Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

Những sửa đổi, bổ sung và phát triển quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân Hiến pháp năm 2013

 


Thứ nhất, về tên gọi và vị trí của chương: Tên gọi mới trong Hiến pháp là “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” và được chuyển vị trí từ Chương V Hiến pháp năm 1992 lên chương II. Việc dịch chuyển này ..là một bước tiến quan trọng, không chỉ là sự dịch chuyển cơ học đơn thuần, mà nó đánh dấu bước ngoặt trong sự thay đổi nhận thức, tư duy về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của chế định quyền con người ừong hiến pháp và vai trò đặc biệt quan trọng của Hiến pháp đối với bảo vệ quyền con người. Sự thay đổi này là sự kế thừa Hiến pháp năm 1946 và tiếp thu kinh nghiệm lập hiến của nhiều nước trên thế giới.

Thứ hai, về khái niệm QCN, QCD đã có sự phân biệt

Hiến pháp năm 2013 có sự phân biệt rõ ràng chủ thể của quyền con người là “mọi người”, “mọi người có quyền”, và chủ thể của quyền công dân là “công dân”, “công dân có quyền và có nghĩa vụ”. Theo đó, chỉ những người có quốc tịch của Nhà nước Việt Nam mới được hưởng quyền công dân, như quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tham gia quản lý nhà nước...còn là quyền của tất cả mọi người, gồm cả công dân, người nước ngoài, người không có quốc tịch đều được hưởng.

Thứ ba, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dânLần đầu tiên Hiến pháp quy định quyền con người, quyền công dân có thể bị hạn chế phù hợp với chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Theo đó, Điều 14, Khoản 2 quy định, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toan Xẫ hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng. Quy định này, một mặt, nhằm tránh các cơ quan nhà nước xâm phạm quyền con ngưòi, quyền công dân; mặt khác cũng hạn chế khả năng lợi dụng vấn đề quyền con người, quyền công dân để thực hiện các hành vi ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Đồng thời Hiến pháp cũng làm rõ hơn nguyên tắc quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Thứ tư, Hiến pháp đặt trọng tâm trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiên Việt Nam Hiến pháp quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước là công nhận, bảo đảm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân (Điều 3, Khoản 3 và Điều 14, Khoản 1). Việc quy định công nhận quyền con người, Nhà nước thừa nhận giá trị tự nhiên của quyền con người, mọi người từ khi sinh ra đều có        quyền con người, đây không phải là sự ban phát của nhà nước. Từ sự thừa nhận giá tri tự nhiên, vốn có của con người, Nhà nước, các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người quyền công dân.      

Thứ năm, Hiến pháp bô sung nhiu quyền mới, là thành tựu của gân 30 năm đổi mới đất nước và hội nhập quổc tế.

 Đó là các quyền: Quyền sống (Điều  

19); quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác (Điều 20); Quyền bất khả          xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 21); Quyền bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); Quyền kết hôn và ly hôn (Điều 36); Quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41);

Quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); Quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43).       

Thứ sáu, Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như mở rộng chủ thể có quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử; trách nhiệm của nhà nước trước công dân của nước mình, công dân không thể bị trục xuất, giao nộp cho nước khác, bảo vệ công dân Việt Nam ở nước ngoài...Đồng thời khắc phục cách diễn đạt thể hiện tư tưởng ban phát quyền cho con người bằng cách thay đổi cách diễn đạt và văn phong pháp lý. Nhiều cụm từ “Nhà nước bảo đảm”, “Nhà nước tạo điều kiện”, “Nhà nước khuyến khích” đã được thay thế bằng “mọi người có qụyền”, “công dân có quyền”. Hiến pháp cũng lược bỏ nhiều quy định về các cụm từ “theo quy định của phápluật”, “theo quy định của luật” tránh cách hiểu và áp dụng tùy tiện, thừa nhận khả năng có thể áp dựng trực tiếp các quy định của Hiến pháp.

Thứ bảy, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục kế thừa các nghĩa vụ cơ bản của công dân và sửa đi bổ sung một s quy định về nghĩa vụ cho phù hợp với các quy định về chủ thể của quyền con người, quyền công dân.

Ví dụ: Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế, trước kia nghĩa vụ này chỉ là công dân (Điều 47). Hiến pháp quy định một số quyền đồng thời là nghĩa vụ, như mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y té và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh (Điều 38); công dân có quyền và nghĩa vụ học tập (Điều 39), mọi ngưòi có quyền sống trong môi trường trong lành và nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43);

Thứ tám, Hiển pháp quy định cơ chế bào vệ hiến pháp, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.

 Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định (Điều 119, Khoản 2).

Theo dự thảo ban đầu được đưa ra lấy ý kiến toàn dân, ủy sửa đổi Hiến pháp dự định thành lập Hội đồng Hỉến pháp, tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan việc thành lập Hội đồng Hiến pháp chưa chín muồi, nên Hiến pháp để ngỏ khả năng thành lập cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật quy định mà không cần phải sửa đổi Hiến pháp.

-Quyền con người, quyền công dân còn được quy định và bảo vệ trong các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt nam

Luật Hành chính và Luật Tố tụng hành chính; Luật Hình sự và Luật Tố tụng hỉnh sự; Luật Dân sự và Luật Tố tụng dân sự; Luật Hôn nhân và Gia đình; Luật Lao động; Luật Thương mại; Luật Đất đai... và được quy định trong nhiều đạo luật chuyên biệt, bảo vệ quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương ừong xã hội như: Luật Trẻ em; Luật Bình đẳng giới; Luật Thanh niên; Luật Người cao tuổi; Luật Người khuyết tật; Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác...

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét