Thứ Tư, 10 tháng 9, 2025

Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo.


Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[1]. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo tập trung ở các nội dung sau:

Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Khoản 1, Điều 6, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”.

Đảng ta khẳng định, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân, là đã thực sự tôn trọng sự tồn tại khách quan của tôn giáo hiện nay. Quan điểm trên của Đảng là cơ sở bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của một bộ phận quần chúng nhân dân; Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm và bảo đảm nhu cầu sinh hoạt tinh thần của bộ phận quần chúng nhân dân có đạo; thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật; các tôn giáo được quyền hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và bình đẳng trước pháp luật.

Hai là, thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.

Quan điểm của Đảng thể hiện, các tôn giáo được bảo đảm hoạt động bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật cho phép; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống cách mạng của của đồng bào có đạo, tôn vinh những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Nghiêm cấm việc đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”[2]

Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.

Đại đa số tín đồ, chức sắc là nhân dân lao động, công tác tôn giáo không phải là hạn chế hay xóa bỏ tôn giáo mà thực chất là tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng có đạo nhận rõ nghĩa vụ và quyền lợi của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng ta khẳng định: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[3]

Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

Giải quyết vấn đề tôn giáo là vấn đề chiến lược liên quan đến mọi mặt đời sống chính trị - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước. Cho nên công tác tôn giáo đòi hỏi phải có sự tham gia và thực hiện của toàn xã hội, trọng tâm là hệ thống chính trị. Khi giải quyết các vấn đề về tôn giáo phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, tuân theo luật pháp Nhà nước, là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế - xã hội; tổ chức và cán bộ trực tiếp làm công tác tôn giáo có vai trò quyết định sự thành công trong công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo và đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.

Năm là, mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ, tín đồ các tôn giáo có quyền tiến hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo, học tập giáo lý, đạo đức, phục vụ lễ nghi tôn giáo tại cơ sở thờ tự nếu như các hoạt động đó không trái với chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, không được lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm trái với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không được hoạt động mê tín dị đoan.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 171.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 50 - 51.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 171. 

DÂN CHỦ QUÁ TRỚN, COI THƯỜNG PHÁP LUẬT, GIỚI TRẺ ĐẨY CUỘC BIỂU TÌNH THÀNH BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CHÍNH PHỦ, PHÁ TAN ĐẤT NƯỚC NEPAL.

     Nepal vốn là “cửa ngõ lên Tây Tạng”, nằm ở khu vực Himalaya đầy tranh chấp. Từ tháng 4/2025, Nepal bùng nổ các cuộc biểu tình ủng hộ Hoàng gia và phản đối Trung Quốc sau khi Cựu vua Nepal, Gyanendra Bir Bikram Shah Dev trở về Kathmandu vào ngày 9 tháng 3 năm 2025 từ Pokhara và được hàng trăm nhà hoạt động củng hộ chế độ quân chủ chào đón, kêu gọi khôi phục chế độ quân chủ ở Nepal. 

Cao điểm nhất của biểu tình chống chính phủ biến thành bạo loạn bắt đầu từ 7/9 và chỉ trong vòng chưa đầy 48 giờ, đám đông sinh viên thế hệ Z đã lật đổ toàn bộ Chính phủ Nepal.

Điểm chung các cuộc nổi dậy chống chính quyền do sinh viên gây ra, là đều đập phá tài sản công, công trình kiếm trúc, các khu vui chơi, văn hóa, trung tâm hành chính của chính quyền. Nepal đã trở thành điểm nóng thứ 2 sau Bangladehs do chính lớp trẻ hiếu động, thiếu kinh nghiệm xã hội, bị giật dây bởi các thế lực thù địch chống chính quyền bên ngoài đã đẩy nhà nước Nepal sụp đổ.

Xét tổng thể bản chất cuộc biểu tình thì đây là một cuộc "CÁCH MẠNG MÀU" mang rõ màu sắc như sánh Cách mạng Nhung ở Tiệp Khắc 1993, Cách mạng Maidan ở Ukraina 2014 hay "mùa xuân Ả Rập" ở Tuinisi 2011 lan ra các nước như Ai Cập, Libya, Yemen, Syria… Nguyên nhân chủ yếu là kích động chống đối chính quyền của các đảng phái đối lập hoặc thế lực thù địch bên ngoài, Đó cũng là nguyên nhân chính ở Nepan hiên nay chứ không phải do chính phủ cấm MXH như đài báo phương Tây đưa tin.

Điểm đáng chú ý là, sinh viên Nepal được tài trợ súng, được thủ lĩnh các nhóm sinh viên nước ngoài huấn luyện, tập dượt từ trước để tấn công các cơ quan chính phủ và chính quyền địa phương. 

✍️Tuy nhiên, những chiêu trò, thủ đoạn này nó có thể thành công ở các nước đa đảng nhưng ở Việt Nam tất cả đều thất bại!

Ai còn nhớ vụ bạo loạn Bình Thuận 2018 sẽ nhớ nhất thằng ranhcon Will Nguyễn quốc tịch Mỹ, từng là một sinh viên được tổ chức C.I.X nuôi cấy, đào tạo "thủ lĩnh sinh viên Cách mạng màu" để thực hiện bạo động lật đổ chính quyền Việt Nam. Will Nguyễn được phân công học tập ở Singapore và giúp đỡ các thành viên phản động ở Việt Nam...

Đầu năm 2018, trước khi diễn biến vụ bạo loạn ở Bình Thuận, Will Nguyễn được cho đi "du lịch thực tế" ở Việt Nam, sau đó đầu tháng 6/2018, Will Nguyễn quay lại Việt Nam với tư cách là "Khách du lịch" rồi móc nối với đám phản động trong nước gây ra 1 loạt các cuộc biểu tình bạo loạn ở Bình Thuận, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh... Y được cho là kẻ cầm đầu, kẻ phát tiền cho người biểu tình để cổ vũ, kích động tham gia bạo loạn.

Ngay sau đó, Will Nguyễn bị chính người dân yêu nước gom cổ, xách đi như bắt lợn giữa đường.

Thế nên Cách mạng màu có thể nở hoa ở các quốc gia yếu về bản lĩnh dân tộc, còn ở Việt Nam chỉ có thất bại. Việt Nam có 100 triệu cái camera an ninh chạy bằng cơm, tương đương với hơn 100 triệu khẩu súng bảo vệ an ninh đất nước, đừng nghĩ đó là chuyện đùa nhé./.
Môi trường ST.

Chính sách của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo.

 


Một là, thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Phát huy các nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng. Phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, mê tín, dị đoan”[1]

Hai là, to điềụ kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Khoản 1, Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 ghi rõ: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

Ba là, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo” trong quần chúng, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, tăng cường thông tin tuyên truyền về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo; tự giác và phối hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống đối chế độ.

Năm là, hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 144.

Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong bảo vệ Tổ quốc

 


Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, con đường cứu nước và giải phóng dân tộc đã được xác định là con đường cách mạng vô sản. Nhiệm vụ cách mạng của cả dân tộc Việt Nam là phải tranh đấu, giành cho được độc lập dân tộc, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hơn 90 năm qua, nắm vững tính tất yếu khách quan bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã thể hiện rõ tinh thần quý trọng nền hòa bình, độc lập, tự do của dân tộc, nêu cao tinh thần cách mạng, thực hành tư tưởng tiến công, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền độc lập, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước, thu được những thành tựu hết sức to lớn.

Tình hình thế giới, khu vực tác động đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

 


Tình hình chính trị - an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường, nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triễn vẫn là xu thế lớn. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng. Luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn. Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới.

Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-19. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước ngày càng quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc. Cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các vấn đề toàn cầu, thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng và hình thái chiến tranh kiểu mới. Tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. ASEAN có vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn. Cộng đồng ASEAN tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác, liên kết kinh tế, nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức cả bên trong và bên ngoài.

Vận dụng đúng đắn quan điếm đối tác, đối tượng.

 


Đảng ta chỉ rõ: “Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kể thế lực có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, xâm phạm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam đều là đối tượng của Việt Nam”[1]. Trong tình hình diễn ra nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng trong xử lý các tình huống. Bởi vì, trong đối tác có mặt là đối tượng; trong đối tượng có mặt là đối tác.

Nâng cao công tác dự báo, nắm chắc tình hình; chủ động, phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố, nhất là những nhân tố bên trong có thể dẫn đến những đột biến, bất lợi. Đây là quan điểm chỉ đạo phương châm chủ động giữ nước, quán triệt và thể hiện tư tưởng chủ động giữ nước của ông cha ta: “Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, không để bị động, bất ngờ, lấy phòng ngừa là chính. Trong tình hình hiện nay, cần đặc biệt chú ý chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các yếu tố gây bất ổn từ bên trong, như “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.



[1] Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật,  Hà Nội - 2019, tr. 25,26.

Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại .


 Sức mạnh bên trong là nhân tố quyết định, nắm chắc nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm gắn với giải quyết tốt các vấn; xây dựng Đảng là then chốt, kết hợp với bảo vệ Đảng, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh; xây dựng và phát triển văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần của xã hội là sức mạnh nội sinh quan trọng. Kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, lực lượng vũ trang làm nòng cốt; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, không ngừng xây dựng thế trận quốc phòng gắn với thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn cảnh mới. Đảng ta xác định: “Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 158,159. 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: "CỞI TRÓI"!

     Câu hỏi của Tổng Bí thư Tô Lâm, “Khi nào xây dựng được bộ sách giáo khoa thống nhất?” thoạt nghe tưởng chỉ là một chất vấn cho ngành giáo dục. Nhưng thực ra, nó xuất hiện đúng vào cao điểm khi Bộ Chính trị vừa đưa ra hai nghị quyết lớn liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của nhân dân: Nghị quyết 70 về an ninh năng lượng và Nghị quyết 71 về đột phá giáo dục. Đặt trong dòng chảy ấy, câu hỏi trở thành một lát cắt nhỏ phản chiếu tinh thần cải cách đang hình thành rõ nét.

Ở điện lực, Nghị quyết 70 đánh dấu một bước ngoặt: lần đầu tiên Bộ Chính trị yêu cầu xóa bỏ dần độc quyền, cơ cấu lại EVN và mở ra thị trường cạnh tranh để người dân có quyền lựa chọn nhà cung cấp điện. Quyền lựa chọn này nay mới được đưa vào một ngành được coi là “bất khả xâm phạm”. Nó cho thấy sự thay đổi căn bản: thay vì để một tập đoàn gánh cả chuỗi, rồi khi lỗ thì dân chịu, nay chính người dân trở thành trung tâm, dùng sức ép thị trường để buộc ngành điện phải vận hành minh bạch và hiệu quả. 

Ở giáo dục, Nghị quyết 71 nhấn mạnh một điều chưa từng được nói thẳng: giáo dục đào tạo là nhân tố quyết định vận mệnh dân tộc. Mục tiêu cũng rất cụ thể: đến năm 2030, phổ cập mầm non cho trẻ 3–5 tuổi, giáo dục bắt buộc đến hết THCS, sách giáo khoa miễn phí cho toàn bộ học sinh; và đến năm 2045, Việt Nam phải có ít nhất 5 trường đại học lọt top 100 thế giới. Trên nền ấy, câu hỏi của Tổng Bí thư về một bộ sách thống nhất không chỉ là chuyện “có làm hay không”, mà là phép thử xem ngành giáo dục có đủ bản lĩnh thực thi cam kết này hay không.

Nếu Nghị quyết 70 “cởi trói” cho hạ tầng vật chất, thì Nghị quyết 71 “chuẩn hóa” hạ tầng tri thức. Một bên là quyền bật công tắc điện, một bên là quyền lật trang sách của học trò. Cả hai đều được soi chiếu dưới cùng một tinh thần: không thể chậm trễ, không thể trì hoãn, cải cách phải đến tận tay người dân.

Nhìn vào diễn biến ấy, có thể thấy bầu không khí chuẩn bị cho Đại hội XIV đang rất mới: không chỉ bàn về những tầm nhìn xa, mà đi thẳng vào những chỗ nghẽn rất cụ thể trong đời sống. Khi Bộ Chính trị nói “người dân được chọn mua điện”, và Tổng Bí thư hỏi “bao giờ có sách giáo khoa thống nhất”, thì thông điệp không còn là khẩu hiệu, mà là hành động phải được đo bằng những gì người dân cảm nhận hàng ngày./.


Yêu nước ST.

Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


Trên cơ sở khẳng định tư tưởng lớn, cơ bản của Đảng qua các kỳ Đại hội, Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định:

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội  là yêu cầu hàng đầu. Đây cũng là điểm nổi bật trong truyền thống đánh giặc, giữ nước của cha ông ta trong lịch sử chống xâm lược. Yêu cầu giữ vững độc lập dân tộc không chỉ bao hàm bảo vệ vùng đất, vùng trời, vùng biển, thềm lục địa, biên giới của Tổ quốc mà còn bao hàm cả giữ vững độc lập về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là yêu cầu bảo vệ sự thống nhất của Tổ quốc ta hiện nay, trước âm mưu chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch.

Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong tình  hình hiện nay, khi kẻ địch dùng “diễn biến hòa bình” chống phá ta, mũi nhọn tập trung vào phá hoại Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa thì nội dung này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bài học từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu cho thấy, khi mà Đảng Cộng sản không còn giữ được vai trò lãnh đạo, thì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng không còn.

Bảo vệ Đảng, Nhà nước bao gồm bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng, bảo vệ uy tín của Đảng và làm cho đường lối của Đảng thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền các cấp và bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của kẻ địch. Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa trước hết là bảo vệ lý tưởng và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ chính trị và chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa phải đi đôi với bảo vệ cuộc sống lao động hòa bình của nhân dân.

Bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhờ có đường lối đổi mới đất nước toàn diện, cách mạng nước ta vững bước tiến lên. Thắng lợi của công cuộc đổi mới đã củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đời sống của nhân dân và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Điều đó chứng tỏ rằng: Đổi mới là con đường đúng đắn, hợp quy luật của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, phải kiên quyết bảo vệ đường lối đổi mới của Đảng, bảo vệ những thành quả của cách mạng Việt Nam. Trong quá trình đổi mới, chúng ta thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ đối ngoại đòi hỏi phải giữ vững độc lập tự chủ.

Bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc bao hàm cả lợi ích kinh tế, văn hóa… trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, bảo vệ lợi ích kinh tế của đất nước trở thành nhiệm vụ hết sức quan trọng. Đó là lợi ích kinh tế trong đất liền, vùng biển, vùng trời, biên giới, lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, của tập thể của cá nhân, lợi ích của các doanh nghiệp và người Việt Nam định cư ở nước ngoài… Cơ sở pháp lý của vấn đề này là các văn bản, luật, quy ước quốc tế và của Việt Nam. Do đó Đảng và Nhà nước cần tiếp tục hoàn chỉnh, bổ sung các luật có liên quan, kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện chỉ vì lợi ích cục bộ, địa phương, lợi ích riêng làm ảnh hưởng, vi phạm, phương hại đến lợi ích quốc gia dân tộc. Đảng ta xác định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”[1].

Bảo vệ nền văn hóa dân tộc. Trong tình hình hiện nay kẻ địch đang ráo riết chống phá ta trên tất cả các mặt, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Bảo vệ nền văn hóa Việt Nam là bảo vệ truyền thống yêu nước, cốt cách tâm hồn Việt Nam trong thời đại mới. Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa, làm cho văn hóa trở thành nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong công cuộc đổi mới hiện nay. Ra sức đấu tranh chống những quan điểm và hành vi văn hóa đồi trụy, phản động, xấu độc của chế độ cũ để lại. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

Giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự ổn định về chính trị và môi trường hòa bình là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Để giữ vững ổn định chính trị, trước hết phải đấu tranh giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của địch, không để xảy ra bạo loạn về chính trị hoặc “tự diễn biến”. Giữ vững môi trường hòa bình đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có đường lối đối nội và đối ngoại đúng đắn, tăng cường mối quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước, nhất là các nước trong khu vực trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau, các bên cùng có lợi.

Bảo vệ an ninh quốc gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, rộng hơn, sâu hơn, không chỉ có các vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống, mà còn bao quát cả những vấn đề an ninh phi truyền thống. Đây là những vấn đề an ninh nổi lên bắt nguồn từ những nguy cơ mới, tác động đa chiều của quá trình hội nhập quốc tế và phát triển. An ninh quốc gia bao gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh quân sự, an ninh biên giới, biển, đảo, an ninh đối ngoại, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh xã hội, an ninh thông tin, an ninh kết nối, an ninh mạng, an ninh doanh nghiệp, an ninh tài chính - tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dân cư, an ninh dân số, an ninh cơ sở dữ liệu, an ninh môi trường, an ninh con người. Đảng ta khẳng định: “Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân”[2], do vậy bảo vệ an ninh quốc gia cũng chính là bảo vệ cuộc sống của người dân.

Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Đây là nội dung có vị trí đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, của các cấp, các ngành dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, trong đó lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các hành vi xâm phạm an ninh mạng quốc gia, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia; xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh, trở thành nguồn lực quan trọng để xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Góp phần huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và của toàn xã hội trong công tác bảo đảm an ninh mạng; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh mạng; huy động, phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nước đi đôi với tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế trong bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và an ninh mạng. Tăng cường năng lực, hiệu quả đấu tranh bảo vệ an toàn, an ninh mạng, phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật trên không gian mạng, triển khai các biện pháp kỹ thuật chuyên biệt vô hiệu hóa nguồn phát động tấn công mạng, chiến dịch tấn công mạng, hoạt động sử dựng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trọng tâm là hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, kích động biểu tình, bạo loạn, phá hoại, khủng bố, gây rối an ninh, trật tự trên không gian mạng.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội- 2021, tr. 110.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 156.

Tình hình trong nước tác động đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


Về thuận lợi, sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng làm cho các thế và lực của nước ta có sự phát triển. Đảng ta dày dặn kinh nghiệm trong lãnh đạo các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Nhân dân ta có truyền thống yêu nước, lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, đoàn kết nhân ái. Kinh tế từng bước ra khỏi tình trạng suy giảm, lấy lại đà tăng trưởng, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc; nợ công tăng nhanh, nợ xấu đang giảm dần nhưng còn ở mức cao, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh kinh tế thấp. Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng - an ninh được tăng cường; quan hệ đối ngoại không ngừng mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực được tiến hành chủ động, đạt kết quả tốt.

Về khó khăn, thách thức: Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn. Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hóa, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta.

Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, có quyết tâm chính trị cao, dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình, chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống, nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được, đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 105-109.

Xuất phát từ quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc và âm mưu thủ đoạn của kẻ thù

 


Đây là quy luật sinh tồn của mọi quốc gia dân tộc, không riêng Việt Nam. Tuy nhiên, từ đặc điểm Việt Nam là một quốc gia có vị trí quan trọng, thuận lợi về nhiều mặt ở khu vực Đông Nam Á, nên từ thuở các vua Hùng dựng nước đến nay, dân tộc ta gần phải liên tục chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta đã luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng chống ngoại xâm và phải liên tiếp đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, phần lớn là của những quốc gia lớn mạnh, những đế quốc cường bạo. Từ cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong khoảng 22 thế kỷ, dân tộc ta đã phải tiến hành hàng chục cuộc chiến tranh giữ nước. Trong đó, dân tộc ta đã 10 lần chiến thắng oanh liệt, giữ vững nền độc lập dân tộc, hàng trăm cuộc khởi nghĩa, dần chuyển hóa, phát triển thành chiến tranh giải phóng, đưa đến thắng lợi cuối cùng là giải phóng hoàn toàn đất nước.

Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan còn xuất phát từ âm mưu và bản chất của kẻ thù đối với cách mạng nước ta. Kể từ sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, mặc dù kẻ thù đã bị đánh bại, nhưng chúng vẫn chưa từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta. Hiện nay, Việt Nam là mục tiêu trọng điểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Chúng nuôi dưỡng bọn phản động cách mạng trong nước, thành lập các tổ chức chính trị phản động ở nước ngoài trong một số những người Việt lưu vong, lợi dụng thời cơ tìm cách xâm nhập vào Việt Nam hòng phá hoại cách mạng nước ta. Khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô ở Đông Âu sụp đổ, đặc biệt trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế trí thức, quá trình hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, sâu sắc. Trong khi đó, âm mưu cơ bản xuyên suốt của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta không thay đổi, chúng ra sức đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình, âm mưu xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trên các lĩnh vực.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

 


Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong bản “Tuyên ngôn độc lập”, Người chỉ rõ: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”[1]. Người còn căn dặn cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 tại Đền Thượng (Đền Hùng) ngày 19/9/1954: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”[2].

Ngay sau đó, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” đêm ngày 19/12/1946, Người viết: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[3]; “Dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến”[4]; “Hễ còn chủ nghĩa đế quốc thì nguy cơ chiến tranh vẫn còn. Cho nên chúng ta phải luôn luôn cảnh giác và đề phòng, quyết không được chủ quan khinh địch”[5]; “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; vừa kiến thiết, xây dựng đất nước vừa bảo vệ Tổ quốc; “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trong lời Di chúc cuối cùng Người căn dặn: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hi sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta cũng phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Tư tưởng về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh còn được thể hiện sâu sắc trong tư tưởng của người về quân sự, về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược, gắn bó hữu cơ với nhau. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn đề cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tổ quốc và thành quả cách mạng. Đảng ta xác định: “… bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[6].



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 3.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 59.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 534, 104.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 534, 104.

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 534, 104.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. CTQG - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr.156.

Xuất phát từ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

 


Với bản chất hiếu chiến, xâm lược, phản động toàn diện, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu xóa bỏ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa với nhiều thủ đoạn như gây nội chiến và vũ trang xâm lược, thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp tư sản trong nước tuy đã bị đánh đổ về mặt chính trị, nhưng chúng vẫn chưa từ bỏ tham vọng muốn quay trở lại địa vị thống trị đã mất, nên chúng tìm mọi cách liên kết với các phần tử phản động và chủ nghĩa tư bản bên ngoài, hòng lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của giai cấp công nhân.

Lịch sử đã chứng minh sau thắng lợi Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917, 14 nước đế quốc tập trung bao vây hòng tiêu diệt nước Nga Xô viết. Trong nước, bọn phản động nổi lên khắp nơi gây nên cuộc nội chiến thảm khốc (1918-1921). Và sau này, nhân dân Liên Xô phải chống trả quyết liệt chủ nghĩa phát xít, bảo vệ thành công tổ quốc xã hội chủ nghĩa (1941-1945). Từ khi chủ nghĩa xã hội phát triển thành hệ thống thế giới, thì sự chống phá của kẻ thù càng quyết liệt hơn như cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, các cuộc bạo loạn phản cách mạng để lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Hunggari, Tiệp Khắc, Ba Lan và ở hòn đảo tự do Cuba vào những năm giữa của thế kỷ XX. Cuối những năm 80, đầu những năm 90 thế kỷ XX đến nay, chúng đã đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thậm chí sẵn sàng tiến hành chiến tranh xâm lược, sử dụng vũ khí công nghệ cao, chống phá toàn diện, hòng làm tan rã các nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết ở Đông Âu và Liên Xô. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một tổn thất của phong trào cách mạng thế giới, song nó cũng để lại cho các nước xã hội chủ nghĩa bài học sâu sắc là xây dựng chủ nghĩa xã hội phải gắn liền với bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

 

Vai trò, trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay

 


Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Trong thời chiến, Quân đội là lực lượng chiến đấu chủ yếu, giải quyết và quyết định mọi vấn đề trên chiến trường, đánh đuổi giặc ngoại xâm và đập tan mọi thế lực phản động, thù địch. Trong thời bình, đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay, là củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt.

Trong bảo vệ Tổ quốc, vai trò của Quân đội còn được thể hiện là lực lượng chính trị tin cậy và tuyệt đối trung thành với Đảng, với Nhà nước và nhân dân. Vai trò của Quân đội còn được thể hiện thông qua chính các chức năng, nhiệm vụ của Quân đội là đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất, đội quân công tác. Hiện nay, Quân đội còn là lực lượng quan trọng tham gia tích cực trên mọi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, cứu hộ cứu nạn, ứng phó với thiên tai, bão lũ, tình huống bất thường về tự nhiên và xã hội của đất nước; xây dựng cơ sở chính trị trên các địa bàn trọng yếu; đoàn kết, tập hợp và vận động nhân dân, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, các đoàn thể xã hội cùng với hệ thống chính trị xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, tăng cường thế trận chiến tranh nhân dân trên mọi miền của Tổ quốc.

Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là chỗ dựa vững chắc cho toàn dân bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là lực lượng chủ yếu thực hiện chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định mọi đường lối chiến lược, sách lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trên từng địa phương, các cơ quan quân sự, các đơn vị quân đội đóng quân trên các địa bàn là lực lượng chủ yếu tham mưu cho Đảng ủy, chính quyền địa phương các cấp đề ra chủ trương, kế hoạch phòng thủ, xây dựng tiềm lực kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh của địa phương, bảo vệ cuộc sống hòa bình, lao động và sản xuất của nhân dân.

Quân đội còn trực tiếp thực hiện chức năng đối ngoại quân sự, quốc phòng góp phần tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, hòa bình và hiểu biết với Quân đội các nước láng giềng và có quan hệ truyền thống, với Quân đội các nước trong khu vực và quốc tế; đấu tranh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ xa, ngăn chặn các âm mưu, thủ đoạn chống phá đất nước của các thế lực phản động, thù địch từ bên ngoài lãnh thổ.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi phải xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt, trong đó cần tập trung xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin yêu.

Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái; sẵn sàng ứng phó với các mối đe doạ an ninh phi truyền thống. Kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triền bền vững đất nước.

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất và hiệu quả của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự, đánh thắng chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao của các lực lượng thù địch. Quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt Chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới trên từng cương vị, chức trách được giao là trách nhiệm chính trị lớn lao trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân của mọi cấp lãnh đạo, chỉ huy trong Quân đội, trong đó đội ngũ cán bộ chính trị, nhất là chính ủy các cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam có vai trò rất quan trọng.

Trong tình hình mới, bên cạnh thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và đơn vị đã xác định, cần hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt, giữ vững nguyên tắc trong lãnh đạo, chỉ đạo việc sử dụng lực lượng, xử lý các tình huống có liên quan đến quốc phòng, an ninh ở những vùng, địa bàn chiến lược, xung yếu, nơi biên giới, biển, đảo; vừa nêu cao tinh thần chính nghĩa, đoàn kết, hợp tác quốc tế, quan điểm giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển của đất nước, vừa kiên quyết bảo vệ bằng được những mục tiêu không thể mất của đất nước; tránh bị khiêu khích, mắc mưu của kẻ thù, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.

Phát triển kinh tế, xã hội; phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

 


 Đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của đất nước cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm vai trò chủ đạo thực sự của kinh tế nhà nước; giữ vững ổn định kinh tế không để xảy ra rối loạn về kinh tế. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tập trung đầu tư, nâng cao hiệu quả các khu kinh tế quốc phòng trọng điểm trên các vùng biển, đảo, các vành đai biên giới, các địa bàn xung yếu. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các vùng căn cứ cách mạng, kháng chiến cũ.

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội... Xây dựng nền văn hóa lành mạnh. Tăng cường giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, nhất là cho thế hệ trẻ. Kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa, xâm nhập các sản phẩm văn hóa độc hại, các khuynh hướng thẩm mỹ lệch lạc. Chấn chỉnh kịp thời những sai phạm trong hoạt động báo chí, thông tin truyền thông; tăng cường công tác bảo đảm an ninh an toàn thông tin.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân đối với việc củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện tốt dân chủ cơ sở, tôn trọng nhân dân, kiên quyết đấu tranh với tệ quan liêu, ức hiếp, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân và các hoạt động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc.

Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, thế trận lòng dân; kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Nâng cao chất lượng công tác giáo dục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể xảy ra, đặc biệt là trên vùng biển đảo, biên giới và các địa bàn chiến lược, trọng điểm. Khắc phục tình trạng lộ, lọt thông tin mật của Đảng, Nhà nước. Tiếp tục: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr.157-158.

Nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ an ninh nội bộ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

 


 Đây là nhiệm vụ và giải pháp quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 về: “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phải luôn chú trọng xây dựng Đảng về chính trị; đổi mới công tác tư tưởng lý luận; tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; tiếp tục đổi mới, kiện toàn bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng đảng viên; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền đối với  nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, quốc phòng - an ninh.

Phương châm chỉ đạo bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì mục tiêu nguyên tắc chiến lược, đi đôi với sự vận dụng linh hoạt sách lược, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế, cô lập, phân hóa các phần tử chống đối. Kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với luật pháp quốc tế; có đối sách phù hợp với từng đối tượng, từng tình huống. Đối với nội bộ, lấy việc phát huy dân chủ, giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa là chính, đi đôi với giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, xử lý nghiêm minh các sai phạm, kiên quyết đối với những phần tử cầm đầu, ngoan cố. Đối với các thế lực thù địch kiên trì giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, đồng thời sẵn sàng có giải pháp thích hợp, kể cả bắt buộc phải tiến hành đấu tranh vũ trang để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc; kịp thời ngăn chặn, xử lý, chủ động đấu tranh với các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Thường xuyên bám sát cơ sở, nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời mọi mầm mống gây mất an ninh, không để bị động, bất ngờ. Kết hợp giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh phi vũ trang, kết hợp xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng để bảo vệ Tổ quốc. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thế gây ra đột biến; cụ thể hóa quan điểm chủ động bảo vệ Tổ quốc từ thời bình, giữ nước từ lúc nước chưa nguy; phát triển, hoàn thiện quan điểm “tự bảo vệ” trong điều kiện mới. Đảng ta xác định: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”[1]



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 38.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội; lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc

 


Đây là quan điểm thể hiện định hướng mục tiêu, lợi ích và phương hướng bảo vệ Tổ quốc. Độc dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng và là ngọn cờ chiến đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Mọi nội dung, nhiệm vụ, phương thức bảo vệ Tổ quốc đều phải hướng đến và thực hiện mục tiêu bao quát có tính định hướng này. Lợi ích cao nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam hiện nay là phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, mọi tư tưởng và hành động, phương pháp và cách thức bảo vệ Tổ quốc đều phải nắm vững quan điểm giữ vững môi trường hòa bình và ổn định; làm cho môi trường này ngày càng tiến triển tốt hơn. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị vừa là mục tiêu chiến lược lâu dài vừa là phương thức, sách lược quan trọng hàng đầu trong bảo vệ Tổ quốc và là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.