Thứ Hai, 13 tháng 4, 2020

Đổi mới chính trị nhưng không làm thay đổi chế độ chính trị (Kỳ 1)


Đổi mới chính trị nhưng không làm thay đổi chế độ chính trị (Kỳ 1)


Hơn 30 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta có nhiều đổi mới cả về kinh tế, xã hội và chính trị. Tại mỗi kỳ đại hội Đảng, báo cáo chính trị đều đề cập tới thành tựu cũng như phương hướng tiếp tục đổi mới chính trị. Điều này khiến cho một số người băn khoăn: “Liệu đổi mới chính trị có dẫn đến thay đổi chế độ chính trị?”. Bên cạnh những suy tư chân thành như vậy, một số kẻ xấu cũng nhân đây rêu rao “Việt Nam đang thay đổi chế độ chính trị, ngày càng xa rời chủ nghĩa xã hội!”. Trước những suy tư và ngộ nhận nói trên, sau đây bài viết góp phần khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam đã và tiếp tục lãnh đạo đổi mới chính trị, nhưng không phải là thay đổi chế độ chính trị.
Để thấy được sự đổi mới chính trị ở Việt Nam trong hơn 30 năm qua, có thể xem xét những biểu hiện của nó trên 3 phương diện: 1- Đổi mới tư duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam; 2- Đổi mới thể chế chính trị, cụ thể là đổi mới Hiến pháp và pháp luật; 3- Những biểu hiện dân chủ hóa trong đời sống chính trị thực tế. Trên tất cả các phương diện đó, có rất nhiều sự đổi mới, nhưng tựu trung là hướng đến một nền chính trị ngày càng dân chủ đầy đủ hơn.
Tổng kết 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) khẳng định, trước hết, Đảng ta đã đổi mới tư duy chính trị, thể hiện ở việc nhận thức rõ hơn về tình hình thế giới, từ đó đổi mới chủ trương, đường lối đối ngoại và đổi mới tổ chức cũng như phương thức hoạt động của hệ thống chính trị.
Đúng là mọi sự đều phải bắt nguồn từ nhận thức. Ngay từ năm 1986, mặc dù đây là thời điểm hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu vẫn còn tồn tại, có sức mạnh cân bằng với phương Tây do Mỹ đứng đầu, song từ tình hình thế giới và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau năm 1975, Đảng ta đã bước đầu thấy rõ cần có sự thay đổi mạnh mẽ tư duy về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trong đó bao hàm thay đổi nhận thức về chính trị quốc tế. Từ nhận thức đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động hướng đến bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Mỹ và gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tư duy này càng được củng cố với việc Việt Nam dần xóa bỏ thế bị bao vây cấm vận và thế bị cô lập trên trường quốc tế. Với đường lối đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, đến nay Việt Nam đã là thành viên có uy tín của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực, có quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia, quan hệ thương mại với 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, là một trong 12 thành viên đầu tiên của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
Song song với đổi mới tư duy về chính trị quốc tế, tư duy mới về chủ nghĩa xã hội, về dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò của các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xây dựng đất nước,... ngày càng được củng cố, trở thành cốt lõi trong tư duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” năm 1991 và “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011) là quá trình hoàn thiện nhận thức về chủ nghĩa xã hội thấm đậm tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều quan trọng là những tư duy mới này không phải chỉ là tư duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là đảng cầm quyền, mà còn là nhận thức chung của cả xã hội, định hướng cho hoạt động của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và mỗi người dân.
Thứ hai, đổi mới thể chế chính trị.
Đổi mới tư duy chính trị với những nội dung cơ bản nêu trên được chuyển thành những thay đổi về mặt thể chế. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã được sửa đổi theo sự đổi mới của tư duy chính trị. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001), Hiến pháp năm 2013 và hàng chục đạo luật khác đã thể chế hóa về mặt pháp lý tư duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo thành khuôn khổ thể chế cho đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị. Có thể thấy sự đổi mới của thể chế chính trị như sau:
Mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân: Điều 2 Hiến pháp năm 2013 ghi: “1-  Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. 2-  Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.
Hiến pháp khẳng định, nhân dân thực hiện quyền dân chủ không chỉ thông qua Nhà nước, qua tổ chức đại diện khác, mà còn bằng hình thức trực tiếp. Luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân từ năm 1992 đến nay đều cho phép công dân có quyền tự ứng cử. Những văn bản quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về thủ tục hành chính, về bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, về chế độ trách nhiệm của người được bầu; những văn bản pháp luật bảo đảm quyền làm chủ của công dân, như: Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo (nay là Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo); Pháp lệnh Thanh tra (nay được nâng thành Luật Thanh tra), Luật Báo chí (sửa đổi), Luật Xuất bản (sửa đổi), Pháp lệnh về phòng, chống tham nhũng (nay là Luật Phòng, chống tham nhũng), đặc biệt là Quy chế Dân chủ ở cơ sở (sau nâng thành Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)..., tất cả đã minh chứng sự thay đổi mạnh mẽ trong thể chế chính trị Việt Nam theo hướng ngày càng dân chủ hơn.
Mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Qua sự sàng lọc của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội ở Việt Nam. Với địa vị đó, đã có lúc Đảng bao biện, làm thay Nhà nước (như tự phê bình của Đảng). Từ năm 1991, “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” đã khẳng định, Đảng lãnh đạo Nhà nước, nhưng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Điều này được khẳng định lại tại Điều 4 Hiến pháp năm 2013. Cùng với phát triển tư duy về nhà nước pháp quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tìm tòi để giải quyết tốt nhất mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước. Thực tiễn cho thấy, trong sự phát triển của đất nước không thể không có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhưng đồng thời không thể không có sự lãnh đạo của Đảng. Đảng phải lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền, đồng thời tuân thủ quyền hạn của Nhà nước pháp quyền. Nghị quyết của Đảng không thay cho pháp luật; quyết định của Đảng không thay cho quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước. Đảng viên của Đảng phải thông qua bầu cử trực tiếp của cử tri hoặc bầu cử gián tiếp của đại biểu nhân dân mới trở thành người nắm giữ các chức vụ nhà nước và có quyền lực nhà nước.
Về mặt tổ chức, trong các cơ quan nhà nước đều có cấp ủy đảng là hạt nhân lãnh đạo, như đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng ủy..., nhưng không vì thế mà các đảng viên giữ cương vị đứng đầu các cơ quan nhà nước khi vi phạm pháp luật có thể tránh khỏi bị xử lý nghiêm khắc cả về mặt đảng và chính quyền.
Mối quan hệ giữa nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội với Đảng: “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013 đều khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi quyết định của mình. Đây là những khẳng định rất mới, thể hiện mối quan hệ hai chiều giữa người lãnh đạo và người chịu sự lãnh đạo; giữa đại biểu cho một bộ phận và đại biểu cho toàn thể dân tộc.
Mối quan hệ giữa Đảng với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cũng thể hiện rõ hơn tinh thần dân chủ. Điều đó được thể hiện trong các quy định của pháp luật, của Điều lệ Đảng, cũng như trong các quy định của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Theo đó, Đảng dựa vào Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, đồng thời chịu sự giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức này. (Còn tiếp)

Một số thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam trong giai đoạn hiện nay



Một số thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam trong giai đoạn hiện nay



“Diễn biến hòa bình” là một chiến lược phi quân sự của các thế lực thù địch tiến hành bằng các thủ đoạn tinh vi, phức tạp, nhằm chống phá Cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, tư tưởng, văn hoá; tổ chức nhân sự; kinh tế; ngoại giao; tôn giáo, dân tộc, an ninh, quốc phòng. Nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với cách mạng Việt Nam tiến tới lật đổ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, các nước xã hội chủ nghĩa trở thành một hệ thống lớn mạnh, trong đó trụ cột là Liên Xô, thành trì vững chắc của phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới. Đây là thời điểm chủ nghĩa đế quốc nhận thấy không thể ngăn chặn được sự phát triển của phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới bằng biện pháp quân sự. Vì vậy, các học thuyết lần lượt ra đời nhằm lật đổ xã hội chủ nghĩa bằng biện pháp phi quân sự. Quá trình hình thành và phát triển, chiến lược “Diễn biến hòa bình” đã thể hiện tính chất phức tạp, tinh vi nhưng vô cùng nguy hiểm; kết quả đã làm sụp đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Đối với Việt Nam, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đặc biệt sau khi thực hiện đổi mới thành công, nước ta vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch càng tập trung chống phá, mức độ ngày càng gia tăng, tính chất ngày càng nguy hiểm; lĩnh vực tập trung nhất là chính trị, tư tưởng, văn hóa; mục tiêu là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Để hiểu rõ hơn mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, bài viết phân tích một số thủ đoạn của chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa:
Một là, Tiếp tục phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm chuyển hóa ý thức hệ, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân phai nhạt lý tưởng, xa rời lập trường giai cấp. Đây là lĩnh vực có tính nhạy cảm nhất và nó có tầm quan trọng hàng đầu, thay đổi ý thức hệ dẫn đến thay đổi chế độ là con đường ngắn nhất, nhanh nhất, ít tốn kém nhất. Vì vậy, các thế lực thù địch tập trung chống phá bằng nhiều thủ đoạn; tập trung công kích chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng cho rằng đó là tư tưởng chủ quan thoát li thực tế. Từ đó, chúng công kích, bôi xấu học thuyết chuyên chính vô sản, tuyên truyền “Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước chuyên chế” “Nhà nước cực quyền”. Thông qua sự sụp đổ của Liên Xô, chúng cho rằng chủ nghĩa Mác Lê nin là giáo lý phi khoa học qua thực nghiệm 70 năm và đã bộc lộ sai lầm; điều kiện xã hội Việt Nam theo giáo lý phương Tây là không thích hợp, là sự ngộ nhận, là xa xỉ đối với một quốc gia 90% là nông nghiệp. Mục đích của chúng là chuyển hóa ý thức hệ, xóa bỏ đấu tranh giai cấp, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, chúng đưa ra yêu cầu đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nghĩa là xóa bỏ cơ sở pháp lý về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội. Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch ở nước ngoài móc nói, cấu kết và chỉ đạo bọn phản động trong nước tuyên truyền kích động đòi đổi tên nước, tên Đảng, đòi thành lập cái gọi là “hội nhân dân chống tham nhũng”; chúng tuyên truyền rằng “tham nhũng chỉ được đẩy lùi khi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để các đảng phái giám sát lẫn nhau” thực chất là làm cho Đảng ta suy yếu, tan rã như đã thực hiện ở Liên Xô và Đông Âu. Lợi dụng tình hình sau những vụ việc phức tạp như vấn đề biển Đông, chúng xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng trong bảo vệ độc lập chủ quyền. Tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật gây khó khăn cho ta trong việc ban hành các chính sách phát triển kinh tế, xã hội, điển hình như việc Quốc hội họp thông qua Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Luật an ninh mạng ... Sử dụng chiêu bài dân chủ nhân quyền đả kích chế độ, thể chế chính trị; khuyến khích cải tổ, đa nguyên, đa đảng.
Hai là, lợi dụng những thiếu sót từ nội bộ Đảng, làm cho Đảng mất uy tín, mất hiệu lực lãnh đạo, mất đoàn kết dẫn đến tan rã về tổ chức.
Chúng cho rằng, phá hoại tổ chức Đảng và cán bộ lãnh đạo Đảng là mục tiêu then chốt để lật đổ chính quyền cơ sở, tiến tới lật đổ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch ở nước ngoài tích cực cài cắm, xây dựng lực lượng, móc nối với bọn phản động trong nước thu thập thông tin, tập trung vào những sơ hở của ta trong việc ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, chúng đưa thông tin sai lệch kích động nhân dân đứng lên đấu tranh nhằm hạ uy tín của Đảng. Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; trong thực hiện chính sách ở một số địa phương kích động nhân dân biểu tình, bạo loạn, đập phá cơ sở hạ tầng gây thiệt hại cho chính quyền; tung tin thất thiệt làm cho nhân dân mất lòng tin đối với Đảng. Chúng ra sức khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống xã hội để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để xuyên tạc vai trò lãnh đạo, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Dàn dựng, đưa tin bịa đặt về bí mật theo kiểu hé lộ những “thâm cung bí sử” trong Đảng làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm cho nội bộ Đảng mất đoàn kết, chia rẽ, giảm sút hiệu lực lãnh đạo, phá vỡ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Nhằm phá hoại về chủ trương, đường lối của Đảng, chúng mua chuộc cán bộ cao cấp đã nghỉ hưu, nhất là số cán bộ bị kỉ luật, cán bộ có uy tín nhưng có mặt chưa đồng thuận với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước tham gia góp ý, hiến kế với Đảng, hoặc bằng thư ngỏ, thư khẩn, đối thoại, đề xuất chủ trương, chính sách thực chất là lái đường lối, chính sách của ta theo hướng tư bản, hoặc gây bất lợi cho ta trong phát triển kinh tế lâu dài, trong thực hiện chính sách công bằng xã hội, dẫn đến bất bình trong một bộ phận nhân dân; lợi dụng đấu tranh chống tham nhũng từ đó thổi phồng khuyết điểm làm giảm uy tín của Đảng. Lạm dụng quyền tự do dân chủ, moi móc đời tư cá nhân; vu khống, nói xấu, bôi nhọ thanh danh lãnh tụ, lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước trong các thời kỳ; đề cao người này, bôi xấu người kia làm giảm uy tín lãnh tụ, lãnh đạo các cấp, làm cho quần chúng nhân dân mất lòng tin đối với Đảng xa rời Đảng. Nguy hiểm hơn thông qua không gian mạng, để kết nối thành viên, lôi kéo, tập hợp lực lượng, bàn bạc xây dựng kế hoạch chống đối, biểu tình, bạo loạn, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; chúng tìm cách biến những mâu thuẫn thông thường trong xã hội thành mâu thuẫn giữa nhân dân với cán bộ, chính quyền; biến mâu thuẫn không cơ bản thành mâu thuẫn cơ bản đối kháng; biến các vụ khiếu kiện thành các vụ biểu tình bạo loạn quy mô lớn chống đối chính quyền các cấp.
Ba là, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, chia rẽ quân đội với công an. Thông qua các sự kiện lịch sử trong đấu tranh giải phóng, chúng đưa thông tin sai lệch, lật lại sự kiện, thổi phồng khuyết điểm của một số cá nhân, đơn vị làm mất uy tín của Quân đội ta; đòi Quân đội đứng ngoài Đảng nhằm làm cho lực lượng vũ trang mất phương hướng chính trị, mất mục tiêu chiến đấu. Chúng mua chuộc cán bộ cao cấp, cài cắm lực lượng vào quân đội, thực hiện âm mưu chui sâu, leo cao hoạt động chống phá từ bên trong. Trên các trang mạng xã hội chúng tuyên truyền, xuyên tạc truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội; lợi dụng không gian mạng biên tập video dạng lồng ghép, cắt xén, bịa đặt, đăng tải nói xấu, xúc phạm danh dự quân đội, làm cho nhân dân mất niềm tin đối với quân đội. Đối với công an, chúng lợi dụng các vụ việc xử lý vi phạm của công dân trong đời sống hàng ngày, bịa đặt, dựng chuyện nhằm hạ thấp uy tín của công an; xuyên tạc, kích động, gây mâu thuẫn giữa công an với quân đội.
Bốn là, thông qua giáo dục đào tạo để chuyển hóa ý thức hệ của học sinh, sinh viên. Chúng cho rằng giáo dục đào tạo là mũi đột phá quan trọng, hiệu quả nhằm thực hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Dưới các hình thức như tổ chức tọa đàm, hội thảo, triển lãm; tham quan các trường đại học danh tiếng, cung cấp học bổng, trong đó ưu tiên con em cán bộ lãnh đạo, cán bộ lão thành cách mạng. Trong quá trình đào tạo sẽ tuyên truyền những "giá trị", lối sống phương Tây làm cho học sinh, sinh viên nhạt phai lý tưởng, lệch lạc nhận thức chính trị, đối lập quan điểm tư tưởng của Đảng. Chúng tìm mọi cách để đưa số cán bộ thân phương Tây đảm nhiệm các cương vị trọng yếu trong hệ thống chính trị, đủ điều kiện để chuyển đổi chính sách kinh tế, ý thức hệ, từng bước làm tan rã hệ thống chính trị.
Năm là, bằng chiêu bài "tự do", "dân chủ", "nhân quyền", các thế lực phản động nước ngoài hỗ trợ cho bọn phản động trong nước hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Chúng áp đặt "Luật nhân quyền" nhằm yêu sách đòi ta phải nới lỏng sự kiểm soát đối với các tổ chức xã hội dân sự, trả tự do cho các đối tượng cầm đầu đang bị Nhà nước quản chế, hỗ trợ, cung cấp cho số đối tượng chống đối trong nước phương tiện kĩ thuật hiện đại, tài chính nhằm hoạt động khủng bố. Điển hình là tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã chủ trương: “Dân chủ, nhân quyền, đối đầu bất bạo động là mũi tiến công trực diện Cộng sản nhưng để tạo biến động, lôi kéo quần chúng vào cuộc thì phải dùng vũ lực; các vụ cháy, nổ sẽ phá vỡ bức tường sợ hãi trong quần chúng, đẩy chính quyền vào thế bị động”. Chúng đã chỉ đạo đặt bom; phát tán bài viết, đăng tải video clip kích động nhân dân biểu tình.
Thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược "diễn biến hòa bình” ngày càng tinh vi, phức tạp, khó nhận biết. Vì vậy, nghiên cứu, phân tích làm rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng trước công luận để mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nhận biết. Từ đó nâng cao cảnh giác góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu của chúng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa là vấn đề quan trọng hàng đầu của mọi cấp, mọi ngành trong giai đoạn hiện nay. Để đấu tranh làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, một biện pháp cấp bách, quan trọng là cần tận dụng triệt để không gian mạng tăng cường đấu tranh, chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài, biến không gian mạng thành vũ khí của tất cả mọi người đập tan âm mưu của các thế lực thù địch bảo vệ và nâng cao uy tín của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ Đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì; tích cực tuyên truyền, định hướng thông tin cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Coi trọng công tác kiểm tra giám sát, có biện pháp ngăn chặn kịp thời biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống./.
 

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2020

Các thế lực thù địch xuyên tạc về dịch bệnh Covid-19 tại Việt Nam


Những ngày qua, kể từ khi những ca nhiễm Covid-19 đầu tiên ở Việt Nam, chúng ta đã liên tục đưa công khai thông tin về tình hình dịch bệnh, về những chỉ đạo của Chính phủ, sự nỗ lực của các cấp, các ngành trong phòng chống dịch bệnh… Tuy nhiên, bất chấp sự thật đó, một bộ phận kẻ xấu ở trong và ngoài nước vẫn tìm cách tuyên truyền xuyên tạc, làm bất ổn về trật tự xã hội, gây hoang mang dư luận. Mục đích chính của chúng là chống phá đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước Việt Nam đối với công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân.

học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh


Cảnh giác với hiện tượng gieo mầm, nuôi dưỡng đối tượng phản biện xã hội tiêu cực


Cảnh giác với hiện tượng gieo mầm, nuôi dưỡng đối tượng phản biện xã hội tiêu cực

 

Mở rộng dân chủ, tăng cường phản biện tích cực, lắng nghe những ý kiến đóng góp tâm huyết của nhân dân là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.

Hưởng ứng tinh thần ấy, các hoạt động phản biện, phản biện xã hội (PBXH) thời gian qua diễn ra khá sôi động và mang lại những kết quả tích cực. Thế nhưng, một thực tế rất đáng quan tâm là cả trong và ngoài nước xuất hiện một số người lợi dụng PBXH để gây nhiễu thông tin, làm rối tình hình, kích động, hòng tạo ra những mâu thuẫn trong xã hội. Lợi dụng tình hình này, các thế lực thù địch, một số tổ chức phản động đã móc nối, gieo mầm, nuôi dưỡng các đối tượng PBXH để sử dụng làm công cụ chống phá Đảng và Nhà nước ta.
Không phủ nhận hiệu quả tích cực từ phản biện xã hội
Theo cách hiểu phổ quát, PBXH là sự tương tác, giao thoa qua lại về quan điểm, tư duy của các lực lượng, thành phần trong xã hội trước những vấn đề thuộc chủ trương, chính sách, thể chế... có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của các thành viên trong xã hội. Thông qua việc lắng nghe, tiếp thu những ý kiến phản biện xác đáng, có cơ sở khoa học mà các chủ trương, chính sách, thể chế... của cộng đồng ngày càng phù hợp, đáp ứng tốt hơn với những đòi hỏi của thực tiễn.
Thực tế cho thấy, trước mỗi kỳ đại hội đảng, mỗi lần sửa đổi Hiến pháp, ban hành các đạo luật hay trước các sự kiện lớn, những vấn đề hệ trọng của đất nước... Đảng và Nhà nước ta đều công bố rộng rãi các văn kiện dự thảo, đưa ra quan điểm, chủ trương... để lấy ý kiến thảo luận, đóng góp của toàn dân. Đại đa số nhân dân có ý thức trách nhiệm cao, luôn coi mỗi đợt đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo các văn kiện là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng và hưởng ứng tích cực. Các cơ quan chức năng luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân tiếp cận sớm, hướng dẫn người dân nghiên cứu, bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình về từng nội dung trong dự thảo các văn kiện và những vấn đề quan trọng. Các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị tổ chức hàng trăm hội nghị, hội thảo, tọa đàm... nhằm tạo điều kiện để người dân có cơ hội bày tỏ quan điểm. Hằng ngày, hằng giờ, mọi người dân đều có thể tiếp nhận thông tin và phản ánh quan điểm, ý kiến của mình qua hàng trăm xuất bản phẩm báo chí in, báo điện tử, đài phát thanh, truyền hình từ Trung ương đến địa phương.
Tất cả ý kiến dù đồng thuận hay không đồng thuận đều được cơ quan chức năng tổng hợp báo cáo với Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ để xem xét quyết định. Theo tinh thần ấy, để nâng cao chất lượng xây dựng các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh việc phát huy dân chủ, lắng nghe, trân trọng các ý kiến đóng góp của nhân dân, nhất là của các chuyên gia, nhà khoa học có kiến thức chuyên sâu về từng lĩnh vực... chắt lọc để nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các dự thảo văn kiện. Chính nhờ mở rộng dân chủ, phát huy tinh thần PBXH của toàn dân mà các văn kiện của Đảng, Nhà nước ta đều thể hiện sự kết tinh giữa ý Đảng với lòng dân, được sự đồng thuận trong xã hội và sớm đi vào cuộc sống.
Thực tế chứng minh, để hoạt động PBXH đi đúng hướng, theo đúng ý nghĩa tích cực thì việc bày tỏ các quan điểm, nêu ý kiến đóng góp phải theo đúng quy trình, trên nền tảng khoa học, với thái độ khách quan, đặc biệt là phải đặt lợi ích của cộng đồng, lợi ích quốc gia-dân tộc lên trên hết. Thế nhưng, trên thực tế đã có không ít người lợi dụng hoạt động PBXH để mưu mô cơ hội, phản biện kiểu phủ nhận sạch trơn, với các quan điểm hoàn toàn không vì lợi ích của cộng đồng, lợi ích của đất nước. Những quan điểm này càng trở nên nguy hiểm khi được các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá.
Vẫn là những “chiêu bài” cũ
Xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ XHCN mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng là mục tiêu không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch. Dù không mới nhưng âm mưu, thủ đoạn để thực hiện mục tiêu của chúng thì ngày càng tinh vi hơn. Lợi dụng PBXH, xem PBXH là "chiêu bài" để chống phá Đảng, Nhà nước là một trong những thủ đoạn như thế.
Những người mang động cơ xấu, nhằm mục đích chống phá đất nước không bày tỏ quan điểm theo quy trình tổ chức và các kênh chính thống. Các đối tượng triệt để lợi dụng ưu thế của internet, nhất là mạng xã hội (MXH) để tiến hành các hoạt động chống phá núp dưới danh nghĩa PBXH. Dưới sự giật dây của các thế lực thù địch, một số phần tử cơ hội trong nước và cả ở nước ngoài đã soạn ra các văn bản dưới dạng “tâm thư”, “thư ngỏ”, “thư góp ý” (cả chính danh, nặc danh và mạo danh); thậm chí họ còn soạn hẳn một dự thảo văn kiện mới, hoàn toàn khác với dự thảo văn kiện chính thống được công bố... để thể hiện những ý kiến trái ngược với quan điểm của Đảng, Nhà nước rồi gửi đến các đồng chí lãnh đạo. Với kiểu lập luận của họ, thông qua các câu từ bóng bẩy, chau chuốt... thoáng qua người ta dễ lầm tưởng đó là những "ý kiến tâm huyết", "những đóng góp chân thành"... Nhưng thực chất, trước khi những “tâm thư”, “thư ngỏ”, “thư góp ý”... kia được gửi đi thì nó đã được các đối tượng đưa lên MXH. Để minh họa cho những quan điểm sai trái đã nêu, núp dưới chiêu bài PBXH, họ dựng chuyện, tung ra nhiều thông tin thất thiệt, tuyên truyền xuyên tạc, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, kích động, gây áp lực, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây bất ổn trong dư luận.
Trên không gian mạng, họ lập ra các hội, nhóm trá hình, sau đó tuyên truyền vận động, lôi kéo những người thiếu bản lĩnh, nhẹ dạ cả tin tham gia. Thông qua đó, họ khơi gợi các thành viên trong từng hội, nhóm theo danh nghĩa PBXH nêu những quan điểm, ý kiến trái chiều, nhưng thực chất là tuyên truyền xuyên tạc quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng, thái độ chống đối. Đặc biệt, trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, như: Dân tộc, tôn giáo, môi trường, chủ quyền biển, đảo... họ sử dụng các hội, nhóm và những đối tượng đã được móc nối, nuôi dưỡng đội lốt PBXH đưa lên MXH hàng loạt quan điểm, ý kiến đi ngược lại với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta. Họ mưu toan phát triển đưa các hội, nhóm trên không gian mạng thành tổ chức, hoạt động dưới dạng câu lạc bộ tự do, hòng từ đó biến hoạt động PBXH trở thành một trào lưu làm méo mó thực tiễn.
Ngoài sử dụng những đối tượng PBXH đã được móc nối, để chống phá Việt Nam lâu dài, các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam rất quan tâm đến việc gieo mầm, nuôi dưỡng, phát triển lực lượng phản biện mới. Đối tượng PBXH trong giới trẻ và cán bộ, đảng viên, công chức... được họ đặc biệt để mắt. Cùng với tài trợ về tài chính, họ còn hướng dẫn nội dung, kế hoạch hoạt động liên kết thành mạng lưới. Khi xuất hiện những quan điểm đi ngược chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trên không gian mạng, thì ngay lập tức họ huy động lực lượng "chân rết" vào bình luận, chia sẻ, tung hô... Họ thường đánh tráo khái niệm giữa ý kiến PBXH chính thống được Đảng, Nhà nước ta tiếp thu, với những giọng điệu tuyên truyền chống phá; hoặc đánh đồng giữa những người có ý kiến khác với những đối tượng cơ hội chính trị, lợi dụng PBXH để gây bất ổn trong dư luận. Vì thế, khi một số đối tượng lợi dụng PBXH để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Nhà nước bị đưa ra xử lý trước pháp luật thì họ cho rằng Việt Nam “đàn áp người bất đồng chính kiến”, “vi phạm quyền tự do ngôn luận”... rồi từ đó kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp.
Tỉnh táo để không tiếp tay, không mắc mưu
Thực tế cho thấy nhận thức về PBXH của nhân dân ta còn có những khoảng trống. Do vậy, muốn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng PBXH để chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, chúng ta cần đặt lên hàng đầu việc tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về hoạt động PBXH. Có như vậy mới giúp người dân hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của công việc hệ trọng này, phân biệt được đâu là PBXH tích cực, đâu là PBXH tiêu cực, từ đó đề cao cảnh giác, chủ động phát hiện, kịp thời đấu tranh với những hành vi lợi dụng PBXH để chống phá.
Vai trò định hướng để hoạt động PBXH diễn ra đúng mục đích, ý nghĩa và đem lại hiệu quả tích cực của các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng là rất quan trọng. Cùng với phát huy tốt vai trò định hướng, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cần quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận thông tin, nghiên cứu, thể hiện quan điểm, chính kiến của mình đối với từng nội dung liên quan tới đường lối, chủ trương, chính sách, thể chế... tác động trực tiếp đến quyền lợi của người dân.
Đối với từng người dân, khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu, nhất là những nội dung thuộc quan điểm về các vấn đề hệ trọng, nhạy cảm của đất nước tán phát trên MXH, cần phải tỉnh táo nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở khách quan, đâu là thông tin xuyên tạc. Nâng cao hiểu biết, tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết là cách tốt nhất để mỗi người nâng cao "sức đề kháng", tránh bị cuốn theo những giọng điệu xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch.
Đi đôi với mở rộng dân chủ, tổ chức chặt chẽ hoạt động PBXH tích cực, cần làm tốt việc nắm bắt, tổng hợp, tiếp thu ý kiến của nhân dân để trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định. Trong tổng hợp và ghi nhận những ý kiến đóng góp của nhân dân, các cơ quan chức năng cần có sự đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, thận trọng, không để kẻ xấu lợi dụng PBXH để thực hiện những mục đích đen tối.
Công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tiến hành chặt chẽ, lấy phòng là chính nhưng cũng phải kiên quyết đấu tranh để vừa bảo vệ, vừa ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị trong nội bộ, lợi dụng PBXH để thực hiện những động cơ, mục đích không trong sáng. Đặc biệt, cần quan tâm quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là lớp trẻ để bồi dưỡng xây dựng những nhân tố tích cực, kịp thời phát hiện những tư tưởng, hành động sai trái. Đối với những cán bộ, đảng viên, công chức thoái hóa biến chất về chính trị lợi dụng PBXH tiếp tay cho các thế lực thù địch, cần xử lý kịp thời, nghiêm minh. Cần coi trọng công tác phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm m­ưu, thủ đoạn lợi dụng hoạt động PBXH để tuyên truyền, xuyên tạc chống phá Đảng và Nhà nước ta.
Các lực lượng chức năng cần chủ động phát hiện những hội, nhóm, cá nhân lợi dụng PBXH để tuyên truyền, tán phát những quan điểm sai trái trên MXH, từ đó có biện pháp kiên quyết đấu tranh. Đối với những trang mạng lợi dụng PBXH để tuyên truyền theo kiểu xuyên tạc, kích động chống phá Nhà nước Việt Nam, âm mưu làm mất ổn định chính trị ở Việt Nam thì cần tổ chức lực lượng phối hợp với các nhà mạng, kết hợp giữa biện pháp kỹ thuật với biện pháp hành chính để đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật.

Lợi dụng hạn, mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long để xuyên tạc, chống phá


Lợi dụng hạn, mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long để xuyên tạc, chống phá


Khi mà chính quyền, người dân tập trung cao độ gồng mình chống lại “thách thức kép” thì phẫn nộ thay, các đối tượng, phần tử cơ hội chính trị lại lợi dụng tình hình khó khăn trên để xuyên tạc, kích động chống phá.

Trong điều kiện đất nước đang gồng mình phòng, chống dịch bệnh COVID-19 thì người dân Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cũng đang đối mặt với hạn, xâm nhập mặn nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề tới cuộc sống và sản xuất. Trong đó 5 tỉnh là Bến Tre, Tiền Giang, Kiên Giang, Cà Mau và Long An đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp thiên tai.
Khi mà chính quyền, người dân tập trung cao độ gồng mình chống lại “thách thức kép” thì phẫn nộ thay, các đối tượng, phần tử cơ hội chính trị lại lợi dụng tình hình khó khăn trên để xuyên tạc, kích động chống phá.
Trên nhiều phương tiện truyền thông, các trang mạng xã hội của các tổ chức phản động lưu vong, phần tử cơ hội chính trị trong, ngoài nước tập trung, triệt để lợi dụng tình hình hạn hán, xâm nhập mặn đang diễn ra gay gắt ở các tỉnh ĐBSCL, để xuyên tạc: Có kết quả này là do ĐBSCL bị “bỏ rơi”. Năm 2020, Đồng Tháp Mười đã biến mất. Cả Nam Bộ ngồi đếm ngày mất dần ĐBSCL.
Căn cứ vào đây, họ suy diễn theo kiểu “đổi trắng thay đen”, “có ít xít ra nhiều”, đặt điều rằng: Thảm họa hơn, nhân dân phải rời bỏ đất cha ông để tìm kiếm nơi ở mới, người dân phải lên Tây Nguyên,  một phần tản lạc lên phố thị, tha phương đến miền Trung, lưu lạc ra cả miền Bắc; một bộ phận phiêu dạt mãi tận xứ Cao Ly ở phía Đông, đến vùng sa mạc Sahara ở phía Tây, thậm chí cả xứ Mễ Tây Cơ, Hoa Kỳ, Gia Nã Đại bên kia bán cầu...
Bộ phận người dân còn lại đang ngửa cổ mong chờ phép màu từ tạo hóa. Họ tuyệt đối hoá rằng: “Thảm trạng này do có sự tiếp sức, cho phép của việc khai thác, tận thu cát vô tội vạ, sạt lở, sụt lún đã xảy ra khắp nơi. Giờ “tan rã” không còn là nguy cơ, đe dọa huỷ diệt khu vực mà sản vật tự nhiên vốn đa dạng, phong phú nhất Việt Nam”.
Họ quy kết nguyên nhân là do Đảng không ra lệnh cải tạo vùng trũng là nơi tích nước cho ĐBSCL, tìm cách bằng các Nghị quyết nhằm tăng sản lượng gạo ở ĐBSCL để vươn lên dẫn đầu về xuất cảng gạo, để nâng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản, giúp chỉ tiêu tăng trưởng của năm sau cao hơn năm trước. Họ đặt câu hỏi, tại sao một miền đất màu mỡ trù phú bậc nhất của Tổ quốc lại bị bỏ rơi vào hoàn cảnh bi đát này? Cuối cùng, họ quy kết thảm trạng này là do thể chế chính trị, do Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý non kém tạo ra; Đảng, Nhà nước cố tình bưng bít thông tin thảm cảnh này. v.v.
ĐBSCL là vùng đất rộng lớn chiếm 12% diện tích, 19% dân sốcả nước, mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc; có lợi thế về phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, du lịch, năng lượng tái tạo; là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam, đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây của cả nước, 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu; có vị trí thuận tiện trong giao thương với các nước ASEAN và Tiểu vùng sông Mê Công.
Phải thừa nhận một cách khách quan, khoa học, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, ĐBSCL có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. Đó là, biến đổi khí hậu và nước biển dâng diễn ra nhanh và gay gắt, gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sinh kế, đời sống của người dân.
Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, hạn hán, xâm ngập mặn là hiện tượng tự nhiên, nguyên nhân chính vượt khỏi khả năng của con người, quốc gia đơn lẻ. Để hạn chế tác động của nó cần phải có sự hợp tác, đồng lòng không chỉ của quốc gia, đảng phái nào trên toàn thế giới.
Bên cạnh đó, dọc lưu vực sông Mê Kông, mỗi quốc gia có lợi ích riêng của mình, việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn, đặc biệt là xây dựng đập thủy điện đã làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng phù sa, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn sâu vào hạ vùng, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội.
Mặt trái từ hoạt động phát triển kinh tế với cường độ cao ở nội vùng bộc lộ ngày càng gay gắt, gây nhiều hệ lụy như: ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, sụt lún đất, suy giảm mực nước ngầm, xâm thực bờ biển, nhiều diện tích rừng tự nhiên...
Về chủ quan, công tác quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực, một số giải pháp, sự phối hợp còn thiếu chặt chẽ để hạn chế sự ảnh hưởng, giảm thiểu sự tác động của thiên tai. Tuy nhiên, dựa vào đây để quy kết hệ quả do sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, thể chế chính trị gây ra thì thật là phiến diện, chủ quan.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước triển khai nhiều giải pháp để giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu, có nhiều chủ trương, chính sách để phát huy tiềm năng, lợi thế, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội ĐBSCL.
Vùng đất này đã có sự phát triển rõ rệt, đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Cơ sở hạ tầng từng bước được đầu tư đồng bộ, đảm bảo phục vụ tốt hơn cho các hoạt động kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân không ngừng cải thiện; đã khẳng định được vị thế là trung tâm sản xuất, xuất khẩu lúa gạo, thủy hải sản và cây ăn quả hàng đầu của cả nước, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể phục vụ phát triển đất nước.
Trong những ngày vừa qua, công tác chỉ đạo chống hạn, mặn tại ĐBSCL được hệ thống chính trị và người dân quyết liệt tìm cách giải quyết. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu chi cho 5 tỉnh đã công bố tình huống khẩn cấp 350 tỷ đồng để có nguồn lực ứng phó.
Hệ thống chính trị, tuyến đầu là bộ đội, công an…không quản ngại khó khăn, gian khổ tìm mọi cách để có thể cung cấp đủ nước ngọt sinh hoạt cho người dân; nhân dân cả nước đang chung tay ủng hộ, chia sẻ những khó khăn của người dân nơi đây bằng những việc làm thiết thực nhất… Như vậy, tại sao lại nói, ở ĐBSCL người dân đang bị bỏ rơi, biến mất?
Vậy mục đích, thủ đoạn của họ là gì? Chỉ có thể là lợi dụng tình hình khó khăn, hạn hán, xâm nhập mặn để xuyên tạc, chống phá. Họ quy kết để người dân lầm tưởng đó là kết quả sự lãnh đạo yếu kém của Đảng và Nhà nước về vấn đề này, nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.
Họ cho rằng, ĐBSCL bị “bỏ rơi”, quên lãng, bị tận thu, không được quan tâm đầu tư…để kích động tâm lý tiêu cực của người dân, chia rẽ vùng miền, khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục đích của luận điệu này nằm trong ảo vọng xoá bỏ thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thực hiện mục tiêu đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam.

CHIẾN THẮNG 30-4, NIỀM TỰ HÀO CỦA DÂN TỘC


CHIẾN THẮNG 30-4, NIỀM TỰ HÀO CỦA DÂN TỘC

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với sự kiện Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30-4, đã kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của quân và dân ta. Chiến thắng 30-4 tạo bước ngoặt trong lịch sử dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới đối với nước ta - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thể hiện sâu sắc sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đánh dấu mốc son lịch sử kết thúc cuộc trường chinh suốt 30 năm của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, chống lại giặc ngoại xâm, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Vậy mà, thời gian qua vẫn còn những blog đăng tải tin bài sai sự thật về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc ta, làm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.
Khẳng định rằng, chiến thắng 30-4 là kết quả từ sự đấu tranh, hy sinh, gian khổ, bền bỉ của nhiều thế hệ người dân Việt Nam. Đó cũng là kết quả từ sức mạnh tổng hợp xuất phát từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, đặt dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo của Đảng với đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo. Với đường lối đó, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy cao độ, kết hợp với sức mạnh đoàn kết quốc tế và sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam để kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Chiến thắng này cũng xuất phát từ tinh thần khát khao độc lập, tự do, khát khao hòa bình thống nhất Tổ quốc của toàn thể dân tộc Việt Nam; thể hiện rõ bản lĩnh, ý chí của người Việt Nam, không bao giờ khuất phục trước mọi kẻ thù xâm lược. Chiến thắng đã tạo cho chúng ta một nền tảng về hòa bình, độc lập, thống nhất để cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội thoát khỏi ách thống trị của kẻ thù; cũng tạo cho chúng ta một vị thế mới trên trường quốc tế.
Chiến thắng vĩ đại mùa xuân 1975 là bàn đạp cho cả dân tộc Việt Nam có thêm bản lĩnh, niềm tin để vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Chiến thắng đó còn là động lực để chúng ta vươn ra biển lớn trong cuộc hội nhập quốc tế. Hơn 30 năm đổi mới, trước bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, đất nước gặp nhiều khó khăn, thử thách, các thế lực thù địch chống phá quyết liệt, nhưng với tinh thần chiến thắng 30/4, bằng quyết tâm, nỗ lực không ngừng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đất nước đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên rõ rệt… Cùng với bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chúng ta đã giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển toàn diện đất nước; tiềm lực mọi mặt của đất nước được tăng cường. Uy tín, vị thế và tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Từ chiến tranh kéo dài và hàng trăm năm bị thực dân đô hộ, Việt Nam đã sớm hồi sinh, vươn mình trỗi dậy và tìm ra con đường đi lên đúng đắn, làm nên những bước phát triển diệu kỳ. Nhiều năm liên tục, nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng cao, trở thành nền kinh tế có tốc độ phát trin nhanh trong khu vực. Nước ta đã vượt qua ngưỡng đói nghèo, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Có thể nói chúng ta đang từng bước thực hiện được di nguyện của Bác Hồ là sau ngày thắng lợi sẽ “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
Chúng ta có quyền tự hào về những thành tựu to lớn mà đất nước ta đã đạt được từ sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến nay. Chiến thắng 30/4/1975 mãi mãi là nguồn động lực tinh thần bất diệt góp phần quan trọng vào việc tạo ra sức mạnh cho đất nước và dân tộc ta vững bước trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, những lời nói xuyên tạc không đúng về chiến thắng của dân tộc, làm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, là người dân Việt Nam cần cảnh giác trước những luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động thực hiện âm mưu “DBHB”, hiểu rõ giá trị của chiến thắng lịch sử 30/4/1975 hãy sống và cống hiến vì đất nước Việt Nam ./.

Rớt mộng về một “miền đất hứa”


Rớt mộng về một “miền đất hứa”

 “Nước Mỹ không vĩ đại như người ta tưởng” - đó là nhan đề bài viết trên tài khoản Facebook cá nhân của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (tức Mẹ Nấm) sau những tháng ngày hoạt động chống phá Tổ quốc để đến được “miền đất hứa”, nơi có tượng Nữ Thần Tự Do.
Khi ở trong nước, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là một đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam, bị xét xử về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, theo Điều 88 Bộ luật Hình sự 1999, bị tuyên án 10 năm tù giam và sau đó bị trục xuất sang Mỹ.
Khi sang đất Mỹ, với những thành tích bất hảo chống lại Tổ quốc, nhân dân Việt Nam, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được thế lực thù địch, phản động bên ngoài tìm cách đánh bóng tên tuổi, đào tạo và gán cho những giải thưởng hào nhoáng như: giải thưởng “Tự do báo chí Quốc tế 2018”; giải thưởng “Nhân quyền 2019”... Nhưng sống lâu trên đất Mỹ, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh mới dần hiểu ra “miền đất hứa” này không phải mọi điều đều xứng là “miền đất hứa”.
Chính vì lẽ đó, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã viết loạt bài với các nhan đề trên tài khoản Facebook cá nhân: “Cuộc tranh luận về thuốc điều trị sốt rét sẽ đi đến đâu?”,“Nước Mỹ không vĩ đại như người ta tưởng” và “dịch bệnh nên đọc cảnh báo của chuyên gia y tế đừng nghe lời lãnh đạo”... Những bài viết của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh trực tiếp hoặc gián tiếp chỉ trích Tổng thống Mỹ khi trong bài phát biểu cuộc họp báo ngày 19-3, Tổng thống Donald Trump nói: “Thuốc trị sốt rét Hydroxychloroquine có thể bào chế ngay lập tức để trị COVID-19”. Ông cũng cho biết “sẽ thúc đẩy Cơ quan kiểm soát dược phẩm (FDA) uyển chuyển hơn trong các quy định để sớm có các phương tiện chống dịch”.
Quỳnh cho rằng, tác dụng phụ khi dùng thuốc gốc chloroquine/hydroxychloroquine là “nôn mửa trào mật, tiêu chảy trào bồn cầu, dùng lâu ảnh hưởng đến thị giác, thính giác và cả hệ tim mạch”; “Nước Mỹ không vĩ đại như nhiều người đang nghĩ. Thiếu khẩu trang y tế, thiếu bộ xét nghiệm, Tổng thống kêu nhân viên sử dụng lại khẩu trang, có khác gì Vũ Hán không!?”. Từ những viện dẫn về đánh giá của các chuyên gia y tế, cũng như các phân tích lập luận của cá nhân, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh kết luận không nên tin theo lời lãnh đạo nước Mỹ vì có thể bỏ mạng bất cứ lúc nào.
Sau những loạt bài gây sóng gió chỉ trích Tổng thống Mỹ, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã vấp phải sự chỉ trích gay gắt từ dư luận tại Mỹ. Một số người  thậm chí còn cảnh báo sẽ đề xuất chính phủ Hoa Kỳ trục xuất Quỳnh nếu như giữ thái độ phản kháng mẫu quốc của họ. Họ cho rằng, Quỳnh là kẻ “vong ân bội nghĩa”, “phản chủ”, mặc dù đã được nước Mỹ cưu mang sau những “thành tích” chống đối Việt Nam, nay lại phản kháng chính người đã giúp đỡ mình. Với những áp lực tâm lý đè nặng, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã tạm khóa tài khoản Facebook cá nhân của mình.
Sau những diễn biến từ sự việc của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, có thể rút ra một số điều như sau:
Trước tiên, việc chống lại Tổ quốc, nhân dân Việt Nam để đạt được mục đích định cư tại trời Tây là một hành động đáng phê phán. Những tấm gương nhãn tiền như: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Bạch Hồng Quyền, Paulus Lê Văn Sơn... với những lời “chát chúa”, “cực khổ” tại trời Tây là lời cảnh tỉnh cho những đối tượng đang tìm cách chống phá Tổ quốc ở trong nước. Nếu như không muốn vỡ mộng vì sự lừa mị từ các đối tượng thù địch, phản động bên ngoài thì tốt nhất hãy đối xử tốt với nơi đã sinh ra mình.
Thứ hai, tự do ngôn luận ở nước Mỹ không phải đã thật “tuyệt vời” như ai đó nghĩ. Mặc dù ngày 14/3 vừa qua, Báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2019 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã thiếu khách quan đưa ra nhận định: “Hiến pháp và Luật cho phép quyền tự do biểu đạt bao gồm tự do báo chí, tuy nhiên, trên thực tế, Chính phủ không tôn trọng các quyền này và nhiều bộ luật còn vi phạm quyền tự do biểu đạt. Chính phủ tiếp tục sử dụng các điều khoản về an ninh mạng và chống bôi nhọ người khác để hạn chế quyền  tự do biểu đạt”, tuy nhiên, sau sự việc của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh một lần nữa chúng ta thấy rằng, quyền tự do biểu đạt thông tin, tự do ngôn luận của nước Mỹ đối với người dân vẫn chưa được đảm bảo. Những câu hỏi luôn thường trực trong suy nghĩ chúng ta, tại sao Nguyễn Ngọc Như Quỳnh lại chịu áp lực về tâm lý và đi đến quyết định khóa tài khoản Facebook cá nhân của mình? Nếu nước Mỹ có tự do ngôn luận thì Quỳnh phải được tự do biểu đạt ý kiến của mình chứ ?
Thứ ba, mỗi quốc gia có trình độ, năng lực phát triển riêng, có bản sắc văn hóa riêng, chính vì vậy không nên lấy khuôn mẫu về “dân chủ”, “nhân quyền” của nước này để áp đặt lên nước khác.
Như chúng ta đã biết, năm 1912, khi đến thăm tượng Nữ Thần Tự Do ở Mỹ, Bác Hồ đã ghi: “Ánh sáng trên đầu Thần tự do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng Thần tự do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”. Những điều trăn trở của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng khiến chúng ta thấu hiểu hơn về sự bình đẳng, về “dân chủ”, “nhân quyền” một cách đúng nghĩa, càng hiểu hơn để có được điều này là cả quá trình đấu tranh gian khổ.
Thực tiễn chứng minh, không có quốc gia vĩ đại tuyệt đối, mà sự vĩ đại phụ thuộc vào “lòng dân” trong mọi thời đại. Như vậy, qua sự việc xảy ra trên đất Mỹ của đối tượng Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, chúng ta không tuyệt đối hóa về “dân chủ”, “nhân quyền” bởi một quốc gia nào, và cũng không lấy đó làm hệ quy chiếu, thước đo giá trị cho Việt Nam trong giai đoạn hiện tại. Dĩ nhiên, những mặt tốt về giá trị dân chủ, nhân quyền của các nước văn minh, tiên tiến, chúng ta không phủ nhận mà cần phải phấn đấu để trở nên ưu việt hơn.