Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2025

CHIA SẺ TIN GIẢ - NGỘ NHẬN HAY VÔ TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN?

     Tin giả và tin sai sự thật đang trở thành một trong những “dịch bệnh” nguy hiểm của kỷ nguyên số. Chỉ với một cú nhấp chuột, thông tin độc hại có thể lan đi với tốc độ khủng khiếp, phá hoại niềm tin của nhân dân, bôi nhọ uy tín của tổ chức, làm tổn hại hình ảnh đất nước... Vậy đâu là trách nhiệm của công dân khi đứng trước dòng chảy hỗn tạp của thông tin?

Tin giả - hiểm họa thật

Ngày nay, mạng xã hội đã trở thành một phần không gian sống với tính chất hai mặt rõ ràng, cả mặt tích cực và mặt tiêu cực. Hòa mình vào không gian mạng là nhu cầu tất yếu của mỗi con người, song làm chủ hành vi của bản thân trên không gian mạng lại là một thách thức không hề nhỏ đối với mỗi cá nhân. Trong đó, tin giả chính là một hiểm họa khôn lường, có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho người dùng tin và xa hơn là nguy cơ đối với sự ổn định, an ninh, hòa bình của quốc gia, dân tộc. Do đó, chủ động, tích cực phòng, chống tác hại của “fakenews” không chỉ là biện pháp tự bảo vệ, mà còn là trách nhiệm của mọi công dân.

Năm 2023, Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) - Mỹ công bố kết quả nghiên cứu cho thấy: “So với tin thật, tin giả lan truyền nhanh hơn đến 6 lần”. Cùng năm, UNESCO cũng đưa ra cảnh báo: “Tin giả lan nhanh gấp 6 lần tin thật và để lại hậu quả lâu dài về chính trị, kinh tế, xã hội”. Một nghiên cứu khác của Viện Báo chí Quốc tế (IPI) cho thấy: “75% tin giả trên mạng xã hội được chia sẻ lại mà người dùng không kiểm chứng, tạo thành vòng xoáy độc hại trong môi trường truyền thông toàn cầu”.

Nhận thức rõ mức độ nguy hại của tin giả, nhiều nước trên thế giới đã chủ động đưa ra các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn. Cụ thể như ở Đức, nước này đã xem xét dự luật xử phạt hành chính, có điều khoản xử phạt lên đến 50 triệu euro đối với các công ty công nghệ, mạng xã hội chậm chạp trong việc xử lý tin giả, kích động và tin bôi nhọ, phỉ báng. Hay ở khu vực Đông Nam Á, một số nước như Singapore, Indonesia, Malaysia... đã ban hành các đạo luật về chống tin giả.

Tại Việt Nam, tác động nghiêm trọng của tin giả đã được ghi nhận rõ rệt, điển hình như thời kỳ dịch bệnh Covid-19 bùng phát, hàng loạt thông tin bịa đặt, sai sự thật về “thuốc đặc trị”, “ổ dịch chưa được công bố”, “sự thật về Covid-19”... đã lan truyền với tốc độ chóng mặt, gây hoang mang dư luận và cản trở công tác phòng, chống dịch của các lực lượng chức năng. Tiếp nữa, trong các vấn đề về chủ quyền biển đảo cũng có rất nhiều luận điệu xuyên tạc, méo mó, gây ảnh hưởng đến nhận thức của người dân về đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta.

Đặc biệt, gần đây, khi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tự hào, phấn khởi tổ chức đại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19-8-1945/19-8-2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945/2-9-2025), trên không gian mạng, các tài khoản phản động đã rêu rao đó là sự “phô trương”, “hình thức”, “lãng phí”... Cùng với đó là vô số tin, bài bôi nhọ lãnh đạo, hạ thấp uy tín của cơ quan, đơn vị, làm giảm niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị...

Trên thực tế, mặc dù nước ta chưa có Luật Chống tin giả, nhưng những nội dung liên quan tới tin giả đã được nhắc tới trong một số bộ luật, văn bản quy phạm pháp luật, điển hình là Luật An ninh mạng năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, vấn đề “then chốt của then chốt”, đóng vai trò quyết định trong hạn chế, ngăn chặn sự lan truyền của tin giả, đó là ý thức cảnh giác và trách nhiệm của người dùng tin.

Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, cho rằng: “Tin giả là con dao hai lưỡi, nó vừa đe dọa an ninh tư tưởng, vừa phá hoại môi trường truyền thông lành mạnh. Nếu công dân không nâng cao sức đề kháng trước thông tin giả, bất kỳ ai cũng có thể trở thành công cụ tiếp tay.”

Ngộ nhận hay vô trách nhiệm?

Tin giả trên không gian mạng thường có tiêu đề giật gân; nội dung đề cập đến những vấn đề nóng mà dư luận quan tâm; thông tin mập mờ, không có nguồn gốc rõ ràng... nên dễ kích động, gây sự tò mò, thậm chí là có thể thỏa mãn những cảm xúc nhất thời của người dùng tin, làm cho một bộ phận công chúng vội vàng bày tỏ thái độ đồng tình, ủng hộ, thậm chí là chia sẻ, phát tán mà không xác minh.

Cần nhớ rằng, trong kỷ nguyên số, mỗi công dân là một “tòa soạn thu nhỏ”, chỉ một cú click chuột cũng có thể đưa thông tin sai lệch đến hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người, làm ảnh hưởng ở nhiều cấp độ khác nhau đến uy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân; ảnh hưởng đến an ninh, chính trị và gây thiệt hại về kinh tế...

Khi bị chất vấn vì chia sẻ tin giả, nhiều người biện minh: “Tôi chỉ thấy hay nên chia sẻ, đâu ngờ nó sai”. Đây là ngộ nhận phổ biến, phản ánh lỗ hổng về nhận thức thông tin. Không ít trường hợp cố ý chia sẻ tin giả để trục lợi cá nhân hoặc phục vụ mục đích chống phá. Đây không còn là ngộ nhận mà là hành vi vô trách nhiệm, cố tình vi phạm pháp luật. Điển hình như vụ việc được Cổng Thông tin Công an tỉnh Quảng Trị đưa tin ngày 23-1-2025. Sự việc diễn ra tại Cảng hàng không Đồng Hới khi một thanh niên có tên N.T.T.N (sinh năm 2002, trú tại phường 10, quận 11, TP Hồ Chí Minh) thực hiện hành vi chia sẻ video với nội dung sai sự thật: “Xuyên không vào thế giới khác không có ai”, “Tôi không chắc ở đây có an toàn cho mình không”, “Tôi đang cố gắng tìm kiếm thức ăn và nước uống sau nhiều ngày bị mắc kẹt”... đã có nhiều bình luận mang tính chất suy đoán, tiêu cực, gây hoang mang dư luận. Tại cơ quan Công an, N.T.T.N thừa nhận toàn bộ hành vi quay video có lời thoại, tiêu đề sai sự thật về các hoạt động tại Cảng hàng không Đồng Hới để đăng tải lên các nền tảng Tiktok, Facebook, Youtube nhằm mục đích tăng tương tác “câu like, câu view”.

Bàn về vấn đề nêu trên, PGS, TS Trần Quang Diệu, Vụ trưởng, Giám đốc Trung tâm Công nghệ và Chuyển đổi số, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, phân tích: Sự phát triển của văn hóa ứng xử trên không gian mạng tại Việt Nam đang thiếu đi tính đồng bộ, dẫn đến những thách thức trong việc định hình bản sắc văn hóa số quốc gia. Khi một bộ phận người dùng chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng số cơ bản và ý thức trách nhiệm công dân số, họ dễ dàng bị cuốn theo hiệu ứng đám đông, dẫn đến hành vi lan truyền tin giả hoặc làn truyền thông tin sai lệch mà không xác minh. Sự thiếu hụt năng lực số toàn diện này tạo ra một "khoảng cách số" nguy hiểm, đặc biệt ở các khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa và người lớn tuổi. Hành vi này không chỉ mâu thuẫn với các giá trị văn hóa Việt truyền thống, mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về mặt pháp lý và làm xói mòn niềm tin số trong xã hội.

Tất nhiên, chia sẻ tin giả dù là do thiếu hiểu biết hay có chủ đích đều bị xử lý theo quy định của pháp luật, đúng với tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Cụ thể, theo Khoản 1, Điều 8, Luật An ninh mạng đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng, trong đó có: “Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác”.

Công dân số - “hàng rào thép” bảo vệ xã hội

Trong bối cảnh tin giả đã và đang trở thành vấn nạn của toàn cầu, tác động đến tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội với tính chất, mức độ khác nhau, để nâng cao hiệu quả phòng, chống, ngăn chặn, hạn chế ảnh hưởng của “làn sóng” thông tin độc hại, không chỉ đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của các tổ chức, mà điều quan trọng nhất là phải khơi dậy, phát huy cao độ trách nhiệm của từng cá nhân, thực hiện mỗi người dân là một công dân số - một “mắt xích” tạo nên “hàng rào thép” bảo vệ bản thân, gia đình và xã hội. Đây là điều đã được ông Michael Anti, chuyên gia truyền thông độc lập (Trung Quốc), nhấn mạnh: “Trong xã hội hiện đại, công dân có nghĩa vụ như một người gác cổng thông tin. Nếu mỗi người không tự lọc tin giả, thì không một bộ luật nào đủ sức cứu không gian mạng”. Để thực hiện tốt vấn đề này, cần triển khai đồng bộ, toàn diện nhiều giải pháp, từ công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; cơ chế chính sách và xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp lý..., trọng tâm là:

Tuyên truyền, giáo dục, trang bị kỹ năng số và tư duy phản biện thông tin cho nhân dân. Theo đó, mỗi công dân cần phải có những kỹ năng sinh tồn cơ bản trên không gian mạng; biết cách nhận diện và đấu tranh với những thông tin xấu, độc; chỉ tiếp nhận và chia sẻ thông tin từ nguồn chính thống, như: Báo chí cách mạng, truyền hình trung ương và địa phương, cổng thông tin của các cơ quan Nhà nước...; chủ động kiểm tra chéo giữa nhiều nguồn khác nhau để xác thực tính minh bạch, chính xác của thông tin, nhất là đối với những nội dung nhạy cảm, liên quan đến chính trị, quốc phòng, an ninh...; tuyệt đối không chia sẻ những thông tin giật gân chưa rõ nguồn gốc.

Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, ban ngành, đoàn thể... cần chủ động xây dựng văn hóa số, đạo đức số cho cán bộ, đảng viên và quần chúng thuộc quyền dựa trên nguyên tắc: “Nghe, nhìn có chọn lọc - bình luận có văn hóa - đăng tải có trách nhiệm - chia sẻ có cân nhắc”; thay vì tương tác với những thông tin xấu, độc, mỗi người, mỗi ngày hãy chia sẻ cho nhau một tin tốt để góp phần xây dựng không gian mạng trong sạch, an toàn hơn.

Phát huy tốt vai trò của báo chí và cơ quan ngôn luận trong cung cấp thông tin, định hướng dư luận, kịp thời “dập tắt” hiệu ứng lan truyền của thông tin xấu độc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ. Cùng với đó, phải quy rõ trách nhiệm, xử lý nghiêm minh đối với những trường hợp phát tán thông tin sai sự thật để tạo tính răn đe. Cần quan tâm xây dựng đội ngũ chuyên trách; tăng cường ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến; đồng thời, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và thực thi hiệu quả hệ thống pháp luật về phòng, chống tin giả.

Ngày nay, cuộc chiến chống tin giả không chỉ là nhiệm vụ của riêng một tổ chức, cá nhân nào mà đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; đồng thời, là thước đo văn hóa công dân số. Mỗi cá nhân cần nhận thức sâu sắc rằng: Chia sẻ tin giả là hành vi nguy hại không kém gì tạo ra tin giả và đấu tranh với tin giả phải là hành động tự giác của mỗi công dân - những “chiến sĩ” trên mặt trận tư tưởng trong kỷ nguyên số. Khi từng người biết tự kiểm chứng, tự “miễn dịch” trước thông tin độc hại, xã hội mới xây dựng được môi trường truyền thông minh bạch, đáng tin cậy và vững vàng trước mọi thủ đoạn, xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị./.
Ảnh minh họa: Tin giả và tin sai sự thật đang trở thành một trong những “dịch bệnh” nguy hiểm của kỷ nguyên số.
Khuyết danh ST.

SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ LUẬT BẢO VỆ SỰ THẬT LỊCH SỬ!

1. Lịch sử - nền tảng của niềm tin và bản sắc dân tộc, một bộ phận của nền tảng tinh thần xã hội.

Lịch sử dân tộc Việt Nam trải qua hơn bốn ngàn năm là bản anh hùng ca bất khuất, tài sản tinh thần vô giá mà biết bao thế hệ đã dày công vun đắp bằng máu xương và mồ hôi, nước mắt. Sự thật lịch sử là cội nguồn của niềm tin, nền tảng tư tưởng, văn hóa tạo nên sức mạnh tinh thần giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đứng vững trước mọi phong ba bão táp, để giành và giữ gìn nền độc lập của dân tộc.

Tuy nhiên, hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, lực lượng cơ hội trong nước đã triệt để lợi dụng sự phát triển của mạng lưới truyền thông, nhất là trên không gian mạng để xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta trong thế kỷ XIX, XX, nhất là những vấn đề liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Rất nhiều video, bài viết, ấn phẩm cố tình “lật sử", “đổi trắng thay đen", biến tội thành công, ca ngợi ngụy quyền Sài Gòn, bỏ cụm từ “ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn", xuyên tạc, phủ nhận tính chính nghĩa của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, chống xâm lược, gieo rắc hoài nghi vào thế hệ trẻ. Những biểu hiện này đã và đang diễn biến giống như đã xảy ra ở Liên Xô, Đông Âu trước đây.

Thực tiễn đó đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý đủ mạnh, một đạo luật chuyên biệt về bảo vệ sự thật lịch sử, nhằm khẳng định chân lý bảo vệ danh dự dân tộc, củng cố niềm tin xã hội, xây đắp lòng yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

2. Cơ sở lý luận: Theo Chủ nghĩa Mác - Lênin, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và quần chúng là người làm nên lịch sử; lịch sử là quá trình phát triển khách quan do con người sáng tạo trong những điều kiện cụ thể. Mác đã khẳng định: “Chính con người, chứ không phải lịch sử, làm nên sự kiện; nhưng họ không làm theo ý muốn chủ quan của mình, mà trong những điều kiện khách quan đã được lịch sử để lại". Quan điểm đó khẳng định tính khách quan, trung thực, là nguyên tắc cơ bản khi nhận thức, nghiên cứu và viết về lịch sử (điều này bác bỏ hoàn toàn tư duy của chế độ phong kiến, tư bản: Viết sử là viết theo quan điểm của bên thắng, do vậy mọi sự xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận sự thật lịch sử điều là hành vi phản khoa học, phi lịch sử, cần phải kiên quyết đấu tranh).

Với Bác Hồ, Người luôn coi trọng sự thật lịch sử. Ngay từ khi mới trở về nước, Người đã viết bài diễn ca "Lịch sử nước ta" mở đầu bằng hai câu: “Dân ta phải biết sử ta / Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Bác khẳng định: “Viết sử phải viết đúng sự thật, không được thêm bớt, thiên lệch". Như vậy, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, viết và nói đúng sự thật lịch sử không chỉ là trách nhiệm, mà còn là tư cách đạo đức của người viết sử cách mạng.

Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn khẳng định: Lịch sử là sự thật khách quan, không ai được phép xuyên tạc, bóp méo. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (năm 2011) đã nêu: “Phát huy giá trị truyền thống và lịch sử dân tộc; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng”. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và Kết luận số 21-KL/TƯ khóa XIII nhấn mạnh: "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bôi nhọ lãnh tụ, phủ nhận lịch sử cách mạng". Đặc biệt, Nghị quyết số 35-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã xác định rõ: “Bảo vệ sự thật lịch sử là một bộ phận quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”. Sinh thời, trong bài phát biểu của mình tại hội nghị tuyên giáo toàn quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã xác định rõ: “Không có gì quý hơn sự thật. Phải tôn trọng sự thật lịch sử, nói đúng, viết đúng sự thật - đó là đạo đức của người làm cách mạng".

Tất cả những vấn đề nêu trên khẳng định, về lý luận, Đảng ta luôn khẳng định lịch sử là sự tồn tại khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc do nhân dân Việt Nam làm nên. Do đó, người cách mạng phải nói đúng và viết đúng sự thật lịch sử, không ai được phép núp dưới mọi danh nghĩa để bóp méo, xuyên tạc và phủ nhận sự thật lịch sử đó.

3. Thực tiễn trong nước và kinh nghiệm quốc tế. Ở nước ta, đã có những biểu hiện khá rõ nét trong việc bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử như: Phủ nhận sự thật về Anh hùng Lê Văn Tám, Anh hùng Tô Vĩnh Diện, xuyên tạc tấm gương anh hùng của chị Võ Thị Sáu, bóp méo sự hy sinh anh dũng của Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Nhiều nhân vật đã được lịch sử khẳng định là phản quốc, nay họ lại xới lên tranh cãi và ngang nhiên yêu cầu đặt tên đường, tên công trình theo tên những nhân vật đó, bất chấp quy định trong Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng: "Những nhân vật lịch sử còn có sự đánh giá khác nhau, chưa đưa vào đặt tên đường, tên công trình"; đòi bỏ không dùng cụm từ “ngụy quân, ngụy quyền" với cách lý giải hết sức phản khoa học. Cùng với những vấn đề đó, họ ngang nhiên xúc phạm, xuyên tạc tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng, phủ nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Gần đây nhất, khi Điện ảnh Quân đội nhân dân công chiếu bộ phim "Mưa đỏ", một số người tìm cách hạ thấp, đi đến phủ nhận tội ác dã man của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, ngang nhiên hát những bài hát ca ngợi lính ngụy.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã có luật về bảo vệ lịch sử như: Pháp ban hành Luật Gayssot xử lý hình sự tội phủ nhận tội ác chiến tranh, Đức ghi rõ xử tù đến 5 năm việc phủ nhận tội ác diệt chủng của phát xít, Nga ban hành Luật trừng phạt hành vi xuyên tạc vai trò của Liên Xô trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại... Những đạo luật không nhằm áp đặt tư tưởng, mà để bảo vệ chân lý, ngăn chặn chiến tranh thông tin, tư tưởng để duy trì niềm tin, củng cố lòng yêu nước, giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Từ những vấn đề nêu trên, trước yêu cầu về lý luận và thực tiễn đặt ra, cần phải có cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ sự thật lịch sử. Song, cho đến hiện nay, vẫn chưa có một đạo luật riêng, mà chỉ có những quy định nằm rải rác trong các luật về báo chí, xuất bản, an ninh mạng... chưa tạo thành khung pháp lý thống nhất đủ sức giáo dục, thực hiện và răn đe những ai cố tình vi phạm.

Bài học rút ra từ thế giới, ngay từ bây giờ, muốn bảo vệ sự thật lịch sử, phải bằng công cụ đủ mạnh, có cơ chế xử lý thống nhất, đồng bộ, kết hợp giữa luật pháp với tuyên truyền, giáo dục, nghiên cứu khoa học và thông tin truyền thông. Chỉ có như vậy, chúng ta mới ngăn chặn hiệu quả âm mưu, thủ đoạn "rút gạch dưới chân tường" trong khoa học lịch sử, mới bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, mới không đi theo vết xe đổ ở Liên Xô và Đông Âu, mới bảo vệ được thành quả cách mạng, mới tạo nên sức mạnh vững bước vào thời kỳ mới, thời kỳ vươn mình giàu mạnh và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.
Ảnh: Một cảnh phim "Mưa đỏ".
Bài viết của Trung tướng NGUYỄN THANH TUẤN, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn TCCT.
Yêu nước ST.

ĐẢNG TRONG CUỘC SỐNG HÔM NAY: VỊ THẾ, UY TÍN CỦA ĐẢNG NGÀY CÀNG NÂNG CAO!

     Trong tiến trình lịch sử Việt Nam gần một thế kỷ qua, chưa có lực lượng chính trị nào giữ vai trò, vị thế và uy tín lớn lao như Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là niềm tin vững bền của nhân dân.

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Đảng tiếp tục khẳng định tầm vóc, bản lĩnh và trí tuệ, đưa đất nước vững vàng tiến lên chủ nghĩa xã hội, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Lịch sử hơn 95 năm qua đã chứng minh chân lý: Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Ngay từ khi ra đời (ngày 3-2-1930), Đảng đã mang sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam: Lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành độc lập, tự do, hạnh phúc. Dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã quy tụ, tập hợp, hun đúc và phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, biến khát vọng độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội thành hiện thực sinh động.

Ngày nay, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên của hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, vai trò lãnh đạo của Đảng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Đảng không chỉ là danh dự, lương tâm, trách nhiệm, là ngọn đuốc soi đường, chỉ lối mà còn là linh hồn, nhân tố bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Tương lai và tiền đồ của dân tộc Việt Nam nhất định được Đảng phát huy cao độ, đưa đất nước vững tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới: Hùng cường, thịnh vượng, sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

Niềm tin và sức mạnh của Đảng qua những mốc son lịch sử

Trong suốt 95 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã chứng minh bản lĩnh, trí tuệ và năng lực cầm quyền bằng những thắng lợi vĩ đại, làm rạng rỡ dân tộc, củng cố niềm tin tuyệt đối của nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công vang dội, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta từ thân phận nô lệ lầm than trở thành chủ nhân đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu” đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneva, chấm dứt ách thống trị gần một thế kỷ, khẳng định sức mạnh vĩ đại của dân tộc Việt Nam dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng. Tiếp đó, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa dân tộc ta bước vào thời kỳ phát triển mới-xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Đảng ta cũng đã lãnh đạo toàn dân và toàn quân đánh thắng hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc, kiên cường chống lại bọn phản động FULRO. Đồng thời, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng, đem lại hòa bình và hồi sinh cho đất nước Chùa tháp; giúp nhân dân Lào xây dựng cuộc sống mới, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong gần 40 năm đổi mới (từ năm 1986 đến nay), Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân ta đổi mới toàn diện, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, giành những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Kinh tế tăng trưởng bền vững, đời sống nhân dân và bộ đội không ngừng cải thiện, quốc phòng, an ninh được tăng cường, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được khẳng định. Những thành tựu vĩ đại ấy là kết tinh của đường lối đúng đắn, của niềm tin son sắt của nhân dân vào Đảng-một Đảng hết lòng vì nước, vì dân, luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, giữ vững bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức và uy tín cầm quyền.

Đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới

Bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng, đất nước ta đứng trước thời cơ lớn, song cũng không ít khó khăn, thách thức gay gắt. Trong bối cảnh ấy, việc phát huy thành tựu và những bài học kinh nghiệm hơn 95 năm lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững tin xây dựng đất nước giàu đẹp, phồn vinh, hùng cường, thịnh vượng.

Hành trang chúng ta đem theo vào kỷ nguyên phát triển mới là lịch sử truyền thống tốt đẹp và những bài học kinh nghiệm quý báu.

Bài học lớn đầu tiên là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội-nền tảng tư tưởng và con đường tươi sáng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Kiên định không phải bảo thủ, mà là kiên định trong mục tiêu, linh hoạt trong phương pháp; kiên quyết giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy nhân dân làm trung tâm, làm mục tiêu, động lực của mọi chính sách phát triển.

Bài học thứ hai là phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đảng ta luôn khẳng định “dân là gốc”, “lòng dân là nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng”. Vì thế, phải thường xuyên chăm lo củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, chăm lo lợi ích thiết thực của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm thước đo giá trị của năng lực lãnh đạo và uy tín cầm quyền của Đảng.

Bài học thứ ba là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, đặc biệt về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đảng phải luôn tiên phong, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của đất nước và nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu.

Cùng với đó, Đảng cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, chủ động nắm bắt xu thế phát triển của thời đại, ứng dụng mạnh mẽ khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tri thức; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam phát triển toàn diện; củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Những thành tựu, bài học kinh nghiệm quý báu là nền tảng vững chắc để Đảng tiếp tục khẳng định vai trò, vị thế, uy tín trong lòng dân tộc và trên trường quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam-đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của dân tộc Việt Nam-mãi mãi là ngọn cờ đoàn kết, là niềm tin, là trí tuệ, là lương tâm của thời đại, lãnh đạo đất nước ta vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, Quân đội ta đặt trọn niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng, nguyện mãi mãi là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; vững vàng trên trận tuyến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đó cũng là lời hứa sắt son, là quyết tâm chính trị của Quân đội ta, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân đưa đất nước vững tin bước vào kỷ nguyên mới./.
Ảnh: Tiết mục nghệ thuật trong Chương trình “80 năm hành trình Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”.
Yêu nước ST.

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÂN DÂN SÁT CÁNH giữ KÈ AN LƯƠNG!

     Những ngày qua, tuyến kè biển An Lương thuộc xã Duy Nghĩa (TP Đà Nẵng) bị xâm hại nặng, nhiều điểm sạt lở, khoét sâu vào đất liền, kéo dài cả trăm mét, gần 200 nhà dân cùng tuyến đường ven biển và các công trình công cộng đứng trước nguy cơ bị nước cuốn trôi.

Bà Đoàn Thị Quý, một người dân định cư lâu năm tại đây vừa lau nước mắt vừa ngậm ngùi: “Bờ kè là chỗ chúng tôi làm kế sinh nhai, trao đổi buôn bán sau những chuyến bám biển dài ngày, giờ trôi hết biết lấy gì làm ăn”.
 
Trước tình huống khẩn nguy, trong ngày 29 và 30-10, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 315, Quân khu 5 có mặt cùng nhân dân dốc sức "chiến đấu" với nước to, sóng lớn, khắc phục sự cố sạt lở.

Giữa trời mưa lớn, nước lũ bủa vây, hành trình giữ tuyến kè chẳng hề dễ dàng, các chiến sĩ và bà con phải xúc đất, đá cách đó hơn 3km cho vào các bao tải; huy động nhiều xe tải chở xuống địa điểm tập kết, sau đó dùng xe đẩy, xe kéo nhỏ đưa xuống các điểm sạt lở.

Do nền kè yếu, sát nhà dân, các phương tiện, máy móc hiện đại hầu như không thể tiếp cận, việc “ngăn sóng, giữ bờ” hầu hết phụ thuộc vào sức người. Ngoài ra, dòng hạ lưu khu vực này chảy mạnh nên các bao tải cát, đá liên tục bị sóng cuốn trôi. Để kịp giữ tuyến kè, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã oằn mình, “trắng đêm, xuyên ngày” vận chuyển hàng trăm khối cát, sỏi gia cố từng điểm sạt lở, đảm bảo an toàn cho nhân dân.

Trao đổi với chúng tôi trong lúc chỉ huy bộ đội, Đại úy Trần Đình An, Phó tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 143, Sư đoàn 315 chia sẻ: "Dù vất vả nhưng cán bộ, chiến sĩ đơn vị vẫn hết lòng với nhiệm vụ, nhiều chiến sĩ dù đã thấm mệt nhưng vẫn nỗ lực giúp nhân dân giữ vững tuyến kè".

Với những nỗ lực cố gắng của cán bộ, chiến sĩ và người dân, hầu hết các điểm sạt lở được khắc phục kịp thời, tuyến kè biển An Lương vẫn vững vàng trước những cơn sóng dữ.

Nhìn các bao tải ngày càng được gia cố, điểm sạt lở gần nhà từng bước được khắc phục, bà Lê Thị Chín, Trưởng ban công tác mặt trận thôn An Lương vui mừng: “Chúng tôi cảm ơn bộ đội đã có mặt đúng lúc dân cần để giữ nhà, giữ đường, giữ của cho bà con An Lương”./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THƯỢNG TƯỚNG TRƯƠNG Thiên TÔ THĂM, TRAO QUÀ HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO VÙNG LŨ ĐÀ NẴNG!

     Chiều 30-10, đoàn công tác Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam do Thượng tướng Trương Thiên Tô, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam làm trưởng đoàn, đã thăm, động viên và trao quà hỗ trợ các hộ dân ở thành phố Đà Nẵng bị thiệt hại nặng bởi thiên tai, mưa lũ.

Với tình cảm, sự sẻ chia đặc biệt, Thượng tướng Trương Thiên Tô thăm hỏi, động viên và trao 100 suất quà của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (mỗi suất trị giá 2,5 triệu đồng, gồm tiền mặt và một số nhu yếu phẩm) tặng các gia đình chính sách, hộ nghèo, người yếu thế nằm trong tâm lũ của phường Điện Bàn và xã Đại Lộc.

Thay mặt thủ trưởng Tổng cục Chính trị, Thượng tướng Trương Thiên Tô bày tỏ sự sẻ chia trước những mất mát, đau thương của đồng bào các tỉnh miền Trung trong suốt những ngày qua.

Tin tưởng rằng, với tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường, vượt khó vươn lên, cùng sự quan tâm, hỗ trợ, động viên của cả hệ thống chính trị, trong đó có các cán bộ, chiến sĩ LLVT, Quân đội, Công an, dân quân tự vệ, đoàn viên, thanh niên, nhân dân miền Trung sẽ từng bước vượt qua giai đoạn khó khăn, thử thách để ổn định lại cuộc sống.

Thượng tướng Trương Thiên Tô yêu cầu Bộ tư lệnh Quân khu 5 và các cơ quan, đơn vị Quân đội đứng chân trên địa bàn chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng các địa phương huy động tối đa vật tư, nhân lực đẩy nhanh tiến độ giúp dân khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ. Trước mắt, cần ưu tiên giúp các bệnh viện, trường học, công sở, gia đình chính sách, neo người, yếu thế.

Nhân dịp này, Thượng tướng Trương Thiên Tô trao tặng Ban chỉ huy Phòng thủ dân sự phường Điện Bàn và xã Đại Lộc mỗi đơn vị một phần quà của Tổng cục Chính trị trị giá 6 triệu đồng./.


Yêu nước ST.

CÁN BỘ THẾ HỆ GEN Z - GIỮ MÌNH GIỮA THÁCH THỨC VÀ CÁM DỖ!

     Cán bộ thế hệ Gen Z sinh ra và trưởng thành giữa những chuyển động chưa từng có của công nghệ, truyền thông và mạng xã hội, đang bước vào môi trường công vụ với nhiều kỳ vọng. Họ mang trong mình tri thức hiện đại, tinh thần đổi mới và khát vọng phục vụ đất nước. Nhưng đi cùng cơ hội là những thử thách, cám dỗ và những “nút gãy” tinh vi có thể làm lung lay bản lĩnh, bào mòn lý tưởng. Giữa vòng xoáy lợi ích, quyền lực và danh tiếng, vấn đề không chỉ là cán bộ thế hệ Gen Z có giỏi hay không, mà là họ có đủ kiên định, giữ mình để cống hiến?

Khi tuổi trẻ mang theo lý tưởng lớn

“Điều gì khiến bạn chọn làm cán bộ Đoàn, trong khi cơ hội nghề nghiệp hấp dẫn không hề ít?”-tôi hỏi Nguyễn Văn Khánh, 27 tuổi, Bí thư Đoàn ở một xã miền núi thuộc tỉnh Thanh Hóa. Khánh cười hiền, đáp: “Có lẽ là niềm tin. Tôi nghĩ nếu lớp trẻ không dấn thân, ai sẽ là người thay đổi quê hương?”.

Câu trả lời ấy tưởng chừng giản dị nhưng chứa đựng chiều sâu của một thế hệ mới, những người bước vào môi trường công vụ trong bối cảnh khác hẳn các thế hệ trước. Họ không chỉ mang hoài bão phụng sự mà còn chịu tác động mạnh mẽ của thế giới phẳng: Tư duy toàn cầu, tốc độ công nghệ, sức ảnh hưởng của mạng xã hội và xu hướng đề cao giá trị cá nhân. Những yếu tố này vừa là nguồn sức mạnh, vừa đặt ra thách thức lớn về cách thức giữ gìn lý tưởng trong thực tế công tác.

PGS, TS Nguyễn Viết Thảo, nguyên Phó giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, từng phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về công tác cán bộ (tháng 3-2023): “Lý tưởng cách mạng của tuổi trẻ ngày nay không hề vơi đi, nhưng thử thách nhiều hơn, phức tạp hơn. Thế hệ trẻ bước vào môi trường công vụ cần vừa có tri thức, vừa có bản lĩnh chính trị để không bị cuốn trôi trong xoáy lốc hội nhập, thị trường và mạng xã hội”.

Đúng như vậy, thế hệ Gen Z được giáo dục trong môi trường mở, thấm đẫm công nghệ và tính cạnh tranh. Họ bước vào đời với tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Họ thành thạo ngoại ngữ, giỏi kỹ năng số, có tư duy hệ thống và mong muốn khẳng định bản thân. Tuy nhiên, song hành với khát vọng là áp lực phải cân bằng: Làm sao vừa năng động, nhiệt huyết, sáng tạo và hội nhập, vừa trung thành, kiên định và trong sáng về phẩm chất chính trị, đây chính là bài toán đặt ra với thế hệ Gen Z.

Trong thực tế, nhiều cán bộ trẻ khởi đầu với lý tưởng đẹp, mong muốn đóng góp, đổi mới, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Nhưng giữa ước mơ và hiện thực luôn tồn tại khoảng cách. Chính khoảng cách này là nơi bản lĩnh và lòng kiên định bị thử thách nhiều nhất.

Thử thách, cám dỗ và những “nút gãy” dễ sa ngã

Thử thách đầu tiên với cán bộ thế hệ Gen Z là quyền lực. Quyền lực nếu không được kiểm soát và minh bạch hóa rất dễ trở thành cám dỗ. Người trẻ thường giàu năng lượng và nhiều khát vọng, nhưng cũng dễ nóng vội, bị hấp dẫn bởi hào quang và quyền thế, từ đó, trách nhiệm có thể bị lu mờ bởi toan tính vụ lợi. Khi “năng lực” chưa kịp song hành với “đạo đức”, sự hấp dẫn của quyền lực sẽ dễ làm lung lay nền tảng lý tưởng. Một cái “like”, một lời tán dương, một lời hứa hẹn đều có thể trở thành “nút gãy” khiến cán bộ trẻ trượt dài nếu thiếu cơ chế kiểm soát.

Thử thách thứ hai là cám dỗ vật chất và tâm lý so sánh. Sống trong thời đại giá trị vật chất được phô diễn mạnh mẽ, Gen Z không thể không chịu tác động. Nhiều người chứng kiến bạn bè, đồng nghiệp khởi nghiệp, thu nhập cao, được tung hô, trong khi công việc ở cơ quan Nhà nước đòi hỏi kỷ luật, ít cơ hội thể hiện cá nhân ngay lập tức. Nếu thiếu niềm tin và lý tưởng, họ dễ dao động, nảy sinh tâm lý “ra ngoài mới sướng” hoặc tìm đến “đường tắt” để thăng tiến. 

Thử thách thứ ba đến từ mạng xã hội và ảo tưởng danh tiếng. Thế hệ Gen Z lớn lên cùng Facebook, TikTok, Instagram. Với họ, mạng xã hội vừa là công cụ truyền thông, vừa là “sân khấu” thể hiện bản thân. Mạng xã hội có thể lan tỏa giá trị tốt đẹp nhưng cũng dễ khiến cán bộ trẻ sa vào cám dỗ “hình ảnh hóa” công việc: Chạy theo lượt like, đánh đổi sự nghiệp vì sự tung hô tức thời... Khi “ảo” lấn át “thật” và “hình thức” che khuất “bản chất”, chất lượng công việc và trách nhiệm cộng đồng có nguy cơ bị tổn hại. 

Một thử thách khác là môi trường công vụ vốn nặng hình thức. Không ít cơ quan, đơn vị còn tồn tại thói quen hành chính quan liêu, thiếu khuyến khích sáng tạo, nặng về hình thức và nhẹ về hiệu quả. Với cán bộ trẻ đầy nhiệt huyết, môi trường như vậy có thể gây nản lòng và bào mòn động lực. Nếu không có định hướng, hỗ trợ và bảo vệ thích hợp, họ có thể chọn “an phận”, “làm cho xong” hoặc tệ hơn là hòa nhập với lối làm hình thức để tồn tại.

Điều đó cho thấy, mỗi cú sa ngã của cán bộ trẻ không chỉ là sự mất mát cá nhân mà còn tổn thương niềm tin của nhân dân. Một “nút gãy” nhỏ trong đạo đức có thể dẫn đến đổ vỡ lớn trong hệ thống giá trị và niềm tin của quần chúng...

Giữ vững bản lĩnh, nuôi dưỡng khát vọng

Để cán bộ thế hệ Gen Z giữ vững bản lĩnh và khát vọng, điều cốt lõi là tạo dựng môi trường rèn luyện toàn diện, nơi cán bộ trẻ không chỉ được nói, được học mà còn được thực hành, thử nghiệm và tự chịu trách nhiệm.

Trước hết, cần thường xuyên bồi dưỡng, xây dựng bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng cho cán bộ thế hệ Gen Z. Không có lý tưởng, không thể có bản lĩnh. Bản lĩnh không sinh ra từ những lời tuyên thệ, mà từ quá trình rèn luyện lâu dài: Giáo dục lý luận cho Gen Z phải gắn với thực tiễn, chương trình đào tạo có tính ứng dụng cao, và các đợt kiểm nghiệm qua công việc thực tế. Việc làm mới công tác giáo dục chính trị cho cán bộ thế hệ Gen Z là cần thiết, để họ không chỉ học nghị quyết mà “sống với nghị quyết”, đưa lý tưởng vào hành động, biến tư tưởng thành năng lượng chỉ đạo hành vi và quyết định.

Thứ hai, rèn luyện qua thực tiễn, qua cơ sở là bài thi lớn nhất cho cán bộ thế hệ Gen Z. Chỉ khi xuống cơ sở, đối diện với đời sống dân sinh, va chạm với khó khăn và áp lực thực tế, cán bộ trẻ mới thấm giá trị của từng quyết định, mới hiểu rõ cái giá của sự phục vụ và trách nhiệm. Thực tiễn sẽ tôi luyện sự kiên nhẫn, thực tế hóa lý tưởng và giúp cán bộ nhận diện giới hạn bản thân để hoàn thiện.

Thứ ba, kiểm soát quyền lực và minh bạch hóa cơ chế là điều kiện bảo vệ sự trong sáng của cán bộ trẻ. Cần thiết kế cơ chế công khai, từ phân công, đánh giá, khen thưởng đến xử lý vi phạm... để quyền lực không biến thành cám dỗ. Kiểm soát quyền lực không nhằm bóp nghẹt sáng tạo mà để tạo khuôn khổ an toàn cho sáng tạo. Khi mọi nỗ lực được đánh giá công bằng, cán bộ trẻ sẽ vững vàng hơn và ít tìm đến “đường tắt”.

Thứ tư, khuyến khích sáng tạo, cho không gian thử nghiệm. Gen Z là thế hệ của công nghệ và ý tưởng, hãy trao cho họ không gian được thử nghiệm, được phép sai và được học từ thất bại có trách nhiệm. Hỗ trợ dự án sáng tạo nhỏ, cơ chế thẩm định linh hoạt và hệ thống cố vấn-những điều này giúp phát huy trí tuệ, năng lực phân tích và tinh thần dấn thân của cán bộ Gen Z.

Thêm vào đó, cần hoàn thiện tiêu chí đánh giá và bổ nhiệm để ưu tiên những phẩm chất thực chất: Bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, tinh thần gần dân và liêm chính. Hình mẫu cán bộ trẻ thời kỳ mới nên được gắn với tiêu chí rõ ràng: “Bản lĩnh-trí tuệ-gần dân-liêm chính”. Khi những tấm gương trẻ trung, trong sáng, tận tụy được ghi nhận và lan tỏa, niềm tin xã hội sẽ được nuôi dưỡng bằng thực tiễn, không chỉ bằng lời nói.

Cần có cơ chế bảo vệ người tốt và xử lý nghiêm sai phạm, đồng thời tạo điều kiện cho luân chuyển, thử thách và chương trình cố vấn để cán bộ trẻ trưởng thành bền vững. Xây dựng môi trường làm việc có đãi ngộ, minh bạch và cơ hội phát triển đều giúp giảm thiểu áp lực so sánh về vật chất và giữ người tài ở lại phục vụ.

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nêu quyết tâm: “Tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Trong đó, thế hệ trẻ, nhất là cán bộ trẻ là người kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng. Vì vậy, Dự thảo xác định: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, ý chí, khát vọng cống hiến, nêu cao trách nhiệm đối với đất nước, xã hội”.

Với Gen Z-thế hệ sinh ra trong thời đại bùng nổ thông tin, lớn lên cùng trí tuệ nhân tạo và thế giới phẳng, thử thách lớn nhất không nằm ở bên ngoài mà ở chính họ: Giữa lý tưởng và thực tế, giữa khát vọng và cám dỗ, giữa cái tôi và cái chung. Chỉ khi đủ dũng cảm vượt qua những “nút gãy”, thế hệ Gen Z mới thực sự trở thành lớp cán bộ kế cận vững vàng, bản lĩnh, có khát vọng cống hiến cho đất nước./.
Ảnh: Người dân làm thủ tục hành chính tại Trung tâm phục vụ hành chính công phường Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh.
Yêu nước ST.

THẾ GIỚI - VIỆT NAM: 🇷🇺 🇻🇳 NGA VÀ VIỆT Nam SẼ XÂY DỰNG TUYẾN ĐƯỜNG SẮT XUYÊN LỤC ĐỊA LIÊN KẾT CHÂU Á VÀ CHÂU ÂU!

Theo phóng viên TTXVN tại Moskva, Nga và Việt Nam đã thống nhất triển khai dự án phát triển tuyến đường sắt kết nối hai nước thông qua lãnh thổ Trung Quốc và Mông Cổ, nhằm tăng cường kết nối giao thông và mở rộng hợp tác kinh tế khu vực.

Phó Thủ tướng Nga Alexey Overchuk công bố thông tin này tại cuộc gặp với Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính bên lề Hội nghị Cấp cao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tại Malaysia.

Theo thỏa thuận, trong năm 2025, các doanh nghiệp vận tải của Nga, Việt Nam và Trung Quốc sẽ phối hợp thực hiện những bước đi cụ thể để xây dựng tuyến đường.

Các vấn đề tài chính sẽ được giải quyết thông qua sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn và sự tham gia của khu vực tư nhân.

Việt Nam đã ký thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật với Trung Quốc, trong khi tập đoàn vận tải FESCO của Nga dự kiến tăng tần suất các chuyến tàu vận tải trực tiếp lên 6 chuyến mỗi tháng (gồm 2 chuyến nhập khẩu và 4 chuyến xuất khẩu) - mức cao kỷ lục của ngành.

Phó Thủ tướng Overchuk nhấn mạnh Việt Nam là “người bạn lâu năm và đối tác đáng tin cậy” của Nga, đồng thời khẳng định hợp tác với Việt Nam là một trong những ưu tiên hàng đầu của Moskva.

Tuyến đường sắt mới ước tính có tổng chiều dài hơn 2.200 km, chủ yếu phục vụ vận chuyển hàng hóa xuất khẩu từ Tuva (Nga), Mông Cổ và miền Nam Trung Quốc.

Ngoài giá trị kinh tế, dự án còn mang ý nghĩa chiến lược khi giúp củng cố vị thế của Nga trong mạng lưới giao thông Á-Âu, đồng thời mang lại cho Việt Nam cơ hội mở rộng hạ tầng logistics và phát triển hệ thống cảng biển.

Các chuyên gia nhận định đây là một trong những dự án trọng điểm của khu vực Á-Âu những năm tới.

Việc huy động vốn, tìm kiếm nhà đầu tư và trao đổi nhân sự đang được tiến hành song song với quá trình thẩm định kỹ thuật.

Nếu triển khai đúng tiến độ, tuyến đường sắt này sẽ định hình lại luồng vận chuyển hàng hóa trong khu vực, thúc đẩy quan hệ kinh tế và tạo ra lựa chọn thay thế hiệu quả cho các tuyến hàng hải truyền thống.

Theo báo Vzglyad, nhu cầu du lịch của du khách Nga đến Việt Nam năm 2025 đã tăng mạnh, ngang bằng với lượng khách Nga đến Thái Lan./.

Yêu nước ST.

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2025

ĐỘI GIẶC LÊN ĐẦU: CÁC “QUAN LỚN” PHÁP ĐƯỢC TRIỀU ĐÌNH NHÀ NGUYỄN PHONG VƯƠNG, PHONG TƯỚC!

     Trong giai đoạn nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, triều đình nhà Nguyễn đã phong tước vị quý tộc từ thấp đến cao cho 1 số người Pháp, đều là những tên thực dân, thậm chí có những tên xuất thân trộm cướp, đăng lính sang nước ta nhưng cũng trở thành… quan triều đình, uy thế có khi còn lấn át cả vua quan nhà Nguyễn!

Dưới đây là một số tên thực dân đó (danh sách không bao gồm những tên đánh thuê được làm quan, phong tước, phong vương dưới triều Gia Long):

1. De Courcy
– Chức vụ: tư lệnh quân đoàn viễn chinh Pháp tại Bắc Kỳ
– Tước vị được phong: Bảo Hộ quận vương.
– Thời gian: ngày 10 tháng 9 năm Hàm Nghi thứ nhất (17 tháng 10 năm 1885).

Chiếu chỉ là của vua Đồng Khánh (lúc này mới được Pháp đặt lên ngôi nên vẫn dùng niên hiệu của Hàm Nghi)

2. M.Palasne de Champeaux
– Chức vụ: Trưởng phái bộ sứ quán Pháp (khi chưa bổ nhiệm hay vắng mặt đại sứ)
– Tước vị được phong: Bảo hộ công
– Thời gian: ngày 10 tháng 9 năm Hàm Nghi thứ nhất (17 tháng 10 năm 1885)

3. Léon Prud’homme
– Chức vụ: Phó đề đốc, Tham mưu trưởng
– Tước vị được phong: Bảo quốc công
– Thời gian: ngày 10 tháng 9 năm Hàm Nghi thứ nhất (17 tháng 10 năm 1885)

4. Charler Warnet
– Chức vụ: Tổng tư lệnh quân viễn chinh Bắc Kỳ
– Tước vị được phong: Dực quốc vương
– Thời gian: ngày 10 tháng 9 năm Hàm Nghi thứ nhất (17 tháng 10 năm 1885)

5. Pierre-Jules Silvestre
– Chức vụ: Giám đốc điều hành Bắc Kỳ
– Tước vị được phong: Vệ quốc công
– Thời gian: ngày 10 tháng 9 năm Hàm Nghi thứ nhất (17 tháng 10 năm 1885)

6. Étienne Richaud
– Chức vụ: Toàn quyền Đông Dương
– Tước vị được phong: Phổ quốc quân vương
– Thời gian: ngày 10 tháng 9 năm Hàm Nghi thứ nhất (17 tháng 10 năm 1885)

7. Rheinard
– Chức vụ: Trưởng phái bộ sứ quán Pháp
– Tước vị được phong: Lương quốc quân vương
– Thời gian: ngày 10 tháng 9 năm Hàm Nghi thứ nhất (17 tháng 10 năm 1885)

8. Armand Rousseau (1835 – 1896)
– Chức vụ: Toàn quyền Đông Dương
– Tước vị được phong: Phó nam vương
– Thời gian: ngày 6 tháng 2 năm Thành Thái thứ tám (19 tháng 3 năm 1896)

9. Ernest Albert Brière
– Chức vụ: thống sứ Bắc Kỳ
– Tước vị được phong: Hồ nam công
– Thời gian: ngày 6 tháng 2 năm Thành Thái thứ tám (19 tháng 3 năm 1896)

10. Duvillier
– Chức vụ: phó thống sứ Bắc Kỳ, Ủy viên chính phủ
– Tước vị được phong: Vệ võ hầu
– Thời gian: ngày 6 tháng 2 năm Thành Thái thứ tám (19 tháng 3 năm 1896)

11. Léon Jules Paul Boulloche
– Chức vụ: thống sứ Bắc Kỳ
– Tước vị được phong: Tạ quốc vương
– Thời gian: ngày 19, tháng 6, năm Thành Thái thứ mười một (26 tháng 7 năm 1899)

12. Jean Baptiste Paul Beau
– Chức vụ: toàn quyền Đông Dương
– Tước vị được phong: Phú quốc vương
– Thời gian: ngày 24, tháng 1, năm Duy Tân thứ hai (25 tháng 2 năm 1908)

13. Levecque
– Chức vụ: Khâm sứ Trung Kỳ
– Tước vị được phong: Phú quốc công
– Thời gian: ngày 24, tháng 1, năm Duy Tân thứ hai (25 tháng 2 năm 1908)

14. Paul Louis Luce
– Chức vụ: Toàn quyền Đông Dương
– Tước vị được phong: Phò Nam quân vương
– Thời gian: ngày 22, tháng 11, năm Duy Tân thứ năm (10 tháng 1 năm 1912)

15. Élie Jean-Henri Groleau
– Chức vụ: Khâm sứ Trung Kỳ
– Tước vị được phong: Phổ Nam công
– Thời gian: ngày 22, tháng 11, năm Duy Tân thứ năm (10 tháng 1 năm 1912)

16. Henri Victor Sestier
– Chức vụ: Khâm sứ Trung Kỳ
– Tước vị được phong: Phò Nam công
– Thời gian: ngày 22, tháng 11, năm Duy Tân thứ năm (10 tháng 1 năm 1912)

17. Albert Sarraut
– Chức vụ: Toàn quyền Đông Dương
– Tước vị được phong: Phú Nam (chưa rõ là vương hay công)
– Thời gian: ngày 22, tháng 11, năm Duy Tân thứ năm (10 tháng 1 năm 1912)

18. Pierre Marie Antoine Pasquier
– Chức vụ: Toàn quyền Đông Dương
– Tước vị được phong: Trạch Nam quân vương
– Thời gian: ngày 2, tháng 2, năm Bảo Đại thứ sáu (20 tháng 5 năm 1931)

19. Eugène Jean Louis René Robin
– Chức vụ: Toàn quyền Đông Dương
– Tước vị được phong: An tĩnh công
– Thời gian: ngày 15, tháng 4, năm Bảo Đại năm thứ tám (9 tháng 5 năm 1933)

20. Yves Charles Châtel
– Chức vụ: Khâm sứ Trung Kỳ
– Tước vị được phong: Nghệ quốc công
– Thời gian: ngày 15, tháng 4, năm Bảo Đại năm thứ tám (9 tháng 5 năm 1933)

21. Jean Franois Eugène Charles
– Chức vụ: Khâm sứ Trung Kỳ, Toàn quyền danh dự Đông Dương. Ông này là bố nuôi vua Bảo Đại khi còn nhỏ, chu cấp ăn học tại trường Lyceé Condorcet rồi sau ở trường Sciences Po (école libre des sciences politiques), Paris.
– Tước vị được phong: Tế Nam vương
– Thời gian: ngày 19, tháng 3, năm Bảo Đại thứ chín (ngày 2 tháng 5 năm 1934)

22. Maurice Fernand Graffeuil
– Chức vụ: Khâm sứ Trung Kỳ, phó Toàn quyền
– Tước vị được phong: Tế quốc công
– Thời gian: ngày 19, tháng 3, năm Bảo Đại thứ mười một (ngày 9 tháng 5 năm 1936)

23. Léon Sogny
– Chức vụ: giám đốc sở an ninh An Nam tại Đông Dương
– Tước vị được phong: An bình Nam
– Thời gian: ngày 7 tháng 5 năm 1939

Ảnh 📷: Nguyễn Phúc Bửu Thạch, Đại Nội Nghi lễ Đại thần của triều đình nhà Nguyễn tay sai cùng đoàn nghi lễ đến tận nhà riêng tên trùm mật thám Léon Sogny đọc quyết định phong tước An Bình Nam của Bảo Đại cho tên trùm mật thám này, ngày 7-5-1939. Cái tước “An Bình Nam” đã cho thấy sự nhục nhã của triều đình nhà Nguyễn: công nhận sự bình định nước Nam của "mẫu cuốc"!

Nhiều tên khác, toàn phong thành Quốc vương với Nam vương thì thấy các vị “vua” nhà ta xứng với ranh hiệu “bù nhìn” và “con rồng tre” thế nào rồi!
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐÓNG GÓP Ý KIẾN VÀO DỰ THẢO CÁC VĂN KIỆN TRÌNH ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG “CHỦ ĐỀ DỰ THẢO BÁO CÁO CHÍNH TRỊ - BƯỚC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC TRONG TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG”!

     Ngay sau khi đăng toàn văn dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Đại hội XIV) của Đảng, Báo Quân đội nhân dân đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Từ số báo hôm nay, Báo Quân đội nhân dân giới thiệu một số bài viết, đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình đại hội.

Trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng, chủ đề được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII dự kiến là: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Chủ đề thể hiện sâu sắc tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh tư duy lý luận và khát vọng phát triển mãnh liệt của Đảng ta trong kỷ nguyên mới. Đây không chỉ là sự kế thừa truyền thống lịch sử mà còn là sự kết tinh trí tuệ và tâm huyết của Đảng, biểu hiện rõ nét bước phát triển về chất trong tư duy lý luận sau gần 4 thập niên đổi mới. Mỗi từ ngữ trong chủ đề đều hàm chứa một thông điệp lớn, một định hướng chiến lược, một khát vọng thời đại.

Nhìn lại chặng đường cách mạng, có thể thấy mỗi bước ngoặt lịch sử của đất nước đều gắn liền với những đột phá trong tư duy lý luận của Đảng. Đại hội VI năm 1986 đánh dấu bước ngoặt vĩ đại về đổi mới toàn diện, từ kinh tế đến tư duy chính trị, mở ra thời kỳ phát triển mới. Các đại hội sau đó từng bước hoàn thiện, bổ sung, phát triển tư duy lý luận phù hợp với yêu cầu thực tiễn và xu thế thời đại. Đến nay, khi thế giới bước vào giai đoạn phát triển mới, với những biến động sâu sắc về chính trị, kinh tế, công nghệ, môi trường và các mối quan hệ quốc tế thì việc Đảng ta đề xuất chủ đề mới với nội hàm “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” chính là sự phản ánh bản lĩnh tư duy lý luận của một đảng cách mạng đã trưởng thành, bản lĩnh và trí tuệ.

Mệnh đề trên là bước phát triển có tính bước ngoặt trong nhận thức lý luận của Đảng. Nó cho thấy sự đổi mới trong cách tiếp cận về phát triển quốc gia: Từ chỗ nhấn mạnh đổi mới và hội nhập, nay Đảng ta chuyển sang tầm nhìn tự chủ chiến lược và tự cường dân tộc, nghĩa là không chỉ tham gia vào trật tự thế giới mà chủ động kiến tạo vị thế của mình, định hình vai trò của Việt Nam trong cấu trúc khu vực và toàn cầu. Trong đó, “tự chủ chiến lược” không chỉ là độc lập về chính trị, ngoại giao mà còn bao hàm cả chủ động về kinh tế, khoa học-công nghệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, môi trường và văn hóa. “Tự cường” là lời khẳng định sức mạnh nội sinh của dân tộc, dựa trên nền tảng đoàn kết, tinh thần sáng tạo và bản lĩnh Việt Nam. Còn “tự tin” là thái độ của một quốc gia đang vươn lên mạnh mẽ, sẵn sàng sánh vai cùng các cường quốc năm châu, đóng góp vào hòa bình, hợp tác và phát triển của nhân loại.

Nhìn sâu vào cấu trúc chủ đề, ta thấy sự kết hợp hài hòa giữa lý luận và thực tiễn, giữa mục tiêu trước mắt và tầm nhìn lâu dài. Các yếu tố “tự chủ, tự cường, tự tin” gắn kết chặt chẽ với nhau, tạo thành trục phát triển chiến lược, thể hiện tinh thần độc lập tự lực, đồng thời mở rộng tầm hội nhập. Đó là tư duy phát triển mới. Tư duy của một dân tộc đã đủ bản lĩnh để làm chủ vận mệnh, đủ tự tin để định hình tương lai. Đó cũng chính là minh chứng cho năng lực tư duy lý luận sắc bén, khoa học và hiện đại của Đảng ta.

Từ góc độ lịch sử, thực tiễn, gần 40 năm đổi mới đã tạo nền tảng vững chắc cho bước phát triển này. Việt Nam từ một nước nghèo, nông nghiệp lạc hậu, nay đã trở thành một nền kinh tế năng động hàng đầu khu vực Đông Nam Á, tham gia sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu, có uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế. Đảng ta đã tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm, bổ sung và phát triển lý luận phù hợp, đưa đất nước tiến lên vững chắc trên con đường xã hội chủ nghĩa. Tư duy lý luận đổi mới chính là nhân tố nền tảng làm nên thành tựu ấy và nay được nâng lên một tầm cao mới với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, bao trùm và nhân văn.

Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, khủng hoảng niềm tin và giá trị diễn ra ở nhiều nơi thì việc Đảng ta khẳng định kiên định con đường xã hội chủ nghĩa mang ý nghĩa hết sức sâu sắc. Con đường đó không phải là sự rập khuôn mô hình nào mà là kết quả của quá trình chọn lọc, thử thách, tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. “Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” hôm nay không còn là khẩu hiệu mà là mục tiêu được cụ thể hóa bằng chiến lược phát triển rõ ràng, bằng hệ thống giá trị mới, trong đó con người là trung tâm, là chủ thể, vừa là động lực vừa là mục tiêu của phát triển.

Tư tưởng “vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” được khẳng định trong chủ đề cũng thể hiện rõ chiều sâu nhân văn của Đảng ta. Đó không chỉ là mục tiêu vật chất mà là khát vọng tinh thần. Khát vọng về một xã hội nhân ái, công bằng, nơi mỗi người dân đều được sống ấm no, tự do, hạnh phúc và được phát triển toàn diện. Đây chính là giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng.

Cùng với đó, việc xác định khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những đột phá chiến lược hàng đầu nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường vào năm 2045 cho thấy tư duy lý luận của Đảng ta không ngừng phát triển theo hướng hiện đại và tiên phong. Trong thời đại kinh tế tri thức, ai làm chủ khoa học-công nghệ, người đó nắm quyền lực phát triển; ai sáng tạo, người đó kiến tạo tương lai. Bởi vậy, việc đưa đổi mới sáng tạo vào trung tâm chiến lược phát triển quốc gia không chỉ là tầm nhìn khoa học mà còn là minh chứng cho sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy phát triển. Từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ tăng trưởng dựa vào tài nguyên sang tăng trưởng dựa vào tri thức và công nghệ.

Chủ đề dự thảo Báo cáo chính trị thể hiện sự hòa quyện giữa ý Đảng và lòng dân, giữa khát vọng phát triển bền vững của đất nước với mong muốn thiết thực của nhân dân. Mỗi từ ngữ trong chủ đề đều được chắt lọc từ thực tiễn, kết tinh trí tuệ, ý chí và niềm tin của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đây không chỉ là lời hiệu triệu mà là lời cam kết chính trị, đạo đức của Đảng trước nhân dân, rằng mọi đường lối, chính sách đều vì hạnh phúc của nhân dân, vì tương lai phồn vinh của đất nước. Chủ đề ấy vì thế mang giá trị lý luận, thực tiễn và cảm hứng thời đại sâu sắc. Nó không chỉ khơi dậy niềm tin, niềm tự hào và khát vọng cống hiến trong mỗi người Việt Nam mà còn lan tỏa tinh thần tự chủ, tự cường, tự tin, đoàn kết, động lực mạnh mẽ để dân tộc ta tiến lên trong kỷ nguyên vươn mình. Đó là kỷ nguyên của trí tuệ, bản lĩnh, sáng tạo; là thời kỳ Việt Nam không chỉ trỗi dậy về kinh tế mà còn khẳng định vị thế về văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; là giai đoạn đất nước khẳng định vai trò tiên phong trong các tiến trình hợp tác quốc tế vì hòa bình, phát triển và thịnh vượng chung.

Có thể khẳng định rằng, chủ đề của dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng là bước đột phá chiến lược trong tư duy lý luận của Đảng, là sự kết tinh của tầm nhìn, trí tuệ và bản lĩnh chính trị Việt Nam. Đó vừa là định hướng cho hành động vừa là “tuyên ngôn” của thời đại, khẳng định ý chí kiên định, tinh thần sáng tạo và khát vọng vươn lên không ngừng của dân tộc Việt Nam dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng.

Từ nền tảng vững chắc của gần 40 năm đổi mới, từ niềm tin son sắt vào sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, chúng ta có đầy đủ cơ sở để tin tưởng rằng: Dân tộc Việt Nam sẽ tiếp tục tiến mạnh, tiến vững trong kỷ nguyên mới-kỷ nguyên tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin và vươn mình mạnh mẽ vì một Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
Theo QĐND
Môi trường ST.

NÂNG TẦM SỨ MỆNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO, CẦM QUYỀN!

     Từ thực tiễn 80 năm lãnh đạo, cầm quyền, chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới, để tiếp tục phát triển sứ mệnh của mình trước dân tộc, với tư cách là một thực thể chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức hành động dẫn dắt dân tộc, Đảng tiếp tục xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, vừa là “con nòi” của dân tộc.

Bước vào kỷ nguyên mới phú cường, nói một cách hình ảnh, Việt Nam đang bước đi trong gió xoáy của một thế giới phân cực khó lường, một thời đại hành tinh đang phân mảnh phức tạp, đa dạng, đồng thời tái cấu trúc và phát triển rất khó tiên liệu. Mặt khác, sau gần 40 năm đổi mới, trên lộ trình phát triển, không ít tình thế mới xuất hiện, rất nhiều mâu thuẫn mới nảy sinh, thậm chí rất nan giải trên con đường đất nước bước vào kỷ nguyên phú cường. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng viết: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”. Đang mở ra cơ hội trăm năm nhưng cũng đang thách thức gay gắt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta.

Định vị chiến lược căn bản trong hệ thống chính trị và dân tộc

Phát triển tầm viễn kiến chính trị: Đảng phải đi trước thời đại. Trong 200 năm qua, không có một đảng chính trị nào trên thế giới mang sứ mệnh lịch sử cao cả như Đảng ta: Không chỉ giải phóng dân tộc, mà còn kiến tạo tương lai cho dân tộc độc lập, tự chủ, tự quyết, phồn vinh và nhân văn. Thời đại đặt ra yêu cầu mọi quốc gia, dân tộc chuyển mình. Đảng không thể không tự đổi mới, tự chỉnh đốn để thích ứng với thời đại bằng bản sắc và sức mạnh của mình. Sự đổi mới tư duy cầm quyền phải bắt nhịp với sự vận động của dân tộc và thời đại, trong điều kiện hội nhập và sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Đảng lãnh đạo, cầm quyền để nhân dân là chủ và làm chủ đất nước. Đó là mục tiêu tối thượng của Đảng. Do đó, không chỉ là lực lượng lãnh đạo xã hội tiên phong, công bằng và cân bằng, mà Đảng phải là người kiến tạo tương lai dân tộc, dũng cảm đổi mới và hành động trước mọi thách thức phát triển của đất nước và của thời đại. Đảng thật sự là hiện thân của trí tuệ, lương tri và đạo đức của dân tộc-một trong những nhân tố căn bản quyết định vị thế, uy tín của Đảng, làm nên vận nước và danh dự quốc thể.

Trong bước chuyển từ lãnh đạo quyền lực sang lãnh đạo dân chủ, dẫn dắt kiến tạo phát triển, phải nâng cao năng lực hoạch định chiến lược lâu dài, không đơn thuần ứng phó tình huống mà dự báo, dẫn dắt sự phát triển của đất nước trong xu thế toàn cầu hóa, chuyển đổi số, biến động địa chính trị thế giới không được phép xa rời nhân dân, càng không được đứng trên nhân dân. Đời sống toàn diện của nhân dân phải là thước đo sức mạnh, uy tín và danh dự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Bảo đảm sự thống nhất giữa Đảng-dân tộc-đất nước-thời đại: Đảng chỉ mạnh khi hòa quyện và thống nhất trong mạch nguồn dân tộc, khi gắn bó máu thịt với nhân dân. Dân tộc là gốc, là nền tảng văn hóa, lịch sử để Đảng trưởng thành từ đó, trong đó, thật sự vững mạnh, trong sạch, xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”. Đó là văn hóa chính trị Việt Nam trước dân tộc và nhân loại hành tinh.

Nhận diện và hóa giải những mâu thuẫn chủ yếu trong sự phát triển thực tiễn lãnh đạo, cầm quyền

Sự phát triển là một quá trình vận động không ngừng của các mâu thuẫn nội tại. Trong sự vận động phức tạp, đa tầng của thực tiễn lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, nổi bật 6 loại mâu thuẫn:
1. Mâu thuẫn giữa yêu cầu đổi mới sáng tạo và thực trạng bảo thủ trì trệ: Đây là khối mâu thuẫn giữa phát triển và phản phát triển. Đây là khối mâu thuẫn giữa chủ quan và khách quan. Một bộ phận trong Đảng, nhất là cán bộ chiến lược, chưa theo kịp yêu cầu cải cách tư duy, ngại thay đổi, thậm chí sợ đổi mới, dẫn tới “lệch pha”, trái chiều với nhu cầu phát triển đất nước.

2. Mâu thuẫn giữa quyền lực lãnh đạo với yêu cầu dân chủ hóa xã hội: Đây là khối mâu thuẫn giữa tập trung và dân chủ, tính thống nhất và tính đa dạng của sự phát triển. Đảng vừa phải giữ vai trò lãnh đạo, vừa phải mở rộng dân chủ, cân bằng giữa đối thoại trong Đảng và hệ thống chính trị với đối thoại với nhân dân; xử lý giữa tình trạng “áp đặt từ trên xuống” với phát huy dân chủ từ nền tảng.

3. Mâu thuẫn giữa lý tưởng khởi nguyên với những biểu hiện tha hóa, thoái hóa quyền lực trong lãnh đạo, cầm quyền: Đây là khối mâu thuẫn giữa trước và sau, giữa lý tưởng với thực tiễn, giữa lời nói và hành động... Không ít cán bộ, đảng viên tha hóa, biến quyền lực phục vụ dân tộc thành quyền lợi cá nhân, phường hội, phe nhóm... vô hình tạo nên tình trạng “cát cứ”, phân rã trong một số tổ chức đảng, gây xói mòn động lực phát triển, niềm tin của xã hội và làm giảm sức mạnh cố kết của dân tộc. 

4. Mâu thuẫn giữa tính thống nhất cao độ và đòi hỏi đa dạng hóa tư duy độc lập, sáng tạo và dân chủ: Trong thế giới đa cực, phức hợp, sự đa dạng hóa tư duy là tự nhiên và cấp bách; đồng thời khắc chế, loại bỏ xu hướng tư duy cứng nhắc, thậm chí tụt hậu, “theo đuôi thực tiễn” ở không ít đảng viên giữ trọng trách, gây nên tình trạng “Đảng đông mà không mạnh”, “trung bình hóa”, thậm chí “tầm thường hóa” danh hiệu đảng viên.

5. Mâu thuẫn giữa năng lực lãnh đạo chính trị với yêu cầu kiến tạo, phát triển nhà nước pháp quyền và vận hành nền kinh tế thị trường hiện đại: Đây là hệ mâu thuẫn phức hợp giữa chủ thể với khách thể, giữa nội lực với yêu cầu phát triển, giữa chính trị với kinh tế... Không giải quyết cấp bách các vấn đề có thể nói là cốt tử này sẽ rất khó khăn trong cuộc lãnh đạo, cầm quyền hiệu quả.

6. Mâu thuẫn giữa quyền lực với năng lực đảng viên, cán bộ: Đây là mâu thuẫn nội tại trong mỗi bộ máy, ở mỗi đảng viên, cán bộ. Đây là nguyên nhân của tình trạng hoặc tha hóa, thoái hóa, thậm chí trộm cắp quyền lực-“đạo vị” và những biến tướng khác của quyền lực hoặc là buông lỏng quyền lực, lạm quyền, lộng quyền hoặc tình trạng “ông tướng, bà tướng”, thậm chí là “ông vua con” với sự cát cứ, “vương quốc riêng”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo.  

Đột phá đổi mới lý luận và tổ chức thực tiễn lãnh đạo, cầm quyền

Trong tính chỉnh thể lý luận-thực tiễn, nổi bật 5 phương diện quan trọng:
Một là, đổi mới tư duy lãnh đạo: Mở tầm viễn kiến, giữ vững bản lĩnh chính trị, trau dồi trí tuệ và mài sắc năng lực hành động không sợ hãi, không yếm thế. Khai mở, cổ vũ trí tuệ tập thể, cổ vũ văn hóa chính trị, trọng thị tâm lý quốc dân tiến bộ-đó phải là sinh khí của Đảng, là sinh lực mềm của dân tộc-hình thành và phát triển nội lực của quốc gia. Khuyến khích và bảo vệ phản biện nội bộ, xây dựng văn hóa chính trị dân chủ trong Đảng và hệ thống chính trị trước hết.

Hai là, thể chế hóa phương thức lãnh đạo, cầm quyền hiện đại hiệu lực và hiệu quả: Minh định vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng với vai trò quản lý hành chính của Nhà nước. Mọi quyết sách về chính trị hay kinh tế, trước hết và sau cùng phải là quyết sách văn hóa, trên nền tảng đạo lý và pháp lý, vì đất nước phú cường và hạnh phúc của nhân dân. Đường lối chính trị thống nhất và dẫn dắt pháp luật; phát triển chính trị xã hội chủ nghĩa với xây dựng và phát triển nhà nước pháp quyền; dẫn dắt bằng hệ thống thể chế quản lý nhà nước phù hợp và chế ước mọi biên độ vận động đa chiều và phức hợp, chế ước những biến thể mới của đời sống chính trị, kinh tế: Hiện tượng và thực thể đứng ngoài kinh tế, kinh tế phi nhân bản, thậm chí phi kinh tế và phản kinh tế của nền kinh tế thị trường vận hành theo quy luật thị trường toàn cầu.

Ba là, cơ chế cân bằng động và kiểm soát quyền lực chặt chẽ và minh bạch: Ở đâu và khi nào kiểm soát được sự thật, ở đó và lúc đó chỉnh đốn thành công và tránh được thất bại chiến lược. Về phương châm: Kiểm soát công việc, kiểm soát rủi ro và kiểm soát thất bại. Trước hết và tập trung đột phá, chấn chỉnh công tác cán bộ, đặc biệt là phòng, chống suy thoái tư tưởng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng dưới đủ hình thái (nguy hiểm nhất là tham nhũng quyền lực, tham nhũng lòng tin...), tiêu cực, lãng phí, xử lý sai phạm đảng viên, cán bộ đúng kỷ luật của Đảng song hành và thống nhất với pháp luật. Kiểm tra, giám sát toàn bộ hệ thống chính trị theo Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước. Dưới cây lớn, cỏ dại không thể mọc! Trong sự giám sát của nhân dân, đảng viên hủ bại không thể thoát.

Không chủ động phòng, chống tham nhũng đủ loại hiệu quả, nhất định không có bất cứ sự ổn định chính trị, sự phát triển nào như mong muốn, nếu không nói có nguy cơ sụp đổ tất cả. Tôn tài đại thịnh! Tụ hội và trọng dụng nhân tài và tôn vinh tất cả đồng bào vì quốc gia-dân tộc phú cường.

Bốn là, phát triển đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng dân chủ, thống nhất, công bằng và minh bạch: Vun đắp dân là gốc, tôn vinh dân là chủ thể của đổi mới sáng tạo. Lãnh đạo xây dựng các thiết chế dân chủ thực chất bằng pháp luật (bầu cử, đối thoại, trưng cầu dân ý, phản biện xã hội). Dân chủ nhưng không dân túy, không a dua, “theo đuôi”; tập trung nhưng không khuôn cứng, mệnh lệnh... Cổ vũ và bảo vệ đồng bào, dù trong nước hay ở nước ngoài, vượt qua mọi khác biệt, tất cả vì sức mạnh của đất nước, uy tín và danh dự Việt Nam. 

Năm là, khơi dậy khát vọng phát triển và tinh thần tự lập, tự cường, tự tôn và đoàn kết toàn dân tộc: Bồi đắp và phát triển từ mỗi người dân, mỗi tổ chức xã hội nguồn năng lượng sáng tạo tiềm ẩn và hiện hữu để phát triển đất nước; gìn giữ và cổ vũ đạo đức xã hội văn minh, tiến bộ và phát triển tâm lý quốc dân không chịu thúc thủ, nghèo hèn và thua kém các quốc gia, dân tộc khác. Đó là tư chất quốc gia, là danh dự người Việt Nam.

Đổi mới căn bản phương thức lãnh đạo, cầm quyền

Trong nhiều công việc, tối thiểu, tập trung sức mạnh thực hiện hiệu quả trên 5 phương diện:
1. Lãnh đạo, cầm quyền bằng trí tuệ và sự gương mẫu: Với tinh thần độc lập tư duy-tự chủ phát triển-văn hóa chính trị làm gốc, Đảng lãnh đạo bằng trí tuệ, gương mẫu và nêu gương pháp quyền; phòng ngừa, đẩy lùi tư tưởng và hành động lãnh đạo, cầm quyền bằng ý chí đơn thuần, bằng mệnh lệnh ngắn hạn và bằng ảo tưởng huyễn hoặc. Đồng thời, không chỉ bằng uy tín lịch sử mà bằng chất lượng chiến lược phát triển và đạo đức chính trị của đảng viên, cán bộ.

Mỗi đảng viên phải xứng đáng là một nhân cách văn hóa: “Dĩ công vi thượng”, liêm chính, công bằng, khiêm cung, tín nghĩa và trung thực.

2. Lãnh đạo, cầm quyền bằng nắm lấy pháp quyền, dân chủ và đổi mới sáng tạo: Dẫn dắt xây dựng pháp luật và cầm quyền bằng pháp luật. Thể chế minh bạch, nghiêm minh, đổi mới trong Đảng thống nhất với luật pháp quốc gia trở thành động lực phát triển Đảng song hành với dân tộc. Mặt khác, cảnh giới, kiểm soát và loại bỏ tình trạng phường hội, “cát cứ”, nguy cơ “vương quốc trong vương quốc”, thao túng và lũng đoạn chính trị...

3. Lãnh đạo, cầm quyền bằng bộ máy và cán bộ ngang tầm: Đó là nghệ thuật cầm quyền của người dẫn dắt dân tộc: Kiến tạo tương lai, truyền cảm hứng đổi mới, tổ chức lực lượng xã hội hành động đồng bộ, thống nhất xây dựng quốc gia và nhịp bước cùng thời đại; không thủ thuật quản trị đơn thuần, không tách biệt rời rạc và không cục bộ hẹp hòi...

Không ai được quyền lạc hậu hơn dân tộc. Cầu thị tuyển lựa và duy trì bộ máy tinh gọn, thống nhất, liên thông, chuyên nghiệp, hiện đại; đồng thời kiên định và trọng thị, trọng dụng, trọng đãi một cách thành thực và xứng đáng đội ngũ chính trị gia-kỹ trị gia-chiến lược gia-khoa học gia-doanh gia thật sự ngang tầm chiến lược nhu cầu phát triển đất nước, trước hết ngay từ trong Đảng. Không có đội ngũ nhân tài này, nhất định không có bất cứ sự lãnh đạo, cầm quyền thành công nào như mong muốn. 

4. Lãnh đạo, cầm quyền bằng thuyết phục, dẫn dắt và đồng hành với dân tộc ngang tầm văn hóa: Dân tộc không chỉ là khái niệm lịch sử mà còn là chủ thể sáng tạo của đất nước, của thời đại. Và, văn hóa chính trị không chỉ là linh hồn của dân tộc, là năng lượng mềm của sự phát triển năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng-linh khí dẫn dắt quốc gia. Không áp đặt chủ quan, không bè phái thiển cận, càng không hô hào suông hay mệnh lệnh hành chính. Chân thành đối thoại lắng nghe, tôn trọng phản biện và đồng hành với nhân dân.

Nêu gương dân chủ hóa sinh hoạt chính trị xã hội. Khi vì nhân dân, nhân dân sẽ bảo vệ Đảng như giữ gìn sự sống của chính mình. Nhưng khi rời xa nhân dân, Đảng sẽ tự đánh mất chính mình trước tiên. Tôn nịnh ắt đại suy vong!

5. Phát huy sức mạnh tổng hợp Đảng-Nhà nước-nhân dân: Lãnh đạo toàn diện theo vị thế, nhiệm vụ, không ôm đồm, trùm lợp; định hướng theo trách nhiệm chứ không áp đặt chủ quan hay chung chung, trừu tượng, “vừa thừa vừa thiếu"; dẫn dắt theo vị thế, chức năng, tuyệt đối không can thiệp hành chính hoặc bằng “chỉ lệnh”, càng không phải là vẽ “vòng kim cô”, “vạch đường cấm chỉ”; cụ thể chứ không phải “cầm tay chỉ việc”; kiểm tra chứ không phải “soi mói, chụp mũ”... đối với các thành viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội, trên nền tảng điều lệ và pháp luật.

Với thái độ cầu thị, không ngừng đổi mới tư duy, nâng cao trí tuệ, dân chủ hóa lãnh đạo, cầm quyền, mở rộng đại đoàn kết toàn dân tộc, sáng tạo và hợp tác, hội nhập và bản lĩnh trong kiến tạo và hiện thực hóa khát vọng phú cường, Đảng sẽ không chỉ trường tồn cùng dân tộc mà còn làm nên một mẫu hình chính đảng khai mở và phát triển văn minh trong thế giới thế kỷ thứ 21./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG PHẠM Minh CHÍNH HỌP KHẨN VỀ ỨNG PHÓ, KHẮC PHỤC HẬU QUẢ MƯA LŨ TRÊN DIỆN RỘNG Ở MIỀN TRUNG!

     Sáng sớm 29-10, trước tình hình mưa lũ đặc biệt nghiêm trọng tại các tỉnh, thành phố miền Trung, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì họp khẩn với các bộ, ngành, địa phương để tổ chức ứng phó, khắc phục hậu quả, giảm thiệt hại đến mức thấp nhất có thể.

Cuộc họp diễn ra trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ, trực tuyến với Ban Chỉ đạo tiền phương tại thành phố Huế. Cùng dự có Phó thủ tướng Trần Hồng Hà tại điểm cầu thành phố Huế; lãnh đạo các bộ ngành, địa phương.

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đợt mưa lũ lịch sử đã gây ngập lụt cho 32/40 xã, phường với 35.000 hộ dân tại Huế và trên 75.000 hộ dân tại Đà Nẵng. Các hồ chứa đã vận hành giảm lũ cho hạ lưu trong đó Thủy điện A Vương đã cắt giảm được gần 451 triệu mét khối và hồ Thủy điện Sông Bung 4 cắt giảm được 327 triệu mét khối cho hạ du.

Chính phủ, Thủ tướng đã chỉ đạo rất sớm và tập trung chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai công tác ứng phó mưa lũ kịp thời hiệu quả, bám sát, chủ động trước diễn biến tình hình. Các địa phương đã di dời trên 7.000 hộ với hơn 21.000 người tại các khu vực bị ngập lụt, nguy cơ sạt lở, lũ quét. Tuy nhiên tình hình mưa lũ hiện nay vẫn còn đang diễn biến phức tạp, các tỉnh, thành phố cần tập trung triển khai ứng phó theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng tại các công điện.

Từ điểm cầu thành phố Huế, Phó thủ tướng Trần Hồng Hà đánh giá, công tác chỉ đạo đã kịp thời, công tác dự báo khá chính xác. Vì vậy công tác ứng phó, phòng chống của các địa phương, đặc biệt là ở thành phố Huế triển khai nhìn chung bài bản, đặc biệt là các lực lượng Quân đội, Công an đã chủ động và tích cực tham gia ngay từ đầu.

Đến nay, mặc dù phạm vi bị ảnh hưởng, ngập lụt tại thành phố Huế rất lớn, người dân và chính quyền địa phương hai cấp đã và đang nỗ lực ứng phó, cấp ủy, chính quyền quan tâm sát sao đến tình hình của nhân dân.

Sáng 29-10, đoàn công tác của Phó Thủ tướng sẽ kiểm tra một số địa phương, thăm hỏi và đánh giá tình hình các tuyến giao thông; kiểm tra tình hình ứng phó, khắc phục hậu quả mưa lũ tại Đà Nẵng.

Sau khi nghe báo cáo tình hình, phát biểu tại cuộc họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, đây là một đợt mưa lũ đặc biệt lớn ở khu vực miền Trung, nhiều nơi có lượng mưa lớn kỷ lục, chưa từng có. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo, triển khai phòng, chống, ứng phó với mưa lũ từ sớm, từ xa, kịp thời, hiệu quả, bám sát các diễn biến tình hình. Trong đó, Thủ tướng đã có 3 công điện chỉ đạo, giao Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà trực tiếp chủ trì họp với các bộ ngành, địa phương và đang trực tiếp đi kiểm tra, đốc thúc, chỉ đạo ứng phó với mưa lũ tại miền Trung.

Biểu dương nỗ lực của các bộ, ngành và cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị và người dân các địa phương trong công tác ứng phó, khắc phục hậu quả mưa bão, Thủ tướng bày tỏ chưa hài lòng, yêu cầu cao hơn nữa đối với công tác thông tin, báo cáo và triển khai các giải pháp ứng phó theo chỉ đạo, công điện của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm các công điện của Thủ tướng Chính phủ, tổ chức ứng phó, khắc phục hậu quả mưa lũ tại khu vực Trung Bộ. Các bộ ngành, địa phương khẩn trương thống kê, tổng hợp, cập nhật về tình hình thiệt hại sơ bộ, báo cáo ngay Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp có thẩm quyền.

Thủ tướng chỉ đạo cấp ủy, chính quyền kịp thời tổ chức thăm hỏi, động viên, hỗ trợ nhân dân, nhất là các gia đình có người chết, mất tích; thực hiện ngay các chính sách hỗ trợ tốt nhất đối với nhân dân, hỗ trợ lo hậu sự cho người không may bị thiệt mạng, cứu chữa người bị thương. Các bên liên quan kiên quyết di dời người dân khỏi khu vực nguy hiểm, có nguy cơ sạt lở, lũ quét, lũ ống; bảm bảo lương thực thực phẩm, nhu yếu phẩm, nước sạch, thuốc khử trùng… cho người dân. “Bằng mọi biện pháp tiếp cận, tiếp tế lương thực, thực phẩm, nước uống và nhu cầu thiết yếu cho người dân tại những khu vực bị ngập sâu, chia cắt, sạt lở; không để người dân nào đói, rét”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu các địa phương rà soát, nếu cần phải hỗ trợ gạo, lương thực, lương khô… thì đề xuất, trước mắt Trung ương hỗ trợ ngay 2 tấn lương khô cho thành phố Huế; giao Quân khu 5 triển khai ngay vận chuyển tới người dân; lực lượng Quân đội, Công an khẩn trương triển khai tiếp tế cho người dân tại những khu vực bị ngập sâu, chia cắt.

Bộ Quốc phòng, Quân khu 5, Công an điều động phương tiện, lực lượng cho công tác phòng, chống thiên tai. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế tăng cường nhân lực vào khu vực này, bảo đảm lương thực, thực phẩm, nước uống, nước sạch, thuốc khử trùng cho người dân.

Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ đạo các lực lượng, tập đoàn Điện lực Việt Nam, doanh nghiệp viễn thông như Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội khẩn trương khắc phục, cung cấp điện, sóng viễn thông trở lại trong thời gian sớm nhất để đảm bảo người dân nắm được thông tin đầy đủ, kịp thời.

Thủ tướng cũng yêu cầu tính toán phương án khắc phục hậu quả, khôi phục các hoạt động ngay sau khi lũ rút, nhất là khôi phục hoạt động tại trung tâm hành chính công, lớp học, trường học và cơ sở y tế, không để bất cứ học sinh thiếu nơi học tập, không để người bệnh thiếu nơi chữa bệnh, không để cho người dân thiếu ăn, thiếu mặc, bị đói rách. Cùng với đó, các bên liên quan sẵn sàng lực lượng, phương tiện, vật tư hỗ trợ vệ sinh đường sá, xử lý môi trường, phòng, chống dịch bệnh, khôi phục sản xuất ngay sau mưa lũ.

Thủ tướng chỉ đạo các cơ quan chức năng chủ động phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan, hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng triển khai thực hiện sớm chính sách hỗ trợ về thuế, tín dụng, bảo hiểm… để người dân, doanh nghiệp bị thiệt hại do thiên tai sớm phục hồi, sản xuất kinh doanh.

Lưu ý công tác thống kê, đánh giá tình hình thiệt hại sau mưa lũ phải chính xác, đầy đủ để báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định, Thủ tướng chỉ đạo các bộ, ngành, cơ quan phải chủ động xử lý ngay kiến nghị của các địa phương về nhu cầu cấp bách theo thẩm quyền, vượt thẩm quyền thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Trước mắt, Bộ Tài chính phân bổ 150 tỷ đồng hỗ trợ thành phố Huế.

Thủ tướng Phạm Minh Chính giao Phó thủ tướng Trần Hồng Hà tiếp tục trực tiếp chỉ đạo Ban chỉ đạo tiền phương ứng phó mưa lũ, nếu vượt thẩm quyền thì báo cáo ngay Thủ tướng./.
Ảnh 1: Thủ tướng yêu cầu các bộ ngành, địa phương khẩn trương thống kê, tổng hợp và cập nhật về tình hình thiệt hại, báo cáo ngay Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp có thẩm quyền.

Ảnh 2: Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp khẩn trực tuyến với một số địa phương miền Trung về công tác ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ.
Yêu nước ST.