Thứ Tư, 24 tháng 9, 2025

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, KIỂM SOÁT, NGĂN CHẶN TIN ĐỒN, TIN GIẢ

BÀI 1: TIN ĐỒN, TIN GIẢ - “BÓNG MA” LẨN KHUẤT TRONG KỶ NGUYÊN SỐ!

     Trong thời đại công nghệ số, thông tin tưởng chừng đã được minh bạch, xác thực nhờ kết nối toàn cầu và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), nhưng tin đồn, tin giả vẫn lây lan nhanh, gây nhiễu loạn thông tin, tác động xấu đến xã hội, quốc phòng, an ninh. Báo Quân đội nhân dân thực hiện loạt bài phỏng vấn các chuyên gia, nhà quản lý để lý giải nguyên nhân, nhận diện hệ lụy và đề xuất giải pháp nhằm hạn chế “đất sống” của tin đồn, tin giả trong kỷ nguyên số.

Trong khi sự thật cần thời gian để xác minh và kiểm chứng thì tin đồn lại luôn có “đường tắt” để đến với công chúng. Tin đồn, tin giả, clip xuyên tạc, hình ảnh dàn dựng bằng công nghệ AI đang đánh lừa cảm xúc và nhận thức của người dân, trở thành những “bóng ma” lẩn khuất trên không gian mạng, tạo nên “vùng xám” nguy hiểm trong đời sống xã hội. Vì sao tin đồn lại chiếm ưu thế như vậy? Phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc trao đổi với chuyên gia truyền thông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch Công ty Le Bros.

Phóng viên (PV): Thưa ông, vì sao tin đồn vẫn tồn tại dai dẳng giữa thời đại mà thông tin tưởng như đã minh bạch, kết nối và đa chiều hơn bao giờ hết?

Ông Lê Quốc Vinh: Tò mò, muốn biết những thứ mà người khác không biết, muốn biết trước người khác, thậm chí là nếu mình được biết thông tin gì đó mà có vẻ như là mới mẻ thì người ta thích khoe ra bên ngoài. Đó là tâm lý rất phổ biến của con người nói chung, là “cái nôi” để người ta tán phát, truyền ra bên ngoài những tin đồn.

Việt Nam hiện có độ mở thông tin hơn rất nhiều quốc gia khác. Nhưng hiện thực của nó là còn nhiều điểm mơ hồ trong thông tin. Trong phương thức truyền thông của nhiều cơ quan, đơn vị thì thường các doanh nghiệp, các tổ chức khá cởi mở, nhưng nhiều cơ quan quản lý nhà nước lại đang có xu hướng không cởi mở, không minh bạch về thông tin. Phong cách truyền thông như thế, xu hướng truyền thông như thế đã vô tình tạo ra những khoảng mờ trong hoạt động của tổ chức đó. Như thế sẽ kích thích người ta muốn đi tìm hiểu xem có những gì khác nữa đằng sau lớp màn bí ẩn này. Khi càng có nhiều khoảng trống thông tin, càng có nhiều không gian mơ hồ thì tin đồn càng dễ để phát triển. 

PV: Theo ông, cần phân biệt thế nào giữa tin giả và tin đồn, liệu có ranh giới nào rõ ràng giữa hai khái niệm này không?

Ông Lê Quốc Vinh: Tin đồn có những thứ là tin thật, chỉ là xuất hiện trước thông tin chính thức thôi, có thể có được nhờ tình báo, thông tin nội bộ... Nhưng từ tin đồn lại bóp méo sự thật, làm sai lệch tin thật thì từ tin đồn nó biến thành tin giả. Đa số tin đồn là tin giả, là thuyết âm mưu. Bởi vì có những người chỉ có một chút thông tin nhưng thêu dệt vào thành tin giả. Tin giả có 3 loại: Một loại dựa vào một chút thông tin sự thật nhưng thêu dệt thêm vào; một loại là bịa đặt hoàn toàn; một loại là nói về sự thật nhưng lại gán ghép mục đích sai lệch. Nó bóp méo cách hiểu của công chúng đối với cả những sự thật, đây là thông tin cực kỳ nguy hiểm.

PV: Trong thực tiễn đời sống, ông đánh giá như thế nào về mức độ phổ biến và mức độ nguy hiểm của tin đồn, tin giả trên không gian mạng?

Ông Lê Quốc Vinh: Trong thế giới hôm nay, việc tìm kiếm thông tin cực kỳ dễ dàng, càng giấu giếm thì càng tạo ra những cơ hội để công chúng tin vào tin đồn thất thiệt. Tôi có một cuốn sách “Khủng hoảng không bắt đầu từ truyền thông”. Trong đó, tôi có nói rằng tất cả các cuộc khủng hoảng xảy ra đều do lỗ hổng về truyền thông, các khoảng trống truyền thông, những băn khoăn, những mơ hồ tạo cho người ta khủng hoảng. Nếu như chúng ta làm truyền thông theo kiểu cứ tạo ra các khoảng trống thông tin thì công chúng sẽ phản ứng tiêu cực. Làm sao để thông tin minh bạch, rõ ràng thì công chúng sẽ hành động ngay và phản ứng một cách tích cực. Đừng làm cho công chúng bị mơ hồ, bị mất thông tin hay bị sai lệch thông tin. 

Có những chuyện nhỏ thì phản ứng của công chúng chỉ ở mức độ nhỏ, nhưng nếu tin đồn ảnh hưởng tới vấn đề xã hội lớn sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng và không thuận lợi cho các hành động tiếp theo, tạo ra những khó khăn cho những chính sách hay các hoạt động sau đó. Điều quan trọng nhất của những người làm truyền thông là phải kiểm soát được sự kỳ vọng của công chúng; chúng ta làm như thế nào, đưa ra thông tin gì, đưa ra những hành động gì để công chúng sẽ hành động như chúng ta chờ đợi. Đấy mới là nguyên tắc quan trọng nhất.

PV: Đã có những tin đồn nào gây hậu quả nghiêm trọng trong đời sống xã hội những năm gần đây mà chúng ta cần nhìn lại để rút ra bài học, thưa ông?

Ông Lê Quốc Vinh: Có rất nhiều loại tin đồn thất thiệt. Ví như một lực lượng chức năng có một hành động, nhưng không thông tin rõ hành động đấy được diễn ra như thế nào, tại sao làm như thế, mục đích gì... thì lập tức những thế lực này kia sẽ thêu dệt, bịa ra, dẫn dắt nhiều thông tin sai lệch. Lúc này, tin đồn biến thành tin giả, tạo ra có mục đích, đánh trúng tâm lý của người muốn nghe. Khi nó lan truyền thì ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Nhiều tin đồn vô thưởng vô phạt thì chỉ gây tò mò, nhưng nhiều tin đồn cố tình gây sai lệch sẽ tạo ra sự ảnh hưởng rất lớn trong truyền thông.

Tin đồn “sống” khỏe làm người ta mất niềm tin vào câu chuyện gì đó, người ta có thể không tin vào những điều mà các cơ quan chức năng đang làm, có thể không tin vào doanh nghiệp, tổ chức và có thể dẫn đến phản ứng tiêu cực. Chẳng hạn như cơ quan chức năng đưa ra chính sách, với một tâm thế là tìm kiếm giải pháp tốt hơn cho xã hội, ví dụ chuyển đổi phương tiện giao thông “xanh” trên địa bàn trung tâm TP Hà Nội... nhưng lại chưa đưa ra những phương thức, thông tin cụ thể, rõ ràng để triển khai thực hiện cho phù hợp, khiến người dân mơ hồ và cho rằng đằng sau những gì mà cơ quan công quyền đang nói còn một lý do khác?... Từ đó khiến mọi người hiểu không đúng. Đã có những bài học rất lớn mà tôi đã và vẫn đang nói với nhiều tổ chức, kể cả các cơ quan quản lý, chức năng rằng truyền thông ngày nay cần phải minh bạch, vẫn phải dẫn dắt để công chúng nhìn thấy cụ thể mọi việc. Những quyết định đưa ra sẽ được cân nhắc và hướng đến lợi ích chung, nhưng phải làm cho người dân hiểu được rằng họ có được gì từ những lợi ích chung thì họ sẽ ủng hộ. 

PV: Theo ông, khi AI ngày càng được sử dụng để tạo ra nội dung, đâu là thách thức mới trong kiểm soát, ngăn chặn sự lan truyền của tin đồn?

Ông Lê Quốc Vinh: Trí tuệ nhân tạo cung cấp thông tin cho mình là dựa trên những gì nó học được, nó không tự nhiên nghĩ ra. AI chỉ là một bộ máy rất mạnh để thu thập thông tin. Như vậy, nếu những thông tin mà AI thu thập được là đúng thì sẽ cung cấp câu hỏi, câu trả lời chính xác; nếu những thông tin AI thu thập là sai sẽ mang đến thông tin thất thiệt; hoặc thậm chí nếu không có thông tin sẵn, bộ máy đó sẵn sàng bịa ra một thứ gì mới, sai lệch, chống đối. Vì vậy, để AI trở thành công cụ hữu ích cho con người thì phải cung cấp cho nó thông tin chính xác, thông tin đúng, thậm chí là thông tin đầy đủ.

Trước đây, chúng ta dùng Google tìm kiếm, nhưng hiện giờ, khi chúng ta tìm kiếm trong Google thì AI đã đưa ra câu trả lời ở ngay trên đầu, thế là xu hướng của chúng ta là phải tìm nốt những cái còn lại để tìm hiểu. Do vậy hiện nay, trong bất cứ hoạt động nào từ chính trị, quốc phòng, an ninh, xã hội, kinh tế... để thắng lợi trong cuộc chiến thông tin thì chúng ta phải chủ động thông tin; phải là người cung cấp nhiều thông tin hơn và cung cấp phải đúng, phải chính xác, phải chạm được vào sự mong đợi của công chúng.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!
(còn nữa)
Ảnh: Ông Lê Quốc Vinh. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Môi trường ST.

Thứ Ba, 23 tháng 9, 2025

THỦ TƯỚNG CHÚC MỪNG CÔNG DÂN, CÓ GÌ MÀ LẠ?

     FB Nguyen Ngoc Chu vừa đăng tút về việc Thủ tướng Chính phủ chúc mừng ca sĩ Đức Phúc nhân chiến thắng tại Cuộc thi ca khúc quốc tế Intervision 2025 
(Международный конкурс песни “Интервидение-2025».

Ông Chu đánh giá về tầm cỡ cuộc thi thế này:“Đây là một cuộc thi hát tầm khu vực, hậu Xô Viết -Trung Á, mang tính chính trị - văn hoá. Chiến thắng tại cuộc thi này đáng khích lệ. Tuy nhiên cần đánh giá đúng vị trí của nó. 

Trong các cuộc thi hát quốc tế, ISC xếp sau xa Eurovision Song Contest (ESC) hay Sanremo (Ý), Viña del Mar (Chile), American Song Contest (Mỹ), thậm chí cả Asian Wave (Trung Quốc).” (nguyên văn trên fb ông ta viết).

Không biết ông Chu lấy tiêu chí nào để viết ISC “xếp sau xa” các cuộc thi mà ông đã liệt kê? 

✍️Trước tiên, ông Chu nhận định rằng ISC 2025 chỉ là một cuộc thi tầm khu vực hậu Xô viết -Trung Á là không chính xác. 

Cuộc thi Intervision vốn có truyền thống từ thời Liên Xô với tên gọi Интервидение, nay được khôi phục với quy mô quốc tế, quy tụ 23 quốc gia từ nhiều châu lục: châu Á (10 nước: Trung Quốc, Ấn Độ, Qatar, Ả Rập Xê Út, UAE, Việt Nam, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan), châu Âu (3 nước: Nga, Belarus, Serbia), châu Phi (5 nước: Ai Cập, Ethiopia, Kenya, Nam Phi, Madagascar), châu Mỹ (5 nước: Mỹ, Brazil, Colombia, Cuba, Venezuela). Tầm “khu vực” mà bao gồm đại diện của các châu lục đó ư? 

✍️Thứ hai, việc ông Chu xếp ISC “sau Sanremo (Ý) hay Viña del Mar (Chile)” là quá khập khiễng, bởi hai sự kiện kia chỉ là liên hoan âm nhạc mang tính quốc gia, không có cơ chế thi đấu liên quốc gia. 

Trái lại, ISC 2025 là một cuộc thi quốc tế thực thụ, với bình chọn đa quốc gia, được truyền thông toàn cầu (Reuters, Guardian…) theo dõi như một đối trọng của Eurovision.
Hơn nữa, ông Chu viện dẫn American Song Contest (Mỹ) và Asian Wave (Trung Quốc) để so sánh lại càng khập khiễng. Hai chương trình này thực chất chỉ là thử nghiệm rồi chết yểu: ASC mới tổ chức một mùa năm 2022 rồi dừng hẳn vì rating thấp, còn Asian Wave năm 2012 tại Thượng Hải cũng chỉ tồn tại đúng một lần. 

❗️✍️Vì vậy, dùng tên các cuộc thi này để nhằm hạ thấp tầm cỡ của Intervision 2025 vừa được tổ chức ở Moskva là không thực tế và không phù hợp. Lại càng vô lý hơn khi ông đem so sánh cuộc thi ca khúc với các cuộc thi

✍️2. Ông Chu còn viết.

“Thủ tướng có thể biết đến, nghe qua, nhưng Thủ tướng không có thời gian và không thuộc phạm vi phải quan tâm đến việc gửi thư chúc mừng người chiến thắng cuộc thi hát đại chúng Intervision Song Contest (ISC) 2025. Việc này, có chăng, nên thuộc phạm vi của Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch”.

✍️Ồ, không lẽ ông Chu không biết ở nhiều quốc gia, việc Thủ tướng gửi thư hay lời chúc mừng công dân khi giành thành tích về văn hoá, âm nhạc hay thể thao là chuyện hoàn toàn bình thường hay sao?

Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi nhiều lần chúc mừng nghệ sĩ Ấn đoạt giải Grammy như nhóm Shakti, Zakir Hussain hay Chandrika Tandon. 

Thủ tướng Canada Justin Trudeau từng gửi thông điệp chúc mừng Bianca Andreescu khi cô vô địch US Open 2019, trong khi Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez cũng làm tương tự với Carlos Alcaraz. 

Ở Anh, Thủ tướng Boris Johnson và Rishi Sunak đều đã công khai chúc mừng đội tuyển bóng đá nữ “Lionesses” khi vô địch EURO 2022 và Á quân World Cup 2023.

Ngay cả trong âm nhạc, Thủ tướng Thụy Điển Fredrik Reinfeldt từng gửi lời chúc mừng Loreen khi cô giành chiến thắng Eurovision 2012. 

Những ví dụ này cho thấy việc người đứng đầu Chính phủ chúc mừng thành tích văn hoá, nghệ thuật hay thể thao không hề hiếm, mà ngược lại còn là thông lệ phổ biến❗️

Thế mà cũng nói được thì lạ thật!
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HAI LẦN BÁC HỒ TỪ CHỐI NHẬN HUÂN CHƯƠNG!

     Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cho nhân dân, cho đất nước. Người chẳng có gì cho riêng mình. Từ lúc sinh thời đến khi về cõi vĩnh hằng, Người “chỉ biết quên mình cho hết thảy”, nhưng trên ngực không một tấm Huân chương. Điều đó ai cũng biết, song không phải ai cũng biết rằng, Người đã từng 2 lần từ chối nhận Huân chương. Mỗi lần từ chối nhận Huân chương, Người đều có những lí do riêng của mình, nhưng lí do chung nhất Người từ chối nhận Huân chương vì cho rằng, mình chưa làm trọn nhiệm vụ với nước, với dân.

Lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối nhận Huân chương là năm 1963, khi Quốc hội có ý định tặng Người Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thời điểm đó, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng, nhân dân miền Bắc đang ra sức thi đua xây dựng CNXH, bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Cả miền Bắc hăng say lao động, thi đua vì miền Nam ruột thịt với các phong trào Ba Nhất trong Quân đội, phong trào Duyên Hải trong công nghiệp, phong trào Đại Phong trong nông nghiệp, phong trào Bắc Lý trong giáo dục.
Lúc đó, nhân dân miền Nam đang anh dũng đấu tranh chống “chiến tranh đặc biệt” - một loại hình chiến tranh trong chiến lược “phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ nhằm xâm lược miền Nam Việt Nam, đồng thời cũng là sự thử nghiệm nhằm đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, đe dọa các nước mới giành độc lập.
Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá III, ngày 8/5/1963, trước các đại biểu Quốc hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xin phép chưa nhận Huân chương. Trong bài phát biểu của Người có nêu rõ lý do: “Tôi vừa biết một tin làm cho tôi rất cảm động và sung sướng, đó là tin Quốc hội định tặng cho tôi Huân chương Sao vàng, Huân chương cao quý nhất của nước ta. Tôi xin tỏ lòng biết ơn Quốc hội, nhưng tôi xin Quốc hội cho phép tôi chưa nhận Huân chương ấy. Vì sao, vì Huân chương là để tặng người có công huân, nhưng tôi tự xét chưa có công huân xứng đáng với sự tặng thưởng cao quý của Quốc hội”. Sau khi phân tích tình hình cách mạng ở miền Nam, tinh thần đấu tranh hy sinh anh dũng của đồng bào miền Nam, Người xin Quốc hội cho phép chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà, đồng bào miền Nam sẽ trao cho Người huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân sẽ sung sướng vui mừng.

Lần thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối nhận Huân chương là khi Đoàn Chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô quyết định tặng Người Huân chương Lênin - Huân chương cao quý nhất của Liên Xô vào năm 1967, nhân dịp kỷ niệm 50 năm Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười, do những đóng góp của Người trong việc củng cố và xây dựng tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Liên Xô.
Khi nhận tin mình sẽ được tặng Huân chương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện cảm ơn tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và trình bày ý kiến của mình: “Lúc này giặc Mỹ đang đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Tổ quốc Việt Nam chúng tôi. Chúng đang giết hại một cách cực kỳ dã man đồng bào tôi ở miền Nam cũng như ở miền Bắc. Trong lúc đó, riêng tôi lại được hưởng vinh dự đặc biệt to lớn và nhận Huân chương Lênin thì lòng tôi không yên chút nào”. Một lần nữa Người lại cho rằng mình chưa xứng đáng được nhận Huân chương vì sự nghiệp chưa hoàn thành.

Hai lần Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối chưa nhận Huân chương đều vì một lý do: Sự nghiệp giải phóng miền Nam chưa hoàn thành, Tổ quốc còn bị chia cắt, lòng Bác không yên khi nhận những tấm Huân chương vinh danh ấy.
Sáu năm trước ngày toàn thắng - ngày nhân dân miền Nam có thể trao tặng Người tấm Huân chương cao quý, Người đã đi xa.

Dù Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta không có một tấm Huân chương nào trên ngực nhưng Người vẫn có một tấm Huân chương cao quý, đó là tình yêu vô bờ bến của mỗi người con nước Việt và bạn bè tiến bộ trên toàn thế giới dành cho Người, “Bác Hồ - Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại”./.

Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC TÌNH ĐOÀN KẾT VĨ ĐẠI VIỆT NAM - CUBA!

     Khi Việt Nam phát động chương trình quyên góp ủng hộ Cuba nhân kỷ niệm 65 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lập tức xuyên tạc, phủ nhận bản chất của hoạt động nhân văn, nghĩa tình này. Không dừng lại ở đó, chúng còn lợi dụng để chống phá đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Vạch trần mưu đồ của các thế lực thù địch không chỉ là trách nhiệm chính trị mà còn là tình cảm, lương tâm của mỗi người trong gìn giữ, phát triển tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Cuba, bảo vệ đường lối đối ngoại của Đảng trong tình hình mới.

Đòn thâm hiểm vào nghĩa cử nhân văn

Hướng tới kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Cuba (1960-2025), Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giao chủ trì phối hợp với các bộ, ngành và các cơ quan, đơn vị tổ chức Chương trình vận động ủng hộ nhân dân Cuba với chủ đề “65 năm nghĩa tình Việt Nam-Cuba”. Chương trình mang ý nghĩa chính trị, đối ngoại nhân văn sâu sắc, thể hiện nghĩa tình thủy chung son sắt, trước sau như một của Việt Nam đối với đất nước Cuba anh em, nhất là trong bối cảnh nhân dân Cuba đang đối diện với nhiều khó khăn do cấm vận, thiên tai, dịch bệnh...

Không chỉ dừng lại ở hoạt động ủng hộ vật chất, chương trình còn mang thông điệp chính trị-ngoại giao: Việt Nam trước sau kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, gắn bó thủy chung với bạn bè truyền thống. Đây cũng là minh chứng sinh động cho sức sống của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Cuba, một mối quan hệ hiếm có trong lịch sử quan hệ quốc tế, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh tụ Fidel Castro đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước không ngừng vun đắp.

Thế nhưng, ngay sau khi chương trình vận động cấp quốc gia được phát động và trong suốt những ngày qua, nghĩa cử cao đẹp ấy trở thành mục tiêu công kích của các thế lực thù địch, phản động và những kẻ cơ hội chính trị. Chúng bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận bản chất nhân văn của chương trình vận động, từ đó hướng tới phủ nhận đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, nhân văn của Đảng, Nhà nước và ngoại giao nhân dân Việt Nam. 

Cần thấy rõ rằng, không phải ngẫu nhiên mà các thế lực thù địch, phản động lại chọn chính những chương trình nhân văn, nhân đạo để chống phá. Như một thuộc tính cố hữu, với chúng, các chương trình, hành động của Việt Nam càng nhân văn, nhân đạo bao nhiêu thì càng bị chúng tìm cách bôi nhọ bấy nhiêu. Chúng biết rõ mối quan hệ Việt Nam-Cuba là biểu tượng mẫu mực của tình đoàn kết quốc tế trong sáng. Vì thế, nếu làm xói mòn niềm tin vào biểu tượng ấy, chúng sẽ đạt mục tiêu kép: Vừa chia rẽ nhân dân với Đảng, vừa làm suy yếu, tổn hại đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Trong các chiến dịch chống phá gần đây, chúng sử dụng những thủ đoạn quen thuộc nhưng tinh vi hơn: Cắt ghép hình ảnh buổi quyên góp để rêu rao “ép buộc, hình thức”; dựng số liệu giả rồi so sánh ác ý với một số khó khăn trong nước để gieo rắc tâm lý bất mãn, hoài nghi; đánh tráo khái niệm, biến quyên góp tự nguyện thành “bắt buộc”; nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng không gian mạng, tạo “bầy đàn số”, khiến dư luận hiểu nhầm rằng đa số nhân dân phản đối chương trình quyên góp. Tất cả đều nhằm gieo mầm hoài nghi, cổ xúy chủ nghĩa vị kỷ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Từ việc công kích một hoạt động quyên góp cụ thể, chúng mở rộng sang phủ nhận bản chất của quan hệ Việt Nam-Cuba, coi đó là “di sản không cần duy trì”. Bằng lời lẽ quy chụp “phô trương, mua danh”, mưu đồ chúng hướng tới là phủ nhận đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và nhân văn của Đảng ta. Qua đó, hòng làm xói mòn tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng. Từ xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết Việt Nam-Cuba, các thế lực chống đối phủ nhận vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, cô lập Việt Nam với các đối tác và bạn bè truyền thống. Rõ ràng, âm mưu sâu xa của chúng là tạo ra “khoảng trống niềm tin”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội, từng bước phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

“Lá chắn thép” chống luận điệu xuyên tạc

Để nhìn thấu bản chất phản động trong những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, phản động và những kẻ cơ hội chính trị, chúng ta cần nắm chắc, hiểu sâu mối quan hệ đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Cuba trong suốt chiều dài 65 năm lịch sử. Được hình thành từ sớm, xuất phát từ lương tâm, tình cảm quốc tế trong sáng và truyền thống hữu nghị, nhân văn của hai dân tộc, quan hệ ấy đã vượt qua thử thách của chiến tranh, khoảng cách địa lý và sự khắc nghiệt của chính sách bao vây cấm vận, trở thành biểu tượng bất diệt của tình đồng chí.

Trong quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, đoàn kết quốc tế là một nguyên tắc căn bản, thể hiện ở việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả. Tư tưởng ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu và phát triển thành phương châm xuyên suốt: “Giúp bạn là tự giúp mình”, Người khẳng định: “Việt Nam và Cuba cách xa nhau hàng vạn dặm, nhưng lòng nhân dân hai nước chúng ta thì rất gần gũi nhau như anh em một nhà”(*), cùng chung khát vọng độc lập, tự do và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa. Từ trong khói lửa chiến tranh đến xây dựng hòa bình, từ những chuyến thăm lịch sử đến những công trình, dự án cụ thể, tinh thần quốc tế trong sáng ấy đã trở thành nền móng vững chắc của mối quan hệ thủy chung son sắt. Chính nhờ vậy, mỗi hoạt động quyên góp hôm nay không phải là sự kiện đơn lẻ mà là gạch nối giữa lịch sử và hiện tại, giữa hôm qua và hôm nay của một dòng chảy lớn-dòng chảy của tình đoàn kết vĩ đại Việt Nam-Cuba.

Thực tiễn lịch sử cũng đã khẳng định, quan hệ Việt Nam-Cuba là tài sản vô giá, là di sản thiêng liêng cần được bảo vệ, gìn giữ và truyền tiếp cho mai sau. Ngay từ tháng 12-1960, Cuba là quốc gia Tây bán cầu đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Chỉ 3 năm sau, Ủy ban Cuba đoàn kết với miền Nam Việt Nam ra đời (1963), thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ, kịp thời trong bối cảnh nhân dân ta đang bước vào giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ Quảng trường La Habana đến từng nhà máy, trường học, tinh thần “tất cả vì Việt Nam” lan tỏa khắp đảo quốc Caribe, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân hai nước.

Đặc biệt, ngày 2-1-1966, trong cuộc mít tinh tại Quảng trường cách mạng José Martí ở La Habana, nhân kỷ niệm 7 năm Ngày cách mạng Cuba thành công (1-1-1959 / 1-1-1966) và chào mừng Hội nghị đoàn kết Á-Phi-Mỹ Latin, lãnh tụ Fidel Castro khẳng định: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình!”. Lời bất hủ này thể hiện tình cảm ruột thịt, tinh thần sẵn sàng hy sinh, sẻ chia của nhân dân Cuba đối với người đồng chí, anh em Việt Nam, mãi mãi tạc vào thời gian và không gian về một tình bạn lớn trong lịch sử nhân loại.

Không chỉ là tinh thần, đỉnh cao của tình đoàn kết ấy chính là chuyến thăm lịch sử tháng 9-1973, khi Tổng tư lệnh Fidel Castro đến Quảng Trị. Hình ảnh một nguyên thủ quốc gia không quản hiểm nguy, đến tận nơi chiến trường ác liệt động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta trong cuộc trường chinh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là ký ức không thể phai mờ về người đồng chí, anh em Cuba trong lòng người Việt Nam. 

Trong những năm tháng gian khổ, chuyên gia và công nhân Cuba có mặt tại nhiều công trình trọng điểm, từ đường Trường Sơn, Bệnh viện Hữu nghị Đồng Hới, khách sạn Thắng Lợi cho đến các nhà máy, hạ tầng thiết yếu trên khắp đất nước Việt Nam. Những giọt mồ hôi, công sức ấy đã góp phần quan trọng giúp nước ta nhanh chóng hồi phục sau chiến tranh. Đồng thời, chính Cuba là quốc gia đi đầu trong vận động các quốc gia Mỹ Latin ủng hộ Việt Nam trở thành thành viên Liên hợp quốc năm 1977. Ngược lại, Việt Nam cũng luôn sẻ chia khó khăn với Cuba, từ lương thực đến thiết bị y tế, từ công nghệ đến chuyển giao kỹ thuật, thể hiện nghĩa tình anh em son sắt thủy chung.

Ngày nay, quan hệ hai nước tiếp tục được củng cố, nâng tầm, mở rộng toàn diện trên nhiều lĩnh vực, như: Quốc phòng, an ninh, tư pháp, khoa học-công nghệ, xây dựng, văn hóa, thể thao và giao lưu nhân dân; thúc đẩy các chương trình hợp tác trong từng ngành, lĩnh vực, cũng như giữa các tổ chức chính trị-xã hội của hai nước. Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba Miguel Díaz-Canel khẳng định: “Quan hệ Việt Nam-Cuba là biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí, tình bạn thủy chung”. Tổng Bí thư Tô Lâm cũng nhấn mạnh: Quan hệ hữu nghị thủy chung, hợp tác đặc biệt giữa hai nước là tài sản vô giá mà hai nước cần giữ gìn, phát huy và truyền lại cho các thế hệ mai sau. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi đoàn kết, ủng hộ Cuba là lương tâm và trách nhiệm của những người cộng sản và toàn thể nhân dân Việt Nam. Đây chính là sự tiếp nối đầy kiêu hãnh và tự hào của mối quan hệ đặc biệt, hiếm có trên thế giới.

Vì thế, chúng ta càng phải nhìn rõ bản chất phản động của các thế lực thù địch. Những luận điệu như “Việt Nam còn nghèo, không nên giúp Cuba” là phi lý, bởi lẽ chương trình quyên góp là hoàn toàn tự nguyện, không hề ảnh hưởng đến ngân sách an sinh xã hội. Ngược lại, từ nghĩa cử cao đẹp này, Việt Nam trở thành hình mẫu về người bạn thủy chung son sắt với bạn bè truyền thống.

Việc bóp méo, xuyên tạc cho rằng hoạt động quyên góp “để phô trương”, “để phục vụ lợi ích nhóm”... là những luận điệu phá hoại và thiếu căn cứ, bởi toàn bộ chương trình vận động quyên góp đều được công khai, minh bạch, có sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng.

Cho rằng quyên góp, ủng hộ Cuba là “mua danh đối ngoại” còn là sự vu khống trắng trợn. Bởi quan hệ Việt Nam-Cuba không phải là mối quan hệ hình thức mà là kết quả của 65 năm đồng cam cộng khổ, gắn bó máu thịt, chia ngọt sẻ bùi. Kết quả bước đầu cho thấy, tính đến ngày 5-9, chưa đầy một tháng sau lễ phát động, đã có gần 2 triệu lượt tham gia với giá trị ủng hộ hơn 400 tỷ đồng. Đây là minh chứng sinh động về tình cảm của nhân dân Việt Nam hướng về những người bạn ở đảo quốc Caribe.

Càng bóc tách, chúng ta càng thấy các luận điệu kia chỉ là những tiếng vọng yếu ớt, vô căn cứ, tự phủ định mình trước sự thật lịch sử và hiện tại. Âm mưu chống phá, thủ đoạn xuyên tạc không thể xóa nhòa tình đoàn kết vĩ đại Việt Nam-Cuba bởi nó được hun đúc bằng máu, mồ hôi, nước mắt, bằng tình cảm thủy chung son sắt của hai Đảng, hai Nhà nước, hai dân tộc. Đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc hoạt động quyên góp nói riêng, mối quan hệ Việt Nam-Cuba nói chung không chỉ là yêu cầu cơ bản, cấp thiết mà còn là trách nhiệm, tình cảm, lương tâm của mỗi người dân Việt Nam và Cuba./.
(*) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.179
Ảnh: Lễ phát động chương trình vận động ủng hộ nhân dân Cuba.
Yêu nước ST!

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ!

     Một trong những nội dung quan trọng mà dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV của Đảng xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới”; “Đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số quốc gia”. Đây là những định hướng chiến lược, tạo ra bước đột phá trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội trước bối cảnh công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển mạnh mẽ được kế thừa, phát triển từ Đại hội XIII. Tuy nhiên, công tác này đang bị các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận, cần nhận diện, đấu tranh.

Đổi mới phương thức lãnh đạo, chuyển đổi số là tất yếu khách quan

Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng ta không ngừng đổi mới tư duy về phương thức lãnh đạo của Đảng. Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3-1989), Đảng ta xác định, phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các cách thức, hình thức, phương pháp, quy chế, quy định, quy trình, lề lối làm việc... mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết và các nội dung lãnh đạo của Đảng trong từng thời kỳ cách mạng.

Trong kỷ nguyên số, khi công nghệ đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trở thành yêu cầu khách quan và mang tính cấp thiết, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Theo Báo cáo Digital 2024 của We Are Social, thế giới hiện có hơn 6,4 tỷ người sử dụng điện thoại thông minh, tạo nền tảng quan trọng cho quá trình số hóa toàn cầu. Tuy nhiên, tốc độ số hóa không chỉ đo bằng số người truy cập internet, mà được phản ánh qua việc các quốc gia triển khai Chính phủ điện tử, kinh tế số và dịch vụ công trực tuyến.

Ở Việt Nam, năm 2023, tỷ trọng kinh tế số đã chiếm khoảng 16,5% GDP, tăng nhanh so với mức 10,5% năm 2020; hơn 74% dịch vụ công trực tuyến đã được cung cấp toàn trình; hơn 77% doanh nghiệp nhỏ và vừa đã ứng dụng nền tảng số trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Những con số này cho thấy Việt Nam đang nằm trong nhóm quốc gia có tốc độ số hóa mạnh mẽ, vượt ra ngoài thước đo đơn thuần về tỷ lệ sử dụng internet. Đây là cơ hội, là động lực để đất nước phát triển nhanh, bền vững, song quá trình này cũng bộc lộ và nảy sinh không ít thách thức. 

Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, đồng thời là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị và xã hội nơi hệ thống chính trị xác lập. Vì thế, trước sự phát triển của thực tiễn xã hội, trước cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy, phổ cập internet, chuyển đổi số… thì đương nhiên Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo trên cơ sở kiên định, kiên trì mục tiêu tối thượng và nguyên tắc cốt lõi mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thực tiễn cho thấy lợi ích thiết thực từ chuyển đổi số mang lại đối với công tác lãnh đạo của Đảng nói chung, phương thức của Đảng nói riêng. Công nghệ số giúp Đảng nâng cao năng lực hoạch định, điều hành, kiểm tra, giám sát. Từ nền tảng công nghệ số, việc triển khai hệ thống quản lý văn bản điện tử, chữ ký số hay cổng thông tin điều hành đã tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng chi phí in ấn, lưu trữ mỗi năm, đồng thời tăng tính minh bạch và khả năng xử lý công việc nhanh chóng. Các công nghệ phân tích dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet vạn vật (IoT)… đang được áp dụng trong nhiều lĩnh vực quản lý, giúp Đảng, Nhà nước có cơ sở khoa học để dự báo, đánh giá và đưa ra quyết sách kịp thời. 

Tại hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm của Ban Chỉ đạo Trung ương triển khai nhiệm vụ các tháng cuối năm 2025 và ra mắt 3 nền tảng số phục vụ triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22-12-2024, về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: Đến ngày 30-6-2025, cả nước đã hoàn thành 76/106 nhiệm vụ theo Nghị quyết số 57-NQ/TW. Đặc biệt, Ủy ban nhân dân TP Hà Nội đã ban hành Công văn số 4414/UBND-ĐMPT ngày 5-8-2025, yêu cầu toàn bộ lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức sử dụng chữ ký số chuyên dùng công vụ để xử lý hồ sơ công việc trên mạng; khẳng định rằng 100% cán bộ, công chức, lãnh đạo thuộc phạm vi quản lý phải áp dụng chữ ký số trong giao dịch điện tử. Ngoài ra, theo Chỉ thị số 51-CT/TW ngày 8-8-2025 của Ban Bí thư về đổi thẻ đảng viên, thẻ Đảng viên mới được tích hợp mã định danh cá nhân, liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; quá trình cấp thẻ được thực hiện điện tử trên nền tảng dữ liệu số nhằm đơn giản hóa thủ tục quản lý, nâng cao minh bạch, đồng bộ dữ liệu đảng viên trên toàn quốc.

Công nghệ số, nền tảng internet mở ra cầu nối mới giữa Đảng với nhân dân, giúp chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân nhanh chóng và minh bạch. Thông qua công nghệ số và các nền tảng trên internet, Đảng không chỉ truyền tải thông tin mà còn tiếp nhận phản hồi, lắng nghe đầy đủ ý kiến, nguyện vọng của nhân dân. Đây là cơ sở tăng cường đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin chính trị. Số liệu từ Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cho thấy, hiện có hơn 90% bộ, ngành và địa phương đã thiết lập kênh thông tin số để tương tác với người dân và doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo. 

Ngoài ra, phương thức lãnh đạo của Đảng có nhiều đổi mới, phù hợp với bối cảnh số, như: Số hóa văn bản, giao ban trực tuyến, hệ thống quản lý thông tin thông minh, ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, giám sát, đánh giá đảng viên... góp phần tiết kiệm nhân lực, kinh phí, để dành nguồn lực cho sự phát triển.

Vạch trần luận điệu xuyên tạc, phủ nhận việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là tất yếu khách quan, bảo đảm cho tiền đồ vững chắc của Đảng và dân tộc. Tuy nhiên, đây cũng là nơi mà các thế lực thù địch, phản động và những kẻ cơ hội chính trị tập trung chống phá. Từ việc thay đổi phương thức lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới nói chung, trên cơ sở chuyển đổi số nói riêng, chúng phủ nhận, xuyên tạc, bóp méo phương thức lãnh đạo của Đảng ta. 

Nguy hiểm hơn, lợi dụng mạng internet, nền tảng mạng xã hội, trên cơ sở công nghệ số, trí tuệ nhân tạo AI, các thế lực thù địch, phản động sản xuất, lan truyền tin giả. Chúng cố tình xuyên tạc, phủ nhận chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, phủ nhận thành quả cách mạng mà dân tộc ta phải đổ bao xương máu, công sức mới giành được.

Lợi dụng việc Đảng ta đổi mới phương thức lãnh đạo, các thế lực thù địch đánh tráo khái niệm để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, cho rằng Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ năng lực để lãnh đạo đất nước trong tình hình mới, đặc biệt là trong kỷ nguyên số với những biến đổi nhanh chóng về công nghệ và xã hội.

Mặt khác, chúng cho rằng, công nghệ và trí tuệ nhân tạo có thể thay thế hoàn toàn vai trò của Đảng, những quyết sách của Đảng sẽ trở nên lỗi thời trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ. Chúng đẩy mạnh tuyên truyền rằng trong điều kiện mới, vai trò của khoa học công nghệ và đội ngũ trí thức ngày càng tăng, nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, thì Đảng Cộng sản Việt Nam không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước. 

Đây là thủ đoạn tinh vi, cố tình đánh tráo khái niệm, bởi công nghệ số chỉ là công cụ, phương tiện trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Mục tiêu đúng đắn, giải pháp khoa học của Đảng thông qua cương lĩnh, chủ trương, đường lối, nghị quyết, qua công tác tư tưởng, qua tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên và đi vào thực tiễn mới là nhân tố quyết định vai trò lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn, Đảng luôn nắm bắt đầy đủ, kịp thời, đánh giá đúng tình hình, có phương phương thức lãnh đạo đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, yêu cầu của cách mạng Việt Nam.

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, có 4 Nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị vừa được ban hành là những “trụ cột thể chế nền tảng”, sẽ là động lực mạnh mẽ đưa đất nước cất cánh trong giai đoạn phát triển mới. Vai trò của các nghị quyết này được Tổng Bí thư mô tả là: Thể chế nền tảng, nhằm kiến tạo môi trường phát triển mới, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế, phát triển khu vực tư nhân, cải thiện pháp luật, tất cả nhằm mục tiêu đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, nhanh và bền vững. 

Tổng Bí thư cũng nhấn mạnh: Muốn đạt hiệu quả cao nhất thì phải triển khai đồng bộ các nghị quyết này, trách nhiệm rõ ràng, hành động mạnh mẽ, đổi mới tư duy, không để chậm trễ; biến khát vọng thành hành động, biến tiềm năng thành sức mạnh thực tế. Điều đó cho thấy, vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố then chốt soi đường cho sự phát triển của cách mạng, của đất nước. Từ những chủ trương, đường lối, nghị quyết và ngay chính những nghị quyết về chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo của Đảng là minh chứng sinh động cho đường đối lãnh đạo của Đảng và phương thức lãnh đạo của Đảng. 

Kiên định mục tiêu, giữ vững nguyên tắc trong chuyển đổi số và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Một trong những giải pháp quan trọng đầu tiên mà Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27-9-2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư xác định là phải đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội.

Theo đó, trong bối cảnh chuyển đổi số, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là tất yếu khách quan, nhưng phải giữ vững những nguyên tắc bất biến trên cơ sở nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với mục tiêu xây dựng nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc theo con đường xã hội chủ nghĩa. Chuyển đổi số, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng chỉ thực sự có ý nghĩa khi hướng tới phục vụ mục tiêu này, củng cố nền tảng và tăng cường sức mạnh chế độ xã hội chủ nghĩa. 

Đảng ta là một Đảng cách mạng, ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta không còn lợi ích nào khác. Vì thế, việc đổi mới phương thức lãnh đạo trong bối cảnh chuyển đổi số, Đảng xác định rõ việc “lấy dân làm gốc”, tin tưởng và dựa vào sức mạnh của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách về chuyển đổi số. Ứng dụng công nghệ số phải tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý kiến của nhân dân, tăng cường sự tương tác giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Đoàn kết thống nhất trong Đảng là sức mạnh to lớn để vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Trong quá trình chuyển đổi số, trước nhiều vấn đề mới và phức tạp nảy sinh, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải được tăng cường, kỷ luật, kỷ cương phải được giữ vững, tạo ra sự đồng thuận cao trong toàn Đảng để thực hiện thành công quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo và chuyển đổi số quốc gia.

Vì thế, trong bối cảnh chuyển đổi số, cần chú trọng đến việc tuyên truyền, giáo dục về những cơ hội và thách thức của chuyển đổi số; đẩy mạnh đổi mới, sáng tạo đi đôi với kiểm tra, giám sát chặt chẽ; quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong quá trình chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ số để tăng cường tính minh bạch, công khai, giám sát và phát hiện sớm các hành vi vi phạm.

Ngoài ra, phải lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, đặc biệt là những cán bộ có kiến thức, kỹ năng về công nghệ số, có tư duy đổi mới, sáng tạo và người đứng đầu. Đồng thời, cần ứng dụng công nghệ số vào quản lý cán bộ, đánh giá cán bộ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, bảo đảm xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Đặc biệt, đúng như Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã đề cập, trong đẩy mạnh chuyển đổi số đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong kỷ nguyên số, không gian mạng là mặt trận quan trọng, nơi các thế lực thù địch thường xuyên chống phá, xuyên tạc. Do đó, Đảng phải chủ động nắm chắc tình hình, tăng cường lực lượng, phương tiện để đấu tranh kịp thời, hiệu quả, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Công tác này cần gắn kết chặt chẽ giữa tấn công và phòng ngừa, giữa "xây" và "chống"; vừa chủ động vạch trần bản chất phản động, xuyên tạc của các luận điệu sai trái, vừa tích cực xây dựng và lan tỏa những thông tin chính thống, tích cực, giàu tính định hướng. Đồng thời, cần chú trọng xây dựng lực lượng chuyên trách, đủ bản lĩnh chính trị, năng lực công nghệ; sử dụng công cụ số hiện đại để phát hiện, ngăn chặn, phản bác thông tin xấu độc, góp phần củng cố niềm tin xã hội và bảo đảm sự ổn định chính trị, tư tưởng trong tình hình mới./.
Ảnh 1: Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan các gian hàng trưng bày tại Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tháng 1-2025.

Ảnh 2: Tổng Bí thư Tô Lâm thăm phòng thực hành STEM của Trường Trung học cơ sở Cầu Giấy, Hà Nội, ngày 14-5-2025.

QVB ST!

TỈNH TÁO NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI HOẠT ĐỘNG “XÂM LĂNG VĂN HÓA” HIỆN NAY!

     Là một nội dung quan trọng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta trong những năm qua,“xâm lăng văn hóa” là hoạt động làm lệch chuẩn hệ giá trị văn hóa, đạo đức và chuẩn mực con người Việt Nam, từ đó từng bước làm “tự suy thoái”, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” từ bên trong mỗi con người. Qua đó, nhằm làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đưa nước ta đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa...

Con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng thụ hưởng văn hóa, đồng thời cũng là thước đo văn hóa của dân tộc và thời đại. Văn hóa vừa là cội nguồn, vừa là gốc rễ làm nên sức mạnh nội sinh của đất nước, của dân tộc. Theo Từ điển tiếng Việt, “xâm lăng” là đánh phá để cướp nước, chiếm của người khác; “xâm lăng văn hóa” là hoạt động thể hiện quyền lực mềm của một quốc gia này đối với một quốc gia khác. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, “xâm lăng văn hóa” là một trong những phương thức, thủ đoạn được kẻ địch triệt để lợi dụng nhằm thực hiện chiến dịch phá hoại tư tưởng với các nước XHCN, trong đó có nước ta.   

Qua nghiên cứu, có thể thấy, hoạt động “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch, phản động đối với nước ta thể hiện trên các phương diện sau: 

Về chủ thể tiến hành, đó là các tổ chức phản động lưu vong, các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, các tổ chức, cá nhân phản động trong nước triển khai các hoạt động “xâm lăng văn hóa” đối với nước ta. Đối tượng của hoạt động “xâm lăng văn hóa” mà kẻ địch hướng tới chính là các tầng lớp nhân dân, trước hết là học sinh, sinh viên, các cán bộ, đảng viên đang công tác trong hệ thống chính trị và các văn nghệ sĩ trẻ, tác giả trẻ, nhà báo trẻ của nước ta. Về nội dung, kẻ địch thông qua tuyên truyền, tán phát các sản phẩm văn hóa thể hiện chuẩn mực văn hóa, đạo đức, quan điểm, lối sống phương Tây; cổ xúy cho chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng để triệt tiêu tận gốc những giá trị cốt lõi, nền tảng của dân tộc, làm lệch chuẩn hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người Việt Nam.

Chúng còn tán phát các sản phẩm văn hóa xuyên tạc thành tựu đổi mới của đất nước, cho rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, Việt Nam nên thay đổi Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản cho “phù hợp với xu thế phát triển”. Qua đó, kẻ địch áp đặt các giá trị văn hóa và lối sống phương Tây lên các giá trị và chuẩn mực của dân tộc ta, phá hoại bản sắc văn hóa của dân tộc, phá hoại nền tảng tư tưởng XHCN của đất nước ta. Từ sự chuyển biến về văn hóa dần lan sang lĩnh vực chính trị, hình thành ý thức chống đối về chính trị, chống lại sự lãnh đạo của Đảng, chống phá chế độ XHCN ở nước ta.   

Về phương thức, thủ đoạn, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các kênh ngoại giao, hợp tác quốc tế với nước ta trên mọi lĩnh vực xã hội như: Kinh tế, thương mại, giáo dục-đào tạo, y tế, văn hóa; qua hợp tác trên các lĩnh vực xuất bản, bưu chính viễn thông, báo chí, truyền thông; qua các cuộc hội thảo, tọa đàm quốc tế để chuyển tải các giá trị, chuẩn mực đạo đức, văn hóa phương Tây vào trong nước. Đặc biệt, với sự phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, kẻ địch triệt để lợi dụng thế mạnh của internet, mạng xã hội để “xâm lăng văn hóa” đối với nước ta. Chúng đã lập hàng nghìn trang web, blog, hàng trăm cơ quan báo, tạp chí, hàng trăm đài phát thanh đặt một số quốc gia có chương trình tiếng Việt để tuyên truyền, tán phát các sản phẩm văn hóa phương Tây.

Qua công tác đấu tranh, các cơ quan chức năng đã phát hiện hằng năm có hơn 3.000 tài liệu chiến tranh tâm lý phá hoại tư tưởng, 28.000 thư ân xá quốc tế, 11.000 ấn phẩm được đưa vào trong nước bằng nhiều con đường khác nhau. Điển hình như năm 2020, đã phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu, trong đó có 31 trang mạng, blog, 55 kênh YouTube, 49 trang fanpage, 765 tài khoản Facebook, 149 hội nhóm chống đối cực đoan, đăng tải hơn 800.000 bài viết, video, clip có nội dung xấu, độc hại vào trong nước. Kẻ địch còn tìm cách tác động các chính khách trong Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với điều kiện thay đổi cải cách chính trị, pháp luật theo kiểu phương Tây, thay thế hệ tư tưởng XHCN bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản. Chúng chỉ đạo số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, các tổ chức, cá nhân phản động trong nước tiếp cận các tầng lớp nhân dân, nhất là giới trí thức, sinh viên, văn nghệ sĩ và một số cán bộ, đảng viên để tuyên truyền, tán phát các tài liệu, ấn phẩm văn hóa phương Tây nhằm “xâm lăng văn hóa” đối với nước ta. 

Để làm “nguyên liệu”, “phụ gia” nhằm kích động, lôi kéo người dân tham gia thực hiện các hoạt động “xâm lăng văn hóa”, kẻ địch đã tìm cách xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo sự kiện thực tế diễn ra trong nước hoặc trước những sự việc, hiện tượng diễn ra trong thực tế, mặc dù chưa có kết luận rõ ràng từ phía cơ quan chức năng, các đối tượng đã quy chụp, kết luận, hướng lái theo ý chủ quan của chúng. Chúng còn kết hợp giữa thông tin có thật với sự kiện không có trong thực tế để làm lẫn lộn đúng-sai, thật-giả; ngụy tạo thông tin tạo tâm lý hoang mang trong xã hội. Các đối tượng còn triệt để lợi dụng, khoét sâu vào những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, lợi dụng các vụ việc phức tạp xảy ra ở trong nước, đặc biệt là lợi dụng việc xuyên tạc chủ trương của Đảng, Nhà nước về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy để kích động, lôi kéo người dân tham gia thực hiện các hoạt động “xâm lăng văn hóa” đối với nước ta.

Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta, công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động “xâm lăng văn hóa” đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, còn tồn tại những hạn chế nhất định trong công tác này, như: Việc phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam hiện nay chưa đạt yêu cầu thực tiễn đặt ra. Chúng ta đang thiếu những tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật lớn phản ánh sinh động tầm vóc của công cuộc đổi mới mà đất nước đang thực hiện. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong công tác tuyên truyền và đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng còn có những hạn chế. Đáng chú ý là có không ít cán bộ, đảng viên lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn chống hoạt động “xâm lăng văn hóa”.

Sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Văn hóa còn thì dân tộc còn”. Văn kiện Đại hội XIII cũng nhấn mạnh: “Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên... Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị-xã hội, thuần phong mỹ tục”.

Để phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hiệu quả hoạt động “xâm lăng văn hóa” trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như sau:

Một là, công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động “xâm lăng văn hóa” luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng; sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn. Chủ động đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng bảo đảm văn hóa phát triển đúng định hướng và sáng tạo ra những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị, có tầm vóc thời đại, phản ánh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước và những thành tựu đạt được trong việc xây dựng và phát triển đất nước. 

Hai là, tăng cường giáo dục, bồi đắp hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới; nâng cao niềm tự hào, tự tôn dân tộc và ý thức trách nhiệm cho nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân ái, nhân văn trong truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Giáo dục tình yêu gia đình, quê hương, đất nước cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, gắn với phát huy dân chủ, bảo đảm đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân; tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống của mỗi người Việt Nam. Phòng ngừa và ngăn chặn hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực, tệ nạn xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay. Các cơ quan chức năng cần quan tâm tham mưu Đảng, Nhà nước xây dựng và phát huy nền công nghiệp văn hóa, coi đây là một trong những lĩnh vực ưu tiên trong quá trình hội nhập quốc tế để mang lại nhiều sản phẩm văn hóa tốt đẹp, lành mạnh phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân và xuất khẩu những sản phẩm văn hóa đặc trưng của dân tộc ra thế giới, góp phần khẳng định, nâng cao vị thế quốc gia, hình ảnh dân tộc ta trên trường quốc tế. 

Ba là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu và hiệu quả của công tác tuyên truyền và tư tưởng, lý luận; làm cho cán bộ, đảng viên và người dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên, thấy rõ bản chất của thông tin phản động, xuyên tạc; có khả năng nhận diện và “miễn dịch” các nội dung thông tin xấu độc, nguy hại đối với nước ta.

Bốn là, tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản; chủ động phát hiện, ngăn chặn các loại ấn phẩm, văn hóa phẩm độc hại từ nước ngoài vào trong nước. Đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ mới, trang bị các phương tiện, thiết bị hiện đại nhằm phục vụ hiệu quả công tác quản lý, kiểm duyệt, kiểm tra trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, internet... đáp ứng kịp thời yêu cầu trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng khoa học-công nghệ để xuất bản, tán phát các tài liệu, ấn phẩm nhằm “xâm lăng văn hóa” đối với Việt Nam.   

Năm là, tiếp tục thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho các tầng lớp nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; không ngừng nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế nhằm khẳng định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là minh chứng sinh động nhất nhằm bảo vệ vị thế, vai trò của nền văn hóa XHCN tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc ta, thể hiện sức sống mãnh liệt và tính đúng đắn của hệ tư tưởng XHCN của Đảng ta đối với đời sống xã hội, qua đó đập tan luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch và phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả hoạt động “xâm lăng văn hóa” của chúng đối với nước ta./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG DỰ, CHỈ ĐẠO ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LẦN THỨ I.

     Sáng 23-9, Đảng bộ ĐỘI tỉnh Thái Nguyên tổ chức khai mạc Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 (phiên chính thức). Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh dự đại hội. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự, phát biểu chỉ đạo đại hội.

Tham dự đại hội có các đồng chí lãnh đạo một số ban, bộ, ngành Trung ương; Thượng tướng Phạm Trường Sơn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên; nguyên lãnh đạo tỉnh Bắc Thái, Bắc Kạn, Thái Nguyên; lãnh đạo, chỉ huy một số tổng cục, cơ quan, đơn vị thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; đại biểu lãnh đạo Quân khu 1; đại biểu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng LLVT nhân dân, cùng 443 đảng viên ưu tú đại diện các đảng viên trong toàn Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên.

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 được tiến hành theo phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển”, với chủ đề: “Tăng cường xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện; bảo đảm quốc phòng, an ninh; phát huy truyền thống đoàn kết, đột phá phát triển nhanh, bản sắc, bền vững; nâng cao toàn diện đời sống của nhân dân, xây dựng tỉnh Thái Nguyên trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao trước năm 2030”.

Báo cáo chính trị tại đại hội đánh giá, trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, tập thể Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn (trước đây) và tập thể cấp ủy tỉnh Thái Nguyên (sau hợp nhất) luôn đoàn kết, nỗ lực cao; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội đạt kết quả tích cực.

Cùng với đó, đã quyết liệt triển khai thực hiện sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính bảo đảm nghiêm túc, hiệu quả và nhiều nội dung vượt tiến độ. Đến nay, bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động đồng bộ, thông suốt, ổn định.

Các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cơ bản đạt và vượt mục tiêu nghị quyết đề ra; tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7,3%/năm.

Đến năm 2025, tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh đạt khoảng trên 202.000 tỷ đồng, gấp 1,6 lần năm 2020; GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 119 triệu đồng, gấp 1,5 lần so với năm 2020.

Cùng với đó, hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư; công tác chuyển đổi số, phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ được đẩy mạnh và đạt kết quả tích cực; lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế được quan tâm, an sinh xã hội được bảo đảm; tỷ lệ giảm nghèo vượt kế hoạch đề ra.

Công tác quốc phòng, an ninh được bảo đảm; xây dựng, củng cố thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được, báo cáo cũng thẳng thắn nhìn nhận, đánh giá cụ thể về những hạn chế, yếu kém trên các lĩnh vực; chỉ ra nguyên nhân, đồng thời đúc kết được 5 bài học kinh nghiệm từ thực tiễn thực hiện nhiệm vụ trong nhiệm kỳ 2020 - 2025.

Trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành quả đạt được trong nhiệm kỳ qua, đánh giá toàn diện thuận lợi, khó khăn, đại hội đề ra 5 quan điểm phát triển; xác định mục tiêu, 36 nhóm chỉ tiêu chủ yếu trên các lĩnh vực, 7 nhiệm vụ trọng tâm, 3 khâu đột phá phát triển và các giải pháp thực hiện.

Trong đó, mục tiêu tổng quát được Đảng bộ tỉnh xác định là: Tăng cường xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm quốc phòng, an ninh; phát huy truyền thống đoàn kết, đột phá phát triển nhanh, bản sắc, bền vững; xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; nâng cao toàn diện đời sống của nhân dân, xây dựng tỉnh Thái Nguyên trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao trước năm 2030, phấn đấu trở thành tỉnh phát triển, có thu nhập cao trước năm 2045.

Phát biểu chỉ đạo đại hội, Đại tướng Phan Văn Giang đánh giá báo cáo chính trị tại đại hội đã thể hiện tinh thần đổi mới, sáng tạo, trí tuệ, dân chủ và đoàn kết; phản ánh khách quan, trung thực kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2020 - 2025; dự báo tình hình và đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, các chủ trương và giải pháp cho nhiệm kỳ 2025 - 2030, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển của tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới.

Đồng thời khẳng định, những kết quả đạt được sau 40 năm đổi mới và trong nhiệm kỳ qua đã làm thay đổi rất lớn diện mạo của tỉnh, mang lại cho tỉnh nhiều nguồn lực mới, tạo tiền đề thuận lợi để Thái Nguyên phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn nữa trong những năm tiếp theo. Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Đại tướng Phan Văn Giang ghi nhận, đánh giá cao và nhiệt liệt chúc mừng, biểu dương những thành tích mà Đảng bộ, chính quyền, quân và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã đạt được trong nhiệm kỳ 2020 - 2025.

Trong thời gian tới, để đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2025 - 2030 như trong báo cáo chính trị xác định, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên cần xác định rõ tiềm năng, lợi thế của địa phương, lựa chọn nhiệm vụ trọng tâm và khâu đột phá để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo bước chuyển biến mới trong phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với đó, quan tâm công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch; xác định rõ vai trò, vị trí của Thái Nguyên trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, vùng Thủ đô Hà Nội; coi trọng việc liên kết vùng để tạo động lực phát triển.

Tập trung phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao có lợi thế cạnh tranh, thân thiện môi trường, sử dụng tiết kiệm tài nguyên đất đai, nhân lực, tạo nguồn thu ngân sách. Gắn kết công nghiệp địa phương với công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để hỗ trợ cùng phát triển; tập trung nguồn lực phát triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp khu vực của tỉnh để thu hút đầu tư, tận dụng tốt lợi thế về giao thông vận tải.

Đại tướng Phan Văn Giang lưu ý, tỉnh Thái Nguyên cần tiếp tục tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã; thực hiện hợp tác liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; giữ vững và nâng cao thương hiệu “Trà Thái Nguyên"; khai thác tiềm năng và thế mạnh để ngành du lịch, dịch vụ trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.

Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Xây dựng, phát triển văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc gắn với mục tiêu phát triển con người. Quan tâm lãnh đạo công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm; thực hiện tốt chủ trương phát triển nhà ở cho công nhân, người lao động có thu nhập thấp; chăm lo tốt các chế độ, chính sách đối với người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, vấn đề an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững; tích cực, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường.

Cùng với các nhiệm vụ trên, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên cần chú trọng đến công tác bảo đảm quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với kinh tế; xây dựng lực lượng vũ trang, nhất là lực lượng quân sự địa phương vững mạnh toàn diện. Triển khai sâu rộng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; tích cực đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm môi trường an toàn, thuận lợi để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội. Lãnh đạo nâng cao vai trò, chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và khối đại đoàn kết toàn dân.

Bên cạnh đó, tăng cường lãnh đạo xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng; đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể từ cấp tỉnh đến cơ sở, thực hiện tốt chế độ lãnh đạo tập thể, đi đôi với phát huy sự chủ động, sáng tạo, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu.

Trong chương trình phiên chính thức ngày 23-9, cùng với các nội dung thảo luận, đại hội đã nghe công bố các quyết định của Bộ Chính trị chỉ định Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và Đoàn đại biểu của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Theo đó, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2025-2030 gồm 65 đồng chí./.




Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH VỚI THỦ ĐOẠN CHIA RẼ “Ý ĐẢNG VỚI LÒNG DÂN”, ĐƯA ĐẤT NƯỚC VƯƠN MÌNH VÀO KỶ NGUYÊN MỚI!

     Thực tiễn 95 năm qua đã chứng minh “ý Đảng” và “lòng dân” hòa quyện, thống nhất, tạo nên sức mạnh vô địch, đưa đất nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Sự gắn bó mật thiết ấy không chỉ là truyền thống quý báu, mà còn là yếu tố quyết định sự thành công của cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.

“Ý Đảng” và “lòng dân”: Sức mạnh nội sinh quyết định

Bàn về “ý Đảng” và “lòng dân” là nói đến hai thành tố nguồn gốc, then chốt, trực tiếp quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế ngày nay. “Ý Đảng” luôn gắn liền với “lòng dân” là vấn đề mang tính tất yếu, khách quan.

“Ý Đảng” là sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, thể hiện ở đường lối chính trị, ở nghệ thuật tuyên truyền, vận động, giáo dục, tập hợp, tổ chức quần chúng tham gia các lực lượng cách mạng.

“Lòng dân” là lòng yêu nước, lòng cố kết dân tộc, tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

“Ý Đảng với lòng dân” là mối quan hệ máu thịt, không thể tách rời, được xây đắp từ niềm tin, sự đồng hành và trách nhiệm của Đảng và nhân dân, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc luôn bắt nguồn từ sự kết hợp chặt chẽ giữa “ý Đảng” và “lòng dân”. Mối quan hệ này không phải ngẫu nhiên có được, mà là kết quả của quá trình Đảng kiên trì rèn luyện, đồng hành, chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân; đồng thời cũng là sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân vào đường lối đúng đắn, sự hy sinh, cống hiến của Đảng vì sự nghiệp cách mạng.

Nhân dân không chỉ là đối tượng phục vụ, mà còn là chủ thể, vai trò trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước. Lòng dân chính là thước đo sinh động, biểu thị cho sự đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. “Ý Đảng với lòng dân” là sự hòa quyện giữa trí tuệ lãnh đạo, hoạch định chiến lược của Đảng với khát vọng, nhu cầu và sức sáng tạo của nhân dân. Sự thống nhất này là cội nguồn tạo nên sức mạnh nội sinh, vô cùng to lớn, có khả năng biến ý chí thành hiện thực, biến thử thách thành cơ hội, biến khó khăn thành động lực phát triển. Chính sức mạnh nội sinh ấy đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi cuộc chiến tranh xâm lược, khắc phục hậu quả thiên tai, kinh tế khủng hoảng hay đại dịch toàn cầu.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh: Từ thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - thành quả 15 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; đến 30 năm kháng chiến trường kỳ đầy gian khổ, hy sinh, đánh thắng hai đế quốc sừng sỏ Pháp và Mỹ, non sông thu về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Và sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, GDP bình quân đầu người năm 2024 đã tăng lên 4.700 USD, gấp 11 lần so với năm 1986 (430,2 USD); Việt Nam hiện nằm trong top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ 4 trong khối ASEAN.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Hiện nay là thời điểm ý Đảng hòa quyện với lòng dân trong khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sớm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, sánh vai với các cường quốc năm châu. Có thể thấy, đây là thời điểm “hội tụ” tổng hòa các lợi thế, sức mạnh để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới”.

Khi đất nước đang đứng trước vận hội lớn để phát triển nhanh và bền vững, việc phát huy sức mạnh nội sinh từ mối quan hệ “ý Đảng với lòng dân” càng trở nên cấp thiết. Đó không chỉ là yếu tố quyết định để thực hiện thành công các đột phá chiến lược, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là “lá chắn” vững vàng chống lại các âm mưu, thủ đoạn phá hoại từ bên ngoài.

Tuy nhiên, để giữ vững và phát huy sức mạnh đó, Đảng phải luôn lắng nghe, thấu hiểu và đồng hành cùng dân; phải thật sự “lấy dân làm gốc” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định. Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân; mọi hành động của Đảng và chính quyền phải thể hiện tinh thần phụng sự, tôn trọng và chăm lo cho nhân dân. Khi người dân cảm thấy mình là trung tâm của mọi quyết sách, là chủ thể của mọi nỗ lực phát triển, họ sẽ sẵn sàng cống hiến, hy sinh và bảo vệ những gì mình đang góp sức xây dựng.

Ngược lại, nếu “ý Đảng” không phản ánh đúng “lòng dân”, hoặc cán bộ, đảng viên xa rời thực tiễn, cửa quyền, quan liêu, tham nhũng... sẽ làm suy giảm lòng tin, làm tổn thương khối đại đoàn kết, dẫn đến sự chia rẽ nội bộ. Vì thế, việc xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, có đạo đức cách mạng, năng lực thực tiễn, gần dân, trọng dân, vì dân là yếu tố then chốt để duy trì sự gắn bó giữa Đảng với dân.

Nói cách khác, “ý Đảng” muốn trở thành sức mạnh hiện thực thì phải bắt rễ từ “lòng dân”; còn “lòng dân” muốn phát huy trọn vẹn tiềm năng thì cần được dẫn dắt bởi “ý Đảng” đúng đắn, kịp thời. Sự thống nhất này là động lực căn bản, lâu dài và bền vững cho mọi sự phát triển.

Bản chất và âm mưu thâm độc của thủ đoạn chia rẽ “ý Đảng với lòng dân”

Thủ đoạn chia rẽ “ý Đảng với lòng dân” là một trong những mưu đồ phản động nguy hiểm, có tính hệ thống, được các thế lực thù địch triển khai lâu dài, bền bỉ và tinh vi. Bản chất sâu xa của thủ đoạn này là nhằm phá vỡ niềm tin chính trị - yếu tố cốt lõi gắn kết giữa Đảng với nhân dân, làm cho nhân dân mất niềm tin vào con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, từ đó hoài nghi, từng bước làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các thế lực thù địch lợi dụng những khó khăn trong quá trình phát triển đất nước, những khuyết điểm trong điều hành, quản lý nhà nước để kích động, biểu tình trái phép hoặc những sai phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức để quy chụp đó là “bản chất của Đảng”. Chúng cố tình đánh tráo khái niệm, đồng nhất cá nhân sai phạm với sai lầm của hệ thống, từ đó tạo ra cái nhìn lệch lạc trong dư luận xã hội, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bất mãn trong nhân dân.

Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số và toàn cầu hóa, các thế lực phản động triệt để lợi dụng không gian mạng - môi trường khó kiểm soát để tung ra các thông tin giả, nội dung xuyên tạc, thổi phồng sự thật, cắt ghép phát ngôn, làm giả hình ảnh, video, nhằm bóp méo chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước. Các vụ việc phức tạp, nhạy cảm liên quan đến đất đai, môi trường, khiếu kiện, xử lý cán bộ... đều bị chúng khai thác triệt để, tạo nên làn sóng phản ứng tiêu cực, tạo “điểm nóng” dư luận, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc.

Âm mưu thâm độc hơn, chúng tuyên truyền rằng “ý Đảng” và “lòng dân” đang mâu thuẫn, tách rời; rằng Đảng không còn vì dân, chỉ chăm lo lợi ích của một nhóm người. Chúng hướng lái nhận thức của nhân dân theo hướng phủ nhận toàn diện chế độ, cổ súy đa nguyên, đa đảng, cho rằng chỉ có thay đổi thể chế mới mang lại dân chủ, thịnh vượng. Đây chính là mục tiêu cuối cùng của chúng: Phủ định vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Không dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn triệt để khai thác tâm lý xã hội trong thời đại biến động nhanh, khi đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, khoảng cách giàu nghèo có chiều hướng gia tăng, dễ phát sinh tâm lý so sánh, hoài nghi. Chúng đánh vào cảm xúc, cảm tính của người dân bằng những ngôn từ giật gân, phản cảm, chiêu bài “vì dân giả tạo” để tạo hình ảnh đối lập với Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân, từ đó dẫn dụ, lôi kéo người dân ủng hộ các lực lượng chống đối chính quyền.

Tính chất nguy hiểm của thủ đoạn này không chỉ ở phương thức tuyên truyền tinh vi, khó nhận diện, mà còn ở hậu quả mà nó gây ra: Làm xói mòn niềm tin vào hệ thống chính trị, làm suy giảm sự ủng hộ của nhân dân đối với Đảng, làm phai nhạt lý tưởng cách mạng trong thế hệ trẻ và làm tổn thương mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân - cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam.

Chính vì vậy, đấu tranh làm thất bại thủ đoạn chia rẽ “ý Đảng với lòng dân” phải được xem là một nhiệm vụ trọng yếu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo dựng niềm tin xã hội, khơi dậy ý chí, sức mạnh nội sinh, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, để đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Chủ động nhận diện và làm thất bại âm mưu chia rẽ “ý Đảng với lòng dân”

Để bảo vệ sự ổn định chính trị, giữ vững niềm tin của nhân dân vào Đảng, một trong những nhiệm vụ cấp thiết, có tính chiến lược lâu dài là chủ động nhận diện và kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chia rẽ “ý Đảng với lòng dân”. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính thời sự, mà còn là trọng trách lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.

Trước hết, cần khẳng định rằng, chủ động nhận diện không chỉ đơn thuần là phát hiện các biểu hiện sai trái, lệch lạc, mà còn phải nhìn nhận đúng bản chất, quy luật hoạt động và hình thức biểu hiện ngày càng tinh vi, biến hóa khôn lường của các thế lực thù địch. Chúng không công khai chống đối, mà lẩn khuất trong những vấn đề được nhân dân quan tâm.

Trước tình hình đó, để làm thất bại thủ đoạn chia rẽ “ý Đảng với lòng dân”, việc đầu tiên là hệ thống chính trị phải tăng cường bản lĩnh nhận diện, nâng cao năng lực phản ứng chính sách nhanh nhạy và minh bạch hóa thông tin. Những chủ trương, chính sách lớn, những vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn phải được giải thích công khai, rõ ràng, kịp thời. Từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu trong lời nói và hành động, sâu sát cơ sở, lắng nghe và giải quyết thấu đáo tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Đảng và Nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị công, đảm bảo mọi quyết sách đều hướng đến phục vụ nhân dân. Mọi biểu hiện quan liêu, xa dân, thiếu trách nhiệm, vô cảm trước bức xúc của dân phải bị xử lý nghiêm minh và công khai. Khi cán bộ gần dân, hiểu dân, vì dân, thì nhân dân sẽ nhận rõ đâu là sự lãnh đạo đúng đắn, đâu là hành vi lợi dụng danh nghĩa “vì dân” để chống phá.

Bên cạnh đó, phải chủ động phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh tư tưởng. Thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân cần được mở rộng sang lĩnh vực bảo vệ nền tảng tư tưởng. Nhân dân cần được tạo điều kiện tham gia phản biện xã hội, góp ý xây dựng chính sách, giám sát cán bộ, kịp thời phát hiện và đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, sai trái. Các tổ chức chính trị - xã hội, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cần làm tốt chức năng cầu nối giữa Đảng với dân, phát huy vai trò là “tai mắt” của nhân dân, là kênh phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của dân tới Đảng.

Cùng với đó, cần xây dựng lực lượng tuyên truyền viên rộng khắp từ cơ sở, kết hợp giữa cán bộ, đảng viên với người có uy tín trong cộng đồng, các nhà báo, nhà giáo, văn nghệ sĩ, người ảnh hưởng trên mạng xã hội... để kịp thời định hướng dư luận, lan tỏa thông tin chính thống. Truyền thông chính trị cần được đổi mới nội dung và hình thức, tận dụng công nghệ số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, big data để xây dựng các nền tảng truyền thông hiện đại, linh hoạt, mang tính tương tác cao. Phải kết hợp hài hòa giữa lý luận chính trị sắc bén và cách thể hiện gần gũi, giản dị, sử dụng các định dạng đa phương tiện như video ngắn, podcast, infographic, story-telling... để dễ dàng tiếp cận mọi tầng lớp nhân dân, nhất là giới trẻ - lực lượng chiếm tỷ lệ lớn trong không gian mạng.

Việc phản bác các luận điệu sai trái cần dựa trên lập luận chặt chẽ, lý lẽ thuyết phục, đồng thời phải phù hợp với tâm lý, văn hóa của từng nhóm xã hội. Thay vì chỉ “phản ứng”, cần chủ động “dẫn dắt” dư luận bằng những nội dung tích cực, truyền cảm hứng và thể hiện hình ảnh Đảng gần dân, vì dân. Đặc biệt, cần khai thác thế mạnh của thế hệ trẻ - những người am hiểu công nghệ, có tư duy phản biện và tinh thần đổi mới để lan tỏa tinh thần yêu nước, niềm tin vào chế độ và trách nhiệm công dân trong xây dựng đất nước.

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên số - nơi thông tin lan truyền với tốc độ nhanh chóng, không gian mạng trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội - thì việc tăng cường “sức đề kháng” tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân trở thành yêu cầu cấp bách. Đây không chỉ là lá chắn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn là điều kiện tiên quyết để giữ vững niềm tin xã hội, củng cố sự thống nhất giữa “ý Đảng” và “lòng dân” trong thời đại mới. Muốn có được sức đề kháng ấy, trước hết phải bắt đầu từ giáo dục chính trị, tư tưởng và lý tưởng cách mạng một cách bài bản, có chiều sâu và phù hợp với từng nhóm đối tượng trong xã hội. Từ trường học đến cơ quan, doanh nghiệp, địa phương, phải đưa nội dung giáo dục lý tưởng sống, tinh thần yêu nước, trách nhiệm công dân vào chương trình đào tạo, sinh hoạt định kỳ để mỗi người dân, nhất là thế hệ trẻ, được “miễn dịch” với các quan điểm sai trái, phản động.

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng cường năng lực kiểm soát, giám sát và xử lý thông tin xấu độc trên internet. Đồng thời, phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, kích động, chia rẽ, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân hoặc tổ chức. Cùng với đó, cần có cơ chế bảo vệ những người dám lên tiếng, dám đấu tranh với thông tin sai trái, cổ vũ tinh thần trách nhiệm công dân trong việc giữ gìn “kỷ cương mạng xã hội”.

Đấu tranh với âm mưu chia rẽ “ý Đảng với lòng dân” không chỉ là nhiệm vụ cấp thiết trước mắt, mà còn là yêu cầu chiến lược lâu dài. Để thành công, cần sự vào cuộc đồng bộ, chủ động từ cả hệ thống chính trị, trong đó lấy nhân dân làm trung tâm, là chủ thể của thế trận tư tưởng. Khi “ý Đảng” hòa quyện với “lòng dân”, đó chính là lúc đất nước hội tụ đủ nội lực để vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc và trường tồn cùng dân tộc./.
-------------------------------
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, 2021.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II, 2021.

Vũ Văn Hiền (2020), Một số luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng”, Nxb CTQGST, tập 1, Hà Nội.

Hồ Chí Minh (1924), “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.501.

Hồ Chí Minh (1951), “Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.50.

Hồ Chí Minh (1952), “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.362 - 368.

Hồ Chí Minh (1952), “Cần, kiệm, liêm, chính”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.117.

Hồ Chí Minh (1971), “Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.672.

Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2018), Luật phòng, chống tham nhũng, Hà Nội, ngày 20-11-2018.

Nguyễn Phú Trọng (2019), Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Yêu nước ST.