Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGOẠI GIAO VIỆT NAM - 80 NĂM XÂY DỰNG, TRƯỞNG THÀNH THÀNH CÙNG ĐẤT NƯỚC!

     Nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập ngành ngoại giao (28-8-1945 – 28-8-2025), đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã có bài viết “Ngoại giao Việt Nam - 80 năm xây dựng, trưởng thành cùng đất nước”. Xin trân trọng giới thiệu bài viết của Chủ tịch nước:

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 28-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó quyết định thành lập Bộ Ngoại giao - chính thức khai sinh ngành ngoại giao Việt Nam hiện đại. Ngoại giao Việt Nam vô cùng vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, lãnh đạo, chỉ đạo trên cương vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam mới. Qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, ngoại giao Việt Nam luôn nêu cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Ngoại giao Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước

Đất nước vừa giành được độc lập đã đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài, ngoại giao đã có những quyết sách đúng đắn, táo bạo, khéo léo để giữ vững nền độc lập dân tộc và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước ngày 14-9-1946 ta ký với Pháp là những “nước cờ ngoại giao mẫu mực”, thực hiện sách lược “hòa để tiến” nhằm đưa đất nước qua khỏi tình thế hiểm nghèo, tránh phải đối đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc, bảo vệ được nền độc lập và chính quyền cách mạng non trẻ; ta có thêm thời gian để củng cố lực lượng chuẩn bị đối phó với thực dân Pháp sau này. Hơn nữa, Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước ta ký với Pháp nêu trên có ý nghĩa là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên giữa Việt Nam và Pháp, một thắng lợi chính trị quan trọng của ta, buộc Pháp phải công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dưới sự chèo lái tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao non trẻ củaViệt Nam đã lập chiến công đầu hiển hách.

Ảnh: Nhân dân Thủ đô Warsawa nhiệt liệt chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan (năm 1957).

Bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, nhiệm vụ trung tâm của ngoại giao lúc này là đưa đất nước thoát khỏi thế “đơn thương độc mã”, giành sự công nhận, chi viện của quốc tế và hỗ trợ đắc lực cho mặt trận quân sự. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ, ngoại giao đã góp phần hình thành liên minh chiến đấu với Lào, Campuchia; tạo lập quan hệ với Thái Lan, Myanmar, Indonesia, Ấn Độ và nhất là thúc đẩy Trung Quốc, Liên Xô và nhiều nước xã hội chủ nghĩa công nhận, đặt quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam. Những bước đi quan trọng này đã mở ra hậu phương lớn cho tiền tuyến, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, tranh thủ được sự chi viện to lớn cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Đồng thời, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với quân sự, phát huy thắng lợi to lớn trên chiến trường để đẩy mạnh đấu tranh trên bàn hội nghị. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, Pháp phải ký Hiệp định Geneve1954 về đình chỉ chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Thắng lợi này đã bãi bỏ quyền cai trị của Pháp, công nhận nền độc lập của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, chính thức chấm dứt chế độ thực dân tại Đông Dương; miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới là: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hiệp định Geneve là mốc son lịch sử đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của nền ngoại giao Việt Nam trên trường quốc tế. Đúng như Bác Hồ đã khẳng định: “Hội nghị Geneve đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng lợi to”(1).

Vừa trải qua 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp vô cùng ác liệt, cả dân tộc lại phải bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Một lần nữa, lịch sử lại trao cho ngoại giao sứ mệnh cùng các binh chủng khác của cách mạng Việt Nam chiến đấu và chiến thắng đối thủ mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Trong Đề cương báo cáo về tình hình và nhiệm vụ trên mặt trận đấu tranh ngoại giao, tháng 5-1969, Đảng ta đã xác định cùng với các mặt trận quân sự và chính trị,“ngoại giao là một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược”. Ngoại giao đã huy động được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn về tinh thần, vật chất từ các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ trên thế giới, nhất là Liên Xô, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Cuba.... Đồng thời, ngoại giao đã góp phần tạo nên phong trào quốc tế rộng lớn chưa từng có đoàn kết, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, thúc đẩy phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ. Cùng với đồng bào trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài đã nêu cao tinh thần yêu nước, tham gia kháng chiến với nhiều hình thức. Nhiều bà con đã tình nguyện hồi hương, đem kiến thức và tài sản của mình góp phần cứu nước. Trong lịch sử thế kỷ XX, hiếm có cuộc đấu tranh của dân tộc nào lại quy tụ được sự ủng hộ rộng khắp và mạnh mẽ cả ở trong và ngoài nước như dân tộc Việt Nam chúng ta.

Trong cuộc đối đầu lịch sử giữa một dân tộc vốn bị xem là “nhược tiểu” với siêu cường số 1 thế giới, ngoại giao đã phối hợp nhuần nhuyễn, chặt chẽ với mặt trận quân sự và chính trị, mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”. Nghệ thuật “đánh - đàm” đã đạt đến đỉnh cao, trong đó đấu tranh quân sự và chính trị là cơ sở cho đàm phán ngoại giao, còn đấu tranh ngoại giao góp phần phát huy thắng lợi của quân sự và chính trị. Với những chiến thắng to lớn của ta trên các chiến trường, đặc biệt là chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (tháng 12-1972), Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo tiền đề quan trọng để nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975.

Trong thời kỳ khôi phục và phát triển đất nước sau chiến tranh, ngoại giao vừa tham gia xây dựng, tái thiết đất nước, vừa đấu tranh bảo vệ biên cương, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong hoàn cảnh bị bao vây, cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị, các nỗ lực ngoại giao đã củng cố quan hệ với các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, đấu tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và giữ vững biên giới Tây Nam, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng. Trong giai đoạn này, chúng ta cũng mở rộng quan hệ đối ngoại, trở thành thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương như Phong trào Không liên kết, Liên hợp quốc... Với phương châm “thêm bạn, bớt thù”, ngoại giao đã đi đầu trong việc từng bước tháo gỡ những khó khăn, khơi thông cục diện đối ngoại, đặt những nền móng đầu tiên cho việc mở rộng quan hệ giai đoạn đổi mới và hội nhập sau này.

Ngoại giao phục vụ sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế

Bước vào giai đoạn đổi mới, nhiệm vụ trên hết và trước hết của ngoại giao lúc này là phải phá thế bao vây, cấm vận, phục hồi, bình thường hóa quan hệ với các nước. Trên tinh thần đổi mới tư duy, ngoại giao đã kịp thời điều chỉnh, chuyển hướng chiến lược, mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới, thi hành chính sách hữu nghị, hợp tác, tồn tại hòa bình để phát triển, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội. Bằng những bước đi chủ động, ta đã cải thiện quan hệ với các nước Đông Nam Á, khôi phục quan hệ hữu nghị và láng giềng với Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ với Mỹ và các nước phát triển phương Tây, gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trong vòng chưa đầy 10 năm sau đổi mới, cục diện đối ngoại đã chuyển từ đối đầu sang hợp tác, từ tình thế bị bao vây, cô lập sang có quan hệ hữu nghị, ổn định với các nước láng giềng và nước lớn.

Trên nền tảng những thành quả trong giai đoạn đầu đổi mới, hội nhập, ngoại giao bước vào giai đoạn mới mở rộng quan hệ đối ngoại với chủ trương “là bạn là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ”. Nếu trước đổi mới ta chỉ có quan hệ với hơn 100 quốc gia thì đến năm 2025 đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 194 quốc gia. Các mối quan hệ ngày càng đi vào chiều sâu, bền vững hơn, đặc biệt là việc hình thành khuôn khổ quan hệ với 38 quốc gia, trong đó có 13 đối tác chiến lược toàn diện, 10 đối tác chiến lược và 15 đối tác toàn diện. Sau gần 40 năm đổi mới, ta đã tạo dựng cục diện đối ngoại rộng mở và thuận lợi hơn bao giờ hết cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Trong quá trình đổi mới, hội nhập, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh xây dựng vành đai biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng. Chúng ta đã hoàn thành việc phân giới, cắm mốc trên biên giới đất liền với Lào và Trung Quốc; đạt kết quả tích cực về phân giới cắm mốc với Campuchia; ký kết các hiệp định, hiệp ước về phân định biển với Trung Quốc (trên Vịnh Bắc Bộ) và với các nước Thái Lan, Indonesia…. Đối với những vấn đề phức tạp về biên giới lãnh thổ, chúng ta vừa kiên quyết đấu tranh với các hoạt động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, đồng thời giương cao ngọn cờ hoà bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán với các nước liên quan để kiểm soát bất đồng, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Chúng ta đã tạo dựng được vành đai biên giới hòa bình, hữu nghị và cơ chế hợp tác để giải quyết các vấn đề về biên giới, lãnh thổ.

Cùng với đó, Việt Nam từng bước chủ động hội nhập với thế giới, từ hội nhập kinh tế đến hội nhập toàn diện, sâu rộng trên các lĩnh vực. Hội nhập quốc tế và ngoại giao kinh tế đã tranh thủ được môi trường quốc tế thuận lợi, huy động nguồn lực bên ngoài, đưa Việt Nam từ một nền kinh tế bị bao vây, cấm vận, kém phát triển, trở thành một nền kinh tế đang vươn lên mạnh mẽ, là mắt xích quan trọng trong kinh tế thế giới. Từ chỗ chỉ có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30 nước và vùng lãnh thổ, đến nay ta đã có quan hệ kinh tế - thương mại với hơn 230 nước và vùng lãnh thổ; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt gần 800 tỷ USD, gia nhập nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; thu hút được hơn 500 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trở thành nước đang phát triển thu hút đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới. Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong kinh tế thế giới và ngày càng gia tăng vị thế trong chuỗi sản xuất toàn cầu với 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có nhiều FTA thế hệ mới, hơn 500 hiệp định song phương và đa phương.

Các nỗ lực ngoại giao đã góp phần đưa Việt Nam từ một nước bị bao vây, cô lập, vươn lên trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm trong hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực, bao gồm tất cả các cơ chế có vai trò quan trọng then chốt trong quản trị toàn cầu như Liên hợp quốc, ASEAN, WTO, APEC, ASEM… Đối ngoại đa phương của Việt Nam đã ngày càng trưởng thành, có sự chuyển biến quan trọng về chất, từ gia nhập, tham gia trong thời kỳ đầu, đến chủ động, tích cực đóng góp vào các vấn đề chung và hiện nay từng bước dẫn dắt, định hình tại nhiều cơ chế. Việt Nam đã tham gia khởi xướng, là thành viên sáng lập của nhiều cơ chế hợp tác mới như ASEM, ADMM+, CPTPP...; đảm nhiệm thành công nhiều trọng trách quốc tế như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an, Ủy viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, tham gia cùng lúc 6/7 cơ chế điều hành quan trọng của UNESCO; đăng cai tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế lớn như các Hội nghị Cấp cao ASEAN, APEC, Thượng đỉnh Mỹ - Triều; đề xuất các sáng kiến, văn kiện mới, nổi bật là Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội), tham gia ngày càng sâu rộng trong các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, nhân đạo, cứu hộ, cứu nạn. Tiếng nói, sáng kiến và cách thức giải quyết có lý, có tình của Việt Nam đã nhận được sự đồng tình và ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

Các lĩnh vực công tác đối ngoại cũng ngày càng mở rộng, đóng góp vào củng cố sức mạnh của dân tộc, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vị thế của đất nước. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, xác định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam. Cộng đồng 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng lớn mạnh, gắn kết với đất nước, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước. Công tác bảo hộ công dân đã tích cực bảo vệ an toàn, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, doanh nghiệp Việt Nam, nhất là tại các khu vực thiên tai, chiến sự.... Ngoại giao văn hóa đã quảng bá các giá trị văn hóa dân tộc và huy động các nguồn lực mới cho phát triển; UNESCO công nhận 73 di sản, danh hiệu của Việt Nam. Thông tin đối ngoại quảng bá mạnh mẽ hình ảnh đất nước, con người, văn hóa, thành tựu đổi mới của Việt Nam với nhiều nội dung, phương thức sáng tạo.

Trong suốt chặng đường 80 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam đã cùng toàn dân tộc anh dũng đấu tranh để giành độc lập, tự do cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá, nay Việt Nam đã là quốc gia phát triển năng động, hội nhập quốc tế thành công. Từ một nước không có tên trên bản đồ thế giới, Việt Nam đã khẳng định vai trò thành viên chủ động, tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đúng như Đại hội Đảng XIII và cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định: “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế, tiềm lực và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Trong hành trình đầy thử thách nhưng cũng rất vẻ vang đó, ngoại giao Việt Nam tự hào luôn cùng các binh chủng của cách mạng Việt Nam có mặt trên tuyến đầu, thực hiện đúng phương châm “tác chiến hiệp đồng, lập công tập thể”. Nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa ngoại giao Việt Nam từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Sự trưởng thành và những thành tựu của nền ngoại giao cách mạng trong 80 năm qua là kết tinh truyền thống ngoại giao hòa hiếu từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; khẳng định tầm vóc lịch sử, văn hóa dân tộc, phản ánh thế và lực mới của đất nước.

Ngoại giao Việt Nam không chỉ được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận mà còn được bạn bè, đối tác quốc tế đánh giá rất tích cực. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres nhận định, ngoại giao Việt Nam đã cho thấy một quốc gia có thể vượt qua chiến tranh, thúc đẩy hòa bình và trở thành một trụ cột của chủ nghĩa đa phương, là điểm sáng trong quan hệ quốc tế mà các nước cần học tập. Trường phái ngoại giao Việt Nam vừa nguyên tắc, vừa linh hoạt, yêu hòa bình, chuộng chính nghĩa đã góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh đất nước trên trường quốc tế.


Ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường với các đại biểu làm việc với Bộ Ngoại giao, ngày 12-12-2024

Những bài học lịch sử còn nguyên giá trị

Lịch sử 80 năm vẻ vang của nền ngoại giao cách mạng đã để lại nhiều bài học lớn đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Trước hết và bao trùm tất cả là bài học về sự lãnh đạo tuyệt đối, thống nhất của Đảng và thấm nhuần tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức, lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Với bản lĩnh, trí tuệ, uy tín và năng lực lãnh đạo đất nước, Đảng ta đã nhạy bén với tình hình, kịp thời thay đổi tư duy, sáng suốt trong việc đưa ra quyết sách điều chỉnh đường lối, chủ trương và biện pháp đối ngoại phù hợp với từng giai đoạn lịch sử. Ngay từ những ngày đầu trứng nước, ngoại giao Việt Nam vô cùng tự hào được Chủ tịch Hồ Chí Minh dìu dắt, lãnh đạo. Người là kiến trúc sư của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, là người thầy lớn của các thế hệ cán bộ ngoại giao. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh mãi là kim chỉ nam, ngọn đuốc soi đường cho đối ngoại Việt Nam.

Đó là bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa nội lực với ngoại lực, trong đó nội lực là cơ bản, lâu dài, ngoại lực là quan trọng, đột phá. Chúng ta đã phát huy mạnh mẽ sức mạnh nội tại của đất nước, đồng thời gắn kết với sự nghiệp chung của nhân loại, tranh thủ cao độ sức mạnh bên ngoài để kết hợp và bổ sung cho nội lực. 80 năm qua, dù tình hình thế giới luôn biến chuyển nhanh chóng, phức tạp, song, đường lối và chính sách đối ngoại của Việt Nam luôn điều chỉnh phù hợp để thích ứng với tình hình và các xu thế lớn của thời đại.

Đó là bài học về độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn liền với hợp tác, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Độc lập, tự chủ, tự lực cánh sinh là tư duy nổi bật, nhất quán trong đường lối cách mạng nói chung và đường lối đối ngoại nói riêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”(2). Trên tinh thần đó, Việt Nam hoàn toàn tự chủ trong việc định ra chủ trương, chính sách, lấy độc lập, tự chủ là nền tảng để đoàn kết, tập hợp lực lượng ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam nhưng có tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm, bài học của quốc tế.

Đó là bài học về “dĩ bất biến ứng vạn biến”, “nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”(3). Cái “bất biến” là độc lập, tự do của dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, kiên định mục tiêu xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Cái “vạn biến” là phương cách thực hiện mục tiêu, linh hoạt, uyển chuyển về sách lược tùy theo vấn đề, tùy từng thời điểm, từng đối tượng, đối tác.

Đó là bài học về coi trọng và xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn và xây dựng, giữ gìn quan hệ hữu nghị, ổn định với các nước láng giềng. Đảng ta nhận thức rõ tầm quan trọng của các nước lớn trong quyết định trật tự và xu hướng vận động của thế giới, từ đó xây dựng quan hệ cân bằng, hài hòa, vừa hợp tác vừa đấu tranh với các nước lớn. Đồng thời, chúng ta luôn gìn giữ quan hệ hữu nghị, ổn định và lâu dài bền vững với các nước láng giềng, phát huy truyền thống “bán anh em xa mua láng giềng gần” của ông cha ta để có quan hệ hữu nghị, ổn định với các nước láng giềng, nhất là láng giềng có chung biên giới.

Cuối cùng là bài học về công tác cán bộ,“cái gốc của mọi công việc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các nhà ngoại giao tiền bối là tấm gương sáng về lòng yêu nước, bản lĩnh chính trị, trình độ và phong cách ngoại giao được nhân dân kính phục và bạn bè quốc tế nể trọng. Những thế hệ cán bộ ngoại giao vững vàng về chính trị, luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với lợi ích của dân tộc, toàn tâm, toàn ý phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của ngoại giao trên trường quốc tế. Nền ngoại giao Việt Nam tự hào đã có nhiều nhà ngoại giao lớn, là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, Xuân Thủy, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Cơ Thạch…. Đó là những nhà ngoại giao đã trưởng thành từ thực tiễn cách mạng, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, khiến cả bạn bè, đối tác cũng như đối phương đều nể phục.

Ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự phiên đối thoại chính sách “Kỷ nguyên mới của Việt Nam: Từ tầm nhìn đến hành động" tại Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) ở Thiên Tân (Trung Quốc), ngày 25-6-2025.

Ngoại giao trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Thế giới đang đứng trước những bước ngoặt mang tính thời đại. Mỗi khúc quanh của lịch sử có thể trở thành cơ hội hay thách thức cho các nước tùy thuộc vào sự chuẩn bị, sẵn sàng của mỗi quốc gia. Thành quả của 80 năm đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là nền tảng vững chắc để dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới, hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 2030 và 2045 mà Đại hội Đảng XIII đã đề ra. Lịch sử đã cho thấy, những yếu tố địa - chiến lược, sự an nguy và thịnh vượng của đất nước gắn chặt với môi trường bên ngoài. Việc định vị và phát huy vị thế của đất nước như thế nào, sao cho có lợi nhất cho quốc gia - dân tộc trong bàn cờ chiến lược khu vực và thế giới luôn là trăn trở thường trực của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và của những người làm công tác ngoại giao.

Trong những năm tháng cam go nhất của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bằng bản lĩnh, ý chí, trí tuệ, ngoại giao Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, giành được những thắng lợi vang dội. Nếu như trong chiến tranh, thắng lợi quân sự đã tạo đà quan trọng cho thắng lợi ngoại giao; ngoại giao là một “mặt trận” song hành với chính trị và quân sự thì ngày nay, hành trang của ngoại giao Việt Nam là thế và lực của đất nước sau gần 40 năm đổi mới, sự đoàn kết, đồng hành của cả dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày nay, đối ngoại phải đóng vai trò tiên phong, thực hiện tốt nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” cùng quốc phòng và an ninh để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, xây dựng và phát triển đất nước nhanh, bền vững. Với trọng trách nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang này, ngoại giao trong kỷ nguyên mới cần tập trung vào các định hướng lớn sau:

Một là, luôn kiên định lợi ích quốc gia - dân tộc, đặt đất nước vào đúng xu thế của thời đại. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao phải luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ. Lợi ích quốc gia - dân tộc là “kim chỉ nam” của chính sách đối ngoại, là mục tiêu bất biến của đối ngoại để ứng phó với tình hình diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường trên thế giới. Lợi ích cao nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển đất nước; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc cần trên cơ sở bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Lợi ích dân tộc hài hoà với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, góp phần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và thời đại, vừa thể hiện trách nhiệm của Việt Nam vừa tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế.

Hai là, tiếp tục thực hiện đúng đắn đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của thời kỳ đổi mới. “Độc lập, tự chủ” và “đa phương hóa, đa dạng hóa” có mối quan hệ biện chứng, nhất quán trong đường lối đối ngoại của Việt Nam. Độc lập, tự chủ là dựa vào sức mình, tự chủ trong việc định ra những chủ trương, chính sách của mình. Những biến động vừa qua ở nhiều khu vực trên thế giới càng khẳng định tính đúng đắn của đường lối “độc lập, tự chủ” của Việt Nam. Bên cạnh đó những vấn đề lớn thế giới đang đối mặt như thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh mạng… cũng cho thấy lợi ích của “đa phương hóa, đa dạng hóa” quan hệ đối ngoại, bởi không một quốc gia nào, dù có sức mạnh đến thế nào cũng không thể tự mình ứng phó với những thách thức đa chiều hiện nay. Nội lực là nguồn lực chính, là gốc rễ cho sức mạnh của dân tộc, nhưng cần tranh thủ mọi nguồn lực từ bên ngoài để tăng thêm sức mạnh bên trong, bảo đảm tốt nhất cho an ninh và phát triển đất nước.

Ba là, đưa hội nhập quốc tế trở thành động lực, kiến tạo đà và tranh thủ cơ hội phát triển mới cho đất nước. Ngoại giao phục vụ phát triển là trọng tâm, đi đầu trong việc kết nối nội lực với ngoại lực; nhận diện và tranh thủ cơ hội từ những xu hướng mới trên thế giới về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển năng lượng tái tạo, hạ tầng chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh… Đồng thời, ngoại giao phải khai mở hợp tác với các đối tác hàng đầu, nhất là các nguồn lực chất lượng cao về tài chính, công nghệ, quản lý để tạo động lực mới, đột phá mới và thành tựu mới cho phát triển đất nước. Với lợi thế của cục diện đối ngoại rộng mở, ngoại giao cần tranh thủ quan hệ đối ngoại tốt đẹp để thúc đẩy các thỏa thuận kinh tế; khai thông vướng mắc, khai thác tối đa lợi ích của các hiệp định thương mại, đầu tư cho người dân, địa phương, doanh nghiệp.

Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp trên tất cả các lĩnh vực công tác đối ngoại. Kỷ nguyên mới cũng đòi hỏi có cách tiếp cận mới về đối ngoại từ tiếp nhận sang đóng góp, từ học tập sang dẫn dắt, từ hội nhập kinh tế sang hội nhập toàn diện và sâu rộng, từ một quốc gia đi sau sang một quốc gia tiên phong, sẵn sàng đảm nhận những trách nhiệm mới. Thế và lực mới vừa tạo điều kiện cho chúng ta tham gia nhiều hơn, đóng góp tích cực hơn vào việc giải quyết các vấn đề chung, vừa cho phép chúng ta phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong những vấn đề và cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với lợi ích của đất nước. Thế và lực mới cũng đòi hỏi chúng ta phát huy “sức mạnh mềm” của dân tộc, tương xứng với tầm vóc lịch sử và văn hóa, vị thế chính trị và kinh tế của đất nước.

Năm là, xây dựng ngành ngoại giao vững mạnh, xứng đáng với các thế hệ đi trước và xứng tầm trong kỷ nguyên mới. Trong những năm tháng khó khăn của cách mạng, chúng ta luôn luôn có những nhà ngoại giao xuất sắc, những con người đã trở thành tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, về tinh thần tự học hỏi, về bản lĩnh chính trị, về phong cách và nghệ thuật ngoại giao, được bạn bè quốc tế ghi nhận, nể trọng. Kỷ nguyên mới đòi hỏi cần xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu mới, thấm nhuần và vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Trong kỷ nguyên mới, cán bộ đối ngoại phải là những người tiên phong dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, hành động vì lợi ích quốc gia - dân tộc.

***
Nhìn lại lịch sử 80 năm qua, các thế hệ cán bộ ngoại giao có quyền tự hào về truyền thống, lịch sử và những chiến công hiển hách của ngoại giao Việt Nam, góp phần làm rạng danh non sông đất nước. Bản lĩnh, trí tuệ của ngoại giao Việt Nam hiện đại đã được hun đúc qua lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, được tôi luyện, trưởng thành dưới thời đại Hồ Chí Minh. Trong kỷ nguyên mới, tiếp bước truyền thống hào hùng của cha anh, thế hệ cán bộ ngoại giao ngày nay sẽ tiếp tục viết nên những trang sử vàng của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, góp phần xứng đáng vào hành trình đưa đất nước vươn lên “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong muốn./.
------------------------------
(1) Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo Nhân Dân, số 208, 25-27/7/1954.
(2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, t. 162.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, t. 555.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DI TÍCH LỊCH SỬ HẦM CƠ YẾU TRONG HOÀNG THÀNH THĂNG LONG!

     Lần đầu tiên, Hầm Cơ yếu tại Hoàng thành Thăng Long - nơi từng giữ mạch thông tin bí mật của Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ đã được mở cửa, giới thiệu đến công chúng trong dịp Quốc khánh 2/9.

Hầm Cơ yếu là một bộ phận trong hệ thống hầm Khu A thành cổ Hà Nội, được xây dựng trong những năm kháng chiến chống Mỹ, có vai trò quan trọng giúp Tổng hành dinh Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vững sự chỉ đạo, điều hành, chỉ huy đối với các quân, binh chủng, các mặt trận trong điều kiện không quân Mỹ đánh phá ác liệt Thủ đô Hà Nội. Hầm Cơ yếu được khởi công ngày 10-2-1966 và hoàn thành ngày 30-6-1966, tổng diện tích 37,2m², thời điểm được sử dụng nhiều nhất là tháng 12-1972.

Bên trong căn hầm được trưng bày nội thất sinh động, bố cục căn hầm đúng như đã có; Cung cấp nhiều thông tin qua trưng bày diễn giải bằng phim tài liệu, hệ thống pano trong hầm và bên ngoài hầm; Dùng âm thanh kể chuyện tạo cho khách tham quan cảm nhận như đang tham gia làm việc tại hầm vào thời điểm lịch sử đó. Từ đó làm nổi bật những thông tin lịch sử về vai trò và hoạt động của Cục Cơ yếu - Bộ Tổng tham mưu; Hoạt động công tác bảo đảm chỉ huy của Cục Cơ yếu - Bộ Tổng Tham mưu tại cơ quan Tổng hành dinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là giai đoạn 1972 - 1975.

Di tích Hầm cơ yếu được phục hồi trên nguyên tắc tôn trọng yếu tố gốc, không can thiệp vào di tích gốc, phát huy tối đa giá trị di tích; tiếp cận phương pháp diễn giải mới và ứng dụng công nghệ trong diễn giải trưng bày để tạo dấu ấn thu hút khách tham quan, đặc biệt là giới trẻ.

Di tích Cách mạng Hầm Cơ yếu - Bộ Tổng Tham mưu là một thành tố quan trọng của Tổng hành dinh trong Khu di sản Hoàng thành Thăng Long, việc tu bổ phục hồi, mở cửa đón khách mang ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, đáp ứng mong muốn hiểu biết sâu sắc hơn, cụ thể hơn của du khách về các di tích cách mạng - kháng chiến; góp phần phát huy giá trị các di tích cách mạng kháng chiến trong Khu di sản Hoàng thành Thăng Long.

Cùng với việc mở cửa Hầm Cơ yếu, dịp này, Hoàng thành Thăng Long tổ chức các trưng bày “Nhà và Hầm D67 - Hành trình đến ngày toàn thắng” giới thiệu hơn 300 tài liệu, hình ảnh, gồm 4 chủ đề: “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ và Chiến tranh phá hoại lần thứ nhất”; “Câu chuyện Nhà và Hầm D67”; “Đánh bại ‘Việt Nam hóa chiến tranh’ và Chiến tranh phá hoại lần thứ 2”; “Đại thắng mùa Xuân năm 1975”. Các tài liệu, hiện vật khắc họa rõ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ oanh liệt của dân tộc, đặc biệt là giai đoạn Mỹ bắt đầu thực hiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh hoạch định chiến lược, chỉ đạo và chỉ huy các chiến dịch quan trọng, góp phần quyết định thắng lợi, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước./.



Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NGHỊ SĨ NGA "VIỆC TÁI THIẾT UKRAINA PHẢI DO PHÁP, ANH VÀ ĐỨC GÁNH VÁC"!

     Việc tái thiết Ukraina sau chiến tranh cần phải do Anh, Đức và Pháp chi trả, vì đây là những quốc gia hưởng lợi và tài trợ lớn nhất cho cuộc xung đột Ukraina, đại biểu Duma Quốc gia khu vực Crưm Mikhail Sheremet phát biểu với Sputnik.

"Vấn đề quan trọng hàng đầu là tái thiết Ukraina sau chiến tranh phải do Anh, Đức và Pháp gánh vác, vì họ là những bên hưởng lợi và tài trợ cho cuộc xung đột Ukraina một cách tráo trở nhất", ông Sheremet nói với hãng thông tấn.

"Chính sách của Anh, Đức và Pháp đã gây ra thiệt hại to lớn cho Ukraina, do sự can thiệp thiếu tầm nhìn vào các công việc nội bộ của nước này, điều tất yếu dẫn đến phản ứng ngược mang tính hủy diệt", đại biểu nhấn mạnh./.
Nguồn hãng thông tấn Nga RIA NOVOSTI
Khuyết danh ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NGOẠI TRƯỞNG ẤN ĐỘ PHẢN PHÁO CÁO BUỘC TỪ MỸ VÀ CHÂU ÂU!

     Trước những chỉ trích cho rằng việc New Delhi nhập khẩu dầu từ Nga đồng nghĩa với “tài trợ cho Moscow”, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Subrahmanyam Jaishankar đã thẳng thắn đáp trả. Ông cho rằng các luận điệu này trở nên “nực cười” khi chính Mỹ và châu Âu mới là những khách hàng lớn nhất mua lại năng lượng từ Ấn Độ.

“Nếu thấy có vấn đề với dầu từ Ấn Độ, dù là dầu thô hay sản phẩm chế biến, thì xin mời đừng mua. Không ai ép buộc cả. Nhưng châu Âu vẫn mua, Mỹ cũng mua. Vậy nếu không thích, thì thôi đừng mua,” ông Jaishankar nhấn mạnh.

Câu trả lời ngắn gọn nhưng sắc lạnh này chẳng khác nào tấm gương phản chiếu sự mâu thuẫn trong chính sách của phương Tây: vừa muốn đóng vai “người phán xử” về đạo đức, vừa âm thầm tận dụng nguồn lợi mà họ chỉ trích. Nói cách khác, Washington và đồng minh có lẽ nên nhìn lại “cái ly xăng dầu” của chính mình trước khi rót lời buộc tội sang nước khác./.
Khuyết danh ST.

“GỘP ĐẤT MẤT QUÊ” - LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHÁ HOẠI CUỘC CÁCH MẠNG TINH GỌN BỘ MÁY!

     Trong khi toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị đang quyết tâm thực hiện thành công cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, nhằm đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thì các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại ra sức tung ra nhiều thủ đoạn chống phá. Trong đó, “gộp đất mất quê” là luận điệu hết sức tinh vi, nguy hiểm, cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

“Gộp đất mất quê” - luận điệu tinh vi, âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, phản động

Tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm tạo động lực mới để đưa đất nước vươn mình phát triển. Tất nhiên, đó là điều các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không hề mong muốn. Chính vì vậy, không khó để bắt gặp những luận điệu xuyên tạc, gieo rắc tâm lý hoài nghi, thiếu tin tưởng vào quyết sách của Đảng, Nhà nước xuất hiện trên các nền tảng mạng xã hội, kênh thông tin thiếu thiện chí với Việt Nam; trong đó có luận điệu “Gộp đất mất quê” với những lý sự cực kỳ vô căn cứ như: “sáp nhập là xóa bỏ quê hương, làm mất gốc, mất bản sắc văn hóa địa phương”, “sáp nhập xã là xóa luôn tên làng”, “bỏ huyện là bỏ đi lịch sử của quê hương”, v.v.

Đây là những luận điệu, thủ đoạn rất tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động, khi chúng lợi dụng tình yêu quê hương, tâm lý luôn hướng về nguồn cội của mỗi người dân Việt Nam để xuyên tạc, kích động, chống phá. Nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng tình cảm gắn bó sâu sắc với quê hương, dòng họ, làng xóm, khai thác tính cố kết của văn hóa làng xã, vùng miền - giá trị văn hóa độc đáo đã góp phần giữ vững bản sắc dân tộc qua những thăng trầm hàng nghìn năm lịch sử,… để dễ bề thuyết phục người nghe, thông qua đó chống phá những quyết sách của Đảng ta trong tinh gọn tổ chức bộ máy. Bằng cách này, chúng đã lấy văn hóa làng xã, vùng miền làm “điểm hỏa”, hòng hướng đến kích động những người nhẹ dạ, cả tin, gây nghi ngờ, mâu thuẫn nội bộ, không đồng thuận với chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của Đảng, làm “nguội lạnh” khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Sâu xa hơn nữa là kích động tâm lý phản kháng, “bất tuân dân sự” trong xã hội, v.v.

Sự thật đằng sau những mỹ từ, hô hào: “Gộp đất mất quê”, “bảo vệ văn hóa truyền thống”, “bảo vệ quê hương”,… của các thế lực thù địch chính là những toan tính chính trị đầy dã tâm, thâm độc. Thứ nhất, thông qua đó, chúng kích động tâm lý cục bộ địa phương, tạo ra mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền, giữa người dân các địa phương với nhau, từ đó chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Thứ hai, khiến người dân hoài nghi về tính đúng đắn, minh bạch của các quyết sách chiến lược, hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng, khiến người dân xa rời Đảng, quay lưng với các chính sách đổi mới, phá hoại niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Thứ ba, trên “mảnh đất” của sự hoang mang, nghi ngờ và tâm lý bất mãn, phản đối chính quyền, các thế lực thù địch sẽ dễ bề cài cắm lực lượng, kích động biểu tình, gây bất ổn chính trị. Đây chính là kịch bản mà các thế lực thù địch mong muốn nhất. Bởi, sự chia rẽ và “hỗn loạn” sẽ cản trở công cuộc cải cách, phát triển đất nước, làm suy yếu bộ máy chính quyền từ bên trong, tạo thời cơ cho các thế lực thù địch, phản động “đục nước, béo cò”, đẩy mạnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gây bất ổn chính trị - xã hội, tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Rõ ràng, luận điệu “gộp đất mất quê”,… chỉ là vỏ bọc giả tạo, che đậy tinh vi dã tâm thâm độc của các thế lực thù địch. Họ không hề vì lợi ích đất nước và người dân như đã rêu rao; càng không vì bảo vệ, giữ gìn văn hóa truyền thống, mà mục tiêu chính là kích động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, hòng làm mất lòng tin của Nhân dân vào Đảng và Nhà nước, phá hoại chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy, cản trở sự phát triển của đất nước. Do đó, chúng ta cần tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh, vạch trần bản chất xuyên tạc của những luận điệu phản động này, góp phần bảo vệ sự ổn định, phát triển bền vững của quê hương, đất nước.

Tinh gọn tổ chức bộ máy - chủ trương lớn, mang tính cách mạng và khoa học của Đảng ta

Trải qua gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và toàn dân, “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên phát triển mới”1. Tuy nhiên, những nguy cơ mà Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra vẫn còn hiện hữu; trong đó, đáng quan tâm hơn cả là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế. Với khát vọng xây dựng đất nước hòa bình, phồn vinh, thịnh vượng, mọi người dân được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc,… toàn Đảng, toàn dân ta quyết tâm tiến hành “cuộc cách mạng” tinh gọn tổ chức bộ máy nhằm tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước vươn mình phát triển trong kỷ nguyên mới.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, mỗi quốc gia chỉ có cơ hội để tăng tốc phát triển khi hội tụ đủ các yếu tố, đặc biệt là trong thời kỳ dân số vàng. Nhận thức rõ điều đó, khi thời cơ đến, Đảng, Nhà nước ta đã và đang nỗ lực thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược, sớm đưa nước ta thành nước phát triển vào năm 2045. Trong đó, chủ trương xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hơn là một nội dung rất quan trọng, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Đây là chiến lược lâu dài, được Đảng ta xác định rõ, với những bước đi thận trọng, khoa học và lộ trình rõ ràng. Trong đó, Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là dấu mốc quan trọng, làm cơ sở để Đảng, Nhà nước ta đề ra các nhiệm vụ cụ thể, những biện pháp quyết liệt, rõ ràng về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Trọng tâm là giảm đầu mối, tinh giản biên chế, sắp xếp lại các đơn vị hành chính và rà soát, kiện toàn các tổ chức trong hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu quả hơn, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, tạo cơ sở tiền đề quan trọng cho việc thực hiện Kết luận số 126-KL/TW, ngày 14/02/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025.

Thực tế cũng cho thấy, việc sáp nhập, tinh gọn tổ chức bộ máy không chỉ giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước, khắc phục tình trạng cồng kềnh, chồng chéo trong bộ máy hành chính mà còn điều chỉnh hợp lý quy mô dân số và diện tích, phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, tạo ra sự đồng bộ trong quy hoạch, phát triển hạ tầng, mở rộng liên kết vùng, thu hút đầu tư, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương và cả nước phát triển bền vững. Đồng thời, tạo điều kiện để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tinh - mạnh, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Hơn nữa, tinh gọn tổ chức bộ máy còn mang ý nghĩa sâu sắc trong việc đổi mới tư duy quản lý nhà nước, cách thức làm việc, thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính, xây dựng nền hành chính phục vụ, lấy người dân làm trung tâm, tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, phục vụ Nhân dân tốt hơn; góp phần làm giàu thêm bản sắc của quê hương, đất nước.

Mặc dù trong thời gian ngắn, công tác chuẩn bị gấp rút, nhưng khi chính thức đi vào vận hành từ ngày 01/7/2025, chính quyền các cấp nhanh chóng ổn định, bước đầu hoạt động hiệu quả, thông suốt, hạn chế tình trạng chồng chéo, gây khó khăn cho người dân. Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp xã luôn gần dân, tận tâm, thấu hiểu, giải quyết nhanh chóng, thỏa đáng những nhu cầu của Nhân dân. Nhiều địa phương đã vận dụng cách làm linh hoạt, sáng tạo, chủ động, tích cực tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong quá trình tiếp nhận, xử lý, đảm bảo mọi hoạt động giải quyết thủ tục hành chính của người dân diễn ra bình thường, không bị gián đoạn, tạo dư luận xã hội tích cực, đại đa số người dân rất đồng tình và hài lòng với những thay đổi tích cực trong việc giải quyết thủ tục hành chính tại các địa phương.

Thời gian tới, cùng với đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số, thủ tục hành chính được thực hiện chủ yếu trên môi trường điện tử, chất lượng, hiệu quả vận hành của bộ máy chính quyền các cấp chắc chắn sẽ được nâng cao hơn nữa, đảm bảo tính công khai, minh bạch, giảm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Đó là minh chứng cho tính đúng đắn của chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy, củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Và khi Nhân dân tin, các luận điệu xuyên tạc chắc chắn sẽ bị vô hiệu hóa.

Với những lợi ích to lớn như vậy, mỗi người cần tỉnh táo, không để kẻ thù lợi dụng vấn đề văn hóa và tình cảm gắn bó quê hương để phá hoại cuộc “cách mạng” tinh gọn tổ chức bộ máy. Bởi, suy đến cùng, văn hóa, truyền thống, tình yêu quê hương đất nước là giá trị trường tồn của dân tộc, được nuôi dưỡng và gìn giữ qua nhiều thế hệ bằng phong tục, tập quán, con người, không thể bị xóa nhòa bởi sáp nhập địa giới hành chính, không phụ thuộc vào tên gọi của một đơn vị hành chính. Tên gọi của địa giới hành chính có thể thay đổi, nhưng cội nguồn và bản sắc văn hóa không bao giờ mất đi. Sáp nhập đơn vị hành chính chỉ là thay đổi để tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu quả hơn chứ không phải là xóa bỏ bản sắc văn hóa hay phủ nhận lịch sử của địa phương. Hơn thế nữa, những lợi ích của việc sáp nhập đơn vị hành chính đã quá rõ ràng khi không chỉ mở ra không gian phát triển mới cho từng địa phương, mà còn tăng thêm nguồn lực, tạo điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước. Theo đó, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân sẽ ngày càng được nâng lên, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Mặt khác, khi đời sống người dân ngày càng được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, quê hương, đất nước ngày càng phát triển, chính là cách tốt nhất để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, nuôi dưỡng và nhân lên tình yêu quê hương đất nước trong mỗi người. Do vậy, mỗi chúng ta cần hết sức tỉnh táo, tuyệt đối không để cảm xúc bị dẫn dắt sai hướng, không rơi vào những cạm bẫy tâm lý mà kẻ thù giăng ra; không chia sẻ, lan truyền tin giả, tin xấu độc,… góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cùng chung sức, đồng lòng xây dựng quê hương, đất nước ngày càng văn minh, giàu đẹp, vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
---------
1. ĐCSVN - Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb CTQGST, H. 2025, tr. 24.
Yêu nước ST.

NHẮC LẠI GIÚP BẠN: CUBA - LIỆU CÓ ĐÁNG?

- Nếu một ai đó có 100, họ cho bạn 10 => Họ là những người bạn tốt.

- Nếu một ai đó có 20, họ cho bạn 10, họ là ân nhân của bạn.

- Nếu một ai đó có 10, họ cho bạn tất cả những gì họ có, đó chỉ có thể là bố mẹ bạn.

- Liệu có ai đó có 10, họ đi vay thêm 10 nữa để cho bạn 20??? Bạn nghĩ là không? Tôi xin trả lời luôn là có!

* Đó là người bạn Cuba của Việt Nam.

Năm 1960, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên Cuba thiết lập quan hệ ngoại giao. Không những thế, Cuba là quốc gia đầu tiên công nhận Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong giai đoạn ch.iế.n t.ra.n.h c.h.ốn.g Mỹ diễn ra á.c l.iệt, Chủ tịch Fidel đã tuyên bố: Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả m.á.u!

Cuba đề nghị gửi lực lượng quân sự sang sát cánh cùng nhân dân Việt Nam anh hùng, Việt Nam từ chối khéo và đề nghị gửi chuyên gia. Hàng nghìn chuyên gia Cuba - những kĩ sư giỏi nhất đã đến Việt Nam vào giây phút á:c l:iệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Những người bạn Cuba đã làm gì? 

- Họ xây dựng bệnh viện Việt Nam - Cuba, cử các y bác sĩ giỏi nhất sang Việt Nam. Họ là tầng lớp tinh hoa nhất của đất nước Cuba, không có gì quý hơn họ. 

- Họ mua sắm hàng chục loại máy móc trị giá hàng triệu đô-la (Họ phải mua ch:ui vì Cuba vẫn đang bị c:ấm vận rồi tìm cách chở về cho Việt Nam). 

- Họ xây dựng khách sạn Thắng Lợi ở Hà Nội, một trong những khách sạn lớn nhất Hà Nội lúc bấy giờ. 

- Con đường Xuân Mai (Hà Nội) chúng ta đi qua được xây dựng bởi những chuyên gia Cuba.

- Những con bò sữa, gà, giống cây trồng năng suất cao nhất đều được Cuba để dành gửi tới Việt Nam. Họ cho chúng ta cả "CẦN CÂU" chứ không chỉ "CON CÁ", chuyển giao hoàn toàn kĩ thuật sản xuất, chăn nuôi cho Việt Nam tự xây dựng nền nông nghiệp cho riêng mình. Các trang trại bò sữa, nông trường lớn ở Ba Vì, Tam Đảo đều thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả m.á.u của nhân dân Cuba. 

- Họ đã mang sang Việt Nam hàng trăm nghìn tấn đường viện trợ, thậm chí khi sản lượng mía đường của Cuba bị giảm, họ vẫn giữ lời hứa bằng mọi giá, bất chấp ph:á v:ỡ các hợp đồng kinh tế với những nước lớn. 

Việt Nam cảm thấy ngại (vì tình cảm của các bạn Cuba nồng nhiệt quá!), đã gửi cv đề nghị Cuba cho Việt Nam mua (chứ không nhận viện trợ vì bạn còn ngh:èo khác gì mình đâu!). Cuba không chịu. Bên cạnh viện trợ đường, Cuba bán đường cho Việt Nam với giá rất riêng (thấp hơn nhiều lần giá thế giới) và tất nhiên là có nhắc Việt Nam đừng công khai giá đó cho các khách hàng của Cuba (kể cả Liên Xô).

Năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Cả đất nước Cuba nức nở! Họ đã khóc thật lòng như hành động của họ. Cuba để quốc tang 1 tuần, mọi hoạt động vui chơi, giải trí đều tạm dừng. Một số ngôi trường, con đường ở Cuba được đặt tên theo những chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Cũng trong năm này, Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra đời. Cuba là quốc gia đầu tiên công nhận chính phủ mới! Cuba đề nghị được đặt Đại sứ quán của Cuba ở ngay miền Nam, chấp nhận việc đại sứ Cuba sẽ ở trong rừng với điều kiện vô cùng gian khổ, miễn là được sát cánh cùng nhân dân Việt Nam.

Năm 1973, Hiệp định Pari được ký kết nhưng cuộc chiến ở miền Nam vẫn còn căng thẳng. Chủ tịch Fidel là nguyên thủ quốc gia đầu tiên và duy nhất có mặt ở miền Nam Việt Nam. Bất chấp b.o.m đ..ạ.n, Fidel đã cầm ngọn cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đi qua hàng nghìn người đứng đón chào. Sau chuyến đi đó, hàng trăm người Cuba đã có mặt ở con đường Trường Sơn, hàng trăm xe vận tải của Cuba viện trợ đã hiện diện ở nơi được coi là huyết mạch nhất của cuộc chiến tranh. Để rồi, khi thời cơ thuận lợi, Việt Nam đã nhanh chóng đưa hàng nghìn xe tăng, quân đội vào giải phóng miền Nam.

Năm 1978, C.hi.ế.n tr.a.n.h Tây Nam Việt Nam bùng n:ổ, bè lũ Pôn - Pốt Khơme đỏ bị đ:ánh b:ại. Năm 1979, C.h.iế.n tr.a.n.h biên giới Việt - Trung diễn ra á:c li:ệt. Fidel đã tuyên bố sẽ đưa quân đội Cuba tới Việt Nam, mạnh mẽ lên án Trung Quốc x.â.m l.ư.ợ.c. Một lần nữa, Cuba tuyên bố "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả m.á.u!".

Trong 10 năm (1979-1989) Việt Nam giúp đỡ Campuchia xây dựng đất nước, chống Khơme đỏ, tất cả các quốc gia lên á:n Việt Nam.

Một cuộc bỏ phiếu ở Liên Hiệp quốc đã diễn ra để thông qua 1 nghị quyết lên á:n Việt Nam ở Campuchia, Liên Xô và Cuba là 2 quốc gia mạnh mẽ nhất bỏ phiếu ủng hộ Việt Nam.

Năm 2013, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần. Cuba để Quốc tang tưởng nhớ. Cách đây vài tháng, Việt Nam gửi tặng Cuba 5000 tấn gạo. Một số k:ẻ lên á:n chính phủ Việt Nam, nói rằng chúng ta đang làm 1 hành động "thừa hơi", tại sao phải giúp nước khác khi người dân trong nước còn phải lo chạy ăn từng bữa... Để rồi đợt dịch 1 lần nữa chúng ta được chứng kiến tình cảm trong sáng, thuỷ chung của người bạn Cuba. Họ đã gửi hàng nghìn lọ thuốc chống Covid-19 đến Việt Nam, cử những chuyên gia giỏi nhất đến Đà Nẵng - tâm dịch để giúp nhân dân Việt Nam. 

Tôi không còn nhìn thấy những kẻ hôm trước lên tiếng x:ỉa x:ói nữa. Một sự x:ấu h:ổ không hề nhẹ! 

Thế nên, đừng so sánh sự giúp đỡ của Việt Nam với Cuba, bởi lẽ: Chúng ta thiếu Cuba 1 ân tình lớn! Thế hệ trẻ chúng ta cần phải hiểu điều đó hơn ai hết./.
Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TẠI SAO MỸ TRIỂN KHAI QUÂN ĐỘI (HẢI QUÂN) NGOÀI KHƠI VENEZUELA!

     Venezuela có trữ lượng dầu mỏ (đã được xác định) lớn nhất thế giới, vào khoảng 48 tỷ tấn, và điều này khiến cho Washington đứng ngồi không yên. Tư duy nhất quán từ trước đến nay của người Mỹ là: “Bạn có dầu ư? Nghĩa là chúng tôi sẽ buộc phải bay và bơi đến chỗ bạn, vì nền dân chủ”. Trong trường hợp của Venezuela, điều này hoàn toàn đúng, bởi đây là quốc gia không hề mạnh, không nằm dưới sự kiểm soát của Hoa Kỳ, nhưng lại có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới. Điều này thật là không thể chấp nhận được! Đã thế, Tổng thống Maduro lại còn dám thu hồi giấy phép của các công ty dầu mỏ Mỹ đang hút dầu tại Venezuela, và hiện 90% lượng dầu mỏ được xuất khẩu là sang Trung Quốc, Ấn Độ.
Sự kiên nhẫn của Trump đã cạn kiệt: Tổng thống Maduro đã bị “Donny tóc đỏ” và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố là “tổng thống bất hợp pháp” và “tên trùm ma*túy”, với phần thưởng 50 triệu đô-la cho cái đầu của ông ta. Lầu Năm Góc đã nhận được lệnh triển khai lực lượng ở ngoài khơi bờ biển Venezuela (Nam Caribe) “để đối phó với các băng đảng ma*túy Sinaloa, Tren de Aragua và Cartel of the Suns”. Một nhóm tác chiến hoành tráng của Hải quân Hoa Kỳ đã được phái đi để giải quyết nhiệm vụ đặc biệt này, bao gồm các tàu khu trục USS Gravely, USS Jason Dunham và USS Sampson; tàu tuần duyên USS Minneapolis-St. Paul; một nhóm tàu tấn công đổ bộ do USS Iwo Jima dẫn đầu; Lữ đoàn thủy quân lục chiến số 22 (2.200 quân). Ngoài ra, để cho “chiến dịch chống lại các băng đảng ma*túy” thêm phần nổi bật, Donny còn điều thêm các tàu ngầm tấn công đa năng, máy bay chống ngầm P-8 Poseidon, máy bay không người lái MQ-9 Reaper…
Tuy nhiên, trong khi cần mẫn bán dầu cho Trung Quốc và các nước khác, Maduro vẫn không quên phòng thủ của đất nước.
- Lực lượng phòng không Venezuela gồm các hệ thống phòng không S-300VM Antey-2500 (4 Tiểu đoàn), Buk-M2E (12 tổ hợp), Tor-M1 (12 tổ hợp), S-125 Pechora-2M (18 Tiểu đoàn), hàng nghìn tổ hợp TLPK vác vai (MANPADS) Igla-S cùng với gần 200 Đại đội Pháo phòng không các loại. Tất cả lực lượng phòng không của Venezuela luôn trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao. Hệ thống phòng không của Venezuela được được đánh giá là hiện đại và mạnh nhất ở Mỹ Latinh, vượt trội hơn cả Brazil và Mexico cộng lại. Cấu trúc phòng không này được các chuyên gia Nga và Belarus xây dựng vào đầu những năm 2010, được bổ sung thêm các trạm chỉ huy-điều khiển và radar cảnh giới vào tháng 3/2019 qua “một đợt chuyển giao khẩn cấp hàng hóa” từ Nga. Đợt chuyển giao này có sự tham gia của Tham mưu trưởng Lục quân Nga cùng 90 chuyên gia từ Bộ Quốc phòng LB Nga.
- Không quân Venezuela hiện có 23 chiếc Su-30MKV, 12 chiếc F-16A Block 15.
- Hải quân Venezuela gồm 02 tàu ngầm diesel-điện Type 209, 06 khinh hạm lớp Lupo, 04 tàu đổ bộ loại LST, 06 tàu tên lửa Vosper 37, 20 tàu tuần tra Point.
- Lục quân Venezuela tương đối nhỏ: khoảng 170.000 người. Tuy nhiên, các đơn vị đặc biệt tinh nhuệ với hơn 15.000 quân được huấn luyện bài bản bởi các chuyên gia Nga và Trung Quốc, có kinh nghiệm dày dặn trong chiến tranh rừng rậm cũng như trong các hoạt động phá hoại. Lực lượng dự bị của Venezuela khoảng 2 triệu người, được trang bị vũ khí nhẹ.
Vì vậy, đội quân sao vạch lấp lánh 2.200 linh hồn của Donny có thể làm được gì? Hãy đoán xem! Mọi chuyện sẽ không dễ dàng cho người Mỹ ở Venezuela. Hầu như toàn bộ lãnh thổ đất nước này được bao phủ bởi rừng rậm, nơi mà không giống như sa mạc cát của Iran, không vệ tinh nào có thể phát hiện ra bất cứ điều gì. Vậy nên, cuộc xâm lược Venezuela rõ ràng sẽ không phải là một bước đi dễ dàng đối với “người gìn giữ hòa bình được đặt tên sau sáu cuộc chiến”.
Cũng cần nhắc lại rằng vào tháng 5/2020, ngài Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ (vẫn tóc đỏ như bây giờ) đã từng đưa một nhóm phá hoại và khủng*bố vào Venezuela để tổ chức đảo chính và lật đổ Tổng thống Maduro, với sự hỗ trợ của các tàu khu trục tên lửa và tàu ngầm tấn công đa năng. Kết cục của cuộc hỗn loạn này đã rõ ràng, những kẻ khủng*bố đã được đón tiếp một cách trang trọng và bị tiêu diệt một cách mẫu mực tại La Guaira, gần thủ đô Caracas. Đó là lý do tại sao Washington luôn tuôn ra những lời lẽ sáo rỗng về “các băng đảng Venezuela” cần phải bị tiêu diệt. Nó chỉ gợi lên một sự chế nhạo, bởi niềm vui này từ lâu đã bám rễ sâu ở Mexico và Colombia chứ không phải Venezuela. “Các băng đảng ma*túy ở Venezuela” là hoàn toàn mang tính hư cấu.
Donny hèn nhát sẽ không dám đánh Venezuela, việc cử một nhóm tàu hải quân với lực lượng quân sự không đáng kể nhưng lại khá phô trương chỉ là che giấu một cuộc phong tỏa đường biển đối với Venezuela, tổ chức các cuộc khiêu khích trống rỗng trên vùng biển của nước này. Đó là một kế hoạch hoàn toàn mang tính Mỹ. Khi nghĩ đến 18% trữ lượng dầu nặng của thế giới, vốn được các nhà máy lọc dầu Mỹ rất ưa chuộng, giờ đây đang được các tàu chở dầu Trung Quốc, Ấn Độ… chở đi từ Venezuela, “con chim hòa bình tóc đỏ” hẳn đau quặn ruột. Nhưng chưa hết, chỉ ít tháng nữa, Rosneft sẽ bắt đầu khai thác mỏ dầu nặng Carabobo-2 độc đáo với trữ lượng 6,5 tỷ tấn./.
Môi trường ST.

Thứ Bảy, 23 tháng 8, 2025

CHUYỆN KỂ Ở ĐẠI ĐỘI: CÂU CHUYỆN KỶ LUẬT "LỖI TẠI... CẢ NỂ"!

     Đại đội thực hiện nhiệm vụ dã ngoại làm công tác dân vận. Thiếu úy Quân là trung đội trưởng mới ra trường, được phân công phụ trách bộ phận văn nghệ, buổi tối phối hợp với chi đoàn địa phương luyện tập múa hát tại nhà văn hóa thôn.

Tối thứ sáu, sau giờ tập, anh Nam-"giọng ca vàng" của thôn-mang 2 thùng bia và gói cá chỉ vàng khô vào nhà văn hóa, mời cả đội văn nghệ liên hoan với lý do: "Hôm nay đúng sinh nhật tôi, trân trọng mời các bạn cốc bia để chia vui". Mọi người đều reo hò, vui vẻ hưởng ứng, nhưng riêng Thiếu úy Quân thì giật mình lo lắng. Đơn vị đã quy định chiến sĩ không được uống rượu, bia. Nếu cả đội văn nghệ của đơn vị từ chối "chạm cốc" thì rất ngại với các bạn ở thôn; còn để chiến sĩ uống bia thì lại vi phạm kỷ luật.
 
Thiếu úy Quân giải thích cho các thanh niên trong thôn về quy định của đơn vị và đề nghị cho các chiến sĩ được dùng nước lọc chạm cốc, còn mình thì uống bia. Sau một hồi kiên trì thuyết phục, các anh trai làng đồng ý. Tuy nhiên, vì chỉ còn ít người uống bia, mà các trai làng lại "thống nhất quan điểm uống hết mới được về"; không những thế, mỗi chàng còn nài ép, mời bằng được trung đội trưởng một cốc nên Thiếu úy Quân liêng biêng. Tan cuộc, vừa bước ra cổng nhà văn hóa thì Thiếu úy Quân bị ngã...

Sáng hôm sau ra tập trung đơn vị với bước đi tập tễnh và má bị trầy xước, Thiếu úy Quân được đại đội trưởng... hỏi thăm.

- Đêm qua chắc là đồng chí khó ngủ vì đau phải không? 

- Báo cáo đại đội trưởng, em cũng khó ngủ nhưng không phải vì bị đau. May là vết thương cũng nhẹ và may là em đi bộ chứ không đi xe máy... 

- Thế đồng chí đã rút ra bài học gì qua sự cố này chưa?

- Đêm qua em đã nghĩ nhiều, tự trách mình và thực sự ân hận. Nếu em không cả nể, biết lựa lời từ chối với nguyên tắc kiên quyết không để mình say rượu, bia, không vi phạm quy định, kỷ luật của đơn vị thì sẽ không mắc lỗi, không phải ngượng với anh em trong đơn vị và không làm ảnh hưởng đến hình ảnh đẹp của bộ đội... Em xin nhận lỗi trước thủ trưởng và toàn đơn vị, đồng thời xin hứa từ nay trở đi sẽ không cả nể như thế nữa./.
Môi trường ST.

TỪ LỜI THỀ ĐỘC LẬP ĐẾN KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC!

     Hành trình từ mùa thu 1945 đến mùa thu 2025 là hành trình tự hào thiêng liêng - 80 năm “máu, nước mắt và hoa”. Và từ mùa thu này, dân tộc Việt Nam tiếp tục tiến bước, với niềm tin sắt son vào tương lai hùng cường, thịnh vượng...

Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?”

“Mồng 2 tháng Chín năm 1945” là tên bài viết đăng trong Tổng tập hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2011). Đại tướng viết: “Hà Nội tưng bừng màu đỏ. Một vùng trời bát ngát cờ, đèn và hoa. Cờ bay đỏ những mái nhà, đỏ những rặng cây, đỏ những mặt hồ. Biểu ngữ bằng các thứ tiếng Việt, Pháp, Anh, Hoa, Nga chăng khắp các đường phố: “Nước Việt Nam của người Việt Nam “, “Đả đảo chủ nghĩa thực dân Pháp”, “Độc lập hay là chết”, “Ủng hộ Chính phủ lâm thời”, “Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh”, “Hoan nghênh phái bộ Đồng minh”…

Những dòng người đủ mọi màu sắc, từ khắp các ngả tuôn về vườn hoa Ba Đình. Nắng mùa thu rất đẹp trên Quảng trường Ba Đình, từ giờ phút này đã đi vào lịch sử. Đội danh dự đứng nghiêm trang xung quanh lễ đài mới dựng. Các chiến sĩ Quân giải phóng bữa trước theo Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa, từ Tân Trào tiến về phía Nam “đánh vào các đô thị và trọng trấn của quân địch”. Hôm nay, họ đã đứng sát cánh cùng các đội tự vệ của công nhân, thanh niên và lao động thủ đô bảo vệ Chính phủ lâm thời.

Sau bao năm bôn ba khắp thế giới, mang án tử hình của đế quốc Pháp, qua mấy chục nhà tù và những ngày dài “gối đất nằm sương”, Bác đã trở về ra mắt trước một triệu đồng bào. Sự kiện lịch sử này mới hôm nào còn ở trong ước mơ.

Ba tiếng Hồ Chí Minh không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc khi đó không nhiều.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vị Chủ tịch của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra mắt đồng bào như một lãnh tụ lần đầu xuất hiện trước đông đảo quần chúng. Đó là một cụ già gầy gò, trán cao, mắt sáng, râu thưa. Cụ đội chiếc mũ đã cũ, mặc áo ka ki cao cổ, đi dép cao su trắng.

Lời nói của Bác điềm đạm, đầm ấm, khúc chiết, rõ ràng. Không phải là cái giọng hùng hồn người ta thường được nghe trong những ngày lễ long trọng. Nhưng người ta tìm thấy ngay ở đó những tình cảm sâu sắc, ý chí kiên quyết; tất cả đều tràn đầy sức sống; từng câu, từng tiếng đi vào lòng người. Đọc bản Tuyên ngôn độc lập đến nửa chừng, Bác dừng lại và bỗng dưng hỏi: - Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?

Một triệu con người cùng đáp, tiếng dậy vang như sấm: - Co.o.ó!

Từ giây phút đó, Bác cùng với cả biển người đã hòa làm một.

Đây là bản Tuyên ngôn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa giành được độc lập bằng cuộc chiến đấu suốt tám mươi năm của dân tộc. Đây còn là những lời lẽ tâm huyết, đầy cảm kích của đội tiên phong giác ngộ nhất của giai cấp cách mạng nhất, có những người con tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và của dân tộc, trước máy chém, trước miệng súng của quân thù, đã từng giật tấm băng đen bịt mắt, hô lớn: “Việt Nam độc lập muôn năm!”.

Một triệu con người, một triệu tiếng hô cùng hòa làm một. Đó là lời thề của toàn dân kiên quyết thực hiện lời Hồ Chủ tịch vừa đọc để kết thúc bản Tuyên ngôn: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Lịch sử đã sang trang.

Một kỷ nguyên mới bắt đầu: Kỷ nguyên của Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Bản đồ thế giới phải sửa đổi lại vì sự ra đời của một Nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cùng với cuộc Tổng khởi nghĩa nổ ra trong suốt hạ tuần tháng 8, ngày Độc lập mồng 2 tháng Chín đã có một ý nghĩa cực kỳ trọng đại trong đời sống chính trị, tinh thần của dân tộc.

Độc lập, tự do đã đến với mỗi người dân. Mỗi người đã thấy được giá trị thiêng liêng của nó, thấy trách nhiệm phải bảo vệ. Vô vàn khó khăn còn ở trước mắt. Nhưng đối với bọn đế quốc, muốn phục hồi lại thiên đàng đã mất, mọi việc cũng không còn dễ dàng như xưa”...

Cách mạng Tháng Tám là một kỳ tích hiếm có trong lịch sử nhân loại: Chỉ hơn nửa tháng, một chính quyền thực dân - phát xít tồn tại gần 100 năm bị quét sạch, thay thế bằng một chính quyền cách mạng của dân, do dân và vì dân. Sự thần kỳ ấy không đến từ vũ khí tối tân hay quân đội hùng hậu, mà từ niềm tin mãnh liệt vào chính nghĩa và sự đoàn kết của toàn dân tộc.

Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Tuyên ngôn độc lập không chỉ khẳng định chủ quyền quốc gia mà còn gửi đi thông điệp sâu sắc tới thế giới. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn lại Tuyên ngôn độc lập Mỹ 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp 1791 là cách đặt nền độc lập Việt Nam ngang hàng với những giá trị phổ quát của nhân loại, đồng thời gửi thông điệp đanh thép đến chính các cường quốc từng áp bức dân tộc ta. Đặc biệt, câu nói: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” là lời thề thiêng liêng, khẳng định ý chí sắt đá của dân tộc Việt Nam: sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ độc lập, tự do.

GS.TSKH. Vũ Minh Giang, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá, Tuyên ngôn độc lập không chỉ có giá trị pháp lý vững chắc, khẳng định chủ quyền quốc gia trước thế giới, mà còn có ý nghĩa thời đại sâu sắc, mở ra một kỷ nguyên phát triển mới.         

Ngay sau ngày độc lập, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt ba kẻ thù: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Trong muôn vàn thử thách, Đảng và Chính phủ lựa chọn con đường dựa vào dân, phát huy tinh thần tự lực, tự cường. Phong trào “Hũ gạo cứu đói”, chiến dịch “Bình dân học vụ” đã nhanh chóng giúp đất nước vượt qua khó khăn, khẳng định sức mạnh của Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Tinh thần ấy tiếp tục được phát huy trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đưa dân tộc đến thắng lợi lịch sử 30/4/1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đặc biệt, từ công cuộc Đổi mới 1986, Việt Nam vững vàng bước vào kỷ nguyên hội nhập quốc tế, khẳng định vị thế là quốc gia độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ.

Khát vọng Việt Nam hùng cường và những quyết sách lịch sử trong kỷ nguyên mới

Tám mươi năm trước, dân tộc ta giành lại độc lập. Ngày nay, khát vọng Việt Nam hùng cường không chỉ là ước mơ mà được cụ thể hóa bằng cam kết: không ai bị bỏ lại phía sau, mọi người dân được bảo đảm an sinh, học tập, y tế, bình đẳng và cơ hội phát triển, mọi nhà khoa học có môi trường sáng tạo, mọi doanh nhân được tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật và toàn xã hội được bảo đảm công bằng. Đó cũng là hình ảnh một đất nước biết giữ gìn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường sống, đồng thời góp phần vào hòa bình và thịnh vượng chung của nhân loại. Tinh thần đoàn kết, yêu nước hôm nay vẫn hiển hiện: trong những sân vận động rực đỏ màu cờ, trong khát vọng vươn lên của lớp trẻ, trong từng bước chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế.

Và tám mươi năm sau cách mạng Tháng Tám, một kỷ nguyên mới được mở ra bằng những quyết sách đột phá. Hội nghị Trung ương XIII (1/2025) quyết định sắp xếp tinh gọn bộ máy chính trị. Quốc hội khóa XV (2/2025) thông qua cơ cấu Chính phủ mới với 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ, giảm đáng kể số lượng đầu mối. Tiếp đó, Quốc hội thông qua nghị quyết sáp nhập đơn vị hành chính, từ 63 tỉnh thành xuống còn 34, cuộc sắp xếp lớn nhất trong lịch sử hiện đại. Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình nhấn mạnh: “Đây là bước đi chiến lược, kiến tạo không gian phát triển mới, đưa đất nước bước vào giai đoạn tăng tốc, bứt phá”.

Cùng với tinh gọn bộ máy, Đảng, Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh bốn đột phá chiến lược: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố(Nghị quyết 57). Hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng (Nghị quyết 59). Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật (Nghị quyết 66). Phát triển kinh tế tư nhân - khơi thông nguồn lực cho hơn 940.000 doanh nghiệp và 5,2 triệu hộ kinh doanh (Nghị quyết 68).

Những quyết sách này là “mệnh lệnh từ tương lai dân tộc”, nhằm khơi thông mọi nguồn lực, tạo không gian kinh tế mới, chuẩn bị cho Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển vượt bậc.

Đánh giá kết quả sau một tháng vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhìn nhận: “Ý Đảng - Lòng dân” đã gặp nhau khi chuyển từ trạng thái chính quyền hành chính thụ động, nặng về quản lý sang trạng thái chủ động, tích cực phục vụ Nhân dân và kiến tạo phát triển. Chủ trương lớn, quan trọng này của Đảng hợp lòng dân, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước hiện nay nên được Nhân dân đồng tình, bạn bè quốc tế ủng hộ.

Theo đó, việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh nhằm tạo ra những không gian kinh tế đủ lớn, kết nối tốt hơn giữa các vùng, khai thác tối đa tiềm năng vùng miền để chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đặc biệt, nhiều địa phương đã hình thành những không gian kinh tế vượt trội, có thể sánh với các vùng phát triển trong khu vực.

Đồng thời, việc sắp xếp bộ máy chỉ là một phần trong chiến lược tạo không gian kinh tế mới, cùng với các chủ trương lớn như phát triển hạ tầng, khoa học công nghệ, c.h.y.ể.n đ.ổ.i s.ố đường sắt tốc độ cao, năng lượng nguyên tử, trung tâm tài chính… Đây là loạt chủ trương để chuẩn bị tạo không gian kinh tế, để đất nước tăng tốc, bứt phá.

Phát biểu tại lễ công bố Nghị quyết tại thành phố H.ồ C.h.í M.i.n.h Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Sắp xếp lại giang sơn” là quyết định chiến lược, mang tầm vóc lịch sử, thể hiện tư duy cải cách hành chính mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước. Tổng Bí thư cũng khẳng định, chúng ta bước vào giai đoạn phát triển mới không chỉ với niềm tự hào, mà còn với trách nhiệm lớn lao trước Tổ quốc và các thế hệ mai sau.

“Hãy để mỗi ngày làm việc là một ngày kiến tạo. Hãy để mỗi người là một chiến sĩ trên mặt trận đổi mới. Hãy để tinh thần cách mạng tấn công mạnh mẽ, quyết liệt và sáng tạo, thấm đẫm hồn dân tộc trong từng hành động, từng quyết sách và từng bước phát triển đi lên”, Tổng Bí thư khẳng định, đến thời điểm này “đội ngũ đã chỉnh tề, hàng lối đã ngay ngắn”, cả dân tộc cùng “hành quân” vươn tới tương lai rực rỡ./.

Yêu nước ST.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: PHÉP THỬ CÂN BẰNG ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM!

     Trung Quốc đã chính thức nhận lời tham gia lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Quốc khánh và dự kiến sẽ có mặt tại Hà Nội vào cuối tháng 8. Trước đó, các lực lượng từ Nga, Lào và Campuchia đã có mặt, tham gia hợp luyện tối 21/8 tại Quảng trường Ba Đình. Bốn đoàn bạn góp mặt đều mang những giá trị riêng đối với Việt Nam.

Nga đại diện cho chiều sâu lịch sử và quốc phòng. Sau khi Việt Nam cử lực lượng tham dự duyệt binh trên Quảng trường Đỏ vào tháng 5/2025, việc mời Nga sang Hà Nội lần này là một sự đáp lễ, thể hiện sự nhất quán trong việc coi trọng đối tác truyền thống và duy trì kênh hợp tác quốc phòng trong khuôn khổ luật pháp quốc tế. 

Lào và Campuchia là láng giềng trực tiếp, mời họ tham dự là điều hiển nhiên, nhưng duy trì được sự tin cậy và gắn kết ổn định trong bối cảnh khu vực nhiều biến động mới là thử thách. Sự hiện diện của hai đoàn bạn cho thấy Việt Nam kiên trì tạo dựng và củng cố “vành đai tin cậy” láng giềng, bảo đảm rằng khác biệt không trở thành điểm nóng. 

Với Trung Quốc, đối tác vừa lớn vừa gần lại nhiều phức tạp, việc tham gia sát ngày lễ gửi đi một tín hiệu rõ ràng: Việt Nam luôn duy trì kênh đối thoại, giữ nguyên tắc tôn trọng, không để bất kỳ khác biệt nào làm gián đoạn kênh hợp tác nghi lễ và quốc phòng.

Lễ diễu binh năm nay được thiết kế công phu, gồm màn rước đuốc truyền thống, pháo lễ, không quân bay chào mừng, 43 khối lực lượng quân đội và công an, 13 khối quần chúng cùng gần 5.000 người tham gia xếp hình, xếp chữ. Điểm nhấn đặc biệt là khối diễu binh trên biển tại Khánh Hòa sẽ được truyền hình trực tiếp về Hà Nội, tạo thành “sân khấu kép” vừa thể hiện sức mạnh quân sự vừa chứng minh năng lực tổ chức và điều phối tầm quốc gia.

Sự hiện diện của bốn đoàn quân đội bạn không chỉ bổ sung màu sắc quốc tế mà còn là minh chứng cho năng lực cân bằng khéo léo của Việt Nam. Với Nga là khẳng định chiều sâu chiến lược, với Lào và Campuchia là sự gắn kết láng giềng, với Trung Quốc là minh chứng cho năng lực đối thoại tỉnh táo, giữ vững nguyên tắc và lợi ích cốt lõi. Tất cả hợp lại thành cấu trúc quan hệ đa trục, trong đó Việt Nam chủ động thiết kế khoảng cách, đủ gần để hợp tác và đủ xa để duy trì tự chủ.

Diễu binh vì thế không chỉ là lễ nghi phô diễn sức mạnh quân đội, mà còn là một bài thực hành ngoại giao sống động. Thông điệp gửi ra thế giới là Việt Nam sẵn sàng: sẵn sàng bảo vệ chủ quyền, sẵn sàng hợp tác với bạn bè, và sẵn sàng quản trị những khác biệt bằng luật lệ và nguyên tắc. 

Bốn đoàn bạn sánh bước tại Hà Nội trong dịp lễ trọng đại này cho thấy một Việt Nam tự tin, bản lĩnh và tỉnh táo trước những dòng chảy trái chiều của thời cuộc./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUY ĐỊNH MỚI VỀ THỜI GIAN HƯỞNG CHẾ ĐỘ ỐM ĐAU CỦA SĨ QUAN, QUÂN NHÂN CHUYÊN NGHIỆP!

     Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân được quy định chi tiết tại Điều 6 Thông tư số 90/2025/TT-BQP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, hướng dẫn thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân.

1. Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư này, căn cứ vào thời gian điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và thời gian mà người lao động phải nghỉ việc theo chỉ định của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau tính theo ngày làm việc, không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hằng tuần.

Ví dụ 1: Đại úy Nguyễn Văn Bình, ngày 13-10-2025 bị ốm, phải nghỉ việc để điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đến ngày 18-10-2025 và được bác sĩ điều trị chỉ định nghỉ việc để điều trị bệnh thêm 5 ngày, đến hết ngày 23-10-2025. 

Ngày nghỉ hằng tuần của đồng chí Bình được xác định là ngày Chủ nhật. Như vậy, số ngày đồng chí Bình được hưởng chế độ ốm đau là 10 ngày (trừ 1 ngày nghỉ hằng tuần là ngày Chủ nhật).

2. Thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư này thực hiện như sau:

a) Thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau trong một năm (từ ngày 1-1 đến ngày 31-12 của năm dương lịch) cho mỗi con tối đa là 20 ngày nếu con dưới 3 tuổi; tối đa là 15 ngày nếu con từ đủ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi;

b) Việc xác định thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau trong một năm cho mỗi con được tính đến trước ngày sinh nhật của năm con đủ 3 tuổi, đủ 7 tuổi và căn cứ vào thời điểm bắt đầu nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau;

c) Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì thời gian tối đa hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau trong một năm của mỗi người cho mỗi con theo quy định tại điểm a khoản này;

d) Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau quy định tại điểm a khoản này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hằng tuần;

đ) Trường hợp người lao động có một con dưới 3 tuổi bị ốm đau;

Ví dụ 2: Thượng úy Vũ Thị Vân có con 2 tuổi bị ốm đau nên phải nghỉ việc để chăm sóc con từ ngày 4-11 đến ngày 10-11-2025. Ngày nghỉ hằng tuần của đồng chí Vân là ngày Chủ nhật. Thời gian đồng chí Vân nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau là 7 ngày; trong đó, thời gian được hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau là 6 ngày (trừ 1 ngày nghỉ hằng tuần là ngày Chủ nhật).

e) Trường hợp trong cùng một thời gian người lao động có từ 2 con trở lên dưới 7 tuổi bị ốm đau, thì thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau được tính bằng thời gian thực tế người lao động nghỉ việc chăm sóc con ốm đau; thời gian tối đa người lao động nghỉ việc trong một năm cho mỗi con thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;

Ví dụ 3: Thượng úy Nguyễn Thị Lan có 2 con sinh đôi 6 tuổi bị ốm đau (trong đó, con thứ nhất bị ốm từ ngày 4-2 đến ngày 10-2-2026, con thứ hai bị ốm từ ngày 7-2 đến ngày 13-2-2026), đồng chí Lan phải nghỉ việc để chăm sóc cả 2 con ốm đau. Ngày nghỉ hằng tuần của đồng chí Lan là ngày Chủ nhật. Thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau của đồng chí Lan được tính từ ngày 4-2 đến ngày 13-2-2026 là 9 ngày (trừ 1 ngày nghỉ hằng tuần là ngày Chủ nhật).

g) Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà luân phiên nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau, thì thời gian tối đa hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau trong một năm của người cha hoặc người mẹ cho mỗi con thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;

Ví dụ 4: Thượng úy Nguyễn Thị Minh và chồng là đồng chí Thiếu tá Đặng Văn Long đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có con 6 tuổi bị ốm phải điều trị ở bệnh viện từ ngày 11-9 đến ngày 5-10-2025. Ngày nghỉ hằng tuần của hai vợ chồng đồng chí Minh là ngày Chủ nhật. Vì điều kiện công việc, hai vợ chồng đồng chí Minh phải bố trí luân phiên nghỉ việc chăm sóc con như sau:

- Đồng chí Minh nghỉ việc chăm con từ ngày 11-9 đến ngày 17-9-2025 và từ ngày 25-9 đến ngày 5-10-2025.

- Đồng chí Long nghỉ việc chăm con từ ngày 18-9 đến ngày 24-9-2025.

Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con từ đủ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi bị ốm đau trong một năm cho mỗi con tối đa là 15 ngày. Con của đồng chí Minh 6 tuổi thì thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau của đồng chí Minh và đồng chí Long được tính như sau:

- Đối với đồng chí Minh: Tổng số ngày nghỉ việc chăm sóc con ốm đau là 20 ngày, trừ 3 ngày nghỉ hằng tuần vào ngày Chủ nhật, còn lại 17 ngày; theo quy định trên, thời gian hưởng chế độ chăm sóc khi con ốm đau của đồng chí Minh chỉ được tính tối đa là 15 ngày.

- Đối với đồng chí Long: Tổng số ngày nghỉ việc chăm sóc con ốm đau là 7 ngày, thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau của đồng chí Long là 6 ngày (trừ 1 ngày nghỉ hằng tuần vào ngày Chủ nhật).

h) Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, cùng nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau, thì cả cha và mẹ đều được giải quyết hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau; thời gian tối đa hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau trong một năm của người cha hoặc người mẹ cho mỗi con thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.

Ví dụ 5: Thượng úy QNCN Nguyễn Thị Hà và chồng là đồng chí Thiếu tá Đặng Ngọc Thịnh đang tham gia BHXH bắt buộc, có 2 con 4 tuổi bị ốm đau, vợ chồng đồng chí Hà phải nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau. Ngày nghỉ hằng tuần của vợ chồng đồng chí Hà là ngày Chủ nhật. Thời gian nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau của vợ chồng đồng chí Hà như sau:

- Con thứ nhất bị ốm điều trị tại bệnh viện, đồng chí Hà nghỉ việc để chăm sóc con từ ngày 4-5 đến ngày 21-5-2026.

- Con thứ hai bị ốm điều trị ngoại trú, đồng chí Thịnh phải nghỉ việc để chăm sóc con từ ngày 5-5 đến ngày 9-5-2026.

Trường hợp này, cả hai vợ chồng đồng chí Hà đều được hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau. Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con từ đủ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi bị ốm đau trong một năm cho mỗi con tối đa là 15 ngày. Hai con của đồng chí Hà 4 tuổi thì thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau của vợ chồng đồng chí Hà được tính như sau:

- Đối với đồng chí Hà: Tổng số ngày nghỉ việc chăm sóc con ốm đau từ ngày 4-5 đến ngày 21-5-2026 là 18 ngày, trừ 2 ngày nghỉ hằng tuần là ngày Chủ nhật, còn lại 16 ngày. Theo quy định trên, thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau của đồng chí Hà chỉ được tính tối đa là 15 ngày.

- Đối với đồng chí Thịnh: Tổng số ngày nghỉ việc chăm sóc con ốm đau là 5 ngày, thời gian được hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau là 4 ngày (trừ 1 ngày nghỉ hằng tuần là ngày Chủ nhật).

Thông tư số 90/2025/TT-BQP có hiệu lực từ ngày 2-10-2025; các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội hướng dẫn tại thông tư này được thực hiện từ ngày 1-7-2025.

Báo Quân đội nhân dân sẽ thông tin đầy đủ, chi tiết về các quy định mới tại Thông tư số 90/2025/TT-BQP tới bạn đọc./.
Yêu nước ST.

KỶ NIỆM 80 NĂM QUỐC KHÁNH 2/9 VÀ LÒNG YÊU NƯỚC TỪ NHỮNG ĐIỀU NHỎ BÉ!

     Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 là mốc son lịch sử để chúng ta nhìn lại và chiêm nghiệm về sự tiếp nối của tinh thần yêu nước của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay.

Biến lịch sử thành trải nghiệm sống động

Lòng yêu nước không chỉ nằm trong những bài học lịch sử, mà còn được tiếp nối và thể hiện một cách sống động qua từng thế hệ. Nếu thế hệ đi trước thể hiện lòng yêu nước bằng xương máu và sự kiên cường, hy sinh thì thế hệ trẻ thời 4.0 lại khẳng định tình cảm ấy bằng trí tuệ, sự sáng tạo và sức mạnh của công nghệ. Nói cách khác, lòng yêu nước của người trẻ đã được thể hiện một cách rõ nét, vượt ra khỏi những buổi lễ truyền thống để lan tỏa mạnh mẽ trên không gian mạng và trong đời sống thực tế.

Thay vì chỉ tiếp nhận lịch sử qua sách vở, thế hệ trẻ đã chủ động tìm hiểu và lan tỏa các giá trị lịch sử một cách sáng tạo. Nhìn lại, dịp Lễ kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước (30/4) vừa qua, hình ảnh các bạn trẻ xếp hàng dài trước cổng Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tham quan Dinh Độc Lập đã khiến nhiều người xúc động.

Trong những ngày qua, trong không khí tưng bừng kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9, không ít người dân diện trang phục truyền thống với áo dài hoặc áo cờ đỏ sao vàng để "check-in" tại Quảng trường Ba Đình, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trụ sở Bộ Ngoại giao... Những địa danh lịch sử này không chỉ lưu giữ ký ức của dân tộc, mà còn là nơi để thế hệ trẻ kết nối với quá khứ, tôn vinh những giá trị cha ông để lại. Họ đến không chỉ đến để chụp ảnh, mà còn để tìm hiểu, chiêm nghiệm và chia sẻ những câu chuyện lịch sử với cộng đồng.

Đặc biệt, trở thành một xu hướng phổ biến trong giới trẻ dịp Đại lễ 2/9, trên mỗi cung đường, mỗi điểm đến, nhiều bạn trẻ đã "check-in" với lá cờ Tổ quốc để thể hiện tinh thần yêu nước. Những con phố, ngõ nhỏ rợp sắc cờ đỏ sao vàng được chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội.

Lan tỏa giá trị Việt trên không gian mạng

Lòng yêu nước, đặc biệt là của người trẻ thời 4.0 được thể hiện rõ nét trên các nền tảng số với các trào lưu tích cực. Những video "biến hình" với trang phục truyền thống, hình ảnh diễu binh, diễu hành đã lan truyền mạnh mẽ, tạo nên một không khí tự hào dân tộc sôi nổi.

Có thể nói, lòng yêu nước trong thời đại số không chỉ được thể hiện qua những hành động dũng cảm hay tiếng nói mạnh mẽ, mà còn qua những sáng tạo thiết thực, gần gũi. Từ việc bảo vệ chủ quyền dân tộc đến việc đưa lịch sử sống động vào đời sống hiện đại, thế hệ trẻ đang góp phần quan trọng trong việc gìn giữ quá khứ và xây dựng tương lai.

Nhiều bạn trẻ đã trở thành những "đại sứ văn hóa số" khi sản xuất các video về ẩm thực, cảnh đẹp, con người Việt Nam, hay các thước phim tài liệu ngắn trên TikTok, YouTube. Họ không chỉ lan tỏa vẻ đẹp của đất nước mà còn góp phần đấu tranh, phản bác lại những thông tin sai lệch về lịch sử.

Có thể nói, thời đại 4.0 mang đến nhiều cơ hội để người trẻ thể hiện lòng yêu nước, thông qua việc tận dụng sức mạnh của công nghệ. Dưới sức ảnh hưởng của truyền thông và mạng xã hội, những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và hành động thể hiện lòng yêu nước, những video ý nghĩa đã và đang được lan tỏa mạnh mẽ hơn.

Lòng yêu nước không chỉ dừng lại ở sự tự hào, mà còn được chuyển hóa thành hành động thiết thực để xây dựng đất nước. Nhiều dự án khởi nghiệp của người trẻ tập trung vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, phát triển du lịch thông minh, hay quảng bá sản phẩm nông nghiệp Việt Nam ra thế giới. Họ yêu nước bằng cách đóng góp vào sự phát triển kinh tế, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.

Các chiến dịch tình nguyện, thiện nguyện cũng được tổ chức trên các nền tảng mạng xã hội. Người trẻ sử dụng công nghệ để kêu gọi quyên góp, kết nối những người có hoàn cảnh khó khăn với các nhà hảo tâm, thể hiện tinh thần "tương thân tương ái" của dân tộc.

Có thể thấy, từ dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc, cách thể hiện lòng yêu nước của người Việt, đặc biệt là người trẻ, đã có sự thay đổi rõ rệt. Bằng sự sáng tạo và khả năng kết nối, thế hệ trẻ đã và đang chứng minh rằng, họ không chỉ tiếp nối mà còn làm phong phú thêm ngọn lửa yêu nước của dân tộc. Tình yêu nước của họ là một dòng chảy mạnh mẽ, theo những cách khác nhau.

Thế hệ trẻ Việt Nam đang khẳng định vai trò là những nhà sáng tạo văn hóa đầy nhiệt huyết, thổi vào những giá trị truyền thống một sức sống mới. Nếu không gian mạng là nơi để họ bày tỏ sự trân trọng qua những "lượt thích" và chia sẻ, thì đời thực chính là nơi để họ thể hiện sự sáng tạo thông qua những hành động cụ thể.

Trong kỷ nguyên số, người trẻ đã lồng ghép tinh thần dân tộc vào những sản phẩm truyền thông hiện đại, tạo nên những tác phẩm sáng tạo vừa mang dấu ấn cá nhân, vừa tôn vinh giá trị truyền thống. Bên cạnh những khoảnh khắc "check-in" cùng lá cờ Tổ quốc, các trào lưu như "Cờ trong mắt - Tổ quốc trong tim" từng gây sốt thì những nét vẽ tâm huyết trên mái nhà, hay những video biến hình nghệ thuật trên nền nhạc "Viết tiếp câu chuyện hòa bình" đã trở thành phương thức biểu đạt tình cảm với quê hương, đất nước đầy sáng tạo.

Những nội dung này không chỉ thu hút hàng triệu lượt tương tác trên các nền tảng mạng xã hội, mà còn tạo nên một hiện tượng văn hóa đặc sắc, nơi thế hệ trẻ thể hiện lòng tự hào dân tộc theo cách riêng biệt, mới mẻ.

Những ngày này tại Hà Nội, không khí hào hùng của Đại lễ 2/9 lan tỏa khắp phố phường. Hàng vạn người dân ngồi chờ suốt nhiều giờ để chứng kiến buổi tổng hợp luyện diễu binh đầu tiên tại Quảng trường Ba Đình, cờ đỏ sao vàng rực rỡ. Dường như ai cũng cảm thấy tự hào khi khoác lên mình màu áo đỏ thiêng liêng, cùng hòa vào dòng người, chia sẻ niềm tự hào dân tộc.

Yêu nước từ những điều nhỏ bé

Người ta thường nghĩ, yêu nước là những điều lớn lao, vĩ đại; là cầm súng ra trận, là cống hiến cả đời cho Tổ quốc, là làm nên những chiến công vang dội. Thế nhưng, trong cuộc sống bình dị hôm nay, lòng yêu nước lại được thể hiện một cách giản đơn và chân thành nhất, bắt đầu từ chính những hành động nhỏ bé, thường ngày của mỗi chúng ta.

Yêu nước, đôi khi chỉ là hành động nhặt một mẩu rác ven đường, hay gom rác quanh chỗ mình ngồi. Dù đang ở đâu, trên đất nước mình hay ở một nơi xa lạ, hành động ấy cũng thể hiện niềm tự hào và tình yêu dành cho quê hương, để mỗi nơi ta đi qua đều mang một dấu ấn đẹp của người Việt.

Yêu nước là sống tử tế, là trở nên tốt đẹp hơn mỗi ngày. Sự tử tế không phải là điều gì quá lớn lao, mà là những cử chỉ văn minh, lịch sự trong cuộc sống. Đó là khi bạn không vượt đèn đỏ, không chen lấn khi xếp hàng, biết nói "cảm ơn" với người bán hàng, một người tài xế. Đó là khi bạn giúp đỡ, san sẻ khó khăn với những người xung quanh. Một đất nước Việt Nam tử tế bắt đầu từ những người trẻ sống ngay thẳng và lương thiện, sống trách nhiệm. Bởi lẽ, mỗi hành động nhỏ ấy sẽ lan tỏa năng lượng tích cực.

Yêu nước còn là sự sẻ chia và đùm bọc. Tình cảm ấy thể hiện qua việc chúng ta cùng nhau quyên góp giúp đỡ bà con vùng lũ lụt, hay ủng hộ người dân Cuba gặp khó khăn, không cần phải là một số tiền lớn, chỉ cần xuất phát từ trái tim và sự đồng cảm. Nó cho thấy, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, tinh thần "tương thân tương ái" của dân tộc Việt Nam vẫn luôn tồn tại và sống mãi.

Hơn thế, yêu nước không chỉ là nói, mà là hành động cụ thể. Nó không chỉ là những chiến công vang dội trong lịch sử, mà còn là nỗ lực của mỗi cá nhân để làm cho đất nước tốt đẹp hơn mỗi ngày. Từ những điều nhỏ nhất, giản đơn nhất, chúng ta đã và đang xây dựng một Việt Nam văn minh và đáng tự hào./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GIÁO DỤC PHẢI CHUYỂN TỪ TRANG BỊ KIẾN THỨC SANG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TOÀN DIỆN CHO NGƯỜI HỌC!

     Chiều 22-8, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị tổng kết năm học 2024-2025, triển khai nhiệm vụ năm học 2025-2026. Đồng chủ trì có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Lê Thành Long, Phó thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Kim Sơn, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Hội nghị diễn ra theo hình thức trực tiếp với điểm cầu Trung ương tại Trụ sở Chính phủ, kết nối trực tuyến với điểm cầu 34 tỉnh, thành phố trên cả nước. Tham dự hội nghị tại điểm cầu Trung ương có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương. Tại điểm cầu ở các địa phương có lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Phát biểu khai mạc hội nghị, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn cho biết: Năm học 2024-2025, được sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp hiệu quả của các ban, bộ, ngành Trung ương và các cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương, sự ủng hộ của đông đảo cử tri và nhân dân, đặc biệt là sự quyết tâm và trách nhiệm của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, sự cố gắng nỗ lực của các em học sinh, sinh viên, học viên, toàn ngành giáo dục đã hoàn thành kế hoạch năm học, với nhiều kết quả tích cực.

Trong đó, công tác xây dựng thể chế, chính sách có bước tiến đột phá, với việc Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu trình Quốc hội ban hành Luật Nhà giáo, Nghị quyết về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi và Nghị quyết về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non và học sinh phổ thông.

Các cơ quan của Bộ Giáo dục và Đào tạo tích cực, chủ động triển khai hiệu quả công tác sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025, kỳ thi đầu tiên theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, được tổ chức an toàn, nghiêm túc và khách quan. Chất lượng giáo dục mũi nhọn tiếp tục được khẳng định với kết quả cao trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế. Đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghệ cao như bán dẫn, t.r.í. t.u.ệ n.h.â.n t.ạ.o, công nghệ 4.0 được quan tâm thúc đẩy mạnh mẽ. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được quan tâm và phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Công tác chu.yể.n đổ.i s.ố và ứng dụng công nghệ thông tin đã được đẩy mạnh, mang lại kết quả tích cực.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao, biểu dương, ghi nhận những kết quả mà toàn ngành Giáo dục đạt được trong năm học qua. Trong đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính khái quát kết quả thành các nhóm vấn đề đó là: Thể chế hoàn thiện; bộ máy tinh gọn; chất lượng nâng cao; kỳ thi chuyên nghiệp; giáo viên nâng tầm; hội nhập mở rộng; cơ sở khang trang; khoa học phát triển; tài năng nở sớm.

Phát huy những kết quả đạt được, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu: Toàn ngành giáo dục phải phát triển đột phá hơn, tạo nền tảng vững chắc cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Trong đó, toàn ngành giáo dục tập trung chuyển đổi trạng thái, coi giáo dục đào tạo, không phải là nhiệm vụ riêng của ngành mình, mà là nhiệm vụ chung của toàn dân, toàn xã hội. Chuyển từ trang bị kiến thức sang phát triển năng lực toàn diện của người học.

Thủ tướng nhấn mạnh: Mọi tư duy, phương pháp luận, cách tiếp cận giải quyết mọi vấn đề của giáo dục-đào tạo theo hướng mọi công dân phải được tiếp cận bình đẳng với giáo dục, nhất là người yếu thế, ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số; xây dựng chương trình, giáo trình tiên tiến hiện đại, thực tế; học đi đôi với hành, học thật, thi thật, hiệu quả thật, phù hợp với sự phát triển của đất nước. Thầy cô phải là động lực, truyền cảm hứng cho học sinh, sinh viên; gia đình, xã hội, nhà trường phải là nền tảng, điểm tựa, bệ đỡ cho học sinh, sinh viên và thầy cô giáo. Không để học sinh thiếu trường, lớp, thiếu thầy cô, thiếu ăn, thiếu mặc.

Nhiệm vụ cụ thể trước mắt, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu: Bộ Giáo dục và Đào tạo, các địa phương, cơ sở giáo dục tập trung chuẩn bị chu đáo cho lễ khai giảng năm học mới, bảo đảm trang trọng, ấm cúng, gọn gàng, hiệu quả, vui tươi; tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả về quản lý Nhà nước về giáo dục; ưu tiên nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục; rà soát công tác quy hoạch cơ sở giáo dục trong cả nước; từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ 2 trong trường học…/.
Môi trường ST.