Thứ Tư, 31 tháng 3, 2021

Chỉ số hạnh phúc – Thước đo thành công

 

      Điều mà cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi - "Hạnh phúc của nhân dân" - tiếp tục được nhấn mạnh trong văn kiện Đại hội XIII, cũng như trong phát biểu bế mạc Đại hội của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Đó chính là khát vọng phát triển một đất nước phồn vinh, hạnh phúc và chính nhân dân là người được hưởng thành quả thắng lợi của công cuộc đổi mới.

     Đại hội XIII của Đảng đã xác định những mục tiêu, tầm nhìn, định hướng trong thời gian tới, trong những dấu mốc quan trọng của đất nước. Mọi quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, bảo đảm an ninh, quốc phòng… đều hướng tới mục tiêu vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân. Đó là quan điểm xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta trong phát triển đất nước.


     “Hạnh phúc của nhân dân trước đây là có ăn, có mặc, được học hành. Đây là những yêu cầu tối thiểu khi Cách mạng Tháng Tám thành công mà Bác Hồ đã nói. Hạnh phúc là cả về đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần. Đến nay, đời sống vật chất và tinh thần của người dân cũng phải tốt nhiều hơn nữa so với thời gian trước đây để người dân cảm thấy được ấm no, hạnh phúc một cách trọn vẹn”, nhà báo Hà Đăng nói.

     Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược và các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục đổi mới, phát triển các ngành, lĩnh vực cụ thể với những nội dung mới, quan trọng. Quá trình thực hiện Nghị quyết, chúng ta cần bám sát vào những nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược này, đó chính là cơ sở để chúng ta phát triển đất nước nhanh, mạnh mẽ, đạt được những mục tiêu ở những dấu mốc quan trọng là năm 2025, 2030, 2045 đã đề ra. Những mục tiêu, định hướng đó cuối cùng cũng đều vì lợi ích của nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó cũng chính là quá trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, đất nước ta có thể bước tới đài vinh quang sánh vai cùng với các cường quốc năm châu như mong muốn của Bác Hồ.

     “Tại sao mục tiêu của mấy chục năm tới là “một nước Việt Nam phồn vinh và hạnh phúc”? Trước đây là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Còn đích đến bây giờ chính là “phồn vinh và hạnh phúc” – đồng chí Hà Đăng nói và lý giải, khi đã hiện thực hóa được mục tiêu đề ra, nước ta trở thành một nước phát triển có thu nhập cao, có thể sánh vai cùng các cường quốc năm châu trên thế giới, người dân thấy được chủ nghĩa xã hội thực sự là con đường đi tới hạnh phúc của mình. Có như vậy mới động viên toàn bộ sức mạnh của nhân dân, sức mạnh trong khối đoàn kết, thực hiện được mục tiêu phồn vinh và hạnh phúc của đất nước.

     “Điều quan trọng nhất là làm cho nhân dân được hạnh phúc – khi ấy, đất nước mới yên ấm được. Chỉ số hạnh phúc sẽ đánh giá thành công của Đại hội, của Đảng ta trong những năm sắp tới!”. /. 

ĐỐI TƯỢNG THỨ 3 TRONG "CUỘC CHIẾN CHỐNG ĐẠI DỊCH COVID-19"

 Sự thành công lớn bước đầu trong cuộc chiến chống dịch CoVid-19 của nước ta vừa qua đã đưa Việt Nam trở thành “điểm sáng”, thành “mô hình” chống dịch CoVid-19 hiệu quả, được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế ca ngợi. Sự thành công đó cho thấy, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý điều hành tập trung thống nhất hiệu quả của Nhà nước, sự đồng lòng ủng hộ của toàn dân. Trong đó, cần nhấn mạnh sự nhạy bén chính trị của tư duy “tầm” chiến lược của Đảng đưa ra chủ trương “chống dịch như chống giặc”. Trên cơ sở đó đã xác định chính xác đối tượng tác chiến là Virus Sars CoVy-2 trực tiếp gây ra dịch bệnh; cùng với đó là thông tin sai lệch về tình hình dịch bệnh để chống phá đất nước. Sự nhận diện chính xác đối tượng như vậy, đã tạo cơ sở để hoạch định chủ trương, phương pháp, đối sách phù hợp với từng đối tượng cụ thể để giành thắng lợi trong cuộc chiến.

       Tuy nhiên từ thực tiễn “chống dịch như chống giặc”, đã nẩy sinh thêm “đối tượng thứ ba” cũng rất nguy hiểm, đó là hành vi trục lợi từ “Cuộc chiến chống dịch CoVid-19”. Hành vi trục lợi này rất đa dạng, có thể phân chia thành hai loại: Một là, lợi dụng tình hình dịch bệnh để sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng như thuốc men, dụng cụ chữa bệnh, đồ bảo hộ phòng, chống dịch… Hai là, thực hiện hành vi tham nhũng, trục lợi chính sách phòng chống dịch CoVid-19 từ ngân sách nhà nước.

        Sở dĩ coi hành vi trục lợi trên là một đối tượng của “cuộc chiến chống dịch CoVid-19” cùng với Virus Sars CoVy-2 và thông tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh là bởi lẽ, hành vi này một mặt, tiếp tay cho dịch bệnh lây lan nhanh hơn. Chúng ta hình dung nếu sử dụng thuốc giả để khử trùng, xét nghiệm; sử dụng đồ bảo hộ y tế giả, thuốc kém chất lượng trong điều trị người mắc bệnh thì không những không đem lại hiệu quả, mà còn tạo điều kiện cho dịch bệnh lây lan theo cấp số nhân, dẫn đến không thể kiểm soát được. Sự “vỡ trận” trong phòng chống dịch CoVid-19 vừa qua ở Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Pháp, Đức và nhiều quốc gia khác do nhiều nguyên nhân, trong đó không loại trừ nguyên nhân có sự tiếp tay của “đồ giả y tế”. Vì thế mà nhiều nước nhập khẩu đã lên tiếng tố cáo và trả lại đồ bảo hộ y tế giả hoặc kém chất lượng về “nước sản xuất”. Mặt khác, hành vi trục lợi, nhất là tham nhũng, trục lợi chính sách từ các gói hỗ trợ bảo đảm an sinh xã hội, phục hồi sản xuất kinh doanh… là hành vi không chỉ gây thiệt hại kinh tế, ngân sách trong khi nguồn lực của đất nước còn hạn hẹp, mà còn là hành vi vô đạo đức, táng tận lương tâm, đánh đổi sinh mạng con người vì lợi ích cá nhân, được thực hiện dưới hình thức “lợi ích nhóm”. Tác hại của hành vi tham nhũng, trục lợi chính sách chưa kể đến đến làm mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước; tiếp thêm sức cho sự tàn phá, làm băng hoại đạo đức xã hội.

        Trên thực tế, mặc dù trong văn bản, phát ngôn chính thức, Đảng, Nhà nước chưa xác định hành trục lợi, tham nhũng trên là “đối tượng” trong cuộc chiến chống dịch, song qua chủ trương, biện pháp xử lý kịp thời, kiên quyết theo đúng pháp luật với đối tượng này đã khẳng định đó là một “đối tượng” là "giặc" trong “cuộc chiến chống dịch CoVid-19”. Bằng chứng là các cơ quan thực thi pháp luật vừa qua đã tiến hành bắt giữ, xử lý rất nhiều đối tượng sản xuất, buôn bán thuốc men, đồ bảo hộ y tế giả hoặc kém chất lượng. Tổng cục Quản lý thị trường cho biết, lực lượng quản lý thị trường đã xử lý trên 3.500 vụ vi phạm găm hàng, không niêm yết giá, nâng giá bán khẩu trang bất hợp lý. Đặc biệt Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bộ Công an (C03) chiều 22 tháng 4 đã khởi tố vụ án hình sự bắt giam một số cá nhân tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) Hà Nội, do hành vi bắt tay với doanh nghiệp trục lợi, tham nhũng nhiều tỉ VNĐ bằng cách nâng giá lên gấp hai, ba lần thông qua gói thầu mua sắm vật tư, trang thiết bị y tế phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19. Hành vi trục lợi, tham nhũng tương tự không chỉ xảy ra ở CDC Hà Nội mà còn xảy ra ở nhiều địa phương khác đã bị dư luận phát giác và đang được các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra làm rõ, nếu có vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo đúng pháp luật.

       "Cuộc chiến chống đại dịch CoVid-19” ở nước ta cũng như ở các nước trên thế giới sẽ còn nhiều gian nan thử thách ở phía trước, vì hiện chưa có Vaccine phòng ngừa, ngăn chặn. Đối tượng chính là Virus Sars Covy-2 lại luôn có sự biến thể phức tạp. Theo các nhà khoa hiện virus này đã có tới 40 biến thể. Cùng với sự biến thể của virus, hai đối tượng còn lại là thông tin sai sự thật và hành vi lợi dụng phòng, chống dịch để sản xuất, buôn bán thuốc men, thiết bị y tế giả, kém chất lượng, đặc biệt là hành vi tham nhũng, trục lợi chính sách cũng có sự “biến thể” muôn hình vạn trạng. Vì vậy, để chiến thắng đại dịch này, cần tiếp tục bổ sung, phát triển hoàn thiện về chủ trương, phương châm, giải pháp chống dịch. Trong đó, “đối tượng” của cuộc chiến cần chính thức hóa hành vi lợi dụng phòng, chống dịch để sản xuất, buôn bán thuốc men, thiết bị y tế và hành vi tham nhũng, trục lợi chính sách là “đối tượng thứ ba”, là "giặc" trong “đối tượng tác chiến” để có giải pháp phòng, chống đồng bộ, hiệu quả, giành thắng lợi cao hơn trong “Cuộc chiến chống đại dịch CoVid-19” ở nước ta trong thời gian tới./.

'Nhắc đến sổ hộ khẩu là thấy sợ hãi'

 Tôi liên tục bị từ chối cấp CCCD chỉ vì hộ khẩu chỉ ghi năm sinh, bất chấp CMND cũ và giấy khai sinh đều có ngày tháng rõ ràng.

Chia sẻ về những rắc rối trong thủ tục hành chính liên quan đến cuốn sổ hộ khẩu giấy, độc giả Nguyenhanhthu291181 kể lại trải nghiệm của bản thân: "Mẹ tôi sinh năm 1946 (chứng minh nhân dân và mọi giấy tờ đều ghi là 1946), nhưng khi làm sổ hộ khẩu (những năm 1980) thì cán bộ lại ghi nhầm thành 1947. Bà thắc mắc với người phát sổ hộ khẩu khi đó thì được bảo 'cứ dùng, khi nào cần thì sửa sau'.

Mọi việc sẽ không có gì phức tạp cho đến khi bà đi xe buýt bị móc túi và mất luôn cả CMND. Đi làm lại giấy tờ, công an thành phố khi đó dứt khoát viết năm sinh là 1947 theo sổ hộ khẩu. Dù bà đã lôi hết các giấy tờ chứng minh năm sinh đúng của mình là 1946, nhưng rốt cuộc vẫn không được chấp nhận (giấy khai sinh năm 1946 của bà đã bị thất lạc do chiến tranh). Không hiểu sao họ không tra theo hồ sơ cấp CMND cũ mà chỉ đối chiếu trên sổ hộ khẩu.

Cuối cùng, bà đành chịu để năm sinh trên CMND và sổ hộ khẩu là 1947. Khi về hưu, sổ bảo hiểm của bà vẫn ghi năm sinh 1946, mỗi lần đi bệnh viện, để được thanh toán bảo hiểm, bà lại phải làm đơn gửi công an phường xin xác nhận người có tên trên CMND (sinh năm 1947) và người có tên trong thẻ bảo hiểm (sinh năm 1946) là một. Mãi cho tới năm vừa qua, cô tư pháp xã ở quê tư vấn bà đổi năm sinh thống nhất với sổ bảo hiểm để tránh sau này thủ tục tử tuất phức tạp.

Vậy là hơn 70 tuổi, mẹ tôi lại phải về quê làm thủ tục cấp lại giấy khai sinh. Để được cấp lại, bà phải lục lại giấy chứng tử của bố mẹ bà đã mất cách đây hơn 20 năm, chứng minh bà là con của hai người đó, là bà sinh năm 1946; làm đơn xin cấp lại giấy khai sinh. Sau đó, bà làm đơn đề nghị sửa lại năm sinh trên CMND là 1946. Rất may, từ khi có giấy khai sinh, thủ tục làm CCCD của thành phố rất nhanh. Gần cuối đời, bà mới nhận được CCCD với năm sinh đúng của mình".

>> Tạm trú thành phố 20 năm, vẫn phải về quê xác minh lý lịch

Đồng cảm với những phiền toái trên, bạn đọc Lavie Bùi cũng kể lại những rắc rối gặp phải chỉ vì sai sót trong sổ hộ khẩu giấy: "Tôi cũng vừa trải qua cảm giác nhắc đến sổ hộ khẩu là thấy sợ hãi. Hôm rồi, tôi đi làm CCCD. Thế nhưng tới nơi mới phát hiện ra trên sổ hộ khẩu chỉ ghi mỗi năm sinh, không có ngày tháng, trong khi CMND cũ của tôi có ghi rõ ràng. Tôi còn mang theo cả bản chính Giấy khai sinh để mấy cán bộ đối chiếu. Thế nhưng, tôi vẫn không được phát số cho làm CCCD, mà được hướng dẫn phải quay về bộ phận đăng ký hộ khẩu để chỉnh sửa.

Sau đó, tôi lại được bộ phận đăng ký hộ khẩu yêu cầu khai báo vào hai mẫu đính chính thông tin, và mẫu thay đổi nhân khẩu. Dù đã cố giải thích rõ là tôi không có nhu cầu cải chính thông tin, chỉ là người viết sổ hộ khẩu trước đây ghi thiếu thông tin của tôi, nay cần ghi thêm cho đầy đủ. Thế nhưng tôi chỉ nhận lại được câu trả lời là quy định vậy, phải làm đúng các bước. Trong khi lỗi này hoàn toàn không phải do tôi gây ra, vậy sao tôi phải đi làm đủ thứ thủ tục để sửa sai như thế này?".

Đánh giá về những lợi ích khi bỏ hộ khẩu giấy, độc giả Peony Nguyen nhận định: "Bỏ hộ khẩu giấy, về sâu xa hơn, là tránh sa đà vào lý lịch. Chúng ta hay con cái sau này chắc chắn khi đi học, đi làm... sẽ chỉ muốn người ta quan tâm đến chính mình là ai, có những phẩm chất gì, chứ không phải ông bà, bố mẹ của chúng là ai? Cho dù lý lịch gia đình có đáng tự hào hay ngược lại, chúng ta cũng không muốn bị đánh giá dựa trên những thông tin ấy.

Một người không nên được ưu ái hay bị mang định kiến xấu chỉ vì họ là con cháu của một ai. Và đó là nền tảng của xã hội công bằng, văn minh mà chúng ta đang xây dựng. Tôi luôn ủng hộ quản lý hành chính theo cá nhân hơn là theo hộ gia đình, hộ khẩu".

"Phải công bằng mà nói, thời đại 4.0 đã xuất hiện thì vai trò của cuốn sổ hộ khẩu tự nhiên đã hoàn thành. Nếu quay lại thời 2.0, khi không có cuốn sổ này, thì chúng ta quản lý bằng kiểu gì? Mọi cái chỉ tốt và thích ứng cho từng giai đoạn, chúng ta không phủ nhận hết nó. Nhưng thay 2.0 bằng 4.0 lúc này theo tôi là hợp lý", bạn đọc Quê Hà Nội nói thêm.

NÂNG CAO CẢNH GIÁC VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ BẦU CỬ

        Bằng việc xuyên tạc thông tin, đưa ra những bình luận, nhận xét, đánh giá thiếu trung thực, phiến diện, một chiều, quy chụp, các đối tượng xấu đang hướng lái dư luận theo hướng tiêu cực, kích động tư tưởng hoài nghi về công tác bầu cử, gieo rắc nhận thức sai lầm liên quan đến hoạt động bầu cử. Trong đó, những nội dung chống phá chính mà các đối tượng xấu đang tiến hành có thể kể đến là:

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA CỦA VIỆT NAM MƠ HỒ, KHÔNG CÓ MỤC TIÊU LÀ SAI LẦM

          

VIỆT NAM LÀ ĐIỂM SÁNG KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2021

          Năm 2020 là năm đặc biệt với tất cả các quốc gia, khu vực trên thế giới khi phải đối diện với đại dịch Covid-19 và đại dịch vẫn hết sức phức tạp trong năm 2021 khi virus biến thể mới đang hoành hành.

VẠCH TRẦN CHIÊU TRÒ ĐÒI "DÂN CHỦ" VÔ NGUYÊN TẮC TRONG BẦU CỬ: MƯU ĐỒ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUỐC HỘI

        Trong lúc Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng đang gấp rút tiến hành những bước cần thiết theo quy định của pháp luật để chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, thì trên mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc, sai trái hòng làm suy giảm niềm tin của cử tri và nhân dân, phá hoại cuộc bầu cử.

Thứ Ba, 30 tháng 3, 2021

Những hành vi bị cấm khi vận động bầu cử Tuần qua, các phương tiện thông tin đại chúng tiếp tục đăng tải một số quy định liên quan công tác bầu cử được quy định trong Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu HĐND, trong đó nêu rõ các hành vi bị cấm khi vận động bầu cử, bao gồm: 1. Lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác. 2. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử. 3. Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình. 4. Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri. 5. Các tổ chức phụ trách bầu cử và thành viên của các tổ chức này vận động bầu cử cho người ứng cử. Từ những quy định trên có thể thấy cơ quan công an đã thực hiện đúng quy định của pháp luật khi bắt giữ và xử lý một số đối tượng tự xưng là“ ứng viên độc lập” sử dụng mạng xã hội để livestream tuyên truyền chống phá, phỉ báng chính quyền nhân dân; kích động các hoạt động bất mãn, chống đối.

NHỮNG HÀNH VI BỊ CẤM KHI VẬN ĐỘNG BẦU CỬ

        Tuần qua, các phương tiện thông tin đại chúng tiếp tục đăng tải một số quy định liên quan công tác bầu cử được quy định trong Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu HĐND, trong đó nêu rõ các hành vi bị cấm khi vận động bầu cử, bao gồm:

1. Lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác.

2. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử.

3. Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình.

4. Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri.  

5. Các tổ chức phụ trách bầu cử và thành viên của các tổ chức này vận động bầu cử cho người ứng cử.

Từ những quy định trên có thể thấy cơ quan công an đã thực hiện đúng quy định của pháp luật khi bắt giữ và xử lý một số đối tượng tự xưng là“ ứng viên độc lập” sử dụng mạng xã hội để livestream tuyên truyền chống phá, phỉ báng chính quyền nhân dân; kích động các hoạt động bất mãn, chống đối.  

MỘT SỐ THÔNG TIN ĐÁNG CHÚ Ý TRÊN MẠNG XÃ HỘI

        Thời gian qua, một số báo điện tử nước ngoài (BBC, VOA, RFA, RFI,…) và một số trang Web, trang mạng xã hội chống cộng, phi pháp, thiếu thiện ý với Việt Nam trong các bài viết, nói về Việt Nam, thường có cụm từ “tù nhân lương tâm”, nhằm tố cáo “Chính quyền Việt Nam vi phạm nhân quyền”.  

MỘT SỐ BÀI VIẾT NỔI BẬT VỀ PHÒNG CHỐNG "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" TRÊN BÁO CHÍ

        Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, Báo Quân đội nhân dân Điện tử có loạt bài: “Vì sao Việt Nam xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng?”, vạch trần bản chất và bộ mặt thật của tổ chức khủng bố Việt Tân. Loạt bài được Thư viện quân đội, một số trang báo lớn như: tuyengiao.vn, baocantho.com.vn và một số trang mạng ....

VẠCH TRẦN CHIÊU TRÒ ĐÒI "DÂN CHỦ" VÔ NGUYÊN TẮC TRONG BẦU CỬ: THỦ ĐOẠN "ĂN VẠ" PHÍA SAU CHIÊU TRÒ TỰ ỨNG CỬ

        Từ chủ trương, chính sách của Đảng đến Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước đều khuyến khích người có đức, có tài tự ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) để góp sức xây dựng đất nước.

THỰC TIỄN VÀ KẾT QUẢ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP TỰ CHỦ

         Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng vào khu vực và thế giới. Quá trình này đã thu được những kết quả hết sức to lớn, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới. Điều đó cho thấy chủ trương đúng đắn, chủ động tích cực hội nhập quốc tế của Đảng và nhà nước ta. Trong quá trình triển khai, chính sách đối ngoại với mục tiêu bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế được quán triệt xuyên suốt trong mọi chính sách và hành động. Kết quả là ta đã từng bước hội nhập một cách sâu rộng vào khu vực và thế giới.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU "CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI GIỮ VỮNG ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ TẠI ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG LÀ LÝ THUYẾT, PHI THỰC TẾ"

        Những thành tựu của Việt Nam sau 35 năm đổi mới, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là những luận cứ xác đáng để phản bác những quan điểm sai trái về chính sách đối ngoại giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế tại Đại hội XIII của Đảng.

Cảnh giác với những luận điệu phản động chống phá cách mạng Việt Nam



Toàn nhân loại trên thế giới và Việt Nam đang đứng trước khó khăn để tìm các biện pháp tối ưu khắc phục sự biến đổi khí hậu và dịch bệnh Covid-19…, để sớm đưa nhân loại trở lại trạng thái bình thường và phát triển, thì đâu đó vẫn có kẻ rỗi hơi ngồi moi móc quá khứ đưa ra những luận điệu tiêu cực, phản động hòng chống phá cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới và ở nước ta. Đặc biệt là các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị đã tung ra một loạt bài đăng tải những ý kiến, quan điểm bất mãn, sai trái, xuyên tạc nhằm gieo rắc sự hoài nghi trong các tầng lớp nhân dân, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản; xuyên tạc, bóp méo những ý kiến chỉ đạo của cán bộ cấp cao của Đảng trên các diễn đàn, nghị trường.

Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”

Nghiêm trị để răn đe Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trình bày, đã nhấn mạnh:“Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”. Đây là sự cụ thể hóa, nhấn mạnh tính thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, tinh thần thượng tôn pháp luật của mọi công dân, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Mọi cán bộ, đảng viên, mọi công dân đều phải có bổn phận chấp hành, không ai được ngả nghiêng, dao động... Hiểu đúng bản chất, thống nhất hành động Đại hội XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp mở ra thời kỳ mới đầy triển vọng của đất nước ta. Trong lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang ra sức thi đua, mở hướng đột phá vượt qua khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19 toàn cầu, từng bước khôi phục và phát triển kinh tế, đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, thì các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động lại cay cú, tiếp tục tìm kẽ hở để lợi dụng chống phá. Một trong những chiêu trò của chúng là săm soi từng câu chữ trong các văn kiện và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng để xuyên tạc, kích động. Bám vào từ “nghiêm trị”, chúng lu loa lên rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương sử dụng “công cụ bạo lực” để “gia tăng đàn áp” những người “bất đồng chính kiến”, thực hiện “đàn áp nhân quyền”... Đặc biệt, khi lực lượng công an một số địa phương tống đạt quyết định khởi tố bị can và bắt tạm giam một số đối tượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 109, Bộ luật Hình sự, ngay lập tức nhiều kênh truyền thông hải ngoại phát tiếng Việt dẫn lời những phần tử cực đoan được dịp ra sức tung luận điệu ám chỉ, suy diễn. Chúng cho rằng, trong bối cảnh đất nước đang gặp khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam “lo sợ” sẽ có một làn sóng chỉ trích, nên mới thực hiện chủ trương “đàn áp” những người bất đồng chính kiến như vậy... Ngay sau khi tổ chức thành công Đại hội XIII của Đảng, cùng với việc đẩy mạnh học tập, quán triệt, đưa nghị quyết vào cuộc sống, chúng ta tiếp tục tập trung chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Các thế lực thù địch, phản động nhân cơ hội này tìm mọi chiêu trò gây nhiễu thông tin, đánh tráo khái niệm, kích động, xuyên tạc, kêu gọi biểu tình, gây rối. Từ sự khơi mào của một số đối tượng trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại, không ít kênh phát tiếng Việt trên mạng xã hội đã hùa theo, lôi kéo sự tham gia của nhiều đối tượng a dua, a tòng, nhân cơ hội ăn theo nói leo, chụp mũ, quy kết, nói xấu Đảng, xuyên tạc, bôi đen tình hình đất nước, phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp. Trước những luận điệu xuyên tạc, thể hiện rõ ý đồ chống phá của các thế lực thù địch, chúng ta cần nói rõ bản chất vấn đề, nhằm thống nhất nhận thức, tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; phủ nhận, đập tan những luận điệu ngụy tạo, nguy hiểm, xấu độc của chúng. Những hành động đi ngược lại lợi ích quốc gia-dân tộc, tiếp tay cho các thế lực bên ngoài phá hoại, cản trở sự phát triển của đất nước đều là những hành vi cấu thành tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo Điều 109, Bộ luật Hình sự. Nhấn mạnh hành động nghiêm trị chính là sự khẳng định tính nghiêm minh của pháp luật, thể hiện tính biện chứng của quy luật phát triển, đáp ứng đòi hỏi từ chính thực tiễn. Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, từ truyền thuyết cho đến lịch sử, thời kỳ nào tổ tiên, ông cha ta cũng kiên quyết nghiêm trị tội phản quốc. Lưỡi gươm đẫm máu và nước mắt của An Dương Vương trong truyền thuyết “Nỏ thần” là thông điệp luôn nóng hổi tính thời sự, tổ tiên ta truyền lại cho con cháu để có kế sách giữ nước ngay từ bên trong. Trong thời đại Hồ Chí Minh, năm 1953, trước tình hình phức tạp của thù trong, giặc ngoài, để bảo vệ chính quyền cách mạng, ngày 20/1/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 133-SL của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Điều 1 của sắc lệnh ghi rõ: Để củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất cho dân tộc, nay ban hành sắc lệnh này nhằm mục đích trừng trị các loại Việt gian, phản động và xét xử những âm mưu hành động phản quốc. Điều 11 của sắc lệnh ghi: Kẻ nào vì mục đích phản quốc, có những hành động tuyên truyền cổ động cho địch như: Phao tin đồn nhảm làm cho nhân dân hoang mang; Bất cứ dùng cách gì để tuyên truyền cho chính sách áp bức, bóc lột, lừa phỉnh của địch; Đầu độc, trụy lạc nhân dân bằng văn hóa nô dịch; Tuyển mộ ngụy binh hay mộ phu cho địch; Dụ dỗ bộ đội, cán bộ, nhân dân bỏ hàng ngũ kháng chiến đi theo địch, sẽ bị xử phạt như sau: Bọn chủ mưu, tổ chức, chỉ huy, sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân, hoặc sẽ bị xử tử hình. Bọn tay chân mà tội trạng tương đối nhẹ, sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống... Dẫn một số ví dụ như vậy để thấy rõ hơn, việc nghiêm trị các hành vi, đối tượng có âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước là chủ trương xuyên suốt của Đảng ta. Nhìn rộng ra, bất cứ một thể chế chính trị nào, bất cứ quốc gia, vùng lãnh thổ nào trên thế giới cũng đều có những chế tài nghiêm khắc đặc thù để trừng trị những thế lực đi ngược lại hiến pháp, pháp luật, lợi ích của chính quốc gia đó. Trong giai đoạn đất nước ta tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, hội nhập, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, trước âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng gay gắt, tinh vi của các thế lực thù địch, việc khẳng định tính nghiêm trị đối với mọi âm mưu, hành động phá hoại như đã nêu trên chính là thể hiện tinh thần kiên trì, kiên quyết trong đấu tranh, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tính nghiêm minh của pháp luật. Hoàn toàn không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương gia tăng “đàn áp”, “trấn áp” lực lượng “bất đồng chính kiến” như miệng lưỡi của những kẻ phản động rêu rao... Tinh thần quyết liệt, quan điểm nhân văn Một câu hỏi được nhiều người đặt ra là, tại sao mỗi lần có đối tượng bị bắt vì tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” là lập tức một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và nhiều trang mạng xã hội của các đối tượng khác lại dậy sóng phản đối, xuyên tạc, kích động, đòi phải trả tự do cho cái gọi là “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh nhân quyền”...? Rất dễ dàng tìm câu trả lời khi tất cả bằng chứng phạm tội của các đối tượng bị đưa ra ánh sáng. Đơn cử mới đây, đối tượng Ngô Công Trứ (sinh năm 1988, trú thôn Phú Nông, xã Hòa Bình 1, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên), được tổ chức phản động của cái gọi là “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lôi kéo, mua chuộc thực hiện âm mưu “Trưng cầu dân ý” để thực hiện các hoạt động chống phá, mưu toan lật đổ chính quyền nhân dân. Trước Ngô Công Trứ, một số đối tượng trẻ tuổi cũng bị các tổ chức phản động ở hải ngoại móc nối, cấu kết, mua chuộc để làm tay sai, con rối cho chúng giật dây. Bằng sự cám dỗ của đồng tiền, vật chất và những thứ danh “ảo”, các thế lực thù địch, phản động có xu hướng nhắm đến những người trẻ có chút ít kiến thức nhưng non kém bản lĩnh, có tư tưởng cực đoan, cấp tiến để lôi kéo, mua chuộc. Chúng bỏ tiền ra để thực hiện cái gọi là “tài trợ” chống phá chính quyền nhân dân. Khi bị lật tẩy thì lu loa lên để thu hút sự chú ý của công luận. Với những đối tượng phạm tội kiểu này, nếu không có biện pháp răn đe thì rất khó để giúp họ tỉnh ngộ. Chính vì vậy, cần phải nghiêm trị những kẻ phạm tội để làm bài học cảnh tỉnh những ai đã và đang có ý định “nhúng chàm” bằng thứ “bánh vẽ” ảo tưởng. Việc đấu tranh phát hiện, điều tra, khởi tố, xét xử nghiêm minh những đối tượng phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” trong thời gian vừa qua đã có tác dụng tăng sức giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh, được nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao và đồng tình ủng hộ. Đây cũng chính là một loại vũ khí để tăng sức chiến đấu trong Đảng, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Nghiêm trị một người để cảnh tỉnh muôn người, cắt bỏ khối u để cơ thể khỏe mạnh... là phương châm đấu tranh thể hiện tính nhân văn sâu sắc của Đảng ta. Chúng ta hành động quyết liệt, nghiêm trị những hành vi phá hoại, cản trở sự phát triển của đất nước, nhưng luôn rộng lượng khoan dung với những ai biết ăn năn, hối cải, quay đầu là bờ. Với quan điểm lấy xây để chống, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, nhất quán tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động.. Nguồn: QĐND.vn

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIỮ VỮNG KỶ LUẬT, KỶ CƯƠNG, NGUYÊN TẮC TRONG NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN Thứ nhất, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận. Như Nghị quyết số 37-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XI đã khẳng định: “Các cơ quan lãnh đạo của Đảng phải quan tâm đặc biệt đến công tác lý luận, tổng kết thực tiễn”. Đảng phải coi công tác lý luận là công việc thiết thân của mình không kém gì nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không quan tâm đến công tác lý luận, đặc biệt lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng, lý luận về đổi mới, không nghiên cứu, bổ sung phát triển lý luận của Đảng thì không thể khắc phục tình trạng chậm trễ của lý luận như trong nhiều nghị quyết Đảng ta đã nhận định. Nếu công tác lý luận được quan tâm đẩy mạnh, nâng cao chất lượng thực sự sẽ tạo tiềm lực lâu dài, sức mạnh nội sinh của Đảng; phải coi xây dựng Đảng về lý luận là một nhiệm vụ quan trọng của xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng. Thứ hai, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận, các chuyên gia đầu ngành; nâng cao trình độ, năng lực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII khẳng định cần “đầu tư thích đáng cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận; có chế độ chính sách thỏa đáng nhằm thu hút, trọng dụng các chuyên gia đầu ngành”; cần phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo những người có năng khiếu lý luận, có năng lực tư duy sáng tạo, say mê nghiên cứu lý luận. Cần có chiến lược đào tạo cán bộ lý luận, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận một cách toàn diện cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung. Đồng thời, cần có cơ chế bảo vệ những cán bộ khoa học dám đột phá sáng tạo. Các chế độ, chính sách đối với nhà khoa học cần hướng họ đi sâu vào chuyên môn để trở thành những chuyên gia lý luận giỏi. Cần khắc phục tình trạng lười học, ngại học lý luận chính trị, hoặc học để đối phó, để cho có bằng cấp. Cần đổi mới căn bản công tác đào tạo cán bộ lý luận chính trị từ khâu quy hoạch, chương trình, nội dung, phương pháp theo tinh thần “khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại” nhằm hình thành và phát triển đội ngũ chuyên gia giỏi, đội ngũ cán bộ đầu ngành, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, giàu khả năng tư duy sáng tạo nhằm phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới, đáp ứng cả yêu cầu trước mắt và lâu dài. Thứ ba, gắn kết tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, định hướng chính sách. Việc phát triển lý luận, thực hành dân chủ trong nghiên cứu lý luận suy cho cùngcũng phải dựa trên tổng kết thực tiễn để đánh giá. Chỉ có bằng tổng kết thực tiễn và qua tổng kết thực tiễn mới có thể phát triển lý luận, mới có sáng tạo về lý luận, đột phá lý luận. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng những bế tắc của lý luận phải tìm lời giải đáp từ trong thực tiễn sinh động. Cần tìm ra cơ chế kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, coi trọng việc tư vấn chính sách trong cơ chế kết hợp này. Cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa tổ chức nghiên cứu lý luận với tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, tổ chức hoạch định chính sách và thực thi chính sách. Xây dựng cơ chế để các nhà lý luận được tham gia thường xuyên vào quá trình tổ chức thực tiễn, tổ chức thực hiện nghị quyết - một khâu yếu hiện nay như nhiều nghị quyết vẫn đề cập đến. Thứ tư, phát huy mạnh mẽ dân chủ, khuyến khích tìm tòi sáng tạo trong nghiên cứu lý luận. Đây là một chủ trương đã được khẳng định trong nhiều nghị quyết của Đảng ta. Mới đây, trong Báo cáo Chính trị của Đại hội XIII khẳng định: “Thực hiện nghiêm Quy định dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị, tạo môi trường dân chủ, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của các tổ chức và cá nhân”. Quy định số 285-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XI về Dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước” chỉ rõ: “Dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị là bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân được tự do sáng tạo, độc lập suy nghĩ, kiến nghị, được tôn trọng, tiếp thu ý kiến, vận dụng, sử dụng kết quả nghiên cứu trong các hoạt động nghiên cứu lý luận chính trị, phù hợp với pháp luật hiện hành”. Mặc dù quy định mới giới hạn nghiên cứu lý luận chính trị trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, song đây là một bước tiến trong nhận thức của Đảng, tạo cơ sở chính trị quan trọng để phát huy dân chủ, tính sáng tạo, độc lập suy nghĩ trong nghiên cứu lý luận chính trị để đóng góp vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Thứ năm, tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nghiên cứu lý luận. Cần xây dựng quy hoạch tổng thể các cơ quan lý luận, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy, biên chế với chế độ, chính sách đi kèm, mối quan hệ phối hợp. Cần tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về lý luận theo hướng đa dạng hóa các hình thức hợp tác và các tổ chức hợp tác, nâng cao hiệu quả hợp tác để tiếp cận, mở rộng tầm nhìn, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học của văn minh nhân loại, tăng cường nghiên cứu các trào lưu tư tưởng, các lý thuyết mới trên quan điểm khách quan và biện chứng, qua đó làm phong phú hơn tri thức của giới lý luận nước nhà./.

 

        Thứ nhất, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận.

        Như Nghị quyết số 37-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XI đã khẳng định: “Các cơ quan lãnh đạo của Đảng phải quan tâm đặc biệt đến công tác lý luận, tổng kết thực tiễn”. Đảng phải coi công tác lý luận là công việc thiết thân của mình không kém gì nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không quan tâm đến công tác lý luận, đặc biệt lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng, lý luận về đổi mới, không nghiên cứu, bổ sung phát triển lý luận của Đảng thì không thể khắc phục tình trạng chậm trễ của lý luận như trong nhiều nghị quyết Đảng ta đã nhận định. Nếu công tác lý luận được quan tâm đẩy mạnh, nâng cao chất lượng thực sự sẽ tạo tiềm lực lâu dài, sức mạnh nội sinh của Đảng; phải coi xây dựng Đảng về lý luận là một nhiệm vụ quan trọng của xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng.

        Thứ hai, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận, các chuyên gia đầu ngành; nâng cao trình độ, năng lực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. 

        Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII khẳng định cần “đầu tư thích đáng cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận; có chế độ chính sách thỏa đáng nhằm thu hút, trọng dụng các chuyên gia đầu ngành”; cần phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo những người có năng khiếu lý luận, có năng lực tư duy sáng tạo, say mê nghiên cứu lý luận. Cần có chiến lược đào tạo cán bộ lý luận, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận một cách toàn diện cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung. Đồng thời, cần có cơ chế bảo vệ những cán bộ khoa học dám đột phá sáng tạo. Các chế độ, chính sách đối với nhà khoa học cần hướng họ đi sâu vào chuyên môn để trở thành những chuyên gia lý luận giỏi. Cần khắc phục tình trạng lười học, ngại học lý luận chính trị, hoặc học để đối phó, để cho có bằng cấp. Cần đổi mới căn bản công tác đào tạo cán bộ lý luận chính trị từ khâu quy hoạch, chương trình, nội dung, phương pháp theo tinh thần “khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại” nhằm hình thành và phát triển đội ngũ chuyên gia giỏi, đội ngũ cán bộ đầu ngành, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, giàu khả năng tư duy sáng tạo nhằm phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới, đáp ứng cả yêu cầu trước mắt và lâu dài.

        Thứ ba, gắn kết tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, định hướng chính sách.

        Việc phát triển lý luận, thực hành dân chủ trong nghiên cứu lý luận suy cho cùngcũng phải dựa trên tổng kết thực tiễn để đánh giá. Chỉ có bằng tổng kết thực tiễn và qua tổng kết thực tiễn mới có thể phát triển lý luận, mới có sáng tạo về lý luận, đột phá lý luận. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng những bế tắc của lý luận phải tìm lời giải đáp từ trong thực tiễn sinh động.

        Cần tìm ra cơ chế kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, coi trọng việc tư vấn chính sách trong cơ chế kết hợp này. Cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa tổ chức nghiên cứu lý luận với tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, tổ chức hoạch định chính sách và thực thi chính sách. Xây dựng cơ chế để các nhà lý luận được tham gia thường xuyên vào quá trình tổ chức thực tiễn, tổ chức thực hiện nghị quyết - một khâu yếu hiện nay như nhiều nghị quyết vẫn đề cập đến.

        Thứ tư, phát huy mạnh mẽ dân chủ, khuyến khích tìm tòi sáng tạo trong nghiên cứu lý luận.

        Đây là một chủ trương đã được khẳng định trong nhiều nghị quyết của Đảng ta. Mới đây, trong Báo cáo Chính trị của Đại hội XIII khẳng định: “Thực hiện nghiêm Quy định dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị, tạo môi trường dân chủ, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của các tổ chức và cá nhân”. Quy định số 285-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XI về Dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước” chỉ rõ: “Dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị là bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân được tự do sáng tạo, độc lập suy nghĩ, kiến nghị, được tôn trọng, tiếp thu ý kiến, vận dụng, sử dụng kết quả nghiên cứu trong các hoạt động nghiên cứu lý luận chính trị, phù hợp với pháp luật hiện hành”. Mặc dù quy định mới giới hạn nghiên cứu lý luận chính trị trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, song đây là một bước tiến trong nhận thức của Đảng, tạo cơ sở chính trị quan trọng để phát huy dân chủ, tính sáng tạo, độc lập suy nghĩ trong nghiên cứu lý luận chính trị để đóng góp vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

        Thứ năm, tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nghiên cứu lý luận.

        Cần xây dựng quy hoạch tổng thể các cơ quan lý luận, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy, biên chế với chế độ, chính sách đi kèm, mối quan hệ phối hợp.

        Cần tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về lý luận theo hướng đa dạng hóa các hình thức hợp tác và các tổ chức hợp tác, nâng cao hiệu quả hợp tác để tiếp cận, mở rộng tầm nhìn, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học của văn minh nhân loại, tăng cường nghiên cứu các trào lưu tư tưởng, các lý thuyết mới trên quan điểm khách quan và biện chứng, qua đó làm phong phú hơn tri thức của giới lý luận nước nhà./.

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁT HUY DÂN CHỦ TRONG NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN

 

XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG DÂN CHỦ ĐI ĐÔI VỚI ĐỀ CAO TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Nghiên cứu lý luận chính trị là lĩnh vực có vai trò rất quan trọng, làm cơ sở lý luận, khoa học cho công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Để đẩy mạnh nghiên cứu lý luận chính trị, Đảng ta đã coi trọng việc phát huy, thực hành dân chủ, tự do sáng tạo trong nghiên cứu. Trong nhận thức về phát huy dân chủ trong nghiên cứu lý luận, Đảng ta quan niệm một cách biện chứng, toàn diện. Dân chủ phải đi liền với kỷ cương, kỷ luật, gắn với trách nhiệm của người nghiên cứu trước Đảng, trước dân tộc. “Coi trọng việc xây dựng môi trường dân chủ đi đôi với nêu cao trách nhiệm chính trị của tổ chức và cá nhân hoạt động lý luận”. Tự do tư tưởng trong nghiên cứu, khám phá sáng tạo trong lý luận đồng thời phải giữ nghiêm kỷ cương trong việc phổ biến kết quả nghiên cứu. Nghiên cứu “không có vùng cấm” nhưng việc giảng dạy, tuyên truyền lý luận phải theo quy định của Đảng và Nhà nước. 

Phần tử chống đối không có đất diễn khi người dân hiểu tính dân chủ của bầu cử

 

          Gần 2 tháng nữa là tới kỳ bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Cũng trong thời gian này, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đang tiến hành nhiều hoạt động chống phá với tính chất tinh vi với mưu đồ chống phá bầu cử bằng việc xuyên tạc thông tin, đưa ra những bình luận, đánh giá thiếu trung thực, phiến diện về công tác bầu cử.

          Những kẻ chống đối thường đưa ra quan điểm là không có cuộc bầu cử dân chủ khi mà Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử. Đây là quan điểm sai trái, thù địch của những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, của những người bất đồng chính kiến với Đảng, Nhà nước, Quốc hội ta. Quan điểm sai trái của họ thể hiện trước hết là phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng. Điều đó dẫn đến một thái cực, họ cho rằng, Đảng ta không chính danh lãnh đạo bầu cử Quốc hội.

          Trên thực tế, họ hiểu sai và xuyên tạc bản chất Đảng ta trong Hiến pháp. Chính khoản 1, Điều 4 Hiến pháp đã hiến định rõ ràng Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân. Đồng thời, là đội tiên phong của nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy, Đảng đại diện cho lợi ích trung thành nhất của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam. Đảng lãnh đạo Nhà nước để thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm công dân là hoàn toàn đúng đắn.

          Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân mà Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, Quốc hội phải thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Chính vì vậy, Đảng lãnh đạo Nhà nước và Quốc hội để thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc là hoàn toàn đúng nhưng họ khước từ điều đấy, xuyên tạc, bóp méo sự thật ấy, họ phủ nhận toàn bộ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam. Từ đó, phủ nhận toàn bộ chế độ xã hội chủ nghĩa, dẫn đến một thái cực là đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và bầu cử Quốc hội hay HĐND các cấp này cũng theo mô hình của chủ nghĩa tư bản.

          Phải khẳng định rằng việc Đảng ra Nghị quyết, Chỉ thị lãnh đạo bầu cử Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết triển khai chủ trương, đường lối của Đảng hết sức bài bản, dân chủ, công khai, minh bạch.

          Trong đó, có sự phân định rõ ràng Đảng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo Quốc hội nhưng Đảng không bao biện, Đảng không làm thay Nhà nước. Chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước và của Quốc hội, của Hội đồng Bầu cử Quốc gia thực hiện đúng theo chức trách nhiệm vụ của mình. Cho nên có sự phân cấp rõ ràng, không có sự lẫn lộn giữa Đảng, Nhà nước và Quốc hội. Chính vì vậy, đại biểu Quốc hội hay HĐND các cấp khi trở thành người đại diện lợi ích trung thành cho nhân dân thì hoàn toàn đúng, không có điều gì áp đặt, hay cái gì sai với bản chất truyền thống, điều mà đã quy định trong Hiến pháp và pháp luật.

          Nếu không có sự lãnh đạo của Đảng sẽ nảy sinh rất nhiều vấn đề tiêu cực, phức tạp và chúng ta không thể chọn những người tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, nhân cách, người mẫu mực đại diện trung thành cho lợi ích của nhân dân và không thể xứng đáng thành Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

          Phải thấy rằng, Quốc hội triển khai thực hiện bầu cử, công tác tổ chức hết sức bài bản, nghiêm túc, có nề nếp trật tự, đúng trình tự, kỷ cương. Những đại biểu được ứng cử hay bầu cử thực hiện rất tốt quyền công dân của mình và nhân dân tham gia bầu cử, hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình.

          Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiến định công dân đủ 18 tuổi có quyền đi bầu cử, 21 tuổi có quyền ứng cử. Đã là công dân, tức là những người không vi phạm vào Hiến pháp, pháp luật và họ có đủ quyền bầu cử. Nhưng ở đây, Đảng lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức để lựa chọn những người ưu tú nhất, tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, có tâm, có tầm, có trí tuệ để đại diện cho nhân dân thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, xây dựng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do ấm no, hạnh phúc. Điều đó là chính đáng.

          Nhưng một số người nhân danh cấp tiến, dân chủ trong khi họ không thèm đếm xỉa đến các tiêu chí, tiêu chuẩn, phẩm chất về năng lực để ứng cử làm đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân.

          Chính vì vậy, việc tung lên mạng rồi khích lệ, bỏ phiếu ảo, đề xuất những đại biểu phải cấp tiến, dân chủ ấy thực chất là gây rối, tạo hỏa mù, làm rối bận cho các cơ quan, tổ chức bầu cử. Khi không đạt được ý muốn qua các hội nghị hiệp thương, thì họ bắt đầu quay lưng trở cờ, nói xấu, vu cáo.

          Không lạ gì các chiêu trò, các luận điệu sai trái, lệch lạc. Bởi vì nó không phải bây giờ mới có mà nó được tua đi lặp lại nhiều lần. Đặc biệt trên không gian mạng và các thông tin truyền miệng gây rối loạn bầu không khí trật tự xã hội. Chúng ta tin tưởng rằng, với tất cả những gì thực hiện bài bản, đúng tiêu chuẩn, bố trí đúng thành phần, đúng cơ cấu thì Quốc hội và HĐND thật sự có chất lượng và bầu được những đại biểu trung thành với lợi ích của nhân dân và toàn thể dân tộc

          Để hạn chế những luận điệu tiêu cực của những phần tử chống đối công tác bầu cử của toàn dân. Trước hết phải làm cho toàn thể nhân dân, các cử tri hiểu rõ Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp. Đồng thời tuyên truyền để cho nhân dân hiểu rõ Chỉ thị 45 của Bộ Chính trị về lãnh đạo bầu cử; Nghị quyết 1185 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định thành phần, cơ cấu, số lượng chất lượng, trong đó có quy định từ 5 đến 10 % đại biểu Quốc hội là đại biểu không phải đảng viên và những người ấy thì phẩm chất, đạo đức, phân bố như thế nào. Những phần tử cơ hội, bất mãn, chống đối sẽ không có đất diễn nếu người dân hiểu được tính dân chủ của cuộc bầu cử.

                                                                                                Đa21.

Ông Vương Đình Huệ đắc cử Chủ tịch Quốc hội.

Sáng 31/3/2021, Quốc hội bỏ phiếu bầu ông Vương Đình Huệ làm Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia. Nghị quyết ghi nhận kết quả bầu người lãnh đạo đứng đầu Quốc hội cũng được thông qua.

Sau khi kết quả kiểm phiếu bầu được công bố, các đại biểu Quốc hội tiếp tục biểu quyết thông qua Nghị quyết bầu Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia với tỷ lệ tán thành tuyệt đối.

bầu chủ tịch quốc hội.jpeg

Nhấn để phóng to ảnh

Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết bầu Chủ tịch Quốc hội với mức tán thành tuyệt đối.

Nghị quyết thể hiện, căn cứ kết quả bầu Chủ tịch Quốc hội, Quốc hội quyết nghị bầu ông Vương Đình Huệ - Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Bí thư Thành ủy Hà Nội vào chức vụ Chủ tịch Quốc hội khóa XIV, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia.

Như vậy, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Vương Đình Huệ chính thức trở thành Chủ tịch Quốc hội mới của Việt Nam.

Ngay sau khi Nghị quyết ghi nhận kết quả bầu Chủ tịch Quốc hội được thông qua, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân điều hành phần nghi thức tuyên thệ của tân Chủ tịch Quốc hội.

03:37
Toàn cảnh lễ tuyên thệ nhậm chức của tân Chủ tịch Quốc hội

Đội nghi lễ vào vị trí, các đại biểu Quốc hội trong hội trường Diên Hồng cùng đứng dậy chứng kiến lễ tuyên thệ nhậm chức của ông Vương Đình Huệ.

Ông Huệ bước lên lễ đài, cúi người trước cờ Tổ quốc và bước lên bục tuyên thệ. "Trước cờ đỏ sao vàng thiêng liêng, trước Quốc hội, trước đồng bào cử tri cả nước, tôi, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam xin tuyên thệ: Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân và Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam. Tôi nguyện nỗ lực rèn luyện phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó" - ông Huệ tay trái đặt trên Hiến pháp, tay phải giơ cao dõng dạc lời tuyên thệ.

Ông Vương Đình Huệ đắc cử Chủ tịch Quốc hội - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Tân Chủ tịch Quốc hội tuyên thệ nhậm chức. (Ảnh: Tiến Tuấn)

Ông Vương Đình Huệ đắc cử Chủ tịch Quốc hội - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Tân Chủ tịch Quốc hội tuyên thệ nhậm chức. (Ảnh: Tiến Tuấn)

Ông Vương Đình Huệ đắc cử Chủ tịch Quốc hội - 4

Nhấn để phóng to ảnh

Tân Chủ tịch Quốc hội tuyên thệ nhậm chức. (Ảnh: Tiến Tuấn)

Ông Vương Đình Huệ đắc cử Chủ tịch Quốc hội - 5

Nhấn để phóng to ảnh

Toàn cảnh lễ tuyên thệ. (Ảnh: Tiến Tuấn).

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tuyên bố Quốc hội ghi nhận lời tuyên thệ của tân Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ. Thay mặt các đại biểu Quốc hội, bà Ngân tặng hoa chúc mừng tân Chủ tịch Quốc hội, thể hiện sự tin tưởng của Quốc hội với người lãnh đạo mới của Quốc hội.

Ông Vương Đình Huệ đắc cử Chủ tịch Quốc hội - 6

Nhấn để phóng to ảnh

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tặng hoa chúc mừng người kế nhiệm Vương Đình Huệ. (Ảnh: Tiến Tuấn)

Ông Vương Đình Huệ sinh ngày 15/3/1957, quê Nghệ An, là Giáo sư, Tiến sĩ Kinh tế. Trước khi được bầu làm Chủ tịch Quốc hội, ông từng đảm nhiệm các chức vụ như Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Thủ đô, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội, Ủy viên Trung ương Đảng các khóa X, XI, XII, XIII, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII, XIII, đại biểu Quốc hội các khóa XIII, XIV.

Giới thiệu ông Vương Đình Huệ để Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội, UB Thường vụ Quốc hội nêu nhận xét, trong quá trình công tác, ông Vương Đình Huệ luôn chấp hành mọi sự phân công của Đảng, nỗ lực công tác, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.