Thứ Tư, 9 tháng 12, 2020

Thành công của Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng lần thứ nhất và triển vọng của một cấu trúc an ninh khu vực

 

 (ADMM-2020) - Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) lần thứ nhất với chủ đề “ADMM+: Hợp tác chiến lược vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực” đã thành công tốt đẹp tại Hà Nội. Hội nghị đã bàn các biện pháp thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh, đánh dấu sự ra đời của một cấu trúc an ninh khu vực đầy triển vọng, mở ra một cơ chế hợp tác quốc phòng đa phương thiết thực và hiệu quả, góp phần quan trọng  tăng cường hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực.

Thành công của Hội nghị ADMM+ góp phần quan trọng củng cố hòa bình 

ADMM+ lần thứ nhất có sự tham dự của 18 nhà Lãnh đạo quốc phòng 10 nước ASEAN và 8 nước Đối tác Đối thoại. Trong đó có 15 Bộ trưởng Quốc phòng các nước: Cam-pu-chia, In-đô-nê-xi-a, Lào, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn  Quốc, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân và 3 đại diện Bộ trưởng Quốc phòng các nước: Bru-nây, Mi-an-ma, Nga. Như vậy, kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, ADMM+ lần thứ nhất là Hội nghị có số lượng Bộ trưởng Quốc phòng tham dự lớn nhất. Điều đó thể hiện rõ tầm quan trọng của Hội nghị cũng như sự mong muốn và kỳ vọng cao của các nước vào Hội nghị lần này.

Tại Hội nghị, Bộ trưởng Quốc phòng các nước thành viên đã có sự trao đổi cởi mở, thẳng thắn và hiệu quả về các vấn đề quan tâm, nhất trí và thống nhất được tất cả các nội dung văn bản của Hội nghị. Các Bộ trưởng đều cho rằng, để đối phó với các thách thức an ninh chung, đặc biệt là các thách thức an ninh phi truyền thống, như: thảm họa tự nhiên, an ninh biển, bệnh dịch, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, phổ biến vũ khí hủy diệt, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ... của khu vực, thì ADMM+ cần phải thúc đẩy hợp tác hiệu quả trên thực tế. Đối với thách thức tranh chấp chủ quyền lãnh thổ; trong đó có tranh chấp trên Biển Đông, cần thực hiện bằng các biện pháp hòa bình, thông qua đàm phán, dựa trên Luật pháp Quốc tế được thừa nhận (trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982), tôn trọng và thực hiện DOC (Tuyên bố ứng xử của các bên liên quan tại Biển Đông) và hướng tới hình thành COC (Quy tắc ứng xử tại Biển Đông).

Mặc dù còn có sự khác biệt trong quan điểm đối với một số vấn đề, song các khác biệt đó lại được thể hiện một cách ôn hòa, đầy trách nhiệm, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Không khí hòa hiếu, lắng nghe, cầu thị, có trách nhiệm trong thảo luận là một thành công ngoài dự kiến, tạo cho Hội nghị đi đến thống nhất với các nội dung chung và tạo ra một sự thoải mái, hài lòng của tất cả các Bộ trưởng sau Hội nghị. Tổng Thư ký ASEAN, Xu-rin Pit-xu-văn nhấn mạnh: “Điểm chung nhất của Hội nghị là các đại biểu trong Hội nghị đã chia sẻ những quan điểm và mục tiêu thống nhất vì sự ổn định của khu vực. Tại Hội nghị, vấn đề Biển Đông không được đề cập như một điểm gây bất đồng ở khu vực, mà được đề cập như một ví dụ cho thấy cả khu vực sẽ hợp tác, sẽ tham vấn, đối thoại và thống nhất. Chúng ta sẽ chứng tỏ với cộng đồng quốc tế rằng, chúng ta với tư cách là một khu vực sẽ hợp tác, cùng nhau tăng cường các nguồn lực và có thể cùng nhau đối phó với các thách thức”.

ADMM+ lần đầu tiên đã thống nhất được những vấn đề cơ bản liên quan tới nguyên tắc, cơ chế vận hành, định hướng hợp tác của ADMM+: 1- Cùng nhau hợp tác vì hòa bình, an ninh và thịnh vượng chung trong khu vực. 2- ADMM+ sẽ do ASEAN đóng vai trò là trung tâm, hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản của ASEAN là tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp, tham vấn và đồng thuận, với nhịp độ thỏa mãn với tất cả các nước thành viên. 3- ADMM+ họp 3 năm một lần. 4- Nhất trí về việc thiết lập các cơ chế hỗ trợ, như Hội nghị quan chức quốc phòng cao cấp các nước ASEAN mở rộng (ADSOM+, cấp thứ trưởng), Hội nghị Nhóm công tác của ADSOM+ (cấp các cơ quan chính sách). Các cơ chế này sẽ họp hằng năm để duy trì động lực và triển khai hợp tác dựa trên các quyết định và thỏa thuận của Bộ trưởng. 5- Xác định 5 lĩnh vực ưu tiên hợp tác ban đầu, gồm: hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa; an ninh biển; quân y; chống khủng bố và hoạt động gìn giữ hòa bình. 6- Nhất trí sẽ thiết lập các Nhóm Chuyên gia (các chuyên gia quốc phòng, quân sự trong các lĩnh vực cụ thể) trong các lĩnh vực ưu tiên hợp tác trên để thúc đẩy và triển khai hợp tác cụ thể.  Đồng thời, Hội nghị đã thông qua các văn kiện, gồm: Tuyên bố chung, Tài liệu thảo luận “Tiềm năng, triển vọng và định hướng hợp tác thiết thực trong khuôn khổ ADMM+” và Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị.

Một thành công rất lớn của Hội nghị lần này là sự hài lòng của các nước thành viên ADMM+ đối với công tác tổ chức, đón tiếp và điều hành Hội nghị của nước chủ nhà Việt Nam. Theo đánh giá của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt: “Hội nghị ADMM+ mang tầm vóc chiến lược với nội dung thảo luận hài hòa, chặt chẽ. Chủ tịch điều hành khéo léo và linh hoạt, công tác lễ tân đảm bảo chu đáo, tạo được không khí xây dựng hiểu biết và không để những vấn đề nhạy cảm trở thành chủ đề của Hội nghị”.

Có thể khẳng định, ADMM+ lần đầu tiên không chỉ là sự gặp gỡ để bàn thảo về các vấn đề đa phương của các Bộ trưởng Quốc phòng 10 nước ASEAN và 8 nước Đối tác Đối thoại, mà còn là cơ hội để các nước thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương, tháo gỡ những căng thẳng, mâu thuẫn đang tồn tại. Bên lề Hội nghị, Bộ trưởng Quốc phòng các nước đã tiến hành các cuộc gặp gỡ song phương; trong đó, đáng chú ý là cuộc gặp song phương giữa Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Trung Quốc; Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc và Nhật Bản. Trả lời phỏng vấn các phóng viên báo chí, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Tô-si-mi Ki-ta-da-oa khẳng định: “Cơ chế đối thoại song phương cũng là một nội dung rất quan trọng và ADMM+ lần thứ nhất là sự khởi đầu quan trọng để chúng ta giải quyết khúc mắc giữa các bên”.

Thành công ngoài sự mong đợi của ADMM+ lần thứ nhất đã thể hiện rõ tình đoàn kết, đồng thuận cao của các nước ASEAN và sự ủng hộ nhiệt tình của các nước Đối tác Đối thoại. Sau 4 năm, kể từ khi có ý tưởng về việc thiết lập ADMM+, ASEAN đã có những bước tiến dài trong việc thúc đẩy hợp tác trong khối cũng như xây dựng các cơ sở pháp lý, xây dựng cơ chế hoạt động cho ADMM+. Tại Hội nghị ADMM-4, các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN đã đoàn kết thống nhất đi đến đồng thuận cao về việc thiết lập ADMM+. Chương trình nghị sự của ADMM+ lần thứ nhất đã được Việt Nam và các nước ASEAN chuẩn bị rất chu đáo, từ cấp làm việc tới cấp Thứ trưởng và cấp Bộ trưởng Quốc phòng. Các lĩnh vực hợp tác ưu tiên mà ASEAN đưa ra cũng rất phù hợp với nhu cầu và khả năng hợp tác hiện nay, nên đã được các nước Đối tác Đối thoại ủng hộ mạnh mẽ.

Để ADMM+ sớm trở thành hiện thực thì quyết tâm và nỗ lực của chủ nhà Việt Nam trong vận động, tham vấn, tổ chức và điều hành Hội nghị đóng vai trò quan trọng. Tại ADMM hẹp (tháng 11/2009, tại Băng Cốc - Thái Lan), Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam: Đại tướng Phùng Quang Thanh đã đề xuất nguyện vọng của Việt Nam là tổ chức ADMM mở rộng lần đầu tiên tại Hà Nội với 8 nước Đối tác Đối thoại. Sau khi đạt được sự đồng thuận của các thành viên ASEAN, Bộ Quốc phòng đã nhận được sự ủng hộ rất lớn của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các cơ quan liên quan. Chúng ta đã tổ chức tham vấn nhiều lần tại các nước trong và ngoài ASEAN; đồng thời, tiến hành một khối lượng lớn công tác chuẩn bị để các tài liệu có chất lượng cao. Ngay sau khi được Chính phủ đồng ý cho tổ chức ADMM+, Bộ trưởng Quốc phòng đã lập các ban chỉ đạo Hội nghị, gồm các tiểu ban: Tiểu ban nội dung, Tiểu ban lễ tân, đối ngoại, Tiểu ban an ninh, Tiểu ban hậu cần, đảm bảo... Bên cạnh việc làm công tác tổ chức tại trong nước, Việt Nam còn làm công tác tham vấn các nước, tổ chức đào tạo cán bộ...

Có thể nói, thành công của ADMM+ lần thứ nhất có dấu ấn rất rõ nét của nước chủ nhà Việt Nam; thể hiện rõ uy tín và vai trò của Việt Nam trong năm Chủ tịch ADMM. Việt Nam thực sự đã tạo được sự gắn bó, đoàn kết trong ASEAN, khẳng định được vai trò chủ động của ASEAN trong tiến trình ADMM+ và đã thực hiện rất tốt công tác điều phối giữa các nước ASEAN và các nước Đối tác Đối thoại; đặc biệt, trong tạo đồng thuận đối với các nội dung của Hội nghị. Điều này đều được các nước trong và ngoài ASEAN thừa nhận. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Rôbớt Ghết đánh giá: “ADMM+ lần đầu tiên hết sức thành công, đạt được mục tiêu đề ra và quan trọng hơn cả là thỏa mãn được mục đích của tất cả các bên”. Bộ trưởng Quốc phòng In-đô-nê-xi-a Pu-nô-mô Y-gian-tô-rô cho rằng: “Tất cả các nội dung Hội nghị do Việt Nam đề xuất đều được đánh giá cao và được thông qua, chứng tỏ Việt Nam đã chuẩn bị rất kỳ công. In-đô-nê-xi-a cho rằng, một trong những nguyên nhân dẫn tới thành công là công tác tham vấn của Lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam... Chúng tôi tự hào và cảm ơn Việt Nam...”. Đặc biệt, sau Hội nghị, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt đã tặng Chủ tịch Hội nghị ADMM+ lần đầu tiên, Đại tướng Phùng Quang Thanh, 4 câu đúc kết: “Mục đích rõ ràng; Chuẩn bị chu đáo; Tầm nhìn chiến lược; Quan điểm hài hoà”.

Hiện nay, ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng, có nhiều sự hợp tác về an ninh, nhiều cấu trúc an ninh, như Diễn đàn ARF, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, các tiến trình ASEAN+, Đối thoại Shangri-La hay ADMM... Các cấu trúc an ninh này đã và đang phát huy tác dụng, tạo cho khu vực một bầu không khí hòa bình, hiểu biết lẫn nhau. Song, trong một khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang phát triển năng động với nhiều lợi ích và xung đột đan xen đòi hỏi phải có sự hợp tác giải quyết, thì rất cần có một cấu trúc an ninh mới mạnh hơn, hiệu quả hơn. Một cấu trúc an ninh mà từ trao đổi bàn bạc, xây dựng lòng tin, từ ngoại giao phòng ngừa đi đến hợp tác thiết thực trên thực tế. Đó chính là lý do khiến các nước trong khu vực ASEAN đã đi đến quyết định xây dựng một cấu trúc an ninh mới rộng lớn hơn, hiệu quả hơn và thiết thực hơn.

ADMM+ với sự tham dự của 10 nước ASEAN và 8 nước Đối tác Đối thoại chủ chốt, là cơ chế mà các nước đều nhìn nhận có vai trò quan trọng đối với hòa bình, ổn định của khu vực và sẽ là trung tâm trong một cấu trúc an ninh khu vực đang nổi lên hiện nay, bởi: Thứ nhất, có sự tham dự của các thành phần chủ chốt trong khu vực, không quá lớn, không quá nhỏ, vừa đủ để có thể hợp tác một cách thực chất và hiệu quả. Thứ hai, đây là cơ chế chính thức cấp Bộ trưởng Quốc phòng, do vậy có tính hiệu lực cao. Thứ ba, hoàn toàn khác với các diễn đàn khác, ADMM+ duy trì kênh đối thoại chiến lược giữa các Bộ trưởng, song trọng tâm là hướng vào hợp tác thiết thực, hợp tác cụ thể trên thực tế. Đối thoại, tham vấn là nhằm tăng cường lòng tin, sự tin cậy, hiểu biết lẫn nhau để làm nền tảng cho sự hợp tác thiết thực và thực chất. Thứ tư, ADMM+ sẽ đề cao khả năng kết hợp và chia sẻ nguồn lực để đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống trong khi vẫn duy trì đối thoại chiến lược về các vấn đề an ninh cả truyền thống và phi truyền thống ở cấp Bộ trưởng.

Có thể nói, ADMM+ là một bộ phận quan trọng của cấu trúc an ninh khu vực và bổ sung cho các diễn đàn khu vực hiện nay. ADMM+ đóng vai trò là nền tảng cho hợp tác trên thực tế và có ý nghĩa giữa ASEAN và các nước bên ngoài khu vực trong các lĩnh vực lợi ích an ninh chung. Đồng thời, thông qua ADMM+, các nước ASEAN có thể trao đổi các nguồn lực quốc phòng của mình với các Đối tác Đối thoại và tìm kiếm các cơ chế hợp tác trên cả bình diện chiến lược cũng như cấp hành động, làm cho các hoạt động hợp tác đạt hiệu quả cao.

Trong thời gian tới, ADMM+ sẽ duy trì kênh đối thoại chiến lược cấp Bộ trưởng nhằm trao đổi quan điểm về các vấn đề quốc phòng-an ninh, chia sẻ các chính sách quốc phòng của mỗi nước. Đây là kênh trao đổi hết sức cần thiết và quan trọng góp phần xây dựng lòng tin, tăng cường hiểu biết, sự minh bạch về chính sách quốc phòng, làm cơ sở tiến tới hợp tác thiết thực và cụ thể. Trong khi  đó, ADMM+ cũng sẽ quan tâm và thúc đẩy hợp tác theo 5 lĩnh vực ưu tiên đã được các Bộ trưởng thống nhất, cụ thể là sẽ triển khai các Nhóm Chuyên gia để thúc đẩy hợp tác thực chất và sẽ đi từ dễ đến khó, đặt cao đồng thuận, có thể bắt đầu từ chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn; huấn luyện, đào tạo, xây dựng năng lực; tiến tới diễn tập tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa để xây dựng khả năng phối hợp hoạt động chung, nâng cao khả năng của các nước.

ADMM+ lần đầu tiên đã thành công tốt đẹp, nhưng đó mới chỉ là thành công ban đầu. Điều quan trọng là triển khai các nội dung được thông qua và vận hành diễn đàn này như thế nào để những quyết tâm ngày hôm nay không bị sai lệch, không bị lãng quên. Điều này đòi hỏi quyết tâm của tất cả các nước tham gia, trong đó Việt Nam sẵn sàng tham gia một cách tích cực, có trách nhiệm và hiệu quả.

Với tiềm năng, triển vọng và định hướng trên, ADMM+ được đánh giá sẽ là cơ chế mạnh có khả năng đưa lại các kết quả trên thực tế và đóng vai trò trung tâm trong cấu trúc an ninh khu vực trong thời gian tới. Việc định hướng đúng, giữ vững vai trò trung tâm và các nguyên tắc cơ bản của ASEAN sẽ đưa cơ chế hợp tác mới mẻ này có những đóng góp thiết thực cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực, đóng góp tích cực cho quá trình xây dựng thành công Cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN vào năm 2015.

    Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
    nguồn: Tạpchí QPTD

    Hãng smartphone Gionee cài mã độc trên sản phẩm trước khi bán

     Một hãng smartphone Trung Quốc đã cố tình cài đặt mã độc vào trong sản phẩm của mình trước khi bán ra thị trường để kiếm tiền quảng cáo bằng cách lợi dụng người dùng.

    Một tòa án tại Trung Quốc vừa công bố bản cáo trạng nhằm vào hãng smartphone Gionee (trụ sở tại thành phố Thâm Quyến, Trung Quốc), theo đó, hãng smartphone này đã cố tình cài đặt mã độc vào hơn 20 triệu smartphone được xuất xưởng trong khoảng thời gian từ tháng 12/2018 đến tháng 10/2019, trước khi bán ra thị trường cho người dùng.

    Hãng smartphone Gionee cài mã độc trên sản phẩm trước khi bán - 1

    Nhấn để phóng to ảnh

    Gionee bị phát hiện cài sẵn mã độc trên smartphone của mình nhằm lợi dụng người dùng để kiếm tiền

    Theo cáo trạng của tòa án, Shenzhen Zhipu Technology, một công ty phần mềm và thuộc sở hữu của Gionee, đã hợp tác với một công ty phần mềm khác là Beijing Baice Technology để cài đặt sẵn ứng dụng Story Lock Screen trên smartphone của Gionee. Đây thực chất là phần mềm độc hại (trojan) và hoạt động âm thầm trên smartphone mà người dùng không hề hay biết.

    Sử dụng loại mã độc này, Gionee có thể kiếm được tiền bằng cách hiển thị những quảng cáo không mong muốn trên sản phẩm.

    Kể từ tháng 4/2019, đã có 21,75 triệu smartphone mang thương hiệu Gionee cài đặt sẵn mã độc được bán ra thị trường, tính riêng trong tháng 10/2019, con số này đã là 26.519.921 sản phẩm. Gionee và các công ty có liên quan đã thu lợi được 4,26 triệu USD bằng hình thức cài mã độc này.

    Theo truyền thông Trung Quốc, hiện tòa án vẫn chưa đưa bản án cuối cùng.

    Gionee là thương hiệu smartphone giá rẻ khá nổi tiếng tại các quốc gia đang phát triển. Thương hiệu này cũng từng được phân phối tại thị trường Việt Nam, nhưng hiện tại đã biến mất hoàn toàn.

    Đáng chú ý, đây không phải là lần đầu tiên các chuyên gia bảo mật phát hiện ra mã độc được cài đặt sẵn trên các thiết bị khác nhau của Trung Quốc ngay từ khi xuất xưởng. Trước đó nhiều thiết bị công nghệ, bao gồm smartphone, máy tính bảng, máy tính... có xuất xứ từ Trung Quốc cũng đã phát hiện thấy cài đặt sẵn các phần mềm độc hại và có khả năng gián điệp, trong đó có nhiều sản phẩm được bán tại Việt Nam.

    Nhiều chuyên gia bảo mật lo ngại rằng việc cài đặt sẵn mã độc trên smartphone để thu thập và bán thông tin cá nhân của người dùng sẽ trở thành xu thế, đặc biệt với những sản phẩm có giá rẻ bất ngờ từ Trung Quốc. Việc bán thông tin người dùng sẽ giúp các hãng sản xuất này bù đắp lại chi phí sản xuất, khi mà càng nhiều người dùng lựa chọn sản phẩm giá rẻ của họ, các hãng sản xuất này sẽ có thêm nhiều thông tin thu thập được.


    Phát hiện mã độc đánh cắp tiền trên hàng ngàn smartphone giá rẻ Trung Quốc

     Mã độc được cài đặt sẵn trên hàng ngàn chiếc smartphone giá rẻ của Trung Quốc sẽ âm thầm lấy cắp dữ liệu và tiền của người dùng.

    Các hãng smartphone Trung Quốc ít tên tuổi thường nhắm đến phân khúc smartphone giá rẻ tại các quốc gia nghèo và đang phát triển. Nhiều người dùng tại đây cũng lựa chọn các smartphone này vì mức giá rẻ, phù hợp với túi tiền. Tuy nhiên, không ít người dùng lại trở thành nạn nhân bị mất tiền và dữ liệu vì những loại smartphone giá rẻ này.

    Phát hiện mã độc đánh cắp tiền trên hàng ngàn smartphone giá rẻ Trung Quốc - 1

    Nhấn để phóng to ảnh

    Tecno W2 có giá bán chỉ khoảng 30 USD tại châu Phi, nhưng người dùng lại phải mất những khoản tiền lớn khác vì mã độc cài sẵn trên thiết bị

    Theo đó, công ty bảo mật và chống gian lận công nghệ cao Upstream đã phát hiện ra loại mã độc nguy hiểm được cài đặt sẵn trên hơn 200.000 chiếc smartphone do hãng Tecno Mobile (Trung Quốc) sản xuất và phân phối, trong đó các mẫu smartphone có cài sẵn mã độc hiện đang được bán tại các quốc gia châu Phi, bao gồm Ethiopia, Cameroon, Ai Cập, Ghana và Nam Phi.

    Các chuyên gia bảo mật cho biết, mẫu smartphone Tecno W2 được cài đặt sẵn hai loại mã độc xHelper và Triada ngay từ khi mới xuất xưởng mà người dùng không hề hay biết.

    Hai loại mã độc này sẽ tự động tải xuống các ứng dụng khác nhau để lấy cắp dữ liệu trên thiết bị của người dùng và tự ý đăng ký các dịch vụ mà người dùng không hề hay biết, chẳng hạn dịch vụ nghe nhạc hoặc xem video trực tuyến… rồi trừ tiền của người dùng, dù họ không hề sử dụng dịch vụ.

    Điều đáng nói là hai loại mã độc kể trên được cài vào firmware của thiết bị, thay vì chỉ cài đặt sẵn trên hệ điều hành, nghĩa là cho dù người dùng có khôi phục lại hệ thống trên smartphone về trạng thái ban đầu thì vẫn không thể gỡ bỏ hai loại mã độc này.

    Transsion Holdings, công ty mẹ của Tecno Mobile, thừa nhận về sự tồn tại của hai loại mã độc Triada và xHelper trên chiếc smartphone Tecno W2, nhưng đã đổ lỗi cho một nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng sản phẩm. Transsion Holdings cho biết công ty không thu được bất kỳ lợi nhuận nào từ các phần mềm độc hại trên smartphone và đã tung ra bản vá lỗi để khắc phục vấn đề.

    “Đối với những người dùng smartphone W2 hiện đang gặp sự cố, họ nên tải xuống bản sửa lỗi trên smartphone của mình hoặc liên hệ với bộ phận hỗ trợ dịch vụ sau bán hàng của Tecno để được hỗ trợ”, đại diện của Transsion Holdings cho biết. “Mỗi phần mềm được cài đặt trên các thiết bị đều phải trải qua một loạt kiểm tra bảo mật nghiêm ngặt, chẳng hạn như nền tảng quét bảo mật của riêng chúng tôi”.

    Đáng chú ý, đây không phải là lần đầu tiên các chuyên gia bảo mật phát hiện ra mã độc được cài đặt sẵn trên các thiết bị khác nhau của Trung Quốc ngay từ khi xuất xưởng. Trước đó nhiều thiết bị công nghệ, bao gồm smartphone, máy tính bảng, máy tính... có xuất xứ từ Trung Quốc cũng đã phát hiện thấy cài đặt sẵn các phần mềm độc hại và có khả năng gián điệp, trong đó có nhiều sản phẩm được bán tại Việt Nam.

    Theo Dantri.com

    Phó ban Nội chính Trung ương: 'Tiếp tục chống tham nhũng quyết liệt'

    Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian tới "vẫn mạnh mẽ, quyết liệt" và "không ai có thể cưỡng lại được".

    Ông Nguyễn Thái Học, Phó Ban Nội chính Trung ương, nói như trên khi trả lời câu hỏi của VnExpress tại cuộc họp báo thông tin về Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020, chiều 9/12.

    Ông Học cho hay, trong nhiều phiên họp của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (Ban chỉ đạo), Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (Trưởng Ban chỉ đạo) đã nêu vấn đề về tâm trạng của người dân, "quan tâm lo lắng, vừa qua làm tốt rồi, tới đây sẽ như thế nào?".

    Theo ông, thời gian qua trong bối cảnh đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và tập trung phòng, chống dịch Covid-19, công tác phòng, chống tham nhũng vẫn được tiến hành "không dừng, không nghỉ, không trùng xuống".

    "Đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã trở thành phong trào quần chúng, trở thành xu thế không ai có thể cưỡng lại được; ai không muốn làm, không dám làm thì đứng dẹp sang một bên để người khác làm", ông Học dẫn lời Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng.

    Với quyết tâm chính trị này của người đứng đầu Đảng, Nhà nước, ông Học khẳng định "chắc chắn công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng trong thời gian tới vẫn mạnh mẽ, quyết liệt. Lò nóng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII thì tinh thần đấu tranh vẫn mãi như thế".

    Ông Nguyễn Thái Học, Phó Ban Nội chính Trung ương. Ảnh: Gia Chính

    Ông Nguyễn Thái Học, Phó Ban Nội chính Trung ương. Ảnh: Gia Chính

    Về kết quả công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 - 2020, ông Học nói, từ khi được thành lập vào năm 2013 đến nay, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã đưa hơn 800 vụ án, vụ việc nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận, xã hội quan quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo ở ba cấp độ.

    Trong đó, cấp độ một là Ban chỉ đạo, cấp độ hai Ban Nội chính Trung ương và cấp độ ba các tỉnh thành. Riêng Ban chỉ đạo đã trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 133 vụ án, 94 vụ việc; đến nay các cơ quan chức năng đã kết thúc điều tra, truy tố và đưa ra xét xử sơ thẩm 86 vụ án, 814 bị cáo; phúc thẩm là 61 vụ án, 581 bị cáo...

    Ông Võ Văn Dũng, Phó trưởng Ban thường trực Ban Nội chính Trung ương, cho biết căn cứ vào thực tiễn, các cấp có thẩm quyền đã xây dựng năm cấp độ phối hợp xử lý án tham nhũng để giúp đảm bảo tiến độ các công việc liên quan.

    "Quá trình giải quyết một vụ án sẽ có nhiều khó khăn, vướng mắc đặt ra, như đánh giá chứng cứ, xác định tội danh. Theo luật hiện hành thì cơ quan tố tụng nào làm theo nhìn nhận của cơ quan đó, nên nếu không có cơ chế phối hợp chặt chẽ, việc xử lý vụ án sẽ bị kéo dài", ông Dũng giải thích.

    Cấp độ một, nếu vụ việc, vụ án đang được cơ quan tố tụng xử lý có khó khăn thì thủ trưởng của ngành chủ trì cuộc họp liên ngành, mời các cơ quan khác để giải quyết các vướng mắc.

    Trong giai đoạn điều tra, thủ trưởng cơ quan điều tra tổ chức cuộc họp mời Viện kiểm sát, toà án, lãnh đạo Ban Nội chính Trung ương dự để trao đổi, tháo gỡ. Nếu vụ án nằm ở giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát chủ trì, ở giai đoạn xét xử thì toà án chủ trì; trường hợp chưa thống nhất, Trưởng Ban Nội chính Trung ương chủ trì họp liên ngành để bàn tháo gỡ.

    Ông Võ Văn Dũng, Phó thường trực Ban Nội chính Trung ương. Ảnh: Gia Chính

    Ông Võ Văn Dũng, Phó trưởng Ban thường trực Ban Nội chính Trung ương. Ảnh: Gia Chính

    Nếu vẫn chưa thống nhất thì chuyển sang cấp độ hai, do Thường trực Ban Bí thư (Phó trưởng Ban chỉ đạo) chủ trì cuộc họp liên ngành.

    Cấp độ ba là họp thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng gồm Tổng bí thư, Chủ tịch nước (Trưởng ban), các phó trưởng ban...

    Cấp độ bốn là họp toàn thể Ban chỉ đạo để giải quyết, nếu chưa xong sẽ chuyển lên cấp độ năm là họp Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

    Ông Võ Văn Dũng nói đối với những vụ án phức tạp thì cấp có thẩm quyền sẽ thành lập Ban chỉ đạo riêng để xử lý. "Ban chỉ đạo không chỉ đạo tội danh, mức án cụ thể mà đặt ra yêu cầu là phải làm thế nào đảm bảo tiến độ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không được thiên vị, không được oan sai, không được nhẹ tay mà phải làm nghiêm minh", ông Dũng nêu rõ.

    Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020 sẽ diễn ra vào ngày 12/12.

    Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN ra tuyên bố chung

     Tuyên bố chung gồm 15 điểm được Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN thông qua tại hội nghị ADMM-14, ngày 9/12.

    Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN lần thứ 14 (ADMM-14) được tổ chức trực tuyến, do Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam chủ trì.

    Trong khuôn khổ hội nghị, Trưởng đoàn các nước đánh giá cao sự hợp tác hiệu quả, kịp thời giữa quân đội các nước ASEAN trong ứng phó dịch Covid-19; khẳng định, bằng nỗ lực nội tại của mỗi quốc gia và sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên, các nước ASEAN đã tích cực triển khai hiệu quả các hoạt động hợp tác, quyết tâm không để dịch bệnh ảnh hưởng đến hợp tác quốc phòng trong ASEAN.

    Tuyên bố chung thông qua kế hoạch hoạt động ba năm của ADMM giai đoạn 2020 - 2022. Theo đó, các Bộ trưởng thống nhất duy trì nguyên tắc về vai trò trung tâm của ASEAN, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, ra quyết định dựa trên đồng thuận...

    Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam (thứ 7 từ trái qua) cùng Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh (thứ 6 từ trái qua) và Tuỳ viên Quốc phòng các nước ASEAN tham dự hội nghị. Ảnh: TTXVN

    Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam (thứ 7 từ trái qua) cùng Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh (thứ 6 từ trái qua) và Tuỳ viên Quốc phòng các nước ASEAN tham dự hội nghị. Ảnh: TTXVN

    Tuyên bố chung tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì và thúc đẩy hòa bình, an ninh, ổn định, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông.

    Các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN khẳng định sự cần thiết phải thực hiện tự kiềm chế việc tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc gia tăng tranh chấp, ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định, tránh các hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình, thực hiện giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với các nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982.

    Tuyên bố chung cũng nhấn mạnh sự cần thiết duy trì và thúc đẩy môi trường thuận lợi cho việc sớm hoàn tất một Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả và thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế (bao gồm UNCLOS 1982); thực thi đầy đủ và hiệu quả toàn bộ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

    Tuyên bố chung nêu rõ các nước ASEAN hoan nghênh sáng kiến xây dựng lòng tin như Bộ quy tắc tránh va chạm bất ngờ trên biển; Hướng dẫn tương tác trên biển; và các hoạt động khác trong khuôn khổ DOC. Những sáng kiến này nhằm tăng cường thông tin liên lạc, xây dựng lòng tin và sự tin cậy lẫn nhau, giảm căng thẳng và nguy cơ xảy ra tại nạn, hiểu nhầm và những tính toán sai lầm trên không và trên biển.

    Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam chủ trì hội nghị ADMM-14. Ảnh: TTXVN

    Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam chủ trì hội nghị ADMM-14. Ảnh: TTXVN

    Theo Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, với việc thống nhất thông qua và ký Tuyên bố chung của Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN, các nước đã thể hiện mạnh mẽ sự đoàn kết, thống nhất và cam kết đối với hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực.

    Nguồn: Vnexpress.com

    "CIVICUS" XUYÊN TẠC SỰ THẬT VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN TẠI VIỆT NAM


    Ngày 8/12/2020, cái gọi là “liên minh xã hội dân sự toàn cầu” - CIVICUS đã công bố Báo cáo có tựa People Power Under Attack 2020, tạm dịch quyền lực của người dân bị tấn công năm 2020. Theo đó, Báo cáo của CIVICUS xếp Việt Nam vào danh sách các nước “đóng”, tức là mức cao nhất trong đàn áp xã hội dân sự và các quyền con người căn bản. Đây rõ ràng là một báo cáo có nội dung xuyên tạc sự thật, thể hiện rõ sự thiếu khách quan, mang nặng tính định kiến và thù địch của tổ chức núp bóng “nhân quyền” này.

    Báo cáo của CIVICUS xuyên tạc rằng, Việt Nam là một trong 4 nước ở Châu Á bị xếp vào danh sách “đóng” màu đỏ cùng với Trung Quốc, Lào và Bắc Hàn. Không những vậy, trong báo cáo của CIVICUS còn xuyên tạc rằng, “giới chức Việt Nam trong năm nay tiếp tục đàn áp những người lên tiếng chỉ trích chính quyền độc đảng. Hàng chục cá nhân đã bị bắt giữ, bỏ tù sau các phiên toà chớp nhoáng theo các một loạt các điều luật như lợi dụng quyền tự do dân chủ hay tuyền truyền chống nhà nước. Những người bị bắt giữ và phạt tù bao gôm các nhà hoạt động, bloggers, các Facebooker”.

    Để “chứng minh” cho nhận định xuyên tạc, vô căn cứ trên, báo cáo của CIVICUS đã lấy dẫn chứng về một số trường hợp mà họ cho là những nhà hoạt động, bloggers, Facebooker bị chính quyền Việt Nam gia tăng “đàn áp”, đó là Phạm Đoan TrangNguyễn Tường ThụyPhạmChí Dũng…  CIVICUS cho rằng, những trường hợp trên đều bị bắt với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” và làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm" chống nhà nước”.


    Trang bìa báo cáo People Power Under Attack 2020 của CIVICUS

    Thực tế có như vậy không? Chỉ xin điểm một vài lát cắt nhỏ thôi, cũng đã thấy rõ đó là sự bóp méo, thổi phồng, vu khống của CIVICUS. Hiếm có đất nước nào người dân lại được tự do ngôn luận, tự do Internet, tự do lập hội...

    Bất kỳ người dân nào cũng đều có thể tự do ngôn luận cả ngoài đời lẫn trên không gian mạng về mọi chuyện, từ tâm tư, phản ánh, thắc mắc, nêu quan điểm, chính kiến của mình về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội… của đất nước. Bất kỳ người dân nào cũng có thể thành lập, tham gia các hội, hoặc tự do tham gia các tôn giáo khác nhau theo quy định của pháp luật… Đặc biệt, kinh tế - xã hội có những bước phát triển mạnh mẽ, đời sống người dân không ngừng được nâng cao, bảo đảm; các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, điển hình là xóa đói, giảm nghèo được hoàn thành sớm, đầy nhân văn khiến bạn bè thế giới thán phục.

    Một nguyên tắc rất sơ đẳng, căn bản là, thể chế chính trị, luật pháp của một quốc gia này không thể áp dụng một cách cứng nhắc, nguyên xi ở một đất nước có chủ quyền khác. Và, người dân của đất nước nào cũng phải thượng tôn pháp luật của đất nước đó.

    Tại Việt Nam, không có cái gọi là “đàn áp những người lên tiếng chỉ trích chính quyền độc đảng” như cái cách CIVICUS cố tình thông tin lập lờ, sai lệch để từ đó đưa ra những đánh giá, nhận định sai trái về vấn đề dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam. Tại Việt Nam, chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt giữ, truy tố và xét xử theo đúng quy định luật pháp hiện hành - những điều khoản luật pháp theo đúng những nguyên tắc phổ quát luật pháp quốc tế, được quốc tế thừa nhận rộng rãi và công nhận.

    Hành vi của những người được nêu tên trong báo cáo của CIVICUS bao gồm: Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thuỵ… không phải là đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền mà là tuyên truyền chống nhà nước thể hiện ở hành vi sử dụng mạng xã hội chia sẻ, phát tán bài viết, video, hình ảnh có nội dung tiêu cực, kích động, xuyên tạc sự thật, tuyên truyền các luận điệu phản động trái với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước… Do đó, cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam thực hiện khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các đối tượng trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

    Rõ ràng, báo cáo CIVICUS của không chỉ phản ánh sai lệch, thiếu chính xác, bôi nhọ bức tranh nhân quyền ở Việt Nam mà còn ngang nhiên lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam./

    Hải Đăng st

    Không thể phủ nhận thành quả dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

     Dân chủ, nhân quyền là giá trị thiêng liêng mà toàn nhân loại hướng tới. Thế nhưng, đây cũng là chủ đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và một số tổ chức phi chính phủ được sự hậu thuẫn của phương Tây luôn tìm cách lợi dụng nhằm thực hiện những động cơ, mưu đồ đen tối đối với Việt Nam.

    Cảnh giác với uy tín giả - Tấm bình phong “chui sâu, leo cao”

     

    Uy tín là tiền đề và điều kiện bảo đảm chắc chắn cho sự thành công trong hoạt động thực tiễn của các tập thể, cá nhân nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng. Tuy nhiên, thực tế đã và đang xuất hiện loại uy tín giả rất nguy hại, nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết nội bộ, che đậy bản chất và là bình phong để những kẻ cơ hội “chui sâu, leo cao”. Nhận diện những biểu hiện, thủ đoạn và có giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, đấu tranh với loại uy tín giả là điều cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng, nhất là trong xây dựng đội ngũ cán bộ của nhiệm kỳ mới hiện nay.

    Lợi dụng góp ý dự thảo các văn kiện Đại hội XIII để kích động chống phá Đảng, Nhà nước

     Trong khi đông đảo các tầng lớp nhân dân đang có những ý kiến đóng góp tâm huyết, trách nhiệm vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng thì vẫn còn một số người cố tình lợi dụng việc đóng góp ý kiến để xuyên tạc, tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch. Vì vậy, việc nhận diện một cách đầy đủ âm mưu, ý đồ, thủ đoạn của các đối tượng từ đó chủ động triển khai các công tác, biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn là rất cần thiết khi Đại hội XIII của Đảng đang đến gần.

    Đảng Cộng sản Việt Nam - Nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

     Chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu hàng đầu và xuyên suốt của các thế lực thù địch. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, tiến hành tác động, phá hoại nội bộ Đảng, làm giảm uy tín, đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, dù có sử dụng "trăm phương nghìn kế", các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên về niềm tin của toàn dân ta đồng lòng đi theo Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với những thành tựu to lớn đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận cả trên phương diện lý luận, thực tiễn và lịch sử.

     NGÀY QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN THẾ GIỚI

    (10-12-1948, 10-12-2020) 🌎


    Mỗi khi đến dịp Ngày Nhân quyền thế giới (10-12) hằng năm, các thế lực thù địch, phản động và đối tượng cơ hội chính trị lại tung ra những luận điệu cũ rích nhằm xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người. Những luận điệu bịa đặt đó hoàn toàn vô căn cứ bởi từ khi lập quốc theo chế độ mới đến nay, Việt Nam luôn thực hiện mục tiêu, chính sách nhất quán là tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tất cả những giá trị tốt đẹp thuộc về quyền lợi cơ bản của con người.

    1. Quyền con người là giá trị phổ quát của nhân loại và được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận, trong đó có Việt Nam. Tuy vậy, khi nhìn nhận vấn đề quyền con người, quyền công dân cần phải có quan điểm khách quan, toàn diện gắn với thể chế chính trị, lịch sử, văn hóa truyền thống và điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia dân tộc. Không nên xem xét, nhận định quyền con người, quyền công dân theo con mắt “thầy bói xem voi”, chỉ nhìn thấy vài ba hiện tượng bên ngoài rồi đánh giá thành bản chất. Vì cách nhìn nhận hẹp hòi, thiên kiến như vậy có thể tạo ra mâu thuẫn, xung khắc giữa chủ thể nhận định, đánh giá và đối tượng bị nhận định, đánh giá, từ đó gây bất lợi cho việc củng cố mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển giữa các quốc gia trên thế giới.

     Là một nước đang phát triển, Việt Nam luôn thiện chí hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm không ngừng cải thiện, bảo đảm những quyền cơ bản, chính đáng của con người. Nhưng chúng ta không chấp nhận một số tổ chức phi chính phủ ở nước ngoài như: Theo dõi nhân quyền thế giới (HRW), Phóng viên không biên giới (RSF) thường xuyên có cái nhìn sai trái, nhận định rất thiếu khách quan về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Mặt khác, chúng ta cũng đề cao cảnh giác, kiên quyết vạch trần, lên án những phần tử có tư tưởng thâm thù với chế độ, cũng như các đối tượng đội lốt “đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền” nhưng lại có lời lẽ đơm đặt, bôi nhọ những giá trị cơ bản của quyền con người chân chính và rêu rao xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam không tôn trọng, bảo đảm quyền con người nhằm mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam.

    2. Khi nói đến một thể chế chính trị tiến bộ, một quốc gia văn minh, thì không thể không nói đến thể chế chính trị, quốc gia đó có quan tâm đến việc bảo đảm những quyền cơ bản của con người hay không. Chế độ chính trị XHCN mà Việt Nam đang nỗ lực xây dựng, thực hiện là một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vì vậy, từ khi lập quốc theo thể chế dân chủ XHCN đến nay, Việt Nam đã kiên trì theo đuổi mục tiêu không ngừng thúc đẩy, bảo vệ và bảo đảm quyền con người cho mọi người dân.

    Tuy không phải là quốc gia đầu tiên đề ra các vấn đề về quyền cơ bản của con người, nhưng Việt Nam là một trong số ít quốc gia sớm tiếp cận về quyền con người. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Như vậy, thông qua khẳng định các giá trị của một dân tộc là quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh quyền con người chỉ thực sự được bảo đảm khi gắn liền với quyền độc lập, tự do của dân tộc.


    Quốc hiệu Việt Nam từ khi thành lập chính quyền cách mạng đến nay cũng nhất quán một khẩu hiệu: “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”. Điều đó có nghĩa là, mục tiêu trước sau như một mà cả dân tộc Việt Nam kiên trì thực hiện là bảo đảm dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

    Nếu bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10-12-1948, trong đó vấn đề hàng đầu mà tuyên ngôn này khuyến nghị cộng đồng quốc tế và các quốc gia dân tộc phải thực hiện là bảo đảm “Tự do, công lý và hòa bình”; thì vấn đề quyền tự do trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nêu ra trước 3 năm so với bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”. Nhắc lại điều đó để thấy, với tầm nhìn vượt thời đại của mình, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân và dân tộc Việt Nam khẳng định Việt Nam luôn tôn trọng các giá trị quyền con người và cam kết thực hiện quyền con người trước cộng đồng quốc tế ngay từ khi thành lập chính quyền cách mạng công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

    Qua nhiều lần xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, từ các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013 luôn giữ một vấn đề căn cốt là hiến định các quyền con người và quyền công dân. Trong đó, Hiến pháp năm 2013 đã thiết kế một chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ngay sau Điều 1 hiến định về chủ quyền địa lý, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định nguyên tắc chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân, đó là: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Cũng lần đầu tiên, chữ “Nhân Dân” được viết hoa trong bản Hiến pháp để nhấn mạnh đến vị trí, vai trò quyết định của nhân dân trong tiến trình lịch sử và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn 2014-2019, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hơn 100 văn bản luật và pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.


    3. Do trải qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân đế quốc kéo dài suốt ba thập niên (1945-1975) và chịu ảnh hưởng, tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội khoảng chục năm sau khi đất nước thống nhất, dù rất quan tâm, song Việt Nam chưa có nhiều điều kiện thuận lợi để bảo đảm thực sự đầy đủ các quyền con người.


    Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc và bảo đảm tốt hơn quyền con người trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.

    Thành tựu về quyền con người ở Việt Nam trong hơn 70 năm qua thể hiện trên mọi lĩnh vực, nhất là những bước tiến vượt bậc về phát triển kinh tế trong gần 35 năm đổi mới (1986-2020). Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quy mô nền kinh tế năm 1985 mới có 14 tỷ USD, thì đến năm 2019 đạt 262 tỷ USD, tăng gấp hơn 18,7 lần. Mới đây, Tạp chí The Economist tháng 8-2020 đã xếp Việt Nam trong tốp 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Mặc dù chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 trên toàn cầu, trong khi phần lớn các nền kinh tế trên thế giới rơi vào suy thoái, nhưng nhờ sự chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt thực hiện “mục tiêu kép” của Chính phủ, năm 2020, Việt Nam vẫn duy trì được tăng trưởng dương ở mức khá. Nhìn theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB) so sánh mức sống với các nước trên thế giới, thu nhập của người dân Việt Nam năm 2020 tương đương gần 9.000USD (tính theo ngang bằng sức mua).

    Sự tăng trưởng kinh tế là cơ sở, tiền đề để Nhà nước chăm lo thực hiện tốt các chính sách an sinh, văn hóa xã hội. Điều đó được thể hiện ở “Chỉ số phát triển con người” (HDI). Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9-12-2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng 4,8 năm, số năm đi học trung bình tăng 4,3 năm, thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng trên 354%. Điều này giúp Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số HDI cao nhất trên thế giới. Theo nhận định của bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP ở Việt Nam: “Việt Nam đã đạt được tăng trưởng đáng kể trong phát triển con người kể từ năm 1990 đến nay. Điều đó chứng tỏ Việt Nam đã có những bước tiến bộ trong thực hiện chính sách chăm lo phát triển con người toàn diện”.

    Một trong những thành tựu về nhân quyền đáng kể là Việt Nam đã quan tâm thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm các quyền cơ bản cho nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. Đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành 118 chính sách liên quan đến việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách đó, tỷ lệ nghèo đa chiều ở Việt Nam giảm từ 9,88% (năm 2015) xuống còn 3,73% (năm 2019). Cả nước hiện có gần 3 triệu người nghèo, người yếu thế được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Đặc biệt, Phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo-Không để ai bị bỏ lại phía sau” trong những năm qua đã nhận được sự hưởng ứng sâu rộng, hiệu quả của toàn xã hội. Chỉ tính trong dịp “Ngày vì người nghèo” 17-10-2020 vừa qua, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã kêu gọi, huy động được gần 2.400 tỷ đồng ủng hộ Quỹ Vì người nghèo và an sinh xã hội.


    *Từ một nước lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, sau hơn 70 năm huy động sức dân, đồng lòng thực hiện sự nghiệp kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước tiên phong và là điểm sáng về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và nhiều cơ quan truyền thông uy tín của quốc tế đánh giá là một trong số ít quốc gia đã kiểm soát, khống chế thành công đại dịch Covid-19, do vậy, Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ người bị lây nhiễm và tử vong vì dịch Covid-19 thấp nhất trên thế giới. Kết quả này thêm một lần chứng tỏ Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn ưu tiên cao nhất để bảo đảm quyền được sống an toàn, khỏe mạnh cho mọi người dân-một trong những giá trị cao cả của quyền con người.


    *Là một quốc gia đang phát triển, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, hiện nay Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thử thách. Nhưng với bản chất của một chế độ xã hội ưu việt mà cả dân tộc đã tự nguyện lựa chọn và kiên trì thực hiện, thông qua chủ trương, đường lối phát triển kinh tế-xã hội đúng đắn và hợp xu hướng thời đại, Việt Nam ngày càng có điều kiện tạo ra những tiền đề cơ sở vật chất, văn hóa để bảo đảm tốt hơn các quyền cơ bản của con người.

    Việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu xây dựng đất nước theo định hướng XHCN “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” với hàm ý nhấn mạnh Việt Nam luôn kiên trì, nỗ lực bảo đảm “quyền sung sướng” (dân giàu) và “quyền tự do” (dân chủ) mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập. Khi quốc gia giàu có về vật chất, văn hóa, tinh thần và bảo đảm tự do, dân chủ về mọi mặt, đó chính là cam kết chính trị của Việt Nam cùng các quốc gia và cộng đồng quốc tế thực hiện hiệu quả những giá trị phổ quát về nhân quyền đã được xác định trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người

    QĐND

    NGĂN CHẶN THÔNG TIN XẤU ĐỘC

     Thời gian qua, liên tục xuất hiện một số cá nhân đăng tải, chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội những thông tin phiến diện, thiếu chính xác, chưa được kiểm chứng hoặc thông tin về những vụ việc đang trong quá trình điều tra, chưa có kết luận chính thức… dẫn đến tâm lý hoang mang, phản ứng trái chiều trong dư luận xã hội, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch và các đối tượng phản động, cực đoan chính trị tuyên truyền xuyên tạc, chống phá gây mất ổn định chính trị, kinh tế, xã hội.

    Chủ động phòng, chống các thông tin sai trái, thù địch

     Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển vững bền của đất nước nên thu hút sự quan tâm, kỳ vọng, niềm tin của cả hệ thống chính trị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

    XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CON NGƯỜI VIỆT NAM

     “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa là sự chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị không phù hợp, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, làm tha hóa con người, dẫn tới biến chất xã hội.

    ĐẬP TAN ÂM MƯU THÚC ĐẨY "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

     Vu cáo, đặt điều, xuyên tạc, lợi dụng, kích động bạo loạn… là những chiêu trò phổ biến mà các thế lực thù địch tích cức lợi dụng để thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là khi đất nước có các sự kiện chính trị quan trọng, thời điểm nhạy cảm. Trong đó, Đại hội XIII của Đảng là một trọng điểm.

    HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ PHẢI VÀO CUỘC

     “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là trong tình hình hiện nay diễn ra hết sức phức tạp, vẫn là một trong những nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra. Âm mưu, thủ đoạn của chúng thực hiện ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong lĩnh vực đạo đức cũng vậy, tính chất cũng hết sức tinh vi, xảo quyệt và nguy hiểm.

    Nhận diện các website mạo danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước trước thềm Đại hội XIII

     Theo quy định pháp luật, báo điện tử, trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của các cơ quan Đảng, Nhà nước phải sử dụng ít nhất 01 tên miền “.vn”

    Mầm mống của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

     Sau đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, thực tế đã và đang có một bộ phận cán bộ sợ sai không dám làm, sợ trách nhiệm, không dám đổi mới, sáng tạo, có tư tưởng chỉ làm “tròn vai”, “đứng yên một chỗ”, “mũ ni che tai”...

    Đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc trước thềm Đại hội XIII của Đảng

     Gần đến ngày Đại Hội Đảng toàn Quốc lần thứ XIII, các thế lực thù địch đã lợi dụng việc chuẩn bị nhân sự cho Đại hội để đẩy mạnh chống phá bằng nhiều thủ đoạn, hình thức tinh vi, xảo quyệt; trong đó, chúng đặc biệt chú trọng sử dụng các phương tiện thông tin truyền thông, mạng xã hội để kích động, bôi nhọ, hạ thấp uy tín cán bộ lãnh đạo, nhằm gây chia rẽ nội bộ, nghi kỵ lẫn nhau trong cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

    Cơ chế “xin - cho” - một nguồn gốc của thoái hóa, biến chất!

     Một vấn đề nhức nhối chúng ta đã đề cập, phê phán rất nhiều lần và muốn ngăn chặn, xóa bỏ tận gốc nhưng đến nay nó vẫn còn “đất sống”, đó chính là cơ chế “xin - cho” - “con đẻ" của chế độ phong kiến và tàn dư từ thời bao cấp.