Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

Các quyền dân sự, chính trị trong pháp luật của Việt Nam

 


* Quyền sổng, bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm

- Quyền sống

+Hiến pháp 2013 khẳng định:“Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” (Điu 19),

 “Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sổng, sức khỏe của người khác và cộng đồng” (Điều 38).

+Đây là ln đu tiên trong Hiến pháp quy định quyền sng, mặc dù trước đây quyền này luôn được bảo đảm trong bất kỳ hoàn cảnh nào nếu người đó không phạm một tội bị bản án của tòa án tuyên hình phạt tử hình đã có hiệu lực pháp luật và không được Chủ tịch nước ân giảm.

+Quyền sống không ch được hiểu theo nghĩa hẹp là sự toàn vẹn về tính mạng mà còn bao gồm cả tự do vtinh thần, bảo đảm sự tồn tại của con người như việc chống chiến tranh, tội phạm chiến tranh, phòng, chống các hành vi xâm hại tính mạng con người, giảm tỷ lệ chết bà mẹ và trẻ sơ sinh.

Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, quyền sống được quy định trong các bộ luật BLDS,BLHS,BLTTHS 2015 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2010

Ví dụ:

 Điều 33 BLDS, quy định: “Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức kho. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”.

Chương XIV, từ Điều 123 đến Điều 156 BLHS quy định về các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người.

BLTTHS khẳng định công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể quyền được pháp luật bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm; mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của cá nhân đều bị xử lý theo pháp luật. (Điều 10, Điều 11).

+Quyền sng và hình phạt tử hình, Việt Nam vẫn áp dụng án tử hình trong hệ thống hình phạt. Tuy nhiên, số điều luật có khung hình phạt tử hình đã được giảm đi đáng kể (BLHS 1985 – 44; 1999-29, BLHS 2009-22 2015-18).

Theo BLHS sự năm 2015, ngoài việc giảm dần hình phạt tử hình ở một số tội danh, Bộ luật cũng quy định chặt chẽ về những giới hạn và bảo đảm về thủ tục tố tụng khi áp dụng hình phạt tử hình như: tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử; không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lên.

-Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm

Điều 20 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”.

+ BLHS, BLTTHS, BLDS, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và nhiều văn bản pháp luật khác đều quy định:

>Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người (Điều 10 BLTTHS);

>Mọi người có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể và quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân con người (Điều 33 và Điều 34 BLDS);

>Nghiêm cấm tra tấn, truy bức, dùng nhục hình; các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục con người hoặc bất bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm quyền và lợi ích họp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam (Điều 4,8 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam);

> Chương XXIV, BLHS quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong đó có các tội như:

Tội dùng nhục hình (Điều 373)

Tội bức cung (Điều 374).

Tội làm nhục đồng đội (Điều 397),

Tội hành hung đồng đội (Điều 398),

Tội ngược đãi tù binh, hàng binh (Điều 420);

>BLTTHS quy định các biện pháp hạn chế bức cung, dùng nhục hình như:

 Ghi âm, hoặc nghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Điềul83);

Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan tố tụng phải thông báo trước cho người bào chữa thời gian và địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng để họ tham dự (Điều 183).

 Trường hợp khi bị cáo tố cáo bị bức cung, dùng nhục hình, Hội đồng xét xử quyết định việc cho nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh liên quan tại phiên tòa (Điều 313).

Ngày 28/11/2014 Quốc hội đã phê chuẩn Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người

-Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác

+Đây là quyền mới được bổ sung trong hiến pháp.

Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy đnh của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm.( Luật hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác)

Điều 33 BLDS: Việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người; thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải được sự đồng ý cua người đó và tổ chức có thẩm quyền thực hiện

(Điều 11) Luật hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác cũng có các quy định cụ thể về hành vi bị cấm trong việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác như lấy trộm mô, bộ phận cơ thể người; lấy trộm xác; ép buộc người khác phải cho mô, bộ phận cơ thể người hoặc lấy mô, bộ phận cơ thể của người không tự nguyện hiến

Điều 154, BLHS năm 2015:Người nào mua, bán chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể ngưòi khác có thể bị xử lý hình sự

*Quyền được bảo vệ khỏi bị bắt, giam giữ tụy tiện

- Khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định”.      

-BLHS có một loạt các điều khoản quy định về trách nhiệm hình sự đối với những hành vi phạm các tội phạm liên quan đến việc xâm phạm quyền tự do thân thể của con người như

+ Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157),

+Tội ra bản án trái pháp luật (Điều 370),

+ Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 371)...

-BLTTHS

+ Khẳng định nguyên tắc cơ bản và cốt lõi trong hoạt động tố tụng là phải đảm bảo “Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích họp pháp của cá nhân” (Điều 8),

 + Nhấn mạnh nguyên tắc đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân

+ Quy định cụ thể trình tự, thủ tục tiến hành những hoạt động giữ người, bắt người bao gồm giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang; bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam và bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ (các Điều 110, 111,112,113, 503).

* Quyền được đi xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị bắt, tạm giữ

+Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam được quy định trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, hình phạt đối với người phạm tội không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới.

+ Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đã quy định nhiều quyền của người bị tạm giữ, tạm giam như

>quyền được phổ biến về các quyền và nghĩa vụ của mình;

>được thực hiện quyền bầu cử, quyền bỏ phiếu trung cầu ý dân theo quy định của pháp luật;

> được gặp gỡ đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự;

> được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thòi hạn tạm giam 

>ngoài ra người bị tạm giữ, tạm giam cũng được bảo đảm các chế độ nơi tạm giữ, tạm giam như chế độ ăn, mặc, ở;

> quyền được gặp thân nhân; quyền được giáo dục, đào tạo; quyền được khám chữa bệnh;

> quyền được khiếu nại, tố cáo; được tham vấn luật sư, trợ giúp pháp lý.

+Luật Thi hành án hình sự năm 2010 khẳng định

>một trong các nguyên tắc thi hành án hình sự là “tôn trọng nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án” (Khoản 3 Điều 4),

> “kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi hành án” (Khoản 4 Điều 4),

>nghiêm cấm“xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án”(Khoản 9 Điều 9).

>Luật Thi hành án hình sự cũng dành riêng một chương quy định về thi hành án phạt tù và chế độ quản lý, giam giữ, giáo dục phạm nhân (Chương III, từ Điều 21 đến Điều 53) nhằm bảo vệ các quyền cơ bản, như quyền tự do thân thể, quyền sống, vui chơi, giải trí, không bị tra tấn.

+BLHS, BLTTHS và Luật Thi hành án hình sự đều có những chế định đặc thù đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm đảm bảo nguyên tắc nhân đạo và phù hợp với những đặc điểm riêng của những đối tượng này.

 Ví dụ:  Phạm nhân nữ có thai nếu không được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì được bố trí nơi ở hợp lý, được khám thai định kỳ hoặc đột xuất, được chăm sóc ý tế...được nghi lao động trước và sau khi sinh con theo quy định của Bộ luật lao động (Điều 45 Luật Thi hành án hình sự).

*Quyền được xét xử công bằng

+Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định:

> Quyền được coi là không có tội cho đến khi có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật và phải chứng minh theo trình tự, thủ tục được quy định trong BLTTHS năm 2015.

> Quyền được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai.

> Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm

>. Quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

>Quyền được bồi thường thiệt hại về VC, tinh thần và phục hồi danh dự

Ví dụ Vụ Nguyễn Thanh Chấn…

*Quyền bình đẳng, không phân biệt đổi xử

Bình đẳng, không phân biệt đối xử được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về quyền con người.

+Điều 16 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 nêu rõ

“Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”.

Nguyên tắc hiến định này đã được cụ thể hoá trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.

+Khoản 1 Điều 3 BLDS quy định: “Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản”.

 + Luật Quốc tịch năm 2008 khẳng định “mọi cá nhân và thành viên của mọi dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam.

+Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 (Điều 2, Điều 17, Điều 29, Điều 68...) ghi nhận rõ quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, con trai và con gái, con nuôi và con đẻ, con trong giá thú và ngoài giá thú... trong các quan hệ hôn nhân và gia đĩnh.

+Trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội,

>Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 xác định nguyên tắc bầu cử: “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”.

> Các luật như Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (Điều 19, Điều 20), Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (Điều 5)... đều quy định nguyên tắc quyền bình đẳng của mọi công dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

+Trong hoạt động tố tụng, Điều 3 BLTTHS quý định nguyên tắc xử lý:

> “Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giói tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội”; Đối vói pháp nhân thương mại phạm tội,

> “Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế”.

>Điều 12 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định: “Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi người đều binh đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức đều bình đẳng trước Tòá án”.

+Trong hoạt động kinh doanh, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Điều 10 Luật Thương mại năm 2005... Các luận này đều khẳng định vị thế pháp lý bình đẳng và nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp và các thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.

*Quyền được bảo vệ bí mật đời tư

+ Điều 21, Hiến pháp năm 2013 quy định:

 “Mọi ngưi có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luậtthư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”.

+ BLHS có các điều luật cụ thể bảo vệ quyền này

*Qưyền bất khả xâm phạm về chỗ ở

+Điều 22 Hiến pháp năm 2013 quy định:

Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý. Việc khám xét chỗ ở do luật định”.

Đây là điểm mới của Hiến pháp 2013 so với các bản Hiến pháp trước đây.

Chỗ ở của một người là nơi người đó sống đòi sống riêng thường ngày, cũng là nơi “ẩn chứa” nhng bí mật của cá nhân, của gia đình (bí mật đời tư). Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp, nghĩa là: công dân có quyền lựa chọn, bảo vệ nơi hợp pháp của mình; có quyền đồng ý hoặc không đồng ý để ngưòi khác vào chỗ ở của mình, trừ trường hợp có quy định của pháp luật. So vi các quy định tại

Hiến pháp năm 2013 có những điểm khác biệt như sau:

>Về chủ thể của quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở: có sự thay đổi cơ bản, quyền sở hữu không ch được áp dụng cho “công dân” mà cho tất cả mọi người.

Bởi về bản chất, quyền sờ hữu là một trong các quyền con người và gắn liền với tài sản. Bất khả xâm phạm về chỗ ở nghĩa là không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp khám xét chỗ ở do pháp luật quy định. Việc xâm phạm vào chỗ ở của cá nhân mà không được người đó đồng ý là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các quy định của BLHS về tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều 158);

+Bộ luật TTHS quy định trình tự, thủ tục khám người, khám nơi ở, nơi làm việc.

Tuy nhiên, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân không phải là quyền tuyệt đối. Nhà nước chỉ bảo hộ quyền đó của công dân khi có sự xâm phạm bất hp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

Trong trường hợp cá nhân sử dụng chỗ ở để vi phạm pháp luật, che giấu tội phạm hoặc cất giấu công cụ, tang vật, phương tiện phạm tội... thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền tiến hành khám xét chỗ ở.

Việc tiến hành khám xét chỗ ở của một người không được thực hiện vào ban đêm trừ trường họp có những lý do không thể trì hoãn được.

Vị trí, tính chất của chính quyền địa phương

 


+ Hội đồng nhân dân

Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên

+Ủy ban nhân dân,

 Do Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

Tính chất của chính quyền địa phương

+ Là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất, thay mặt Nhà nước tổ chức quyền lực, thực thi nhiệm vụ quản lý trên lãnh thổ địa phương trong cơ cấu quyền lực nhà nước thống nhất.

+ Là cơ quan do nhân dân địa phương lập ra (trực tiếp và gián tiếp) để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân địa phương trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Việc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương phải luôn bảo đảm kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai nguyên tắc tập trung và dân chủ.

Tập trung để bảo đảm tính thống nhất của tổ chức quyền lực nhà nước, nhằm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định.

Dân chủ để thực hiện tốt vai trò là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở địa phương, là công cụ để nhân dân thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn địa phương.

Chính quyền địa phương có những đạc điểm gì

 


- Về tổ chức, mỗi cấp chính quyền địa phương có đầy đủ cả hai cơ quan, gồm có HĐND và UBND. Bộ máy chính quyền địa phương được tổ chức ở ba cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.

Điều 6 Hiến pháp năm 2013 “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện, thông qua... Hội đông nhân dân.

+ HĐND và UBND được tổ chức, hoạt động trên cùng một địa bàn địa phương, ở cùng một cấp hành chính.

 + HĐND và UBND có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ ở địa phương do Trung ương giao và đều là các thiết chế để nhân dân thực hiện quyền lực của mình.

+Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm và là thiết chế quan trọng trong hệ thống tổ chức các thiết chế của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương.

 + Thiết chế Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân và có ở ba cấp hành chính cấp Tỉnh, cấp Huyện, cấp Xã. 

-Là những pháp nhân công quyền, được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật.

+Chính quyền địa phương ở mỗi cấp do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp lập ra theo quy định của pháp luật.

+ Là một pháp nhân, có ngân sách độc lập, nhằm thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương, nhân danh mình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và tự chịu trách nhiệm.

-Có các mô hình cụ thể phù hợp với mỗi cấp và địa bàn đô thị, nông thôn, hải đảo và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định.

+Các đơn vị hành chính đều có chính quyền địa phương. Tuy nhiên, mô hình tồ chức và hoạt động của chính quyền địa phương không giống nhau.

+ Pháp luật mở ra khả năng tổ chức các mô hình CQĐP phù hợp với mỗi địa bàn địa phương ở nước ta, nhằm khai thác tối đa các nguồn lực, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và mỗi địa phương, khắc phục tình trạng tổ chức CQĐP rập khuôn như trước đây.

-Mỗi cấp chính quyền thực hiện những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau theo quy định của pháp luật.

+Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của CQĐP trên nguyên tắc phân cấp, phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp CQĐP.

 + Thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên giao với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó.

Chính quyền địa phương- Vận dụng chính quyền địa phương như thế nào

 


Là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước, trong đó mỗi cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của địa phương theo quy định của pháp luật, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước.

> Là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước

> Là hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương tổ chức ra

> Thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước ở địa phương

> Được tổ chức theo ba cấp: tỉnh, huyện, cấp xã.

>Kết cấu chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND

Những sửa đổi, bổ sung và phát triển quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân Hiến pháp năm 2013

 


Thứ nhất, về tên gọi và vị trí của chương: Tên gọi mới trong Hiến pháp là “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” và được chuyển vị trí từ Chương V Hiến pháp năm 1992 lên chương II. Việc dịch chuyển này ..là một bước tiến quan trọng, không chỉ là sự dịch chuyển cơ học đơn thuần, mà nó đánh dấu bước ngoặt trong sự thay đổi nhận thức, tư duy về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của chế định quyền con người ừong hiến pháp và vai trò đặc biệt quan trọng của Hiến pháp đối với bảo vệ quyền con người. Sự thay đổi này là sự kế thừa Hiến pháp năm 1946 và tiếp thu kinh nghiệm lập hiến của nhiều nước trên thế giới.

Thứ hai, về khái niệm QCN, QCD đã có sự phân biệt

Hiến pháp năm 2013 có sự phân biệt rõ ràng chủ thể của quyền con người là “mọi người”, “mọi người có quyền”, và chủ thể của quyền công dân là “công dân”, “công dân có quyền và có nghĩa vụ”. Theo đó, chỉ những người có quốc tịch của Nhà nước Việt Nam mới được hưởng quyền công dân, như quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tham gia quản lý nhà nước...còn là quyền của tất cả mọi người, gồm cả công dân, người nước ngoài, người không có quốc tịch đều được hưởng.

Thứ ba, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dânLần đầu tiên Hiến pháp quy định quyền con người, quyền công dân có thể bị hạn chế phù hợp với chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Theo đó, Điều 14, Khoản 2 quy định, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toan Xẫ hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng. Quy định này, một mặt, nhằm tránh các cơ quan nhà nước xâm phạm quyền con ngưòi, quyền công dân; mặt khác cũng hạn chế khả năng lợi dụng vấn đề quyền con người, quyền công dân để thực hiện các hành vi ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Đồng thời Hiến pháp cũng làm rõ hơn nguyên tắc quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Thứ tư, Hiến pháp đặt trọng tâm trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiên Việt Nam Hiến pháp quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước là công nhận, bảo đảm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân (Điều 3, Khoản 3 và Điều 14, Khoản 1). Việc quy định công nhận quyền con người, Nhà nước thừa nhận giá trị tự nhiên của quyền con người, mọi người từ khi sinh ra đều có        quyền con người, đây không phải là sự ban phát của nhà nước. Từ sự thừa nhận giá tri tự nhiên, vốn có của con người, Nhà nước, các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người quyền công dân.      

Thứ năm, Hiến pháp bô sung nhiu quyền mới, là thành tựu của gân 30 năm đổi mới đất nước và hội nhập quổc tế.

 Đó là các quyền: Quyền sống (Điều  

19); quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác (Điều 20); Quyền bất khả          xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 21); Quyền bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); Quyền kết hôn và ly hôn (Điều 36); Quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41);

Quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); Quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43).       

Thứ sáu, Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như mở rộng chủ thể có quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử; trách nhiệm của nhà nước trước công dân của nước mình, công dân không thể bị trục xuất, giao nộp cho nước khác, bảo vệ công dân Việt Nam ở nước ngoài...Đồng thời khắc phục cách diễn đạt thể hiện tư tưởng ban phát quyền cho con người bằng cách thay đổi cách diễn đạt và văn phong pháp lý. Nhiều cụm từ “Nhà nước bảo đảm”, “Nhà nước tạo điều kiện”, “Nhà nước khuyến khích” đã được thay thế bằng “mọi người có qụyền”, “công dân có quyền”. Hiến pháp cũng lược bỏ nhiều quy định về các cụm từ “theo quy định của phápluật”, “theo quy định của luật” tránh cách hiểu và áp dụng tùy tiện, thừa nhận khả năng có thể áp dựng trực tiếp các quy định của Hiến pháp.

Thứ bảy, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục kế thừa các nghĩa vụ cơ bản của công dân và sửa đi bổ sung một s quy định về nghĩa vụ cho phù hợp với các quy định về chủ thể của quyền con người, quyền công dân.

Ví dụ: Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế, trước kia nghĩa vụ này chỉ là công dân (Điều 47). Hiến pháp quy định một số quyền đồng thời là nghĩa vụ, như mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y té và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh (Điều 38); công dân có quyền và nghĩa vụ học tập (Điều 39), mọi ngưòi có quyền sống trong môi trường trong lành và nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43);

Thứ tám, Hiển pháp quy định cơ chế bào vệ hiến pháp, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.

 Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định (Điều 119, Khoản 2).

Theo dự thảo ban đầu được đưa ra lấy ý kiến toàn dân, ủy sửa đổi Hiến pháp dự định thành lập Hội đồng Hỉến pháp, tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan việc thành lập Hội đồng Hiến pháp chưa chín muồi, nên Hiến pháp để ngỏ khả năng thành lập cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật quy định mà không cần phải sửa đổi Hiến pháp.

-Quyền con người, quyền công dân còn được quy định và bảo vệ trong các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt nam

Luật Hành chính và Luật Tố tụng hành chính; Luật Hình sự và Luật Tố tụng hỉnh sự; Luật Dân sự và Luật Tố tụng dân sự; Luật Hôn nhân và Gia đình; Luật Lao động; Luật Thương mại; Luật Đất đai... và được quy định trong nhiều đạo luật chuyên biệt, bảo vệ quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương ừong xã hội như: Luật Trẻ em; Luật Bình đẳng giới; Luật Thanh niên; Luật Người cao tuổi; Luật Người khuyết tật; Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác...

Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền công dân

 


 Là đạo luật cơ bản, quan trọng nhất của đất nước, xác định thể chế chính trị, cách thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quy định địa vị pháp lý của cá nhân, công dân trong mối quan hệ với nhà nước

 Là công cụ quan trọng nhất để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, do vậy chế định quyền con người, quyền công dân luôn là một nội dung quan trọng cấu thành Hiến pháp.

>Trong lịch sử lập Hiến ở Việt Nam, từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013, chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân luôn giữ vị trí quan trọng, cấu thành hiến pháp

>Hiến pháp năm 1946 bao gồm 7 chương, 70 điều. Chế định về “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân” được đặt ở Chương II gồm 18 điều, trong đó có 16 điều trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam

>Hiến pháp năm 1959 Chế định “quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân” được quy định tại Chương III của Hiến pháp, gồm 21 điều

>Hiến pháp năm 1980, chế định “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” được quy định tại Chương V Hiến pháp, gồm 29 điều;

>Hiến pháp (gọi tắt là Hiến pháp năm 1992), chế đinh “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” được quy định tại Chương V, bao gồm 34 điều.

Hiến pháp năm 1992 lần đầu tiên đã đưa việc bảo vệ quyền con người thành nguyên tắc hiến định: “Ở nước CHXHCN Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (Điều 50).

>Hiến pháp năm 2013, chế định về quyền con người, quyền vả nghĩa vụ của công dân được quy định ở Chương 2. Hiến pháp gồm 120 điều, trong đó dành 36 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.

Điều đáng chú ý, quyền con người, quyền công dân không chỉ quy đinh ở một chương, mà nằm ở nhiều chương khác nhau của Hiến pháp."

Hiến pháp năm 2013 là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, là kết quả đánh đấu 30 năm Đảng cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, trên cơ sở kế thừa các bản hiến pháp trước đó, Hiến pháp đã quy định đầy đủ và toàn diện hệ thống các quyền con người, quyền công dân phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền con người, quyền công dân

 


Hệ thống pháp luật ờ Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau, được phân thành các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo những hình thức, trình tự, thủ tục luật định để điều chinh các quan hệ xã hội phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam.

- Cấu trúc của hệ thống pháp luật bao gồm

+Hệ thống cấu trúc của pháp luật (quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và ngành luật)

+Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (hệ thống nguồn của pháp luật).

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam bao gồm Hiến pháp, luật, nghị quyết do Quốc hội ban hành, và các văn bản dưới luật do Chủ tịch Nước, ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nghị quyết liên tịch giữa ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ với Đoàn Chủ tịch ủy ban Trung ương Mật trận Tổ quốc Việt Nam; Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước, Bộ và chính quyền địa phương ban hành.

- Quốc hội mới có thẩm quyền quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.

Điều 50, 51 Hiến pháp năm 1992: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định

 Điều 14, K1 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.

Như vậy, để bảo đảm các quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân được thực thi trong thực tiễn cần có các văn bản dưới luật cụ thể hóa, chi tiết hóa các quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp và luật

NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG, THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

 


 Về kinh tế.

 Tiếp tục quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu gắn với xây dựng nông thôn mới. Trọng tâm là giao thông, điện, trường học và thủy lợi; gắn với bố trí, sắp xếp lại dân cư, giải quyết cơ bản vấn đề đất ở, đất sản xuất, đất phục vụ cộng đồng, nước sinh hoạt, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên. Chú trọng tới những hộ đồng bào thiếu đất sản xuất, các điểm nóng về di cư tự phát, dự án tái định cư thủy lợi, thủy điện.

 Tập trung phát triển sản xuất gắn với thị trường, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; hình thành các mô hình quan hệ sản xuất mới, phát triển doanh nghiệp xã hội; đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo nhanh, bền vững, tăng dần mức thu nhập cho người dân; tạo điều kiện và cơ hội giúp đồng bào các dân tộc thiểu số nâng cao mức sống.

 Tiếp tục thể chế hóa những chính sách ưu tiên thúc đẩy việc làm đối với nhóm lao động trong khu vực phi chính thức, đặc biệt là đối với lao động là người dân tộc thiểu số ở khu vực nông thôn, lao động tự do... nhằm tăng cường tính bền vững đối với việc làm ở các khu vực này, vì đây là khu vực chịu nhiều rủi ro về điều kiện, môi trường làm việc, thu nhập và thiếu tính ổn định hơn so với khu vực chính thức.

 Về chính trị.

 Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc nhằm tăng cường sự tham gia vào bộ máy nhà nước ở Trung ương và chính quyền địa phương các cấp đủ mạnh. Chú trọng, làm tốt công tác quy hoạch dự nguồn cán bộ dân tộc thiểu số để có chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hợp lý, hình thành đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đông về số lượng, giỏi về chuyên môn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Xây dựng đội ngũ trí thức người dân tộc, chính sách đối với người tiêu biểu của các dân tộc thiều số. Cụ thể hóa thêm chính sách cán bộ đối với một số vùng nhóm dân tộc để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

 Xây dựng chế độ trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức, nhất là cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số, bảo đảm mỗi người có thể phát huy hết năng lực cá nhân; đồng thời, xác định cụ thể trách nhiệm của mình trong quá trình thực thi công vụ giảm thiểu nguy cơ có thể xâm phạm các quyền của công dân, quyền con người đối với đồng bào dân tộc là các đối tượng có trình độ, năng lực pháp lý hạn chế, dễ bị tổn thương và ít có khả năng tự bảo vệ.

 Về giáo dục và y tế

 Phát triển giáo dục ở tất cả các cấp học, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng trí thức dân tộc thiểu số. Tăng cường hiệu quả các chính sách dạy nghề nhằm nâng cao kỹ năng lao động cho người dân tộc thiểu số, nhất là đối tượng thanh niên.

Tiếp tục triển khai có hiệu quả các chương trình, chính sách của Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, tập trung ưu tiên cho đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn. Nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp từ mầm non đến trung học cơ sở, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất trường lớp học, cải tiến nội dung, phương pháp dạy và học, kết hợp giữa kiến thức và rèn luyện kỹ năng. Tổ chức dạy tiếng dân tộc cho đối tượng con em đồng bào dân tộc có nhu cầu. Thực hiện có kết quả đề án xóa mù chữ triển khai trên địa bàn 14 tỉnh miền núi dân tộc đến năm 2020, trong đó tập trung vào các vùng ưu tiên trọng điểm, các nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp. Đẩy mạnh việc tổ chức các lớp xóa mù những người trong độ tuổi, nâng cao trình độ phổ cập, nâng cao chuẩn xóa mù chữ, đổi mới phương pháp, kỹ năng dạy học. Chú trọng các biện pháp kết hợp sau xóa mù để tránh tái mù.

 Tập trung xây dựng, củng cố, mở rộng cơ sở y tế, khám chữa bệnh; bảo đảm thuốc phòng và chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Xây dựng các chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt quan tâm tới đồng bào các dân tộc thiểu số, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng cho nhân dân vùng nghèo, dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng khó khăn. Mở rộng các phương thức trả trước và chia sẻ rủi ro trong khám, chữa bệnh thông qua phát triển bảo hiểm y tế toàn dân; cải cách và đơn giản hóa thủ tục mua, thanh toán bảo hiểm y tế, tạo thuận lợi cho người có bảo hiểm y tế trong khám, chữa bệnh; tiếp tục triển khai tốt chính sách bảo hiểm y tế cho người nghèo, cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số vùng kinh tế - xã hội khó khăn và các đối tượng dễ bị tổn thương. Bảo đảm nâng cao chất lượng dân số, phát triển dân số hợp lý của từng dân tộc theo quy định của pháp luật, nhất là đối với các dân tộc có số dân dưới 10.000 người.

Hạn chế tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết diễn ra ở một vùng, nhóm dân tộc. Kiểm soát tỷ lệ sinh cao ở một số dân tộc, nhằm bảo đảm nâng cao chất lượng dân số cũng như hạn chế những vấn đề xã hội phát sinh.

 Về văn hóa - xã hội.

 Khai thác và sử dụng hợp lý tri thức địa phương. Đánh giá, phát hiện các vấn đề thuận lợi để khai thác, điểm hạn chế cho phát triển để điều chỉnh, khắc phục, tránh trở ngại, hoặc định hướng, dẫn dắt sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội theo chiều thuận mà không tạo nên những xung đột văn hóa, tâm lý xã hội.

Phát triển và hiện đại hóa mạng lưới thông tin đại chúng nâng cao chất lượng các sản phẩm văn hóa, thông tin phù hợp. Đẩy mạnh và phát huy hiệu quả công cụ phát thanh, truyền hình phù hợp với đồng bào thiểu số. Xây dựng đồng bộ và nâng cao chất lượng, hiệu quả của các thiết chế văn hóa cộng đồng, thực sự phát huy vai trò của cộng đồng trong tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng và thiết chế văn hóa.

 Tôn trọng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, gắn liền với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, giàu bản sắc, thống nhất trong đa dạng. Đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số kết hợp với các chương trình phát triền kinh tế, phát triển nghề thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng với xóa đói, giảm nghèo.

 Về an ninh, quốc phòng

Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi. Tiếp tục xây dựng, phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới. Tiếp tục giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến tôn giáo ở các vùng dân tộc.

 

 

 

 

Một số định hướng lớn trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam trong tình hình mới

 


 Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc, bảo đảm cho việc bảo vệ và thúc đấy, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013 và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia

Yêu cầu tăng cường hoạt động lập pháp của Quốc hội như là điều kiện tiên quyết để bảo đảm các mục tiêu phát triển. Trong đó, tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm các quyền con người về dân sự, chính trị; các quyền về kinh tế - xã hội và văn hóa nói chung và quyền của nhóm đối tượng dân tộc thiểu số nói riêng.

Bảo đm các quyền cho đồng bào dân tộc thiểu số phải được coi là đối tượng ưu tiên trong việc bảo vệ và là yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật, chính sách bảo vệ quyền lợi của nhóm đối tượng nàv.

Không được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào trong các quy định của pháp luật và quyền lợi của họ phải được bảo đảm trên thực tế ở các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội; thực hiện trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc, bình đẳng trước pháp luật của công dân.

Việc bảo đảm các quyền của người dân phải được thể chế hóa bằng luật pháp, chính sách, được luật pháp tôn ừọng, bảo vệ và có giá trị thực tiễn. Bảo đảm tính thống nhất giữa pháp luật chung với những quy định mang tính đặc thù. Việc thể chế hóa các nội dung quyền cụ thể phải căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội cụ thể của đất nước phù hợp trong từng giai đoạn theo chủ trương, nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ.

 Thúc đẩy quá trình xây dựng năng lực nội sinh là một ưu tiên để đồng bào dân tộc thực thi hội nhập trong chính sách phát triển quốc gia

Nâng cao năng lực nội sinh để đồng bào dân tộc thiểu số biết tự chọn lọc, tự bảo vệ các giá trị và quyền lợi cơ bản cá nhân cũng như cộng đồng trong khuôn khổ hệ thống pháp luật nhà nước nói chung. Nhất là làm tốt công tác giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường nhận thức và phổ biến giáo dục pháp luật cho các tầng lớp đồng bào dân tộc.

 Rà soát lại hệ thống chính sách và cơ cấu, xây dựng lại một cách đồng bộ các chương trình, chính sách phát triền hạ tầng, kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện dịch vụ xã hội và bảo tồn các giá trị văn hóa ở vùng dân tộ. Cần có những chính sách đặc biệt và thực thi để tạo nên sự thay đổi toàn diện trong đời sống chỉnh trị - kinh tế - văn hóa của người dân một cách cơ bản theo các mục tiêu phát triển bền vững.

 Tăng cường công tác phối hợp trong xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách dân tộc giữa các bộ, ngành có liên quan trong việc xây dựng, chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách.

Việc xây dựng chính sách phải bảo đảm đúng quy trình, thủ tục quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các nội dung chính sách phải đảm bảo tính khoa học, thống nhất và có sự liên kết, tránh chồng chéo, xung đột, mâu thuẫn.

Xây dựng cơ chế nhằm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong thực thi pháp luật và xây dựng chính sách dân tộc. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư pháp để bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo theo chủ trương, đường lối của Đảng ở tầm vĩ mô. Tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với cơ quan tư pháp và sự giám sát của đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội trong thực thi pháp luật ở vùng dân tộc và chính sách dân tộc.