Thứ Ba, 19 tháng 11, 2019

Bài học cho những người “trở cờ” phản dân, hại nước


Bài học cho những người “trở cờ” phản dân, hại nước

Ngày 15-11, TAND tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án Nguyễn Năng Tĩnh về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Đây là phiên tòa hình sự xét xử công khai, hành vi và tội trạng thể hiện rõ tại cáo trạng cũng như quá trình xét hỏi, thẩm vấn tại tòa.
Tuy nhiên, cũng như những vụ án xét xử các bị cáo có hành vi chống Nhà nước Việt Nam, một số tổ chức, cá nhân thù địch lại chụp mũ “tù nhân lương tâm”, “xét xử người bất đồng chính kiến”..., lấy cớ lên án tòa án và Nhà nước. Thậm chí, họ còn đưa ra các “thông cáo” với những đòi hỏi hết sức phi lý.
Ngay trước khi diễn ra phiên tòa, tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch (HRW) vào ngày 14-11 ra “thông cáo báo chí” kêu gọi Chính phủ Việt Nam “cần hủy bỏ mọi cáo buộc đối với nhà hoạt động nhân quyền Nguyễn Năng Tĩnh và phóng thích ông này ngay lập tức”. Giám đốc vận động Châu Á của HRW, ông John Sifton, được dẫn lời qua thông cáo báo chí rằng trường hợp Nguyễn Năng Tĩnh “là người mới nhất trong một chuỗi dài các nhà bất đồng chính kiến bị nhắm vào vì đăng tải thông tin và lên tiếng phê phán trên Facebook”. Ông này vu cáo “chính quyền đang lạm dụng Bộ luật Hình sự để bắt giam những người dân không làm gì khác ngoài việc thực thi các quyền cơ bản về tự do ngôn luận”.
Ông Phil Robertson, Phó giám đốc đặc trách khu vực Châu Á của HRW nói với đài RFA hôm 14-11 rằng: “Vụ của ông Nguyễn Năng Tĩnh là trường hợp rõ ràng về một người bất đồng chính kiến bị chính quyền Việt Nam nhắm vào. Những gì mà ông ấy làm chỉ là đưa thông tin về môi trường lên mạng xã hội. Ông ấy chỉ làm những điều cơ bản mà một nhà hoạt động xã hội thường làm. Ông ấy thực thi quyền của mình chứ không làm gì sai trái cả”.
Từ việc suy diễn vô lối như trên, ông này lộ rõ động cơ thực của mình khi quy chụp “chính quyền Việt Nam cứ tiếp tục với cách này thì càng chứng tỏ thành tích nhân quyền tồi tệ của họ”.
Luận điệu của HRW với các tuyên bố hay thông cáo nói trên không có gì mới, vẫn là những trò chống phá xưa cũ. Ngay cả những nhân vật mà họ trích lời, đưa ra các phát biểu như vậy cũng là những người vốn có định kiến, tư tưởng thù địch với Nhà nước Việt Nam, chỉ khác là lắp lời nói vào vụ án này hay vụ án khác, từ bị cáo này sang bị cáo khác. Còn về động cơ, ý đồ không có gì thay đổi: chĩa mũi nhọn chống phá, hòng hướng lái dư luận bằng cách nhìn u ám, đen tối về Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ XHCN.
Thực ra, vụ án Nguyễn Năng Tĩnh không hề có bất cứ sự mập mờ hay đánh tráo nào như luận điệu họ rêu rao, tất cả đều được thể hiện bằng các tài liệu, chứng cứ rõ ràng và công bố công khai. Kết quả điều tra cho thấy, Facebook Nguyễn Năng Tĩnh được lập và hoạt động từ năm 2011, đến ngày 17-6-2018, tài khoản cá nhân này đã được sử dụng để đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung vi phạm pháp luật.
Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An đã phát hiện, thu thập được 22 bài viết, video, hình ảnh được đăng tải, chia sẻ trên trang Facebook Nguyễn Năng Tĩnh để tiến hành điều tra, xác minh. Nguyễn Năng Tĩnh đã thông qua trang Facebook cá nhân để móc nối với một số đối tượng cực đoan, phản động trong và ngoài nước để viết, quay, tán phát, đăng tải, chia sẻ, bình luận các nội dung xuyên tạc bản chất của Nhà nước Việt Nam, phủ nhận thành quả cách mạng của dân tộc; phỉ báng chính quyền nhân dân, xuyên tạc lịch sử, phỉ báng chế độ. Đưa ra các bài viết bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động người dân biểu tình, chống chính quyền, đăng tải các tài liệu có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân...
 Các tài liệu, chứng cứ và vấn đề liên quan đến vụ án được thể hiện rõ trong bản cáo trạng do đại diện VKS tỉnh Nghệ An trình bày tại phiên tòa.
Tranh luận và nêu quan điểm tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát cho rằng, căn cứ vào kết quả điều tra cũng như quá trình tiến hành tố tụng, đủ cơ sở để truy tố Nguyễn Năng Tĩnh về tội danh: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.
Tội danh này phạm vào các điểm a, b, c, khoản 1, Điều 117, BLHS. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, quan điểm của kiểm sát viên và các luật sư bào chữa, HĐXX xác định: Đây là vụ án rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo rất nguy hiểm, diễn ra trong thời gian dài.
Bị cáo lợi dụng quyền tự do dân chủ trong việc sử dụng Facebook cá nhân, lợi dụng các vấn đề chính trị, xã hội trong nước để xuyên tạc lịch sử, kích động quần chúng nhân dân, xuyên tạc, vu cáo, chống lại chính quyền nhân dân… HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Năng Tĩnh 11 năm tù; phạt quản chế bị cáo 5 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Việc tòa án đưa ra xét xử bị cáo có hành vi vu cáo, xuyên tạc, chống phá Nhà nước Việt Nam đúng với quy định của luật pháp hiện hành. Những hành vi tương tự cũng được thể hiện sự nghiêm trị trong luật pháp các nước trên thế giới. Ngay tại những nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, tòa án sở tại cũng xét xử các bị cáo có hành vi chống chính quyền, Nhà nước với các hình phạt tương ứng với hành vi vi phạm do họ gây ra.
Do đó, những luận điệu của HRW không thể lập lờ đánh lận sự thật đã được thể hiện bằng chứng cứ pháp luật và sự xét xử khách quan, công minh của tòa án. Theo số liệu thống kê của Liên Hợp Quốc, 138 quốc gia (trong đó có 95 nước đang phát triển) đã ban hành luật an ninh mạng.
Tuy khác nhau về tên gọi nhưng nội dung chính của pháp luật an ninh mạng của các nước đều nhằm cải thiện tình hình an ninh thông tin của các doanh nghiệp và cơ quan công quyền cũng như bảo vệ tốt hơn người dân trên môi trường mạng Internet. Tùy theo hành vi, tính chất mà người vi phạm bị xử lý hành chính hay bị truy cứu hình sự. 
Vụ án này cũng là bài học cho những ai đang có ý nghĩ, hành vi tương tự, cần phải biết nhìn nhận đúng đắn trước khi quá muộn. Nguyễn Năng Tĩnh, SN 1976, là người Công giáo, sinh hoạt tại Giáo xứ Mỹ Khánh, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Tốt nghiệp Nhạc viện Âm nhạc Huế, Tĩnh trở thành thầy giáo dạy nhạc và là giảng viên Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Nghệ An.
Trong môi trường giáo dục, có năng khiếu về âm nhạc, Tĩnh lại thực hiện hành vi chống phá, tuyên truyền những sáng tác có nội dung sai lệch. Cùng với đó, Tĩnh thường lợi dụng các cuộc tụ tập để hát những nhạc phẩm có nội dung phá hoại tư tưởng, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Thậm chí, trên cương vị giảng viên âm nhạc, Tĩnh còn đưa những bài hát này phổ biến cho sinh viên. 
Tại sao một giảng viên âm nhạc, được đào tạo bài bản lại “trở cờ”, có các hoạt động chống đối? Tìm hiểu về nhân thân cho thấy, Tĩnh đã không giữ được bản thân mình, không thực hiện đúng nghĩa vụ với tư cách một công dân cũng như với cương vị người thầy. Tĩnh đã trượt và ngày càng lấn sâu vào con đường phạm pháp dưới sự dẫn dắt, mua chuộc của đối tượng xấu.
Với quan điểm là lấy giáo dục, thuyết phục làm trọng để uốn nắn, cải sửa người nào đó vì nhận thức, động cơ sai lệch mà lầm đường lạc lối, mong muốn họ tỉnh ngộ, từ bỏ sai lầm. Nhưng khi họ vẫn chứng nào tật nấy, không ăn năn hối lỗi, cố ý thực hiện hành vi tội phạm, chống lại đất nước, nhân dân, phạm vào quy định pháp luật hình sự thì phải áp dụng chế tài hình sự. Việc xử lý nghiêm minh cũng là để răn đe, phòng ngừa chung. 

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch



Với mục tiêu xuyên suốt không thay đổi của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thời gian gần đây, nhất là khi chúng ta đang chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chúng càng đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách toàn diện, trong đó tập trung vào các lĩnh vực tư tưởng chính trị, kinh tế, pháp luật, quốc phòng, an ninh, nguyên tắc tổ chức, cán bộ, công tác nhân sự đại hội...

Bác bỏ mọi sự xuyên tạc thực tế của Việt Nam



Xuyên tạc sự thật là một thủ đoạn quen dùng của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Họ thường tập trung xuyên tạc vị thế lãnh đạo của Đảng, khi cho rằng “chế độ một đảng lãnh đạo chỉ đưa dân tộc đến ngõ cụt”(!). Gần đây, trên một số trang mạng xã hội, họ rêu rao rằng “Hơn 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ngày càng lún sâu vào xu thế lụn bại, tụt dốc không phanh”(!). Xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, họ cho rằng “Đó là sự bế tắc của những người cộng sản, bởi đường lối này là đầu Ngô mình Sở”(!). Xuyên tạc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, gắn với chủ trương “Việt Nam không tham gia liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia”, họ cho rằng “đường lối trung dung này tự cô lập Việt Nam, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(!). Xuyên tạc những thành tựu của sự nghiệp đổi mới, họ cố bịa đặt: “đất nước đang lâm vào khủng hoảng toàn diện”(!), v.v.

LÊ MÃ LƯƠNG - BÊNH CÔNG THẦN, TƯ TƯỞNG DÂN TÚY HAY BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”



Trong thời gian qua, trên các trang mạng xã hội xuất hiện nhiều bình luận khác nhau về bài phát biểu của một cựu chiến binh, người- một thời là niềm tự hào của thanh niên Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Bọn cơ hội, bọn phản phản động thì tung hô, ca ngợi “người anh hùng”. Người là đồng bào, đồng đội của ông thì xót xa, xấu hổ vì đã có thời ngưỡng mộ ông. Vậy, tại sao ông lại thế? Căn bệnh đó bắt đầu từ đâu?

ANTON ĐẶNG HỮU NAM – KẺ VÔ ƠN, PHẢN BỘI CHÚA




Chúa Giêsu trong thân phận làm người, Ngài cũng nếm cảnh trần trụi của tình người thay trắng đổi đen, của sự vô ơn và phản bội của thế gian. Ngài cũng hiểu nỗi đau của sự bị bỏ rơi, của sự vô ơn của kẻ Ngài đã từng thi ân. Ngài đã từng tiếc nuối cho kẻ vì danh lợi thú mau qua mà bán rẻ nhân phẩm của mình, vì chút bổng lộc mà bán đứng anh em. Ngài đã từng ước mơ “thà nó đừng sinh ra thì hơn”. Nhưng cuộc đời hôm qua và hôm nay vẫn còn đó những con người lòng chai dạ đá, chúng đội lốt đệ tử của Ngài làm những điều xấu xa, đó là hành động phản bội của Anton Đặng Hữu Nam

DI CƯ BẤT HỢP PHÁP



Nước ta chuẩn bị tiếp nhận các nạn nhân di cư bất hợp pháp sang Vương quốc Anh không may mắn bị tử vong. Trước hết, chúng ta chia buồn sâu sắc tới toàn thể gia quyến của những người di cư bị tử vong này; đúng là vì cơm, áo, gạo, tiền mà để những người rất đáng thương, tuổi còn rất trẻ mà phải ra đi theo con đường đầy may rủi, mà vấn vả này. Nước ta đang phát triển, đời sống nhân dân đã và đang được cải thiện, ngày càng tốt hơn; mỗi người đều có quyền được sống, làm việc, mưu cầu hạnh phúc riêng; làm giầu cho cá nhân và xã hội là nguyện vọng chính đáng của mỗi người, song phải tuân thủ theo chính sách, pháp luật của mỗi nước. Nhiều người di cư rất hợp pháp, được Nhà nước ủng hộ; nhưng những người di cư bất hợp pháp cần phải được xã hội phê phán, bất kể bằng con đường nào… Sau khi sự việc sảy ra, Chính phủ đã cùng với các cơ quan chức năng đã vào cuộc đồng bộ, toàn diện, kịp thời, đấy là điều rất đáng mừng. Nhưng việc bóc gỡ các đường dây buôn người bất hợp pháp là việc làm rất quan trọng, họ đã tồn tại nhiều năm, có thể những rủi ro bây giờ mới được phát giác… chờ cơ quan chức năng giải quyết; đồng thời mọi người chúng ta cũng nên nhận thức đúng về vấn đề này, làm giầu cần phải hợp pháp, hết sức tránh làm giầu bất hợp pháp, hên sui, coi thường tính mạng của con người; người không còn, của để làm gì… Vĩnh biệt họ !

ĐƯỜNG LƯỠI BÒ



Những ngày vừa qua, dư luận xã hội nói nhiều về “Đường lưỡi bò” mà Trung Quốc đã tự vẽ ra để khẳng định chủ quyền trên Biển Đông, nhưng đã bị Tòa án Quốc tế năm 2016 bác bỏ vì không có cơ sở pháp lý và lịch sử. Nhưng “Đường lưỡi bò” vẫn bằng cách này hay cách khác vẫn nhởn nhơ có mặt tại Việt Nam, từ bản đồ, hộ chiếu, tờ rơi quảng bá du lịch, sách học tập Hán ngữ… đến phần mềm trên xe ô tô nhập khẩu từ năm 2014 đến nay, như vậy Trung Quốc đã đưa “Đường lưỡi bò” vào Việt Nam là có tính hệ thống, chủ ý rõ ràng; buồn một lỗi là có một số người Việt Nam không rõ do vô tình hay cố ý, vì lòng tham của mình đã trực tiếp hay gián tiếp đã tiếp tay cho Trung Quốc quảng bá “Đường lưỡi bò” tại Việt Nam. Đây là những hành vi không yêu nước, không đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, không biết giữ thể diện của cá nhân và danh dự của quốc thể; cá biệt có Ông hiệu phó của một trường đại học, không những thờ ơ, vô cảm, mà còn cố gắng bao biện trước công chúng, rất thiếu trách nhiệm, để nhiều người phẫn lộ, phê phán…

ĐẠI ĐOÀN KẾT - CỘI NGUỒN SỨC MẠNH!



Lạc Long Quân - một thần thoại cổ xưa nhất ca ngợi nòi giống cao quý của tổ tiên dân tộc Việt: Lạc Long Quân giống rồng kết duyên cùng Âu Cơ giống tiên. Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra một trăm người con. Ý nghĩa câu chuyện nhắc nhở cháu con dù nơi miền biển, dù triền núi cao cũng đều là con Hồng cháu Lạc chung một nguồn cội tổ tiên.
Hai chữ “đồng bào” (đồng nghĩa là cùng, bào nghĩa là bọc) có xuất xứ từ thần thoại này. Để rồi Việt Nam hôm nay tự hào là nước duy nhất trên thế giới có tín ngưỡng thờ vua Tổ:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba”
Nhiều truyện cổ các dân tộc Việt Nam có mô típ giải thích nguồn gốc các dân tộc chung từ “quả bầu mẹ”. “Quả bầu” chính là “hình thức phái sinh” của “cái bọc trăm trứng”. Bầu là thứ cây gần gũi, quen thuộc vùng cư dân nông nghiệp, miền núi cũng sẵn, đồng bằng cũng nhiều, dễ trồng, dễ chăm và rất tiện dụng, có thể ăn lá, ăn quả… Bầu leo trên giàn, ngọn nọ ngọn kia quấn quýt, nâng đỡ nhau gợi liên tưởng về sự giao hòa, đoàn kết, tương thân tương ái… Một hình tượng thật hay để nói về sự yêu thương, keo sơn, gắn bó!
Từ góc nhìn văn hóa thì cây tre là biểu tượng cho tâm hồn, tính cách Việt. Tre không bao giờ đơn lẻ mà luôn mọc, sinh sống, lớn lên thành bụi, thành cụm. Phương ngữ Việt có câu “măng ấm bụi” để chỉ hiện tượng bụi tre càng nhiều cây lớn che chở nhau thì càng có nhiều măng mọc. Con người cũng vậy, bao bọc, nâng đỡ, dìu dắt nhau. Thế nên Thánh Gióng nhổ tre đuổi giặc không chỉ là sự chứng minh tinh thần quật khởi không chịu làm nô lệ của người dân Việt mà còn biểu hiện ý chí đoàn kết, tiếp nối thế hệ này với thế hệ khác. Gậy sắt gãy, Gióng nhổ tre, tức là lại có tiếp hàng triệu, hàng triệu cây gậy khác nhận sứ mệnh giữ gìn nước non. Quả vậy, tiếp sau Gióng là bao thế hệ dùng gậy tre, gậy tầm vông… cùng nhau bảo vệ độc lập, tự do.
Trong từ vựng tiếng Việt, chữ “đồng” (cùng) làm thành hệ thống từ ghép đồng nghĩa phong phú bậc nhất (so với từ vựng các nước khác): Đồng bào, đồng tâm, đồng chí, đồng ý, đồng tình, đồng lòng, đồng hương, đồng cảm, đồng điệu, đồng hành, đồng đội, đồng hao, đồng môn, đồng nghiệp, đồng khởi, đồng diễn, đồng ca…
Có biết bao nhiêu thành ngữ, tục ngữ, ca dao nói về sự đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau: “Chị ngã em nâng”, “Tay đứt ruột xót”, “Lá lành đùm lá rách”
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Trong ngày lễ 2-9-1945, Bác Hồ dùng chữ “đồng bào” thật tinh tế, hướng cả dân tộc về nguồn cội tổ tiên đồng lòng nhất trí dựng xây và bảo vệ nước Việt Nam độc lập. Trước đó, năm 1942, Người viết "Lịch sử nước ta" kêu gọi dân ta đoàn kết:
“Dân ta xin nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”
Trong tác phẩm này, Người chứng minh và khẳng định chân lý lịch sử: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Đó cũng là chân lý thời đại.
Hội nghị Diên Hồng nhà Trần khích lệ tướng sĩ đoàn kết như tình cha con quyết đuổi giặc Nguyên Mông hung hãn giành lại non nước cha ông!
Thời Lê Lợi-Nguyễn Trãi “tướng sĩ một lòng phụ tử”, ngọt ngào “nước sông chén rượu” mang về độc lập giang sơn!
Thời đánh Pháp, đuổi Mỹ, cả dân tộc hướng về Bác Hồ, đoàn kết thành một khối vững như dải Trường Sơn làm nên chiến thắng thống nhất đất nước!
Hôm nay, cả dân tộc hướng theo cờ Đảng quang vinh viết bản hùng ca đổi mới, đưa nước nhà tiến bước sánh vai cùng các cường quốc năm châu!
Lời Bác là lời lịch sử, là lời chân lý:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công!”
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, chỉ thì và các chính sách, chiến lược phát triển nhằm mục tiêu tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường; giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Đây chính là định hướng quan trọng để toàn dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các thành phần, lực lượng trong xã hội; đạt được những thành quả ấn tượng trong phát triển bền vững để không ai bị bỏ lại phía sau./.
HA


MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM, ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ"


MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM, ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ"
Một là, cần nhận thức đầy đủ về XHDS và có cách “ứng xử” phù hợp với vấn đề “XHDS”. Phải thẳng thắn bác bỏ và phê phán, đấu tranh kiên quyết với các quan điểm khuyến khích, cổ vũ XHDS với ý đồ thúc đẩy hình thành các tổ chức chính trị đối lập. Hiện nay, nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến XHDS chưa được nghiên cứu thấu đáo, hiệu lực và công cụ quản lý của Nhà nước, ý thức pháp luật của người dân còn có những hạn chế. Do đó, nếu chúng ta buông lỏng, thả nổi cho sự hình thành, phát triển “XHDS” sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy phức tạp, khó kiểm soát, nhất là dưới góc độ quản lý nhà nước, cũng như bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và bảo vệ an ninh quốc gia. 
Hai là, kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách, biện pháp hạn chế đến mức thấp nhất những hệ lụy, ảnh hưởng tiêu cực của XHDS mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam. Cần tổ chức nghiên cứu bài bản, có hệ thống về XHDS, các yếu tố của XHDS, nhất là làm rõ khái niệm, bản chất của XHDS; XHDS và các yếu tố cấu thành, biểu hiện cụ thể của XHDS; các hình thức của XHDS gắn với điều kiện lịch sử - cụ thể, nhất là chế độ chính trị, truyền thống văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội; cấu trúc của XHDS và quan hệ của XHDS với nhà nước, thị trường, tôn giáo, mạng xã hội, gia đình; vai trò, ưu thế và giới hạn, mặt tiêu cực của XHDS; yếu tố ngoại sinh và nội sinh của XHDS; các hình thức lợi dụng XHDS của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị. Từ những kết quả nghiên cứu này sẽ giúp cho Đảng, Nhà nước chủ động có chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm quản lý các tổ chức xã hội, các NGO, vừa phát huy mặt tích cực, vừa định hướng hoạt động lành mạnh phù hợp với thể chế chính trị, đặc điểm về kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước, triệt tiêu các yếu tố có thể bị lợi dụng để hình thành lực lượng chính trị đối lập, gây bất ổn chính trị - xã hội. Đồng thời, làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân không bị các thế lực thù địch kích động, lôi kéo thông qua danh nghĩa tổ chức XHDS. 
Ba là, trong điều kiện có sự tồn tại khách quan của một số loại tổ chức có tính chất “XHDS”, cần tham mưu cho Đảng, Nhà nước xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm phát huy đầy đủ vai trò của các tổ chức này, hạn chế những tác động tiêu cực của nó và có các biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước, phù hợp với cơ chế vận hành của thể chế chính trị, giữ vững bản chất của chế độ. Sự quản lý và định hướng có hiệu quả, bằng pháp luật của Nhà nước sẽ tạo ra một môi trường dân chủ, lành mạnh cho sự phát triển hài hòa của toàn xã hội. Mặt khác, cần củng cố, đổi mới, phát huy tính tích cực và chủ động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội để làm tốt chức năng đoàn kết, tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, giám sát và phản biện xã hội, bảo vệ quyền lợi của nhân dân trước tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa. 
Đồng thời, quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”(1), định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội, hiệp hội, đoàn thể ở Việt Nam phải gắn liền với việc xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; gắn với đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện nền dân chủ XHCN. 
Bốn là, các lực lượng nòng cốt các cấp căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ cụ thể được giao, vận dụng các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “XHDS” xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Trong đó, vấn đề cấp bách hiện nay là tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các tổ chức hội và NGO Việt Nam, không để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng tác động, chuyển hóa thành tổ chức XHDS theo tiêu chí phương Tây. 
Đồng thời phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng khác đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, ngăn chặn hoạt động truyền bá tư tưởng, thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò của XHDS theo mô hình, tiêu chí của phương Tây, cổ vũ thành lập các tổ chức chính trị đối lập, các tổ chức phản động dưới danh nghĩa, vỏ bọc của tổ chức “XHDS”; phối hợp tuyên truyền, vận động các nhân sĩ, trí thức, học giả đang sinh hoạt tại các hội, liên hiệp hội, tổng hội nâng cao cảnh giác trước luận điệu của các thế lực thù địch về cái gọi là “hình mẫu lý tưởng” của “XHDS” phương Tây, cũng như tích cực tham gia đấu tranh tư tưởng - lý luận. Đồng thời, vạch rõ những điểm không phù hợp (cả về lý luận và thực tiễn) của “XHDS” theo hình mẫu phương Tây đối với xã hội Việt Nam; vạch rõ mưu đồ chính trị của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thông qua việc lợi dụng vấn đề “XHDS” để tác động, chuyển hóa chế độ chính trị tại Việt Nam. Bên cạnh đó, sử dụng các biện pháp, phương tiện ngăn chặn, vô hiệu hóa các con đường, cách thức truyền bá vấn đề “XHDS” theo hình mẫu phương Tây vào Việt Nam, đặc biệt là thông qua các phương tiện truyền thông xã hội, hợp tác, trao đổi về văn hóa, khoa học, giáo dục - đào tạo... Đấu tranh, ngăn chặn, xử lý kịp thời hoạt động của các thế lực thù địch bên ngoài câu kết, hậu thuẫn cho số đối tượng chống đối trong nước thành lập các tổ chức phản động dưới danh nghĩa, vỏ bọc XHDS./.

BẢN CHẤT VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA "XÃ HỘI DÂN SỰ" MÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ THƯỜNG LỢI DỤNG ĐỂ CHỐNG PHÁ


BẢN CHẤT VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA "XÃ HỘI DÂN SỰ" MÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ THƯỜNG LỢI DỤNG ĐỂ CHỐNG PHÁ
Khái niệm “xã hội dân sự” gây nên nhiều tranh cãi tại Việt Nam, có người đặt nó đối nghĩa với “xã hội chính trị”, có người lại xem nó đối lập với “xã hội quân sự”. Nhiều người không thừa nhận khái niệm này vì nội hàm và ngoại diên không tường minh, bởi khó có thể định nghĩa một “xã hội” (dân sự) trong “xã hội” (tổng thể) mà nhân loại lâu nay đã phân định thành các phân hệ - lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường. Có người xem các hiệp hội, tổ chức xã hội chính, quỹ, diễn đàn... là những biểu hiện cụ thể của “XHDS”, nhưng người khác lại cho rằng đó chính là các thiết chế xã hội gắn với các thể chế tương ứng, đâu phải là một “xã hội”. Một định nghĩa về XHDS được chia sẻ rộng rãi: “XHDS là không gian xã hội công cộng nằm ngoài nhà nước, thị trường và lĩnh vực riêng tư của cá nhân, bao gồm tổng thể các định chế xã hội độc lập tương đối với nhà nước và hoạt động tự nguyện trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo, xã hội...”. 
Điều đó cho thấy, không có định nghĩa thống nhất về “XHDS” mà nó thường bị giải thích một cách chủ quan bởi ý chí của người muốn sử dụng khái niệm này. Các thế lực thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng tính không rõ ràng, thiếu tính lịch sử - cụ thể của khái niệm này để giải thích nội hàm “XHDS” theo tiêu chí của các nước phương Tây. Trong các nền dân chủ đa đảng, ranh giới giữa một tổ chức của XHDS và đảng chính trị rất mong manh. Một tổ chức xã hội khi đủ điều kiện và đăng ký tham gia tranh cử vào nghị viện, nếu giành được một tỷ lệ phiếu nhất định trong các cuộc bầu cử (theo quy định của các nước rất khác nhau), thì được xếp vào đảng chính trị và nhận được hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước để hoạt động. Thậm chí nếu giành được số phiếu cao có thể trở thành đảng chính trị có vị thế trong đời sống chính trị đất nước. Còn các tổ chức xã hội không hội đủ số phiếu cần thiết, cùng với các hiệp hội, quỹ, diễn đàn, viện nghiên cứu độc lập... được xem là thành tố cấu thành của “XHDS”. Ngay bản thân tài chính của các tổ chức xã hội, viện nghiên cứu độc lập, quỹ, diễn đàn này, một mặt, dựa vào khả năng tự huy động; mặt khác, nhận đấu thầu các gói dịch vụ có nguồn gốc tài chính ngân sách để thực hiện các mục tiêu của chính phủ. Những tổ chức của “XHDS” có vị thế lớn đều có lực lượng chính trị này hay lực lượng chính trị khác đứng sau chi phối, gây ảnh hưởng, thông qua cung cấp tài chính và định hướng mục tiêu hoạt động. 
Trong các nước chuyển đổi chế độ chính trị ở Đông Âu, không gian hậu Xô-viết, Bắc Phi - Trung Đông, cũng như ở nhiều nơi khác, đã từng diễn ra các trường hợp một tổ chức của “XHDS” bằng các chiêu trò dân túy và sự hà hơi, tiếp sức từ bên ngoài, chỉ trong một thời gian ngắn chuyển hóa thành đảng chính trị thực hiện “cách mạng nhung”, “cách mạng màu” rồi trở thành đảng cầm quyền. Các NGO nước ngoài nhân danh “XHDS” hoạt động trên lãnh thổ nước khác hoạt động rất ráo riết để cổ vũ cho thúc đẩy các hoạt động “cách mạng đường phố”, mà đứng sau đều chịu sự chi phối bởi các chính phủ đã cung cấp tài chính. Vì vậy, Tổng thống Nga V. Pu-tin rất mạnh tay với các tổ chức NGO nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ nước Nga; nhiều nước khác cũng rất cảnh giác, thận trọng, tìm cách quản lý, kiểm soát các tổ chức này nếu không muốn gây nên nguy cơ bất ổn xã hội. 
Do các tổ chức xã hội có vai trò tích cực nhất định, nên các đối tượng thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã ra sức lợi dụng, tuyệt đối hóa đặc điểm này để tranh thủ quần chúng, tập hợp lực lượng một cách công khai nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước. Họ lợi dụng các kẽ hở về mặt pháp luật, các vấn đề tiêu cực trong xã hội, vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, khi thời cơ chín muồi sẽ hình thành tổ chức chính trị đối lập tại Việt Nam. Có thể nhận dạng mấy điểm sau đây của XHDS:
Thứ nhất, dù những người cổ vũ cho XHDS tự cho rằng XHDS có tính “độc lập” với Nhà nước và không mang bản chất giai cấp, nhưng thực tế cho thấy, XHDS (bao gồm các tổ chức hội, hiệp hội, đoàn thể, tổ chức phi chính phủ, quỹ, diễn đàn...) đều mang tính chính trị, luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng để tiến hành các hoạt động chống Đảng và Nhà nước. “Xã hội dân sự” chính là môi trường mà trong chính bản thân các thành tố cấu thành cũng diễn ra cuộc đấu tranh giữa các nhóm lợi ích trên mọi phương diện, từ chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa... Do đó, các lực lượng, phe phái, đảng phái chính trị luôn tìm cách chi phối, vận động, lôi kéo lực lượng XHDS hoặc chính các thành tố của XHDS (hội, hiệp hội, đoàn thể, quỹ, diễn đàn...) để đạt được mục tiêu, lợi ích của mình đều bị chi phối bởi các thế lực chính trị hoặc bị chính trị hóa ở các mức độ, hình thức khác nhau. Thực tế cho thấy, thời gian qua, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng, thúc đẩy hình thành XHDS đối lập với Đảng, hoạt động ngoài sự quản lý của Nhà nước, tạo tiền đề cho can thiệp, lật đổ dưới danh nghĩa “chuyển hóa dân chủ”, đưa các lực lượng chống đối lên nắm chính quyền. 
Thứ hai, vốn mang tính đa dạng về lợi ích, thành phần, do đó XHDS cũng mang tính đa dạng, đa nguyên về tư tưởng. Đặc trưng này phản ánh tính phức tạp về tư tưởng, văn hóa trong đời sống XHDS. Đối với Việt Nam, sự hình thành của XHDS còn chứa đựng nguy cơ xuất hiện, hình thành hoặc du nhập những khuynh hướng tư tưởng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản, tiền đề trực tiếp dẫn đến đa nguyên về chính trị. 
Thứ ba, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, ý thức công dân, ý thức pháp luật của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế; hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, quản lý của chính quyền còn nhiều lỗ hổng; lại có những đặc điểm phức tạp, đa dạng về tôn giáo, dân tộc, di tồn lịch sử của chế độ thực dân... Do đó, sự hình thành và phát triển các yếu tố của XHDS luôn tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng dẫn đến chia rẽ, xung đột, hỗn loạn, vô chính phủ, mất ổn định chính trị, xã hội của đất nước.
Thứ tư, XHDS bao hàm nhiều tổ chức xã hội có tính đa dạng về thành phần, mục đích hoạt động, lợi ích, thiếu tính tổ chức chặt chẽ, do đó nó dễ bị các cá nhân, tổ chức có điều kiện chi phối, lợi dụng để thực hiện các mục đích riêng và tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và trật tự, ổn định xã hội. Tính chất đa dạng, phức tạp của XHDS cho thấy đây là khu vực không thuần nhất, tính đồng thuận không cao và thiếu tính nhất quán. Tổ chức XHDS hình thành chủ yếu dựa trên những mối quan hệ và liên kết mềm, tự nguyện, tự quản, tính thống nhất không cao nên dễ xảy ra nguy cơ các tổ chức này chỉ chạy theo lợi ích cục bộ mà không quan tâm đến lợi ích chung, toàn xã hội, tạo ra các “lệ” riêng, có thể gây cản trở đến việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, thậm chí có trường hợp bị biến tướng phục vụ cho lợi ích của cá nhân, tổ chức có điều kiện chi phối. Thực tế cho thấy, tuyệt đối hóa vai trò các tổ chức của XHDS, xem nhẹ quản lý của Nhà nước, chỉ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, tiền đề cho rối loạn, bất ổn. Do tính chất đa dạng và phức tạp này mà XHDS luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các đối tượng, tổ chức thù địch cả trong và ngoài nước mua chuộc, chi phối, lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chính trị đen tối.
Thứ năm, một số tổ chức xã hội có vai trò, ảnh hưởng xã hội nhất định, số lượng thành viên đông đảo luôn trở thành mục tiêu tác động, chi phối, lợi dụng của các thế lực thù địch nhằm biến các tổ chức này thành các tổ chức chính trị đối lập với Đảng, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước Việt Nam. Một bộ phận các tổ chức xã hội, đặc biệt là các hội, liên hiệp hội, tổng hội có tổ chức mang tính hệ thống cả theo chiều dọc lẫn chiều ngang, với số lượng thành viên đông, có ảnh hưởng nhất định đối với quần chúng. Các tổ chức này trở thành mục tiêu lợi dụng của các thế lực thù địch để tìm cách tác động đến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua các hoạt động “vận động hành lang”, hội thảo, kiến nghị, nhất là những vấn đề hệ trọng, nhạy cảm, như chế độ sở hữu đất đai, an ninh mạng, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc... Do đó, nếu không có những quy định pháp lý đủ mạnh, thiếu hiệu lực quản lý của các cơ quan chức năng để các hoạt động “vượt rào” thì các tổ chức này rất dễ bị lợi dụng, biến thái và biến tướng thành các lực lượng hỗ trợ tích cực cho thúc đẩy “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, thậm chí chuyển hóa thành tổ chức đối lập về chính trị. 

VÌ SAO CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ GIA TĂNG HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ" ĐỂ CHỐNG PHÁ?


VÌ SAO CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ GIA TĂNG HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ" ĐỂ CHỐNG PHÁ?
Một số học giả trên thế giới có quan điểm chống cộng rất đề cao vai trò của “XHDS” trong các cuộc “cách mạng sắc màu” lật đổ chế độ XHCN. Giữa những năm 80 của thế kỷ XX, ngay sau khi khởi xướng cải tổ với việc M. Goóc-ba-chốp chủ trương “công khai hóa” và “dân chủ hóa”, các tổ chức đoàn thể phi chính thức và các ấn phẩm tuyên truyền cho tự do hóa tư sản dưới nhiều hình thức đã mọc lên “như nấm sau mưa” ở Liên Xô. Ngày 28-12-1987, xã luận đăng trên báo Sự thật cho biết, Liên Xô khi đó đã có hơn 30.000 tổ chức, đoàn thể phi chính thức. Do thái độ ủng hộ của M. Goóc-ba-chốp, ngày càng có nhiều tổ chức đoàn thể xã hội chống đối Đảng, chính quyền Xô-viết được công khai hóa, hợp pháp hóa. M. Goóc-ba-chốp không những cho phép các đoàn thể phi chính thức tồn tại mà còn cổ vũ thành lập các đảng phái, từng bước thực hiện chế độ đa đảng. Các đảng đối lập ra đời và sau đó đã giành được chính quyền tại một loạt địa phương dưới cái gọi là “bầu cử tự do” là hệ quả trực tiếp của chính sách nêu trên. Những tổ chức này trắng trợn xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ, hạ bệ các nhà lãnh đạo Liên Xô trước đây, phủ nhận thành tựu của chủ nghĩa xã hội, ngang nhiên hô hào chống chế độ và Nhà nước Xô-viết. Đây là một trong những nhân tố trực tiếp dẫn đến sự tan rã của Liên Xô. 
Tại Ðông Âu ngay từ những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, ở một số nước đã hình thành các công đoàn, hội có xu hướng tách khỏi quản lý của nhà nước, đối lập với chính quyền, hoạt động với danh nghĩa là “tổ chức XHDS” nhân danh bảo vệ công nhân, bảo vệ các quyền dân sự. Thông qua việc lôi kéo quần chúng, với sự hỗ trợ từ nước ngoài, một số tổ chức Công giáo, được kích hoạt thêm bởi các chính sách “công khai hóa”, “dân chủ hóa” và chính sách đối ngoại với đồng minh của M. Goóc-ba-chốp, những tổ chức này nhanh chóng chuyển hóa thành tổ chức chính trị đối lập, đóng vai trò trọng yếu trong việc hạ bệ uy tín của nhà nước, thúc đẩy hình thành chế độ đa đảng và giành chính quyền thông qua cái gọi là “bầu cử dân chủ”. Các cuộc “cách mạng đường phố” tại các nước khu vực Trung Ðông - Bắc Phi hay “cách mạng nhung”, “cách mạng màu” ở một số nước thuộc không gian hậu Xô-viết thời gian qua cũng cho thấy vai trò của các cơ quan đặc biệt nước ngoài, các NGO trong việc hỗ trợ các tổ chức XHDS trong nước lôi kéo, kích động quần chúng lật đổ các chính thể hợp pháp, gây nên tình trạng khủng hoảng chính trị, thậm chí có nước còn lâm vào cảnh chia rẽ, xung đột triền miên, lãnh thổ bị chia cắt lâu dài.
Chúng ta không phủ nhận vai trò nhất định của các tổ chức xã hội, hiệp hội, quỹ, diễn đàn,... nhất là khả năng tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội tại cộng đồng hay nhóm xã hội cụ thể; tập hợp nguyện vọng đa dạng của các tầng lớp trong xã hội phản ánh đến Đảng và Nhà nước; trực tiếp đứng ra cung ứng một số dịch vụ xã hội do Nhà nước ủy quyền, hoạt động trong khuôn khổ quy định pháp luật. Trên thực tế, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng thiết lập các tổ chức xã hội đa dạng theo ngành nghề, lợi ích, nhu cầu, nhân đạo, hữu nghị, sở thích... và không ngừng hoàn thiện quy định pháp luật để phát huy vai trò của các tổ chức này thật sự có ích cho xã hội, cho người dân. Các tổ chức NGO nước ngoài hoạt động tại nước ta thật sự có đóng góp cho cộng đồng, phát triển xã hội, tôn trọng pháp luật Việt Nam đều được tôn trọng, khuyến khích. 
Nhưng cần thấy rõ rằng, ở nhiều quốc gia, nhất là những nước đang phát triển, sự hình thành các tổ chức của “XHDS” thường chịu sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó có các lực lượng chính trị từ bên ngoài thông qua nhiều hình thức và con đường khác nhau. Vậy chúng ta cần nhận thức về “XHDS” như thế nào?
Cùng với thực tế tồn tại và phát triển ngày càng phong phú của các tổ chức hội quần chúng, thuật ngữ “XHDS”, “tổ chức XHDS” được thảo luận, bàn luận khá sôi nổi ở nước ta. Tuy nhiên, đây là vấn đề chính trị, xã hội rất phức tạp, còn nhiều nhận thức khác biệt, thậm chí đối lập nhau, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận. Hiện nay, đang tồn tại hai khuynh hướng nhận thức phổ biến về vấn đề XHDS: Một là, tuyệt đối hóa, đề cao quá mức vai trò của “XHDS”, cho rằng cần đẩy nhanh sự phát triển của “XHDS” ở Việt Nam, đồng nhất quá trình này với thực hiện dân chủ hóa, xem đây là “liều thuốc vạn năng” cho khắc phục những giới hạn của quản lý nhà nước và giải quyết tiêu cực trong đời sống xã hội phát sinh từ cơ chế thị trường; hai là, coi “XHDS” mang tính tiêu cực, “đối lập” với Nhà nước XHCN, là vấn đề nhạy cảm, nên né tránh, ngại đề cập và không khuyến khích nghiên cứu, tìm hiểu, thậm chí dựa vào các tổ chức xã hội hoạt động theo kiểu “bất tuân dân sự”, gây nên tình trạng vô chính phủ, bất ổn chính trị - xã hội ở nhiều nước trên thế giới rồi bài xích, phủ nhận sạch trơn vai trò các hội, quỹ, diễn đàn trong tham gia quản lý phát triển xã hội. Việc chưa thống nhất nhận thức khiến cho cách tiếp cận, ứng xử đối với vấn đề XHDS hiện nay của các cơ quan chức năng đang khá lúng túng. 

ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ" ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA


Hiện nay, vấn đề “xã hội dân sự” (XHDS) đã và đang được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Sau thất bại trong hoạt động chống phá Việt Nam ở các giai đoạn trước, hiện nay, các thế lực thù địch xem việc củng cố, thúc đẩy “XHDS” theo mô hình phương Tây là một hướng đi mới, là một trong những phương thức tác động cơ bản của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Mục tiêu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “XHDS” là tìm cách thúc đẩy sự xuất hiện các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, làm suy yếu sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng, hình thành “XHDS độc lập về chính trị” là một “lối thoát” cho sự ra đời công khai, hợp pháp của các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, buộc Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng ra sức cổ vũ cho hình thành ở Việt Nam một mô hình “XHDS độc lập về chính trị” kiểu phương Tây, nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước.
 Hòng thực hiện âm mưu đó, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng tính chất chính trị, xã hội phức tạp của “XHDS” để tác động vào hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều phương thức khác nhau, từ tuyên truyền lừa bịp, thổi phồng, cường điệu hóa vai trò của XHDS, cung cấp tài chính, phương tiện hoạt động đến gây sức ép với Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ đối ngoại. Các đối tượng chống đối nhân danh chiêu bài “XHDS”, “dân chủ”, “nhân quyền”... để tập hợp lực lượng, lập hội, nhóm với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ, mục đích dễ gây “ấn tượng” với thị hiếu của từng nhóm xã hội nhất định, như “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”,... 
Thủ đoạn mà các đối tượng chống đối sử dụng phổ biến hiện nay là thông qua các trang web, diễn đàn trực tuyến, nhất là mạng xã hội để công khai tổ chức, tuyên truyền, lừa bịp, lôi kéo quần chúng tham gia; sử dụng các phần mềm bảo mật để liên lạc, tổ chức huấn luyện, đào tạo trực tuyến cho thành viên; công khai viết “đơn kiến nghị” đòi thành lập đảng chính trị đối lập, tự do thành lập hội mà không tuân theo quy định pháp luật, đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự... Ngoài ra, các đối tượng này còn tìm cách chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, lợi dụng các khuyết điểm trong quản lý đất đai, môi trường... để kích động khiếu kiện, tụ tập đông người, biểu tình, xuyên tạc tình hình, hạ uy tín cán bộ; thông qua các hoạt động này để tập hợp lực lượng, gây thanh thế, từng bước nhen nhóm và thành lập tổ chức chính trị đối lập... Tại các địa bàn chiến lược, các đối tượng chống đối đẩy mạnh xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo; kích động tư tưởng ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, khơi gợi, khoét sâu mâu thuẫn dân tộc, tuyên truyền phát triển các tổ chức tôn giáo phi pháp, tụ tập “xưng vua”... 
Bên cạnh đó, dưới danh nghĩa đại diện các tổ chức “XHDS”, một số đối tượng chống đối đã tham gia các buổi điều trần ở nước ngoài, vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, đề nghị can thiệp trả tự do cho các đối tượng chống đối trong nước bị bắt do vi phạm pháp luật... Đặc biệt, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đang diễn ra trong một bộ phận đảng viên, tình trạng yếu kém, sai phạm của một số cán bộ để thổi phồng, cường điệu hóa khuyết điểm, “hạ bệ” uy tín chính trị của Đảng, lôi kéo người dân tham gia các tổ chức mang danh nghĩa “XHDS” để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Thực tế những năm qua cho thấy, một số tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài rất quan tâm đến các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội ở nước ta và tìm cách xâm nhập, tác động, hướng lái hoạt động, chuyển hóa dần các tổ chức này khi chưa đủ điều kiện, thời cơ thành lập tổ chức đối lập. Thông qua các hoạt động, như triển khai dự án, tài trợ tài chính, tổ chức hội thảo với các NGO Việt Nam, một số tổ chức nước ngoài đã đi sâu xâm nhập, tìm hiểu nội bộ, xu hướng quan điểm của các NGO Việt Nam, kích động các tổ chức này thoát ly vai trò lãnh đạo của Ðảng và sự quản lý của Nhà nước, cổ vũ quyền “tự do lập hội” theo tiêu chí phương Tây. Ngoài ra, một số tổ chức nước ngoài còn hỗ trợ tài chính cho một số NGO Việt Nam để xuất bản, phát hành tài liệu nghiên cứu, văn bản luật nước ngoài nhằm tuyên truyền quan điểm, pháp luật phương Tây đến với công chúng Việt Nam một cách công khai.
Các tổ chức phản động nước ngoài cũng tìm cách thúc đẩy hình thành “XHDS” tại Việt Nam với mục đích chống phá từ bên trong. Tổ chức “Bảo vệ người lao động” (tại Ba Lan) gia tăng hoạt động với ý đồ chuyển hướng xâm nhập vào trong nước, thúc đẩy hình thành các tổ chức “công đoàn tự do”. Tổ chức “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” đã tiến hành “Đại hội thanh niên sinh viên Việt Nam trên thế giới lần thứ V” vào tháng 1-2008 tại Ma-lai-xi-a. Tại “đại hội” này, các đối tượng tham gia cho rằng để tiến hành “cuộc cách mạng hòa bình” tại Việt Nam thì phải xây dựng được một “XHDS bền vững” và muốn thay đổi xã hội thì không chỉ trên phương diện chính trị, mà còn trên các phương diện kinh tế, luật pháp, trong mỗi cộng đồng dân cư. Qua đây cho thấy, các thế lực thù địch bên ngoài đặc biệt quan tâm đến việc lợi dụng “XHDS” để thực hiện âm mưu lật đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ðáng chú ý là, một số đối tượng cơ hội chính trị có quan điểm cực đoan đã lợi dụng một số tổ chức quần chúng hợp pháp để tổ chức các hội thảo, tọa đàm, diễn đàn có nội dung đòi “trưng cầu ý dân” về Ðiều 4 của Hiến pháp cũng như sửa đổi toàn bộ Hiến pháp, thúc đẩy hình thành “XHDS” và thực hiện các quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, báo chí, lập hội theo tiêu chí phương Tây, tư hữu hóa đất đai... Ðây là phương thức chống đối công khai rất nguy hiểm, nếu thiếu cảnh giác có thể tạo môi trường để các thế lực thù địch lợi dụng các tổ chức “XHDS” đưa ra những kiến nghị thay đổi thể chế, chuyển đổi hệ thống luật pháp XHCN bằng luật pháp tư sản.

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2019

Ngăn chặn chiêu trò lợi dụng góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội đảng để chống phá

      Trong lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội XIII của Đảng, một trong những nội dung quan trọng được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương nhấn mạnh đó là, phải chủ động phòng ngừa, cảnh giác, ngăn chặn, đấu tranh, không để tác động, chi phối bởi những thông tin không chính thức, thông tin giả, xấu độc, bịa đặt, xuyên tạc trên internet, mạng xã hội… Đặc biệt trong việc tổ chức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần yêu cầu cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể cần nêu cao tinh thần cảnh giác, ý thức tự “đề kháng”, năng lực phản bác của nhân dân trong cuộc đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái nhằm phá hoại đại hội đảng của các thế lực thù địch...
      Sở dĩ người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta nhấn mạnh vấn đề này bởi trên thực tế có một số phần tử cơ hội chính trị, được các thế lực thù địch, phản động hà hơi, tiếp sức, lợi dụng công việc hệ trọng này để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng cho rằng thời điểm diễn ra đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII là thời cơ cần lợi dụng tối đa để chống phá. Thông qua mạng xã hội, các trang web của bọn phản động lưu vong, một số báo mạng xưa nay vốn thiếu thiện chí với Việt Nam ở hải ngoại, chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc, tác động nhằm "nắn dòng dư luận" tiến tới mục tiêu làm chệch hướng đường lối, chủ trương của Đảng ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.
      Những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc, phản động ấy không chỉ là “lời nói gió bay” mà còn được họ soạn thảo thành những tài liệu mạo danh, nặc danh dài hàng trăm trang chứa đựng thông tin xấu độc... rồi tán phát trên một số trang mạng. Bằng những thủ đoạn rất tinh vi, các thế lực thù địch, phản động còn móc nối, lôi kéo và dùng chính những phần tử thoái hóa, biến chất ngay trong nội bộ ta lợi dụng việc đóng góp vào dự thảo các văn kiện đại hội đảng để xuyên tạc sự thật, công kích, chống phá ta, dưới nhiều hình thức như: “Thư ngỏ”, “thư trao đổi”; “thư góp ý”… Nội dung mà chúng tập trung là xuyên tạc tình hình đất nước; làm lu mờ những thành quả cách mạng, thổi phồng những tồn tại, hạn chế trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh... của đất nước, rồi quy kết đổ lỗi nguyên nhân của những hạn chế ấy là do thể chế chính trị, sự yếu kém trong thực hiện vai trò lãnh đạo, từ đó làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng ta; xuyên tạc, bịa đặt những thông tin liên quan đến công tác nhân sự đại hội;... Chúng cho rằng đại hội lần này là thời cơ để Việt Nam đổi mới thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng lập luận rằng nếu Việt Nam vẫn chỉ có độc nhất một đảng lãnh đạo thì không thể nói tới một nền dân chủ chân chính... Nhìn vào những bản góp ý được chuẩn bị công phu, lập luận không kém phần logic với những câu từ được trau chuốt bóng bẩy ấy, nếu ai đó non kém về nhận thức chính trị, sẽ rất dễ lầm tưởng và cho đấy là sự góp ý trách nhiệm, tâm huyết. Nhưng thực chất đó là những luận điệu hết sức sai trái và cực kỳ nguy hiểm.
      Mục tiêu của những giọng điệu ấy vẫn không gì khác là hòng đánh lừa dư luận, lôi kéo những người thiếu bản lĩnh, nhẹ dạ, cả tin theo ý đồ chính trị của chúng, sâu xa hơn là phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ XHCN mà nhân dân ta đang dày công xây dựng. Cách thức thể hiện những nội dung ấy cũng không có gì mới, có chăng chỉ là sự thay đổi cách diễn đạt bằng những “xảo ngữ”, ngôn từ hoa mỹ, bóng bẩy nhằm tăng thêm độ tinh vi, thâm hiểm trong mưu đồ chống phá để dễ bề đánh lừa dư luận... Nhưng mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc ấy đã và đang bị vô hiệu hóa, bởi cùng với phát huy dân chủ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác, không mơ hồ, ảo tưởng trước mọi chiêu trò chống phá.
      Cần khẳng định rằng mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ, tâm huyết, sự sáng tạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, các tầng lớp nhân dân góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện của Đảng, là chủ trương đúng đắn và là việc làm cụ thể khẳng định bản chất của chế độ ta. Phát huy dân chủ, huy động sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân cũng là bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến"; "thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn". Phát huy dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với tinh thần ấy, Đảng ta xác định tổ chức lấy ý kiến xây dựng dự thảo văn kiện đại hội đảng các cấp, đặc biệt là Đại hội XIII của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là công việc rất hệ trọng, mang tính quyết định đến tương lai phát triển của đất nước.
      Bởi vậy, trong Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, yêu cầu rõ: “Công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng phải thực hiện phương châm kế thừa, ổn định, đổi mới, sáng tạo và phát triển; phát huy dân chủ đi đối với giữ vững nguyên tắc, siết chặt kỷ luật, kỷ cương...”. Tại các kỳ họp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương và nhiều cuộc làm việc với lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng luôn nhấn mạnh: "Việc lấy ý kiến đóng góp tại đại hội đảng bộ các cấp và của các tầng lớp nhân dân là hết sức quan trọng, thể hiện ý Đảng, lòng dân, có giá trị thực tiễn phong phú, sinh động để Trung ương nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện dự thảo các văn kiện...". Vì vậy, việc lấy ý kiến của các cấp ủy, tổ chức đảng và nhân dân phải vừa sâu, vừa rộng; các ý kiến phải đóng góp thiết thực, nâng cao chất lượng các dự thảo văn kiện, thể hiện rõ sự tâm huyết, trách nhiệm với Đảng, với đất nước. Tổ chức tốt việc xin ý kiến nhân dân vào các dự thảo văn kiện của Đảng cũng là biện pháp thiết thực nhằm ngăn chặn những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng công việc ý nghĩa này để chống phá.
      Thực tế đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng cần phải quan tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nghiên cứu; thể hiện quan điểm, thái độ, chính kiến của mình đối với từng nội dung trong dự thảo các văn kiện. Mặt khác, tổ chức đảng, từng cơ quan, đơn vị, địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền cung cấp cho người dân đầy đủ thông tin cần thiết, định hướng để người dân hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của công việc hệ trọng này. Cần coi việc giúp cán bộ, đảng viên và người dân hiểu đúng, nhận thức đầy đủ về dự thảo các văn kiện là phương cách tốt nhất để nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động phát hiện, đấu tranh kịp thời với mọi tư tưởng, quan điểm sai trái.
      Đối với mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân, khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu tán phát trên mạng cần phải tỉnh táo nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở, đâu là thông tin xuyên tạc, bịa đặt; tránh bị cuốn theo những giọng điệu mỹ miều, xảo trá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội mà dẫn tới tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin với Đảng và chế độ.
     Cùng với tổ chức chặt chẽ việc đóng góp ý kiến, cần tổ chức tốt việc tổng hợp, tiếp thu ý kiến của đại hội đảng bộ các cấp để hoàn thiện, nâng cao chất lượng các dự thảo văn kiện, trình Trung ương xem xét thông qua, sau đó xin ý kiến nhân dân trước khi trình Đại hội XIII của Đảng. Trong tổng hợp và ghi nhận những ý kiến đóng góp của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, các cơ quan chức năng cần có sự nhìn nhận, đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, thận trọng, tuyệt đối không để kẻ xấu lợi dụng công việc ý nghĩa này để thực hiện những mục đích cá nhân, kích động chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; chống phá Đảng, nhà nước và nhân dân ta.
      Bằng các biện pháp nghiệp vụ, nhất là những biện pháp kỹ thuật công nghệ, các lực lượng chức năng cần chủ động phát hiện những nội dung xấu độc trên mạng xã hội, những trang mạng tán phát thông tin, tài liệu xấu độc, mạo danh, nặc danh, lợi dụng việc góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội đảng để xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, từ đó tổ chức đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với những tổ chức, cá nhân liên quan theo pháp luật.


Kiên quyết đấu tranh phản bác và phê phán luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Luận điệu đòi tách rời chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh chính là một thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch tung ra luận điệu: Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh.
Luận điệu trên của các thế lực thù địch chính là muốn hướng lái dư luận hoài nghi về bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gây hoang mang, dao động, chia rẽ sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong Đảng, làm giảm sút niềm tin trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Thực chất là chúng muốn phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng, muốn Việt Nam thay đổi chế độ chính trị, thực hiện đa nguyên, đa đảng, từ bỏ mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cần khẳng định rõ, luận điệu đòi tách rời chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh của chúng thể hiện rõ quan điểm thù địch, đi ngược lại lập trường, quan điểm, lợi ích của giai cấp công nhân và của cách mạng, dân tộc Việt Nam. Mưu đồ thâm hiểm mà chúng nhằm tới là xuyên tạc, phủ nhận và hạ bệ cả chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Về bản chất, lịch sử và lôgic, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chứ không hề có sự khác biệt, đối trọng nhau như các thế lực thù địch vẫn rêu rao. Bởi vậy, chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam. Nền tảng tư tưởng vững chắc, khoa học và cách mạng đó chỉ đạo nhận thức, tư duy và phương hướng hành động đúng cho Đảng ta, trang bị cho Đảng vũ khí tư tưởng để làm tròn vai trò tiên phong lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, đường lối chính trị. Đó là hệ thống những chủ trương, chính sách mang tầm chiến lược, sách lược, được khái quát từ thực tiễn, trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể qua các thời kỳ cách mạng, đáp ứng yêu cầu và soi sáng cho thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, từ khi được soi sáng, dẫn đường bởi chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo, cách mạng Việt Nam mới khắc phục được cuộc khủng hoảng về đường lối và lực lượng lãnh đạo cách mạng, đưa đất nước phát triển phù hợp xu hướng thời đại; giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nếu không kiên định lập trường, quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ không thể thống nhất ý chí và hành động trong Đảng. Nếu không nắm được bản chất khoa học và cách mạng, không nắm chắc nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì khó lý giải đúng, trúng, thuyết phục những vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra. Chỉ trên cơ sở nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên mới có phương pháp luận sắc bén để vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra đối với đất nước và ở từng cấp, ngành, địa phương. Do vậy, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho hệ tư tưởng của Đảng luôn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho cán bộ, đảng viên nắm chắc lập trường, quan điểm, phương pháp để xử trí đúng với mọi việc, với mọi người và với bản thân mỗi người; biết vận dụng sáng tạo vào công tác; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Cần tạo ra sự chuyển biến mới về chất lượng, hiệu quả việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị (khóa XII); khắc phục các biểu hiện hình thức, giản đơn và thái độ thờ ơ, xem nhẹ việc học tập lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên.
Các thế lực thù địch tung ra luận điệu đòi tách rời chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh là nhằm tiếp tục thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vì vậy, việc kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là quan điểm có tính nguyên tắc để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nâng cao phẩm chất, trình độ, năng lực của mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần làm thất bại mọi mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam.





TÍCH CỰC ĐẤU TRANH, NGĂN NGỪA NHỮNG THÔNG TIN LỆCH CHUẨN VĂN HÓA
 Có thể nói trong thời gian qua, câu chuyện về một bộ phận thanh thiếu niên "tung hô" và bày tỏ “ngưỡng mộ” đối với một đối tượng từng có tiền án, tiền sự, đánh bạc, ghi đề, sử dụng ma túy và có những lời nói, hành vi phản giáo dục trên mạng xã hội (MXH), khiến nhiều người không khỏi giật mình về sự lệch chuẩn văn hóa của một bộ phận giới trẻ hiện nay rất đáng báo động. Nếu không ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc này sẽ khiến nhiều chủ nhân tương lai của đất nước mất phương hướng, động cơ phấn đấu tích cực, xa rời những chuẩn mực văn hóa, từ đó “phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”-một biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không thể xem thường. Việc cơ quan chức năng bắt giữ đối tượng Ngô Bá Khá (còn gọi là Khá “Bảnh”) để điều tra về hành vi tổ chức đánh bạc là một động thái kịp thời, cần thiết, được dư luận đồng tình, ủng hộ. Bởi đối tượng này không chỉ có nhiều “thành tích bất hảo” trên MXH, mà còn có những hành vi gây mất trật tự an toàn xã hội. Không ai phủ nhận những ưu thế, tiện ích nhiều mặt mà MXH đã mang lại cho con người. Điều đáng quan tâm hiện nay là làm thế nào để khai thác tối ưu những mặt tích cực từ MXH, đồng thời có thể phòng ngừa, giảm thiểu đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực từ không gian ảo xuyên biên giới này? Để giải đáp thấu đáo vấn đề đó, trước hết đòi hỏi mỗi người trẻ phải hết sức tỉnh táo, không bị lôi cuốn, a dua bởi những trào lưu thiếu văn hóa xuất hiện trên mạng, kiên quyết không tiếp tay, cổ vũ cho những động thái câu “like” giật gân, những lời chia sẻ, bình luận thiếu văn hóa. Nhưng giới trẻ có đặc điểm chung là tâm lý chưa ổn định, thiếu kiềm chế, dễ bị “dẫn dắt, chi phối” bởi “tâm lý đám đông” trên MXH. Do vậy, các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo, các cán bộ đội thiếu niên, đoàn thanh niên, hội sinh viên... cần thường xuyên gần gũi, động viên, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho các em được tham gia những hoạt động văn hóa tinh thần hấp dẫn, các sân chơi lành mạnh. Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nhất là trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, trong đó có việc lợi dụng MXH để thực hiện âm mưu làm “đứt gãy” và xung đột giữa các thế hệ, tiêm nhiễm vào thế hệ trẻ văn hóa độc hại, cổ xúy lối sống lai căng, tư tưởng lệch lạc nhằm “lái” giới trẻ “quay lưng” với truyền thống, lãng quên lịch sử, xa rời mục tiêu lý tưởng tốt đẹp, chúng ta càng phải quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện thế hệ thanh niên có đủ đức, tài, niềm tin, khát vọng để xứng đáng với vị thế, trọng trách cao cả của mình đối với dân tộc và Tổ quốc. Trách nhiệm này không riêng của tổ chức đoàn thanh niên, đội thiếu niên, hội sinh viên mà là trách nhiệm chung của cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận, các ngành, các cấp và toàn xã hội.

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019


Phát huy tinh thần đoàn kết hoàn thành thắng  lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàn dân; là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Khi đề cập đến vị trí, vai trò của đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng định, đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược cơ bản, nhất quán, lâu dài, là vấn đề sống còn, quyết định thành công của cách mạng. Đó là chiến lược tập hợp mọi lực lượng nhằm hình thành và phát triển sức mạnh to lớn của toàn dân trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc, của nhân dân. Để đánh bại các thế lực đế quốc, thực dân giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thôi là chưa đủ, cách mạng muốn thành công và “thành công đến nơi”, phải tập hợp tất cả các lực lượng, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Muốn cách mạng thành công phải có lực lượng cách mạng, muốn có lực lượng cách mạng phải thực hiện đoàn kết.
Quán triệt sâu sắc quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được Đảng ta xác định là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu, phải được quán triệt trong tất cả các lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách đến hoạt động thực tiễn. Đại hội XII chỉ rõ: Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung. Nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc. 
Học tập và làm theo lời Bác dạy, quán triệt và thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau như ruột thịt, trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, nghĩa đồng đội và trở thành lời thề danh dự của mỗi quân nhân, trở thành sức mạnh để Quân đội ta chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Đồng thời, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh để bảo vệ dân, giúp đỡ dân, được dân tin, dân yêu và trìu mến trao tặng danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ - một biểu tượng cao đẹp của quân nhân cách mạng, một nét độc đáo, đặc sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.


Không thể xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng

         1. Bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
           Điều 4, Hiến pháp năm 2013 đã xác định, Đảng Cộng sản Việt Nam “lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng”. Thế nhưng, các thế lực thù địch tìm mọi cách ra sức phê phán, bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì thế, làm rõ bản chất khoa học, cách mạng để không thể xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp thiết hiện nay.
         Thực tiễn đã chứng tỏ, bất cứ một đảng chính trị nào cũng phải có hệ tư tưởng dẫn dắt, nếu không đảng đó chỉ là tổ chức ô hợp. Điều này đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”. Do vậy, từ Đường cách mệnh do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và Luận cương chính trị do Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 thông qua cho đến nay, Đảng ta đều khẳng định chủ nghĩa Mác – Lê-nin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của mình. Một số người cho rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chứng tỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi thời, nên Đảng Cộng sản Việt Nam không thể cứ kiên định với lý thuyết lạc hậu. Xin nhắc lại kết quả thăm dò của Tạp chí Spiegel (Đức) với hơn 56% số người được hỏi đã cho rằng “chủ nghĩa xã hội là một tư tưởng hay nhưng thực hành tồi”. Như vậy, người ta đã không phủ nhận lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, mà phê phán những người áp dụng lý luận ấy một cách máy móc, giáo điều. Vì thế, dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Mặc dù vậy, nhưng không thể phủ nhận thành tựu của chủ nghĩa cộng sản Xô-viết. A. Dinôviép (người tự nhận không phải môn đệ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin) từng chống nhà nước Xô-viết và phải ngồi tù thời còn Liên Xô, sau sống lưu vong ở Mỹ, trước sự sụp đổ của Liên Xô đã cho rằng: “Những thành tựu thời đại chủ nghĩa cộng sản Xô-viết do V.I. Lê-nin mở đầu đã thấm vào máu thịt của loài người… Nhờ có cuộc cách mạng vô sản và tất cả những gì gắn với cuộc cách mạng đó mà nhân loại đã được cứu thoát khỏi sự thụt lùi đáng sợ nhất, thoát khỏi sự suy tàn, thoái hóa”.
          Thực tế đã chứng minh, chính chủ nghĩa tư bản dù ở phương Đông hay phương Tây cũng đã và đang vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê-nin nhằm điều chỉnh, thích nghi để tồn tại, làm cho nó giảm bớt các khuyết tật, khiến cho một số người ngộ nhận rằng, chủ nghĩa tư bản là “hình mẫu” các nước cần “noi theo”. Nhưng không, những gì C. Mác phân tích về chủ nghĩa tư bản vẫn còn nguyên giá trị. Điều đó được chứng tỏ qua kết quả bình chọn nhà tư tưởng thiên niên kỷ thứ hai của Trường Đại học Cambrit (Anh) công bố năm 1999. Theo đó, C. Mác đứng đầu, đứng thứ hai là A. Anhxtanh - các nhà khoa học lớn của nhân loại. Trường Đại học Tổng hợp Yale (một trường đại học danh tiếng của Mỹ), năm 2011 đã lựa chọn xuất bản cuốn sách Tại sao Mác đúng? của Tery Eagleton (giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Lancaste, Vương quốc Anh) đã gây nhiều chú ý của công luận. Tác giả cuốn sách không chấp nhận định kiến cho rằng: “chủ nghĩa Mác đã chết và không cần phải nhắc đến nữa”, nên đã lựa chọn 10 vấn đề phổ biến nhất mà người ta phê phán C. Mác để phân tích, lý giải, đưa ra những minh chứng phản bác. Ngay trong Lời nói đầu cuốn sách, tác giả đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác, từ bao lâu nay vẫn là sự phê phán phong phú nhất về mặt lý luận, không khoan nhượng nhất về mặt chính trị đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa…”6. Điều đó một lần nữa khẳng định vai trò không thể phủ nhận của C. Mác đối với nhân loại.
         Ở nước ta, cho đến nay, chưa có ai đi nhiều, học hỏi, tiếp thu nhiều tinh hoa văn hóa nhân loại như Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Với khả năng thiên bẩm và sự trải nghiệm của bản thân, Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”. Vì thế, Hồ Chí Minh không ngừng nghiên cứu, vận dụng, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Người đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của dân tộc. Vì vậy, từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta đã có sự bổ sung, khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động,…”. Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước và Hồ Chí Minh là hiện thân trọn vẹn nhất cho sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng, có người lại cho rằng, Hồ Chí Minh là “người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa”, “nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải nhà mác-xít”. Từ đó, họ tập trung phủ nhận giá trị lý luận, thực tiễn, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh và những đóng góp to lớn của Người đối với dân tộc và phong trào cách mạng thế giới. Một số luận điệu khác lại đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đối với cách mạng Việt Nam. Việc hạ thấp hoặc tuyệt đối hóa vai trò tư tưởng Hồ Chí Minh như trên đều nhằm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, thực chất là phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực tiễn cho thấy, do kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề ra đường lối lãnh đạo đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chúng ta đã đánh thắng hai đế quốc sừng sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và giành những thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế, đưa vị thế của Việt Nam ngày một nâng cao trên trường quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mọi đường lối, chính sách đều hướng tới phục vụ con người, bảo đảm quyền con người ngày một tốt hơn. Vì thế, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nổi bật trong bảo đảm quyền con người, trong đó có việc thông qua Hiến pháp năm 2013 (dành hẳn Chương 2 đề cập về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân). Nhiều năm liền, Việt Nam duy trì được mức độ tăng trưởng kinh tế cao (trên 6%), làm cho thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng. Đánh giá về nguyên nhân để Việt Nam đạt thành tựu to lớn đó, các chuyên gia, học giả quốc tế đều thống nhất khẳng định: sự ổn định về chính trị là nhân tố quan trọng để Việt Nam thu hút giới kinh doanh, đầu tư trên thế giới. Điều đó chỉ có được dưới sự lãnh đạo của Đảng được dẫn dắt bởi chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
         Điều đó cho thấy, bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò của hệ tư tưởng này đối với cách mạng Việt Nam. Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển những nguyên lý lý luận ấy, làm cho nó mãi mãi xanh tươi và khẳng định tính đúng đắn trong thực tiễn.

Đừng lợi dụng tôn giáo làm điều trái đời, ngược đạo


Đừng lợi dụng tôn giáo làm điều trái đời, ngược đạo


Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật” (Điều 3), đồng thời khẳng định các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo bị nghiêm cấm: “Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (TTATXH), môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân” và “lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi” (Điều 5). Tuy nhiên, thời gian qua, bất chấp pháp luật, đã có một số chức sắc, tín đồ lợi dụng chính tôn giáo xâm phạm an ninh chính trị, TTATXH, vi phạm đạo đức, vi phạm giáo lý, giáo luật và đi ngược với truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Vụ việc xảy ra tại chùa Ba Vàng (Uông Bí, Quảng Ninh) mà báo chí phản ánh về việc tổ chức "giải oan gia trái chủ", “chữa bệnh nhờ thỉnh vong”, "trả nợ cho vong" thu hàng trăm tỷ đồng, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã kết luận: Việc tổ chức lễ "giải oan gia trái chủ", “chữa bệnh nhờ thỉnh vong”, "trả nợ cho vong" bằng tiền hoặc lao động không công tại chùa là không đúng với nghi lễ Phật giáo truyền thống, làm tổn thương đến thanh danh Giáo hội, đến Tăng đoàn.
Nói đến một số vụ việc phức tạp ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự xảy ra ở các tỉnh miền Trung thời gian vừa qua, dư luận nhắc nhiều đến vị giám mục Nguyễn Thái Hợp, nguyên giám mục giáo phận Vinh (hiện nay là giám mục giáo phận Hà Tĩnh). Vị này được giao cai quản giáo phận Vinh từ năm 2010 đến 2018. Sau 8 năm thực thi nhiệm vụ, giáo phận Vinh do vị này quản lý từ vùng đất bình yên trở thành “điểm nóng” về an ninh trật tự, thường xuyên xảy ra các vụ vi phạm pháp luật. Giám mục này nhiều lần chẳng những không ngăn cản mà còn để một số chức sắc, giáo dân nơi đây trở thành những người “vô luật”, chống đối chính quyền. Các vị linh mục dưới quyền quản lý như Đặng Hữu Nam (Quản xứ Phú Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An), Lê Công Lượng (Quản xứ Xuân Kiều, Nghi Lộc, Nghệ An)… đã kích động, lôi kéo một bộ phận tín đồ, chức sắc, nhân dân tham gia biểu tình gây rối, đập phá tài sản, cản trở giao thông, bắt giữ người trái pháp luật, tấn công người thi hành công vụ; thậm chí có linh mục còn nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Mới đây nhất, nhân vụ việc 39 người Việt tử vong trong container ở Vương quốc Anh, trên trang facebook cá nhân, linh mục Đặng Hữu Nam đã có nhiều bài viết, bài nói và việc làm xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng. Vị linh mục này đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước gây ra nghèo đói, khiến người dân phải bỏ đất nước ra đi kiếm sống… Vị này còn phát lên trang cá nhân những clip truyền giảng trong giáo đường với ngôn từ tục tĩu, kích động, thậm chí xuyên tạc cả tôn giáo khác. Những lời nói lộng ngôn, coi thường đạo lý và những hành động ngông cuồng của số chức sắc nêu trên không chỉ vi phạm pháp luật Việt Nam mà còn vi phạm nghiêm trọng giáo lý, giáo luật của Công giáo.    
Biến mình thành một lực lượng chính trị là sai giáo luật Công giáo
Nhắc đến giáo xứ Thái Hà (Hà Nội), người ta nghĩ ngay đến linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong. Năm 2016, thay vì rao giảng đạo đức, răn dạy những điều hay lẽ phải, khuyên bảo giáo dân “sống phúc âm trong lòng dân tộc” thì vị linh mục này lại lợi dụng các bài giảng thánh lễ để rao giảng những lời lẽ xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh, kích động giáo dân chống đối Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo. Chính vị này đã nhiều lần kích động đòi chính quyền địa phương trả các khu đất cho cơ sở tôn giáo mà không có căn cứ pháp lý. 
Cần khẳng định rằng, bản chất của tôn giáo chân chính là luôn hướng con người đến chân-thiện-mỹ, tức là đến những giá trị tốt đẹp nhất của con người. Đức Phật, Đức Jesus hay Đức Chúa Trời... không bao giờ răn dạy các tín đồ của mình phải làm điều ác, trái với đạo đức, luân thường, đi ngược lại với các quy định của pháp luật. Các đức tin của các tôn giáo đều có chung khát vọng dẫn đường cho con người tu tập, thực hành giáo lý, xây dựng cuộc sống hạnh phúc, xã hội phồn vinh, hướng con người đến với sự tốt đẹp, sống đoàn kết, lương thiện và thương yêu nhau.
Giáo luật Công giáo khẳng định: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhấn mạnh: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là điều hòa, hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương phật pháp và tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”. Tuy nhiên, số chức sắc, tín đồ vì lợi ích cá nhân hay số linh mục, giáo dân cực đoan, quá khích, vì động cơ chính trị không trong sáng mà có hành vi làm trái lời dạy của các đức tin trong tôn giáo của họ, đi ngược lại những giá trị đạo đức, nhân văn của dân tộc Việt Nam, chống lại chính dân tộc mình, chống lại chính người thân của họ.
Hãy hổ thẹn và biết sửa mình
Một số người làm sai như trên thật sự là những "con sâu làm rầu nồi canh". Nhìn tổng thể thì nhiều năm vừa qua, tín đồ, chức sắc chân chính của các tôn giáo ở Việt Nam đã, đang đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quyên góp hàng nghìn tỷ đồng xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Qua các phong trào này đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu là tăng ni, phật tử có thành tích xuất sắc được Đảng, Nhà nước tặng thưởng các phần thưởng cao quý, như: Sư thầy Thích Thanh Sơn (chùa Vạn Thọ, TP Hồ Chí Minh) đã khám, chữa bệnh miễn phí cho hàng nghìn người nghèo; sư thầy Thích Thiện Chiếu (chùa Kỳ Quang II, TP Hồ Chí Minh) nuôi dạy hàng trăm trẻ em mồ côi, chất độc da cam, cấp thuốc miễn phí cho hàng nghìn lượt bệnh nhân nghèo; ông Đoàn Văn Hổ (Trưởng ban Trị sự Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh Biên, An Giang) quyên góp hàng tỷ đồng xây cầu, xóa đói, giảm nghèo; xây nhà cho người nghèo; bà Nguyễn Thị Lan (75 tuổi, giáo dân ở Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) đã quyên góp xây dựng hàng chục căn nhà tình nghĩa; trao hàng nghìn suất học bổng tặng các học sinh nghèo...
Các vị chức sắc, tín đồ làm điều sai trái cần cảm thấy hổ thẹn với những tấm gương chức sắc, tín đồ chân chính đang ngày đêm nỗ lực thực hành giáo lý, giáo luật, đóng góp công sức, tiền của nhằm xây dựng xã hội ngày càng tươi đẹp, phồn vinh hơn.
Cần khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người dân nhưng cũng nghiêm cấm việc lợi dụng hoạt động tôn giáo để lừa đảo, mua chuộc, dụ dỗ, xâm hại đến quyền và lợi ích của công dân, gây ảnh hưởng đến TTATXH. Thực hành tôn giáo đúng nghĩa luôn được xây dựng trên cơ sở thượng tôn pháp luật, tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người khác, của xã hội. Mỗi tín đồ tôn giáo cũng đồng thời là công dân Việt Nam, khi thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cần phải thực hiện nghĩa vụ công dân trên cơ sở pháp luật, không tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh chính trị, TTATXH, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và công dân hay lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để trục lợi phi pháp, trái thuần phong mỹ tục, trái đạo đức, trái giáo lý. Chắc chắn những kẻ lợi dụng tôn giáo để thực hiện hành vi phi tôn giáo, làm ô danh tôn giáo, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị nghiêm trị theo pháp luật. Vì vậy, mỗi chức sắc, tín đồ và người dân hãy đề cao cảnh giác, kịp thời tố giác, ngăn chặn hành vi của các đối tượng lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật; đó cũng là phương cách để bảo vệ chính mình, bảo vệ xã hội và chính là bảo vệ các tôn giáo chân chính đang hoạt động bình thường trên đất nước Việt Nam.