nghiệp. Đó là chưa kể đến những người làm ở xí nghiệp thủ công lớn, nhỏ, thợ may, thợ cạo, thợ giặt, bồi bếp, khuân vác ở hải cảng.

Mặt khác, dân tộc Việt Nam trải qua một lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài, đã hun đúc nên tinh thần đoàn kết, yêu thương, gắn bó cùng nhau với những quan hệ huyết thống cùng tình làng, nghĩa xóm, truyền thống yêu nước, ý chí quật cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[6].

Trong điều kiện ấy, Đảng đã sáng suốt nhận thức rằng, chỉ khi tập hợp được mọi tầng lớp yêu nước, bất kể giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo, dân tộc, xây dựng thành một khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì cách mạng mới có thể thắng lợi. Việc mở rộng mặt trận nhân dân, thu hút các tầng lớp quần chúng rộng rãi, tập họp họ lại dưới ngọn cờ cách mạng của Đảng là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đất nước và yêu cầu của cách mạng. Đường lối tập hợp quần chúng rộng rãi không chỉ thể hiện chính sách đoàn kết dân tộc sáng suốt, mang lại sức mạnh to lớn của lực lượng cách mạng, hơn thế nữa còn là điều kiện cho sự phát triển của chính đội ngũ đảng viên của Đảng. Thực tế cho thấy, nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng xuất thân từ tầng lớp trí thức, trong các gia đình nhân sĩ, tư sản yêu nước, được rèn luyện và trưởng thành trong phong trào cách mạng, đã trở thành những cán bộ cốt cán, trung kiên của Đảng, có đồng chí đã hy sinh, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng.

Khối đại đoàn kết toàn dân được hình thành và phát huy qua Mặt trận Việt Minh, một sáng kiến chiến lược đúng thời điểm, đúng đối tượng. Thông qua Việt Minh, Đảng mở rộng và phát triển lực lượng chính trị rộng khắp trên toàn quốc. Mạng lưới cán bộ cách mạng được xây dựng khắp các khu vực từ đồng bằng đến miền núi, từ nông thôn đến đô thị. Các tổ chức quần chúng như thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, nông dân cứu quốc, tự vệ cứu quốc… được thành lập rộng rãi, đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa tinh thần yêu nước, giác ngộ chính trị và tập hợp lực lượng tham gia, ủng hộ cách mạng.

Cùng với chủ trương huy động rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân trong toàn dân tộc để xây dựng lực lượng cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời quan tâm đến các mối quan hệ quốc tế, nhất là phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, đặc biệt cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở nước Pháp. “Trong khi tuyên truyền các khẩu hiệu nước An Nam độc lập phải đồng thời tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp Pháp”[7], đó là đường lối được xác định ngay trong Sách lược đấu tranh được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (tháng 2-1930). Đường lối ấy xuất phát từ nhận thức đúng đắn và sáng suốt của Đảng là cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng giải phóng của một thuộc địa như Việt Nam trong quan hệ với cách mạng ở chính quốc như đôi cánh của một con chim. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi”[8]. Đương nhiên, cách mạng giải phóng dân tộc muốn được biết đến và có được sự ủng hộ của cách mạng chính quốc và phong trào cách mạng thế giới thì phải có thực lực, phải dựa vào sức mạnh của dân tộc mình là chính, phải “lấy sức ta mà giải phóng cho ta” là chủ yếu.

Từ nền tảng nhận thức lý luận ban đầu này, Đảng đã không ngừng tổng kết thực tiễn, hoàn thiện đường lối hợp tác quốc tế để tận dụng và phát huy sức mạnh của sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới, tạo thành một mặt trận thứ hai, góp phần vào những thành công của cách mạng Việt Nam. Đường lối ấy không chỉ là một trong những yếu tố quan trọng dẫn tới thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mà còn tiếp tục phát huy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: Dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.

Sự sáng tạo tài tình trong việc tận dụng thời cơ và tổ chức tổng khởi nghĩa giành thắng lợi

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không thể thành công nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không sáng suốt nắm bắt lấy “thời cơ vàng”, lãnh đạo kiên quyết và hành động nhanh chóng, kịp thời việc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sau khi vào Đông Dương, chính quyền phát xít Nhật đã bắt tay với thực dân Pháp tiến hành đàn áp phong trào cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích tình hình, chỉ ra mâu thuẫn không thể tránh khỏi giữa các thế lực đế quốc xâm lược, nhận định không sớm thì muộn phát xít Nhật sẽ đảo chính hất cẳng thực dân Pháp ở Đông Dương và chủ động chuẩn bị kế hoạch hành động khi có tình hình mới. Vì thế, ngay trong đêm 9-3-1945, khi quân phiệt Nhật Bản đảo chính Pháp, Trung ương Đảng đã triệu tập hội nghị thường vụ mở rộng do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì và ra Chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12-3-1945. Chỉ thị xác định kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật, do đó phải thay đổi khẩu hiệu “đánh đuổi Nhật, Pháp” bằng khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật”, chống lại chính quyền Nhật và chính phủ bù nhìn của bọn Việt gian thân Nhật. Đây là văn kiện rất quan trọng, một thể hiện điển hình cho khả năng đánh giá tình hình chính trị sắc sảo, sự sáng suốt của Đảng trong chủ động đề ra các quyết sách chiến lược lãnh đạo cách mạng.

Sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh vào ngày 15-8-1945, tình hình chính trị ở Đông Dương chuyển biến nhanh chóng, chính quyền tay sai của quân phiệt Nhật Bản rệu rã, mất phương hướng, không còn chỗ dựa. Đây chính là “thời cơ ngàn năm có một” mà Đảng ta đã kỳ công chuẩn bị từ lâu và sẵn sàng để tận dụng.

Ngay trước cuộc đảo chính của Nhật, dưới sự chủ tọa của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng đã được tổ chức tại Tân Trào (Tuyên Quang) từ ngày 13 đến 15-8-1945. Hội nghị đưa ra nhận định 7 điểm: 1) Từ ngày 9-3-1945, chính sách tàn ngược, vô nhân đạo của Nhật càng rõ rệt; 2) Nhân dân Đông Dương cực khổ, căm tức, cách mạng hóa; đến cả một phần quan lại cũng ngả về phe cách mạng; 3) Cao trào kháng Nhật, cứu nước do Đảng lãnh đạo ngày một mạnh mẽ, sâu rộng khắp Bắc-Trung-Nam... Khu giải phóng và Quân giải phóng Việt Nam thành lập. Chính quyền địa phương của nhân dân đã lập trên 6 tỉnh thượng du và trung du Bắc Kỳ. Hơn 1 triệu đồng bào đã được hưởng quyền tự do dân chủ và được miễn trừ sưu thuế; 4) Nhật đổ, hàng ngũ chỉ huy của chúng ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần, bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ; 5) Quân Đồng minh sắp vào nước ta và đế quốc Pháp lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương; 6) Toàn dân tộc đang sôi nổi đợi chờ khởi nghĩa giành quyền độc lập; 7) Điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi.

Để bảo đảm lãnh đạo khởi nghĩa thắng lợi, hội nghị đề ra 3 nguyên tắc: 1) Tập trung: Tập trung lực lượng vào những việc chính; 2) Thống nhất: Thống nhất mọi phương diện, chính trị, hoạt động chỉ huy; 3) Kịp thời: Kịp thời hành động, không bỏ lỡ thời cơ. Đồng thời, hội nghị cũng yêu cầu: “Phải tập trung lực lượng vào những chỗ cần thiết để đánh”; “đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê”; phối hợp chặt chẽ quân sự và chính trị trong tác chiến; hết sức bảo toàn lực lượng; tiến hành công tác binh vận, “làm tan rã tinh thần quân địch và dụ chúng hàng trước khi đánh”.

Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng tại Tân Trào có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách mạng nước ta. Những tư tưởng của hội nghị không chỉ có ý nghĩa chỉ đạo đối với Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 mà còn có ý nghĩa, tác dụng định hướng đối với các công tác của Đảng sau khi giành chính quyền, với việc bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng, hơn thế nữa còn là bài học về lâu dài cho cách mạng Việt Nam.

Ngay sau Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng, ngày 16 và 17-8-1945, Quốc dân Đại hội được tổ chức tại Tân Trào. Đại hội đã quyết định phát động tổng khởi nghĩa trên phạm vi toàn quốc; thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh; quy định về Quốc kỳ, Quốc ca; cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Trước khi Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam ra đời, ngày 13-8-1945, Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa do Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp phụ trách. Ủy ban Khởi nghĩa đã ra bản Quân lệnh số 1, phát lệnh khởi nghĩa: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà!”. Khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra thành công ở Hà Nội ngày 19-8, Huế ngày 23-8, Sài Gòn ngày 25-8. Đến cuối tháng 8, tất cả địa phương trong cả nước đã giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, trên Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, trịnh trọng tuyên bố: “Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Toàn bộ cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn cõi Việt Nam diễn ra trong vòng nửa tháng, hầu như không đổ máu với tốc độ thần tốc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một thành quả vĩ đại của lịch sử dân tộc, được hun đúc từ trí tuệ chiến lược, nghệ thuật tổ chức cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương, đặc biệt là sự đồng lòng, đồng sức của toàn dân tộc. Từ thắng lợi ấy, nhiều bài học lịch sử lớn vẫn còn nguyên giá trị và mang ý nghĩa sâu sắc trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước hiện nay./.
-------------------
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2001, t.12, tr. 442.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2011, t. 3, tr.1.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 12
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr. 432.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.3.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.38.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.3.
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.320.


Yêu nước ST .

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH HIỆN HÀNH ĐỐI VỚI SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NGHỈ HƯU!

     Chế độ an điều dưỡng; chế độ khám, chữa bệnh; chế độ chăm sóc cán bộ Quân đội nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo; chế độ thông tin và trợ cấp khó khăn; chế độ tổ chức lễ tang và chế độ gặp mặt, tặng quà nhân các ngày lễ, Tết đối với sĩ quan Quân đội nghỉ hưu hiện đang được thực hiện theo Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BQP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BQP Thông tư về thực hiện một số chế độ, chính sách góp phần chăm sóc đối với cán bộ Quân đội nghỉ hưu hợp nhất Thông tư số 158/2011/TT-BQP ngày 15-8-2011 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về thực hiện một số chế độ, chính sách góp phần chăm sóc đối với cán bộ Quân đội nghỉ hưu và Thông tư số 13/2024/TT-BQP ngày 18-3-2024 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng liên quan đến việc kê khai thông tin cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính.

Đối tượng áp dụng
Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BQP quy định một số chế độ, chính sách góp phần chăm sóc về tinh thần, vật chất đối với cán bộ Quân đội nghỉ hưu, áp dụng đối với:

1. Đối tượng 1:
a) Sĩ quan cấp quân hàm Thiếu tướng trở lên;

b) Sĩ quan cấp quân hàm Đại tá, mức lương 668 đồng theo Nghị định số 235/HĐBT ngày 18-9-1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân viên chức và lực lượng vũ trang (sau đây viết tắt là Nghị định số 235/HĐBT);

c) Sĩ quan cấp quân hàm Đại tá nâng lương lần 2 hệ số 7,2 theo Nghị định số 25/CP ngày 23-5-1993 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính sự nghiệp và lực lượng vũ trang (sau đây viết tắt là Nghị định số 25/CP); hoặc hệ số 8,6 theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14-12-2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang (sau đây viết tắt là Nghị định số 204/2004/NĐ-CP);

d) Sĩ quan nguyên là Tư lệnh, Chính ủy quân đoàn; Tư lệnh, Chính ủy binh chủng; cục trưởng có chức năng chỉ đạo toàn quân và tương đương trở lên; hoặc có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 0,9 trở lên theo Nghị định số 25/CP hoặc từ 1,1 trở lên theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP;

2. Đối tượng 2:
a) Sĩ quan cấp quân hàm Đại tá, mức lương 655 đồng theo Nghị định số 235/HĐBT; Đại tá nâng lương lần 1 hệ số 6,85 theo Nghị định số 25/CP hoặc 8,4 theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP;

b) Sĩ quan nguyên là Phó tư lệnh, Phó chính ủy quân đoàn; Phó tư lệnh, Phó chính ủy binh chủng và tương đương; hoặc có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo 0,8 theo Nghị định số 25/CP hoặc 1,0 theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP.

3. Đối tượng 3: Sĩ quan cấp quân hàm Đại tá, Thượng tá hoặc sĩ quan nguyên là chỉ huy sư đoàn hoặc Bộ CHQS tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương.

4. Đối tượng 4: Sĩ quan cấp quân hàm Trung tá, Thiếu tá hoặc sĩ quan nguyên là chỉ huy Trung đoàn, Ban CHQS huyện (quận) và tương đương.

5. Đối tượng 5: Sĩ quan cấp ủy và các chức danh khác tương đương.

6. Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng có cấp bậc quân hàm, hoặc mức lương, hoặc hệ số phụ cấp chức vụ tương đương với cấp bậc quân hàm, hoặc mức lương, hoặc hệ số phụ cấp chức vụ của sĩ quan cấp nào thì được hưởng chế độ quy định tại Thông tư này như đối với sĩ quan cấp đó.

7. Trường hợp thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì cán bộ được đăng ký và được thực hiện chế độ, chính sách đối với chức vụ lãnh đạo cao nhất đã qua.

Các trường hợp không áp dụng được quy định tại Điều 3 Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BQP, gồm:

- Các đối tượng đã được hưởng chế độ quy định tại Quyết định số 205/2004/QĐ-TTg ngày 10-12-2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện một số chính sách, chế độ đối với cán bộ cao cấp.

- Cán bộ Quân đội nghỉ hưu thuộc đối tượng nêu tại Điều 2 Thông tư này đang chấp hành án phạt tù; đầu hàng địch; bị kết án về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia./.
Ảnh: Cán bộ Quân đội nghỉ hưu, nghỉ công tác trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) dự gặp mặt dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2024), 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 / 22-12-2024) do Bộ CHQS tỉnh Quảng Bình tổ chức.
Môi trường ST.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LÀM PHAI NHẠT GIÁ TRỊ VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM!

     Trong không khí cả nước sôi nổi kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9, các thế lực thù địch lại có những hoạt động xuyên tạc, bóp méo ý nghĩa lịch sử của sự kiện vĩ đại này. Trước âm mưu thâm độc đó, việc bảo vệ sự thật lịch sử, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhất là mỗi cán bộ, đảng viên!

Luận điệu lạc lõng

Ngày nay, các thế lực thù địch không còn tấn công một cách rời rạc mà đã xây dựng những chiến dịch có hệ thống, nhắm vào từng nhóm đối tượng cụ thể, lợi dụng các nền tảng giải trí, mạng xã hội như TikTok, YouTube để tung ra những nội dung có vẻ khách quan nhưng thực chất là bịa đặt, áp dụng chiêu bài “mưa dầm thấm đất”-lặp đi lặp lại những luận điệu xuyên tạc độc hại, cụ thể là:
Thứ nhất, phủ nhận bản chất cách mạng và thành quả lịch sử. Họ rêu rao rằng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị”. Luận điệu này nhằm phủ nhận hoàn toàn tính chất và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám. Thứ hai, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Họ cho rằng: “Những thắng lợi mà Việt Nam giành được là sự ăn may”; “do khoảng trống quyền lực nên Việt Nam dễ giành được kết quả nhanh chóng”. Những luận điệu này cố tình phủ nhận quá trình chuẩn bị lâu dài và sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng. Thứ ba, đổ lỗi và bôi nhọ Cách mạng Tháng Tám “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”, “nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã giàu mạnh từ lâu”. Đây là luận điệu đặc biệt độc hại, đảo ngược nhân quả lịch sử. Một thâm đồ bôi nhọ.

Sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định thành công của cách mạng

Trái với luận điệu cho rằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chỉ là “sự ăn may của lịch sử”, thành công vĩ đại này là kết quả của sự kết hợp biện chứng giữa điều kiện khách quan thuận lợi và nhân tố chủ quan mang tính quyết định. Về điều kiện khách quan, tháng 8-1945 xuất hiện thời cơ “nghìn năm có một”-phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh vào ngày 15-8-1945, quân đội Nhật ở Đông Dương rệu rã và chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim thì hoang mang, tê liệt. Tuy nhiên, như V.I.Lênin từng chỉ rõ: “Không phải bất cứ một tình thế cách mạng nào cũng dẫn đến cách mạng”, nghĩa là thời cơ khách quan dù thuận lợi đến mấy cũng tự nó không thể làm nên lịch sử. Chỉ có nhân tố chủ quan, đó là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, cùng quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt mới có thể chuyển hóa thời cơ ngắn ngủi ấy thành hiện thực thắng lợi.

Thực tế, Đảng ta đã có 15 năm chuẩn bị chu đáo cho tổng khởi nghĩa. Đó là: Xây dựng đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam; phát triển lực lượng chính trị với hơn 5.000 đảng viên gắn bó mật thiết với quần chúng; thành lập, rèn luyện lực lượng vũ trang cách mạng thông qua các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945; gây dựng căn cứ địa cách mạng và Mặt trận Việt Minh làm chỗ dựa vững chắc cho khởi nghĩa. Đặc biệt, Đảng ta đã nhận định, đánh giá đúng tình hình và chớp thời cơ rất kịp thời. Ngay trong đêm 13-8-1945, khi hay tin Nhật đầu hàng Đồng minh, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và Quân lệnh số 1 được ban bố, hạ lệnh tổng khởi nghĩa trên toàn quốc. Tiếp đó, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào ngày 14 và 15-8-1945 thông qua quyết định phát động toàn dân nổi dậy, thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam và chuẩn bị mọi mặt cho chính quyền mới-tất cả diễn ra trong thời gian rất ngắn nhưng hết sức chủ động, bài bản. Nhờ sự chỉ đạo nhạy bén, thần tốc đó, quân và dân ta đã kịp thời nổi dậy giành chính quyền trên phạm vi cả nước trước khi quân Đồng minh kéo vào, hoàn toàn không để “thời cơ vàng” trôi qua.

Từ thân phận nô lệ đến quyền làm chủ đất nước

Trước năm 1945, nước ta chỉ là một xứ thuộc địa nghèo nàn, lạc hậu, 95% dân số mù chữ, thậm chí tên nước “Việt Nam” còn chưa có trên bản đồ thế giới. Dưới ách áp bức của phát xít và thực dân, nhân dân ta bị bóc lột, đàn áp thậm tệ; riêng nạn đói năm 1945 do phát xít Nhật gây ra đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu đồng bào. Trình độ dân trí rất thấp, với 95% dân số không biết viết, không biết đọc-một con số thể hiện sự tàn phá ghê gớm của chế độ thực dân. Nếu không có Cách mạng Tháng Tám và sự lãnh đạo của Đảng, khó có thể hình dung viễn cảnh dân tộc ta tiếp tục chịu thân phận nô lệ cùng cực kéo dài như thế nào. Chính thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đưa dân tộc ta thoát khỏi đêm trường nô lệ, đưa nhân dân ta từ thân phận người dân mất nước trở thành chủ nhân đất nước.

Ngay sau khi chính quyền cách mạng được thành lập, trước tình thế “thù trong giặc ngoài”, "ngàn cân treo sợi tóc”, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, hàng loạt nhiệm vụ cấp bách vì dân sinh, dân trí đã được tiến hành quyết liệt, phong trào “diệt giặc đói, diệt giặc dốt” được triển khai trên khắp cả nước. Chỉ trong vòng chưa đầy một năm, nạn đói cơ bản được đẩy lùi và hơn 2,5 triệu người đã thoát nạn mù chữ nhờ các lớp bình dân học vụ được mở khắp nơi. Những thành quả đầu tiên ấy đã chứng tỏ tính ưu việt của chế độ mới, nâng cao uy tín của Đảng, củng cố niềm tin, tinh thần đoàn kết của nhân dân vào chính quyền cách mạng non trẻ.

Nền tảng cho thắng lợi và phát triển của dân tộc Việt Nam

Ngay sau khi nhân dân ta vừa giành được độc lập, Chính phủ non trẻ đã hết sức thiện chí, nỗ lực giữ gìn hòa bình. Thế nhưng, chỉ 3 tuần sau ngày độc lập, rạng sáng 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng tái chiếm Nam Bộ, chính thức phát động chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Dã tâm xâm lược của chủ nghĩa thực dân là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chiến tranh, chứ tuyệt đối không phải như luận điệu mà các thế lực thù địch xuyên tạc. Đảng và Chính phủ ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đó đã nhân nhượng tối đa để tránh một cuộc chiến tranh, nhưng “chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”.

Trải qua 9 năm kháng chiến gian khổ, quân và dân ta đã làm nên Chiến thắng "lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu", buộc thực dân Pháp ký Hiệp định Geneva năm 1954. Hiệp định này đã tạo điều kiện để miền Bắc được độc lập, tự do hoàn toàn, đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời chuẩn bị các điều kiện để cùng quân và dân miền Nam tiến hành kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Dân tộc ta lại bước vào cuộc trường chinh 21 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược do thực dân Pháp cấu kết “bật đèn xanh” cho Mỹ “nhảy vào” miền Nam Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta kết thúc bằng Đại thắng mùa xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Rõ ràng, nguyên nhân sâu xa và trực tiếp dẫn đến hai cuộc chiến tranh chính là dã tâm xâm lược tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai, chứ tuyệt đối không phải do Cách mạng Tháng Tám như các thế lực thù địch xuyên tạc. Hơn nữa, chính nền độc lập do Cách mạng Tháng Tám mang lại đã tạo tiền đề để nhân dân ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, thu giang sơn về một mối và kiến thiết một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, ngày càng phát triển. Nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta không thể có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay; nhân dân ta cũng không thể có được quyền làm chủ vận mệnh của mình. 80 năm qua, từ một xứ thuộc địa đói nghèo, Việt Nam đã vươn lên thành một quốc gia độc lập, tự cường, phát triển mạnh mẽ. Những thực tế đó là minh chứng hùng hồn bác bỏ mọi sự phủ nhận và xuyên tạc ý nghĩa lịch sử, giá trị vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Giá trị lịch sử và thời đại không thể xuyên tạc

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới cho Việt Nam mà còn là thắng lợi của cách mạng giành chính quyền chỉ diễn ra trong thời gian ngắn nhất, tổn thất nhỏ nhất, nhưng mang lại thành công lớn nhất và triệt để nhất trong lịch sử nhân loại. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng cao đẹp, là kết quả của sự phát huy các nguồn lực con người, trí tuệ và cả của cải của chính nhân dân; là hội tụ của các nguồn xung lực mạnh mẽ của toàn dân tộc, trong thời khắc bước ngoặt lịch sử dưới ngọn cờ chói lọi tinh thần yêu nước của Mặt trận Việt Minh do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã phá vỡ một mảng quan trọng của chủ nghĩa đế quốc tại khâu yếu nhất của nó là chế độ thuộc địa-nửa phong kiến; mở ra thời kỳ sụp đổ, tan rã không cách gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh cho dân chủ, tiến bộ xã hội trên thế giới.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không phải là “sự ăn may”, “khoảng trống quyền lực”, “sai lầm lịch sử” hay “nguyên nhân gây chiến tranh”... như các thế lực thù địch xuyên tạc, mà là kết quả tất yếu của sự kết hợp biện chứng giữa điều kiện khách quan thuận lợi và nhân tố chủ quan quyết định. Những thành tựu tức thì ngay sau cách mạng được thể hiện qua con số cụ thể và kết quả thực tế chính là minh chứng hùng hồn nhất cho tính đúng đắn của con đường cách mạng và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây chính là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin vững chắc để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kiên quyết đấu tranh, bảo vệ sự thật lịch sử trước mọi âm mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch, đồng thời tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.
Ảnh: Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi vẻ vang của dân tộc.
Yêu nước ST.

Thứ Hai, 18 tháng 8, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM GẶP MẶT CÁN BỘ LÃO THÀNH CÁCH MẠNG, NGUYÊN ỦY VIÊN TRUNG ƯƠNG ĐẢNG NHÂN KỶ NIỆM 80 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2-9!

     Sáng 18-8, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm gặp mặt các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí nguyên Ủy viên Trung ương Đảng các khóa, nguyên lãnh đạo các ban, cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội Trung ương nhân Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19-8-1945 / 19-8-2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 / 2-9-2025).

Tham dự chương trình gặp mặt có: Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; các đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và Nguyễn Thị Kim Ngân; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; nguyên Ủy viên Thường vụ Thường trực Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Phạm Thế Duyệt; các nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư Phan Diễn, Lê Hồng Anh và Trần Quốc Vượng. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến.

Dự chương trình có các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng các khóa; các đồng chí đại biểu lão thành cách mạng, nguyên lãnh đạo các cơ quan Trung ương của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, đại diện lãnh đạo một số ban, bộ, ngành, Trung ương.

Đại biểu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng dự chương trình gặp mặt có: Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chương trình gặp mặt nhằm ôn lại truyền thống lịch sử cách mạng vẻ vang của Đảng, dân tộc nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19-8-1945 / 19-8-2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 / 2-9-2025); thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí nguyên lãnh đạo của các cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương; ghi nhận, tri ân những cống hiến, đóng góp to lớn của các đồng chí đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; lắng nghe ý kiến đóng góp quý báu, trách nhiệm, tâm huyết, trí tuệ được kết tinh giữa kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc và tầm nhìn chiến lược của các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu đã từng chèo lái con thuyền cách mạng của đất nước ta.

Tại buổi gặp mặt, các đại biểu đã chia sẻ ký ức xúc động, tự hào về những năm tháng tham gia cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, những đóng góp to lớn của quân và dân cả nước để làm nên chiến thắng vĩ đại để đất nước được độc lập, tự do, nhân dân được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Trong niềm xúc động, Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chia sẻ về chặng đường hoạt động cách mạng với biết bao gian khổ nhưng rất hào hùng. Đại tướng Phạm Văn Trà đã từng tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, bị thương nhiều lần, kinh qua nhiều hiểm nguy nhưng vẫn luôn giữ một lòng tuyệt đối trung thành với Đảng, lý tưởng cách mạng, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Với tinh thần phấn khởi chứng kiến đất nước đổi mới và đạt được những kết quả to lớn, đồng chí Phạm Quang Nghị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội bày tỏ sự biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhớ và biết ơn lớp lớp các anh hùng liệt sĩ, những người có công với nước, với dân, và cùng với đó là lòng trân trọng, tri ân sự hy sinh lớn lao của nhân dân ta trong Cách mạng Tháng Tám và trong cả thời kỳ tiếp sau.

Buổi gặp mặt càng thêm ý nghĩa khi các đại biểu chia sẻ những câu chuyện xúc động, đồng thời, bày tỏ sự ủng hộ, tin tưởng vào các chủ trương, chính sách của Đảng trong thời gian gần đây liên quan đến tinh gọn bộ máy, phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển mới. 

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Tổng Bí thư Tô Lâm bày tỏ xúc động khi được gặp lại đông đảo các đồng chí, nhiều bác là bậc tiền bối, đã trải qua những năm tháng khó khăn của Cách mạng Việt Nam, từ thời kỳ giành chính quyền, xây dựng chính quyền non trẻ, vượt qua khói lửa chiến tranh để thống nhất non sông đất nước và xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa vững mạnh như ngày hôm nay. Trong số các đồng chí có nhiều người trực tiếp cầm súng chiến đấu hoặc chỉ đạo kháng chiến; có nhiều người đã miệt mài, bền bỉ trên mặt trận kiến thiết, đổi mới, hội nhập, đưa đất nước ta tiến lên.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư Tô Lâm trân trọng gửi tới các đồng chí đại biểu lời chào trân trọng, lời thăm hỏi ân cần và những lời chúc tốt đẹp nhất.

Nhìn lại chặng đường 80 năm qua, lịch sử dân tộc ta được dệt nên từ biết bao hy sinh, gian khổ, nhưng cũng rực rỡ những chiến công và thành quả. Và trong từng trang sử đó, có dấu ấn đậm nét của các đồng chí, những người đã ở vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng qua các thời kỳ, cùng toàn Đảng hoạch định đường lối, dẫn dắt công cuộc cách mạng. Mỗi đồng chí là một câu chuyện, một hành trình cống hiến riêng, nhưng tất cả đều có một điểm chung đó là sự kiên định với lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sự tận tụy với nhân dân, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích của Đảng, của dân tộc.

Ngày nay, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới với khát vọng phát triển nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. Để công cuộc đổi mới tiếp tục được thực hiện với quyết tâm mới, thế và lực mới, tầm vóc mới, ngoài nỗ lực của Ban Chấp hành Trung ương, cả hệ thống chính trị và nhân dân thì Đảng và Nhà nước cũng cần sự đồng hành, đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm của các đồng chí nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, các cán bộ cấp cao, những người hiểu sâu về quy luật phát triển, từng trải qua những tình huống khó khăn, luôn kiên định mục tiêu vì nước vì dân và điều đặc biệt quý là các đồng chí vẫn là những trái tim hồng.

Tổng Bí thư Tô Lâm thông tin một số thành tựu cũng như một số định hướng phát triển đất nước trong thời gian tới, đặc biệt là việc phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII và chuẩn bị thật tốt để tổ chức thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đảm bảo thực hiện thắng lợi hai mục tiêu 100 năm mà Đảng đã đề ra, đặc biệt là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình, ổn định, trật tự xã hội; phát triển đất nước nhanh và bền vững và không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.

Kể từ Hội nghị Trung ương 10 khóa XIII (tháng 9-2024) đến nay, Ban Chấp hành Trung ương đã giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ để quyết tâm, quyết liệt thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, đạt các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của nhiệm kỳ 2020-2025, đặc biệt là việc triển khai mạnh mẽ, quyết liệt, khoa học Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và quyết định tổ chức chính quyền 3 cấp gồm 2 cấp ở địa phương với việc cơ cấu lại không gian phát triển của địa giới hành chính cấp tỉnh, thành phố và cấp xã, phường, đặc khu.

Nhiều việc khó, việc lớn được đưa ra bàn bạc trong tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư và xin ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương, về cơ bản những nội dung quan trọng, chiến lược, cách mạng đó đều đạt thống nhất cao về chủ trương, phương án, kế hoạch, lộ trình triển khai... Chính vì vậy mà những công việc mà Ban Chấp hành Trung ương thực hiện vừa qua được coi là “đúng”, “trúng”, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ; khối lượng công việc được giải quyết được đánh giá là “một năm bằng nhiều năm”, đã thể hiện đúng tinh thần “nói đi đôi với làm”.
 
Tổng Bí thư Tô Lâm cũng thông tin về thành tựu phát triển kinh tế; công tác an sinh xã hội, đối ngoại hội nhập quốc tế, về Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV. Nhấn mạnh về quốc phòng, an ninh, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: Chưa giai đoạn nào mà Đảng và Nhà nước lại quan tâm đầu tư phát triển cho quốc phòng, an ninh như giai đoạn hiện nay. Lực lượng vũ trang nhân dân của chúng ta đang tiến nhanh đến mục tiêu chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức chiến đấu và chiến thắng trước mọi loại hình chiến tranh, đủ sức giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để đất nước rơi vào tình huống bị động, bất ngờ. Quốc phòng, an ninh hiện nay là kênh đối ngoại hiệu quả để giữ hòa bình, ổn định và phát triển cho đất nước.

Cả Quân đội và Công an đều được tổ chức lại theo hướng tinh, gọn, mạnh; thế trận quốc phòng, an ninh được bố trí phù hợp với không gian phát triển mới của đất nước; nghệ thuật quân sự, nghệ thuật an ninh được nâng lên một bước phù hợp với tình hình hiện nay. Lực lượng, vũ khí, trang thiết bị quân sự, an ninh đủ sức đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chủ quyền lãnh thổ, toàn vẹn quốc gia được bảo đảm và giữ vững; sức mạnh quốc phòng, an ninh mạnh hơn trước rất nhiều. Quân đội, Công an đã làm chủ, sản xuất nhiều loại vũ khí, thiết bị hiện đại.

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Các đồng chí nguyên ủy viên Trung ương, cán bộ lão thành, cán bộ cấp cao dù đã nghỉ công tác lãnh đạo trực tiếp, nhưng tôi tin rằng trong tim mỗi đồng chí, ngọn lửa cách mạng vẫn cháy bền bỉ. Các đồng chí vẫn có thể, và rất nên tiếp tục góp sức trên nhiều phương diện: Đóng góp ý kiến cho Đảng về những vấn đề chiến lược, tầm nhìn dài hạn, trên cơ sở kinh nghiệm và sự từng trải của mình; truyền lửa cho thế hệ trẻ, đặc biệt là cán bộ trẻ, để họ thấm nhuần giá trị trung thành, tận tụy, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tham gia giám sát, đóng góp ý kiến, góp phần giữ gìn sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị tại cơ sở, nơi các đồng chí sinh sống; làm cầu nối đối ngoại nhân dân, phát huy uy tín và mối quan hệ quốc tế đã tích lũy để quảng bá hình ảnh Việt Nam.

Tổng Bí thư Tô Lâm tin tưởng với tinh thần “mãi mãi tuổi 20”, các đồng chí sẽ tiếp tục đồng hành, đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín để giúp Đảng ta lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, vươn lên mạnh mẽ, thực hiện thắng lợi khát vọng xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Dịp này, Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lão thành cách mạng, nguyên lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước; trao thẻ đảng viên (mẫu mới) đối với các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước./.


Môi trường ST.