Thứ Ba, 13 tháng 7, 2021

Biểu hiện mới của ‘diễn biến hòa bình”

 


"Diễn biến hòa bình" là sự thực, là thực tế, đã và đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta, không phải là một con “ngáo ộp” do chúng ta “cố tình nặn ra”, là “sản phẩm trí tuệ không có thực tế” như có những kẻ rắp tâm xuyên tạc và sự lệch lạc trong nhận thức và lập trường chính trị của một số người.

Chiêu trò ‘hạ bệ thần tượng’ và lối suy diễn chủ quan

Hiện nay, trong khi nhân dân ta đang nỗ lực đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tăng cường quốc phòng, an ninh, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình", bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, thì lại có người cho rằng “diễn biến hòa bình" là do chúng ta “cố tình nặn ra”, là “sản phẩm trí tuệ không có thực tế”; rằng, chúng ta đã cố tình thêu dệt để hù dọa nhân dân, để che đậy khuyết điểm, chứ không có “diễn biến hòa bình"! Đây là một sự hồ đồ về chính trị của một số người hay là một thủ đoạn chống phá mới của các thế lực thù địch. Có lẽ cả hai.

Cần thấy rằng, khái niệm “diễn biến hòa bình" không phải là sự “sáng tạo” của những người cộng sản, cũng không phải là con "ngáo ộp" được thêu dệt nhằm hù dọa nhân dân, mà đó là một chiến lược, là một sản phẩm của chủ nghĩa đế quốc trong mục tiêu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội. Đối với cách mạng Việt Nam,“diễn biến hòa bình” là một nguy cơ, trong tình hình hiện nay, càng được ráo riết đẩy mạnh và quyết liệt hơn với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt.

"Diễn biến hòa bình" là sự thực, là thực tế, đã và đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta, không phải là một con “ngáo ộp” do chúng ta “cố tình nặn ra”, là “sản phẩm trí tuệ không có thực tế” như có những kẻ rắp tâm xuyên tạc và sự lệch lạc trong nhận thức và lập trường chính trị của một số người.

"Diễn biến hòa bình" có hay không? Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam thực hiện đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" hay không? Đó là do yêu cầu khách quan, xuất phát trực tiếp từ chính âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch chứ không phải do Đảng Cộng sản Việt Nam "cố tình vẽ ra". Không nên suy nghĩ một cách méo mó, xuyên tạc rằng không có "diễn biến hòa bình", để rồi lên mặt khuyên nhủ Đảng và nhân dân ta "không nên chống nữa", rằng chống "diễn biến hòa bình" là "vô duyên", là "vẽ việc ra để làm".

Kêu gọi không nên chống "diễn biến hòa bình" là một luận điệu đặc biệt nguy hiểm. Đây thực sự là sự "tiếp tay" cho việc thực hiện âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch; và đó cũng là một chiêu thức mới, một thủ đoạn mới của các thế lực thù địch trong thực hiện "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng nước ta.

Âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam đến nay là nhất quán, nhưng đã có nhiều thay đổi, không còn giữ nguyên nghĩa như trước. Nó đã chuyển sang kết hợp thực hiện “diễn biến hòa bình" về tư tưởng, lý luận với “diễn biến hòa bình" trên tất cả các lĩnh vực, với tiến công về chính trị, công kích trực tiếp, trực diện vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chúng kết hợp xuyên tạc lịch sử, lên án, phủ định sự nghiệp cách mạng và các cuộc kháng chiến chống xâm lược đầy hy sinh gian khổ của nhân dân ta, với việc phủ định những giá trị hiện tại, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới, với việc làm lệch hướng tương lai phát triển của dân tộc. Những thủ đoạn tiến công đó được chúng kết hợp với việc sử dụng con bài pháp lý đòi Việt Nam phải thay đổi chế độ, chính sách, pháp luật quốc gia; gắn với những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, nhất là tình hình Biển Đông.

Chúng kết hợp đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” với việc khuyến khích, tạo điều kiện, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Những kiến nghị sửa đổi Hiến pháp, pháp luật theo quan điểm dân chủ và giá trị phương Tây, đòi hạn chế vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đòi tự do báo chí (ra báo, nhà xuất bản tư nhân…), tự do lập hội (đòi thành lập công đoàn độc lập), tự do hội họp, biểu tình, đòi xóa bỏ nhiều quy định trong Bộ luật Hình sự liên quan đến lĩnh vực an ninh quốc gia..., cho thấy ngón đòn “diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được chúng thực thi rất ráo riết và đặc biệt nguy hiểm.

Vì thế, trong bối cảnh hiện nay, nhiệm vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình” của nhân dân ta càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn. Tính phức tạp, khó khăn trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” biểu hiện ở chỗ, chúng ta khó phân định rạch ròi đâu là “diễn biến hòa bình”, đâu là những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta. Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” hiện nay là một cuộc đấu tranh mang tính tổng hợp.

Chúng ta cùng một lúc phải đối phó với nhiều thế lực thù địch, ngăn chặn đồng thời nhiều nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam, để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ công cuộc đổi mới đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân ta trong gần 70 năm qua.

Đảng và nhân dân ta vừa phải đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” vừa phải ra sức khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đặc biệt là những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Hay nói cách khác, chống “diễn biến hòa bình” phải gắn chặt với đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. 

Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” hiện nay là một cuộc đấu tranh mang tính sống còn đối với chế độ xã hội và độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của nước ta. Cuộc đấu tranh này dù có muôn vàn khó khăn, nhưng chúng ta chỉ có một sự lựa chọn, đó là: phải chiến thắng.

Muốn giành thắng lợi, trước hết chúng ta phải nỗ lực thực hiện tốt những vấn đề rất cơ bản:

Một là, giữ vững ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế.

Hai là, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Ba là, nâng cao khả năng "miễn dịch", sức đề kháng của cơ thể xã hội, của hệ thống chính trị, đặc biệt là của Đảng và cán bộ, đảng viên.

          Bốn là, thực hiện tốt vừa đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, vừa kiên quyết ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, lấy ngăn chặn "tự diễn biến", gột rửa, loại trừ cái xấu đã lây lan làm chính. 

Năm là, thực hiện thật tốt nhiệm vụ “then chốt” xây dựng Đảng mà Đại hội XI, đặc biệt Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư khóa XI của Đảng đã xác định. “Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; không dao động trong bất cứ tình huống nào” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 255). Tạo sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, nhất là xây dựng cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ.

“Diễn biến hòa bình” là sự thật và đặc biệt nguy hiểm, nhưng các thế lực thù địch có thể đạt được mục tiêu hay không, thì điều đó phụ thuộc vào chính chúng ta, vào sự khỏe mạnh, sự nỗ lực và quyết tâm của chúng ta. “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”.

                                                                                                    T3

 

Biển Đông, cuộc đấu tranh không thể khoan nhượng

 


Bên cạnh việc đấu tranh chống lại các hành động phi lý của nước lớn, chúng ta cũng cần biết bảo vệ mình, cung cấp các thông tin xác thực về những việc làm chính đáng của chúng ta, góp phần định hướng đúng cho dư luận. Cuộc chiến tranh luận trên báo chí quốc tế về tính chính đáng của các yêu sách chủ quyền trên Biển Đông đang diễn ra quyết liệt

 

Tình hình Biển Đông càng trở nên căng thẳng với nhiều diễn biến phức tạp và khó lường thì cuộc chiến thông tin về tính chính đáng của các yêu sách chủ quyền trên Biển Đông càng thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu và dư luận quốc tế.

Thời gian gần đây, thế giới lên tiếng lo ngại nhiều về những hành động lấn biển tạo đảo của Trung Quốc ở Biển Đông với quy mô và mức độ chưa từng có, nhằm hợp pháp hóa yêu sách đường 9 đoạn, đe dọa hòa bình, ổn định và an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông.

Trung Quốc đã có vài bước điều chỉnh chiến thuật như: tuyên bố sắp hoàn tất lấn biển tạo đảo, sẽ đi vào củng cố các cơ sở vừa xây dựng; phàn nàn thế giới không hiểu Trung Quốc, rằng họ là những người kiềm chế nhất và thậm chí còn là nạn nhân của các nước nhỏ như Việt Nam và Philippines; chủ động tuyên truyền đối ngoại, vận động một số bài báo ủng hộ. Cách làm này sẽ tác động tâm lý rất lớn tới độc giả nếu có những bài báo không khách quan, cung cấp thông tin không thật chính xác hay cố tình mập mờ gây hoang mang nghi ngờ, xuất hiện trên các tờ báo lớn có uy tín quốc tế.

Để đấu tranh cho sự thực, cho công lý, điều quan trọng là bên cạnh việc đấu tranh chống lại các hành động phi lý của nước lớn, chúng ta cũng cần biết bảo vệ mình, cung cấp các thông tin xác thực về những việc làm chính đáng của chúng ta, góp phần định hướng đúng cho dư luận. Chúng ta đã công khai tên 21 thực thể mà chúng ta đóng quân từ năm 1988. Chúng ta đã kiềm chế theo đúng tinh thần của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC 2002), không mở rộng chiếm đóng mới. Nhưng chúng ta chưa kịp thời thông báo chúng ta có bao nhiêu điểm đóng quân trên cùng một thực thể để một số tác giả lợi dụng tung tin Việt Nam chiếm giữ 48 thực thể trong Trường Sa, coi Việt Nam là kẻ gây hấn lớn nhất ở Biển Đông, trong khi chúng ta là bên có chủ quyền chính đáng, chúng ta tuân thủ luật quốc tế và các cam kết khu vực. Qua vụ việc này các cơ quan hữu quan, nhất là báo chí sẽ có những biện pháp kịp thời giúp độc giả đánh giá đúng hơn tình hình đầy phức tạp ở Biển Đông.

Rõ ràng đang có một cuộc chiến tranh luận trên báo chí quốc tế về tính chính đáng của các yêu sách chủ quyền trên Biển Đông, về những hành động đi ngược lại ước vọng hòa bình, ổn định và luật pháp quốc tế của khu vực và thế giới.

Để đáp ứng kịp thời nhu cầu hiểu biết của cộng đồng quốc tế, các căn cứ pháp lý lịch sử cũng như lập luận của mình, các bên tranh chấp đều có chiến lược tuyên truyền của mình. Không loại trừ một số học giả có thể được mời mọc bằng nhiều hình thức khác nhau như thông qua kênh tài trợ các công trình nghiên cứu hay fellowship (học bổng giao lưu ngắn hạn - NV), mời tham dự hội thảo có chủ đích, tạo điều kiện tiếp cận các thông tin, chứng cứ, dữ liệu, quan điểm từ phía Trung Quốc. Cũng có thể một số tác giả không nghiên cứu kỹ, sử dụng những bằng chứng của Trung Quốc mà không kiểm tra nguồn một cách rõ ràng.

Cũng có những tác giả nhìn nhận vấn đề trỗi dậy của Trung Quốc là yếu tố có lợi hơn là tranh đấu mấy hòn đá nhỏ li ti ở Biển Đông. Nỗi lo sợ Biển Đông sẽ trở thành ngòi nổ cho Thế chiến thứ ba sẽ dễ chấp nhận lập luận của Trung Quốc không muốn có thêm sự can thiệp của bên thứ ba vào tiến trình giải quyết tranh chấp.

Chúng ta cần nhìn nhận sự phức tạp và các luồng tâm lý đó trong cuộc chiến báo chí về Biển Đông. Chúng ta vui mừng vì đa số các tác giả, nhà nghiên cứu khách quan, khoa học, song cũng nhận thấy họ cũng có những hạn chế không trực tiếp nghiên cứu tài liệu bằng tiếng Trung (nhất là tiếng Trung cổ), tiếp xúc với các tư liệu Hán Nôm của Việt Nam thông qua biên dịch chưa hoàn hảo, tiếp cận các tài liệu chính thống...

Tình hình Biển Đông đang được các bên theo dõi chặt chẽ. Dù có những phản đối quốc tế hóa Biển Đông nhưng bản thân Biển Đông đã là một vấn đề quốc tế, thu hút sự quan tâm của nhiều nước, của cộng đồng quốc tế.

Các bức ảnh vệ tinh cho thấy các tàu quân sự Trung Quốc ngày càng xuất hiện nhiều hơn tại các vùng biển xa hơn, không chỉ gần bờ biển Philippines, Việt Nam mà cả Malaysia. Điều này cho thấy Trung Quốc không bao giờ từ bỏ ý định độc chiếm Biển Đông. Malaysia với chính sách ngoại giao ôn hòa cũng buộc phải lên tiếng phản đối đường 9 đoạn của Trung Quốc, cáo buộc các hành vi xâm phạm vùng biển của mình từ các tàu hải quân Trung Quốc.

Bắc Kinh đang mất dần những người bạn, mất dần lòng tin của các nước trong khu vực và ngày càng nhiều nước ý thức được rằng nếu không chung sức ngăn chặn những hành vi bất chấp luật pháp này, ngày mai bạn sẽ là nạn nhân của nó. Một bờ đê vững chãi cần phải được xây dựng và bồi đắp chống lại những cơn sóng vỗ đi ngược lại mong muốn của cộng đồng và luật pháp quốc tế.

                                                                                                      T3

  

 

VIỆT NAM-ĐẤT NƯỚC CỦA SỰ ĐẤU TRANH SINH TỒN TRƯỚC NHỮNG THẾ LỰC XÂM LƯỢC LỚN HƠN MÌNH RẤT NHIỀU LẦN!


ĐÁNH ĐUỔI PHÁP, MỸ LÀ ĐÁNH ĐUỔI NỀN VĂN MINH HAY LÀ TƯ DUY NÔ LỆ!

Trước khi trả lời câu hỏi này, xin nói một chút về khoảng thời gian cả ngàn năm Bắc thuộc, chắc chắn vào thời điểm ấy, Trung Quốc là quốc gia hùng mạnh và là nền văn minh bậc nhất thế giới. Vậy tại sao các thế hệ người Việt vẫn luôn giương cao cờ khởi nghĩa, liên tục đòi độc lập, tách ra khỏi Trung Quốc chứ không chấp nhận trở thành một phần của “Trung Hoa vĩ đại”? Liệu các thế hệ sinh sống sau thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc ấy có nói về những thế hệ trước kiểu như: “Đánh đuổi Trung Quốc là đánh đuổi nền văn minh” hay không? 

Câu trả lời chắc chắn là không rồi.


Nhưng hiện nay, dần dà, nhiều người Việt bắt đầu có xu thế biện minh, bênh vực cho Pháp, Mỹ. Rằng những việc mà người Pháp, người Mỹ làm chỉ là nhằm mục đích “khai hóa nền văn minh” và nếu không có người Pháp, người Mỹ thì Việt Nam vẫn chỉ là một quốc gia phong kiến lạc hậu, cổ hủ. 

Thực ra thì vế thứ 2 ở trên, nghe qua có vẻ đúng nhỉ? Thực chất, người Pháp là “chất xúc tác” gián tiếp khiến cho chế độ phong kiến Việt Nam đi vào đổ vỡ. Nhưng, người Pháp đến Việt Nam không phải là để “giúp đỡ”, mà đơn giản chỉ muốn Việt Nam trở thành thuộc địa Pháp, việc chế độ phong kiến Việt Nam sụp đổ là hệ quả của một chế độ thối nát, yếu kém về quân sự và kinh tế và mất quyền lãnh đạo đất nước.

Nhiều người, nhìn vào đường tàu Bắc Nam vẫn còn tồn tại và được sử dụng đến tận ngày nay, hay những công trình thời kỳ đó và đến giờ vẫn “đẹp”, những khu vực quy hoạch “đầy mảng xanh” trong nhũng tấm ảnh phục chế, và ngộ nhận, đó là “văn minh” và những gì tinh túy của người Pháp đem lại cho Việt Nam. Thực chất, cái đường tàu Bắc Nam ấy, là một con đường đau khổ, được Pháp xây dựng để khai thác khoáng sản khắp Việt Nam, di chuyển lực lượng để đàn áp các cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp cả nước. Dân Thanh Hóa có câu: “Ăn rau má, phá đường tàu” là ngụ ý cho việc người dân xứ Thanh phản đối quân Pháp bằng cách phá đường tàu. Khi một vị quan được Pháp triệu đến tra hỏi, vị quan này nói rằng: “Do dân chúng con khổ quá, mà chẳng có cái gì ăn nên đi ăn rau má, đường ray kia đẹp quá nên rau má mọc bên. Chẳng biết là của trên nên chúng con mới có chuyện phá” - Mình mượn lời từ bài hát “Tự hào quê hương Thanh Hóa” để nói rõ hơn về tích này.

Rồi những công trình đẹp mà Pháp để lại vẫn còn đến tận bây giờ, đó phải chăng là biểu hiện của “sự tự do văn minh”? Như Nhà thờ lớn chẳng hạn, cũng được xây dựng nhờ việc Pháp phá nát chùa Báo Thiên - vốn là một trong những ngôi chùa cổ kính, đồ sộ, mang bản sắc lịch sử của toàn bộ các thời kỳ phong kiến Việt Nam. Trong chùa Báo Thiên từng có tháp Báo Thiên vốn là một trong “An Nam tứ đại khí” - những bảo vật của Việt Nam được cho rằng chứa “linh khí” của người Việt, người Pháp đã đốt chùa, xây dựng Nhà thờ Lớn - muốn áp đặt một công trình của một tôn giáo không phải là tôn giáo truyền thống của người Việt ở một khu đất linh thiêng của Thăng Long cũ.

Rồi nhắc về chùa Một Cột, một trong những biểu tượng của Hà Nội, cũng đã bị những đội quân người Việt đánh thuê cho Pháp đặt mìn cho nổ trước khi chúng cút chạy khỏi Hà Nội. Những kẻ đặt mìn hạ gục công trình ngàn năm tuổi này là những tên lính vốn là linh mục theo Pháp từ lâu. Hoặc như cầu Long Biên, vốn cũng là một công cụ khai thác thuộc địa của Pháp, nhưng cầu Long Biên lại trở thành một “chứng nhân lịch sử” cho công cuộc kiến thiết, bảo vệ Tổ Quốc.

Những gì người Pháp đã xây dựng, không có nghĩa là để giúp người Việt và càng không có nghĩa lý gì trong việc “khai hóa văn minh”. Có thể ví dụ bằng một câu chuyện thế này: 

Bây giờ, anh Nguyễn Văn A có một miếng đất, trên miếng đất đó có nhà thờ Tổ, một thằng chết tiệt nào đó đến đó đến chiếm đất, sau đó đập bỏ nhà thờ Tổ, đào mả ông cha, dựng lên một căn nhà hai tầng, sau đó ép anh Nguyễn Văn A vào làm tạp vụ. Anh Nguyễn Văn A tỏ ra biết ơn thằng chết tiệt đó, và nghĩ rằng, chính thằng chết tiệt đó đã giúp đỡ mình phá đi những điều cũ kỹ, lạc hậu và mang “văn minh” đến?

Những di sản của những thế hệ cha ông đi trước, như chùa Báo Thiên, chùa Một Cột đã bị phá hủy. Pháp sẵn sàng đặt một phiên bản tượng Nữ Thần Tự Do thay cho Tháp Rùa, đó là văn minh à? Hay là thứ văn minh ngoại lai, dị hợm đạp đổ lên những giá trị truyền thống dân tộc. Mà còn hàng ngàn bảo vật Việt Nam, được Pháp cướp trắng và đem trưng bày tại các bảo tàng tại Pháp hiện tại. Nhưng với lũ mất gốc, sẽ nói là nhờ Pháp mà những bảo vật đó được biết đến nhiều hơn.


Nhắc đến Mỹ và cuộc chiến tại Việt Nam, một nền "văn minh" mà nhiều người thèm muốn, đó kiểu như là một hình mẫu Hàn Quốc mà một MC chuyên kể chuyện ma luôn ảo tưởng.

Nhìn về Hàn Quốc, mà quên rằng, có rất nhiều đồng minh khác, từng theo Mỹ, như anh bạn hàng xóm Philippines và Thái Lan, có giàu có không? Có được như Hàn Quốc không? Hay như Iraq, Iran, Palestin, từng thân Mỹ lắm, nhưng rồi lại trở thành những kẻ thù. Mà còn cả Đài Loan nữa, cũng từng có quan hệ với Mỹ, rồi đùng cái, Mỹ đẩy Đài Loan ra cho Trung Quốc thế chân trong "Liên Hợp Quốc".

Là một quốc gia nhỏ bé, Việt Nam cũng muốn hợp tác và phát triển, và đáp lại lời mời mong muốn trở thành bạn bè từ chủ tịch Hồ Chí Minh, các quốc gia văn minh đó, như Pháp và Mỹ, đã làm gì? Xua quân đến đốt phá, đem chất độc màu da cam đến, dùng bom Napalm, ném bom rải thảm miền Bắc, rồi chia cách Việt Nam. Đó là cách hành xử của những quốc gia "văn minh" à? 

Có hàng trăm quốc gia đã biến mất trên tiến trình lịch sử thế giới, thậm chí có nhiều quốc gia hùng mạnh, đế quốc, có thể kể đến như Đế chế Khơ Me, La Mã Thần Thánh, Ba Tư... Thật may vì bằng những gì thế hệ cũ đã làm được, Việt Nam đã độc lập, toàn vẹn và tồn tại đến bây giờ, nhưng, vẫn có những ngoại lệ, mong muốn trở thành nô lệ cho các quốc gia khác.

Hiện nay, vẫn còn hơn chục quốc gia châu Phi phải nộp "thuế thuộc địa" cho Pháp và bằng ấy quốc gia đó, có được hưởng sự văn minh của người Pháp không? Hay vẫn là "lục địa đen" - ở đây không phải là lục địa của người da đen, mà là lục địa có một lịch sử đen tối, bị nô lệ và đến giờ vẫn phải chịu áp bức. Rồi như Philippines, từng bỏ phiếu mong muốn trở thành một bang của Hoa Kỳ và thế nào?

Tư duy nô lệ hình thành ra những con người nô lệ với suy nghĩ nô lệ và hành động nô lệ. Thay vì độc lập, tự chủ, tự do, thì luôn mong ngóng được ban phát "văn minh, văn hóa"? Không làm, mà muốn có ăn?

Làm chủ cuộc đời không thích, lại thích sống kiếp sống mặc bay phó mặc cho kẻ khác. Rồi hàng triệu người Việt đã hi sinh đánh đuổi các nền văn minh đó, đem lại độc lập, tự do, chấm dứt chiến tranh, giờ trở thành những cái chết cái chết vô nghĩa hay sao?

Bảo khai hóa văn minh, mà lại đốt chùa, phá làng xóm, chia cắt lãnh thổ, coi người dân là nô lệ, đem bom đạn, lính đánh thuế đến, hãm hiếp, tra tấn, tàn sát? Vậy là mà khai hóa văn minh?


Yêu nước ST.

TẠI SAO SUỐT NGÀY VIỆT NAM KỂ CHUYỆN ĐÁNH ĐUỔI GIẶC?


- Cháu hỏi ông: Ông ơi, Tại sao Ông hay kể về chuyện đánh đuổi giặc mà không phải là chuyện làm giàu? Trong khi ở những nước bên Tây họ chỉ kể về chuyện làm giàu mà ít khi kể chuyện đánh giặc?

- Ông: Cháu thử nghĩ xem giặc có để cho đất nước mình yên lành làm ăn đâu mà có chuyện để kể? Muốn làm ăn phát triển thì đất nước phải yên bình phải không cháu? Mà muốn yên bình trong khi giặc cứ xâm lược thì cháu phải tính sao?

- Cháu: Thì phải đánh giặc trước ạ.

- Ông: Đúng vậy, giả sử cháu đang ngồi học mà bị đàn ong lao vào đốt liệu cháu có học giỏi được không? Cháu phải làm gì?

- Cháu: Dạ cháu sẽ đuổi đàn ong đi để cháu được ngồi học ạ.

- Ông: Đúng vậy, giặc nó cũng như đàn ong. Nếu cháu không đánh đuổi chúng thì cháu sẽ không thể ngồi yên mà tập trung học được. Vì vậy, đất nước chúng ta từ xưa tới nay sống bên nước lớn thường bị xâm lược, chúng ta muốn giàu mạnh thì chúng ta phải có hoà bình; cũng như cháu muốn học giỏi thì phải tập trung học trong không gian yên tĩnh...

Các nước bên Tây họ thường đi bắt nạt, xâm lược các nước khác, để lấy cắp tài nguyên về làm giàu cho nước họ, lịch sử của họ phần nhiều là đi xâm lược giết người, cướp của. Vì vậy, họ không khoe khoang tiền bạc thì chả nhẽ họ lại đi khoe chuyện họ đi xâm lược ăn cướp hay sao?

Cháu thử nghĩ xem, nếu những nước bên Tây đó mà cũng bị xâm lược như đất nước ta, liệu họ có thời gian để làm ăn và làm giàu không?

Họ không thể kể chuyện xâm lược ăn cướp vì sợ nhân loại cười chê, thế nên, ngoài chuyện khoe giàu ra thì họ còn gì để khoe nữa hả cháu ?

Vì vậy, cháu đừng thấy nước họ giàu mà nghĩ rằng nước mình hèn kém, bởi nếu nước ta không phải đổ sức người sức của chống giặc, nếu nhân dân ta được yên ổn làm ăn, chắc gì chúng ta đã phải nghèo hơn họ?!

Cháu phải nhớ, ông thường kể chuyện đánh đuổi giặc cho cháu nghe, là muốn cháu hiểu rằng để có cuộc sống yên ổn hoà bình như ngày hôm nay, đã có biết bao nhiêu người từ bao đời nay phải đổ máu hy sinh. Cháu hãy nhớ về những công ơn đó... 

- Cháu : Vâng thưa Ông, cháu đã hiểu rồi ạ./.


Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ BÔI NHỌ, XUYÊN TẠC TÌNH ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 

          Những ai đã đọc bài viết “Cắt cơm" của fb TRAN THAM, được chia sẻ trên trang facebook Việt Tân sẽ không khỏi bất bình với những lời lẽ, ngôn từ hết sức hàm hồ, nhảm nhí của một kẻ tự xưng là cựu chiến binh kể về việc “đánh đập tân binh” trong Quân đội. Mục đích của bài viết là xuyên tạc, bịa đặt, kích động, chia rẽ mối đoàn kết cán binh, tình đồng chí, đồng đội, khi cho rằng: “những gì tốt đẹp như người ta vẫn ca tụng chỉ là sự mỵ dân mà thôi”, kích động sự phẫn nộ trong quần chúng nhân dân, lái dư luận có cái nhìn ác cảm về bản chất, truyền thống, tinh thần đoàn kết, môi trường sống trong Quân đội, làm mất uy tín, vai trò của Quân đội đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Mục đích cuối cùng là gây chia rẽ Quân đội với nhân dân, làm người dân thiếu niềm tin vào Quân đội, không muốn cho con, em mình thực hiện nghĩa vụ quân sự.

          Thực tế là: Trong suốt hơn 76 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, truyền thống đoàn kết, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn như anh em ruột thịt giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa các chiến sĩ với nhau vẫn luôn được giữ vững và không ngừng củng cố, trở thành giá trị nhân văn của Quân đội ta, là yếu tố cấu thành và tạo nên sức mạnh của Quân đội, xây nên bản chất cách mạng của đội quân cách mạng. Thực tế đó không thể phủ nhận và luôn ngời sáng qua các thời kỳ cách mạng.

          Truyền thống đoàn kết, tình đồng chí, đồng đội bắt nguồn từ sự thống nhất các lợi ích giai cấp của người lao động. Trong từ “đồng chí”, “đồng đội”, sự bình đẳng về chính trị, về nghĩa vụ quân nhân, tình anh em, tình bạn chiến đấu được bày tỏ sâu sắc và vô cùng súc tích. Trong Quân đội, do tính chất và ý nghĩa xã hội - chính trị của hoạt động quân sự, tình đồng chí, đồng đội có điều kiện củng cố vững chắc và không ngừng phát triển; trở thành đặc trưng không thể thiếu trong lối sống của mỗi quân nhân và tập thể quân nhân. Biểu hiện của tình đồng chí, đồng đội là sự tin cậy lẫn nhau và quên mình vì nhau, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau lúc thường cũng như lúc chiến đấu. Với mỗi người quân nhân, tình đồng chí, đồng đội còn biểu hiện ở “tinh thần đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể”, nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội, nhường cơm sẻ áo, chia sẻ với nhau những nỗi vui buồn; ở sự thẳng thắn, trung thực; không làm ngơ trước những thiếu sót, khuyết điểm trong thái độ, hành vi của đồng đội; biết ngăn đồng chí khỏi những việc làm sai trái; biết giữ nguyên tắc với mình và những người xung quanh, trong việc lớn cũng như việc nhỏ...

          Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, trong bất kỳ tổ chức chính trị, xã hội, môi trường sống nào cũng có người như thế này, thế khác, mặc dù có các quy định kỷ luật nghiêm minh nhưng vẫn có một số ít cán bộ, chiến sỹ vì những lý do khác nhau đã có biểu hiện mất đoàn kết, vi phạm kỷ luật, vi phạm phẩm chất, đạo đức, lối sống,… nhưng các vụ việc vi phạm xảy ra đều được xử lý nghiêm minh đúng pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, không hề có “vùng cấm”, không hề có chuyện bao che, bỏ qua sai phạm của bất kỳ ai. Quán triệt chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, thời gian qua, các đơn vị đẩy mạnh quán triệt sâu sắc các chỉ thị, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu và các cơ quan chức năng trong công tác quản lý, giáo dục bộ đội; tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc các sự việc đã xảy ra, coi đó là những bài học sâu sắc về xây dựng mối quan hệ đoàn kết cán-binh, tình đồng chí, đồng đội. Làm tốt công tác quản lý tình hình tư tưởng, duy trì nghiêm kỷ luật trong đơn vị, xây dựng tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong thực hiện nhiệm vụ. Thường xuyên rà soát, chấn chỉnh, xử lý kịp thời các hiện tượng bất thường, vi phạm trong đơn vị. Đồng thời tạo ra bầu không khí thực sự dân chủ, thân thiện ngay từ ngày đầu các chiến sĩ mới đặt chân về đơn vị, tạo ra niềm tin, ấn tượng tốt đẹp cho bộ đội về một môi trường chuẩn mực trong quân đội.

          Khi chúng ta xây dựng được một đơn vị, một tập thể gắn bó, đoàn kết, trên-dưới thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, cùng vượt qua khó khăn, cùng tiến bộ là đã vừa góp phần xây dựng, bồi đắp phẩm chất, truyền thống của Quân đội nhân dân, làm sáng rõ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, đồng thời tạo ra liều thuốc đặc hiệu chống lại mọi sự xuyên tạc, mọi mưu mô, thủ đoạn hòng bôi nhọ hình ảnh và bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân Việt Nam anh hùng./.

 

TRÁI ĐẮNG CHO NHỮNG KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC LÀM TAY SAI CHO BỌN PHẢN ĐỘNG.

 

     Chắc hẳn chúng ta không xa lạ gì với những cái tên như: Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Đài... từng được sống trong ảo vọng, được "Việt Tân" tung hô hết mực, với ý đồ nuôi dưỡng thành những "ngọn cờ" khuấy đảo thành "phong trào chống phá ở trong nước".

     Cái giá của việc quay lưng lại với Tổ quốc vô cùng khủng khiếp. Họ tự đánh mất bản thân mình, đánh mất gia đình, đánh mất tương lai, đánh mất con đường quay trở lại quê hương, đánh mất cơ hội được hưởng cuộc sống an yên trên Tổ quốc mình.

     Từ những lời hứa viển vông của "Việt Tân" về "cơm no áo ấm, về tấm thẻ xanh đi Mỹ, đi Úc”, rằng “cứ chống đối đi, vào tù sẽ có người bảo vệ", từ những cái nhìn thiển cận về chính trị, mờ mắt trước những lợi ích nhất thời. Hàng loạt đối tượng đã sa chân mà không có đường trở lại. Những con người ấy tự biến mình thành QUÂN CỜ chứ không phải NGỌN CỜ của những tổ chức phản động đầu sỏ như "Việt Tân, CPQGVNLT". Chúng điên cuồng thực hiện mọi hành vi chống phá bằng hàng loạt thủ đoạn nham hiểm, thậm chí còn âm mưu thực hiện khủng bố bằng bom. Đương nhiên, đã là quân cờ thì chúng chỉ được sử dụng khi còn giá trị. Hết giá trị thì bị vứt bỏ không thương tiếc.

      Thực tế là, với những "thân phận chống đối" do "Việt Tân" gây dựng, số này được cấp tiền trong thời gian đầu để thực hiện chỉ đạo của "Việt Tân" là kích động, tổ chức các hoạt động tụ tập, biểu tình, gây rối an ninh trật tự, khiếu kiện, tuyên truyền phá hoại tư tưởng ở trong nước, dùng số này "làm nhân chứng sống" để xuyên tạc tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền ở trong nước, lấy cớ để Mỹ, các nước phương Tây can thiệp vào công việc nội bộ của ta. Khi số này bị bắt, xử lý, "Việt Tân" sẽ coi đây là cơ hội dùng hình ảnh của họ để xuyên tạc, rêu rao rằng "Việt Nam đàn áp người yêu nước", yêu cầu các nước can thiệp để đưa các “tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị” ra nước ngoài và làm bằng chứng cho các kẻ chống đối ở trong nước tin tưởng rằng chỉ cần chúng làm theo sự sắp đặt của Việt Tân thì chắc chắn chúng sẽ nhận được sự bảo vệ và càng điên cuồng chống đối mạnh hơn nữa. Nhưng, đời không như mơ, nhiều kẻ từng “vang danh” chống đối ở trong nước, được các tổ chức phản động, khủng bố tung hô thì khi ra nước ngoài đều trở nên mờ nhạt, vô danh, sống cuộc đời lay lắt vì đơn giản là chúng không còn giá trị lợi dụng, không còn khả năng chống phá Việt Nam nữa, các tổ chức phản động, khủng bố sẽ quay lưng đi tìm con mồi béo bở hơn, có tiềm năng hơn ở trong nước thay vì tiếp tục bơm tiền cho chúng kêu gào trên mạng. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Đài hay Cù Huy Hà Vũ là một ví dụ điển hình!

     Đối với những kẻ chưa muốn "lang thang nơi đất khách" cố bám trụ để chống đối ở trong nước như: Lê Văn Lượng, Trần Huỳnh Duy Thức...đều đã lĩnh bản án đích đáng của Toà án, mới đây thôi Hạnh libety, Dũng vova đều đã bị bắt giữ, bị truy tố theo quy định của pháp luật, chắc chắn bản án cho chúng là không hề nhẹ!

     Còn nhiều "mảnh đời tráng lệ" khác nữa mà chúng tôi không liệt kê ở đây, nhưng chắc chắn rằng kết cục cho những kẻ phản bội tổ quốc đều giống nhau đó là những ngày tháng tự ăn năn, hối lỗi trong nhà gian, đó là sự dằn vặt, hắt hủi, khinh rẻ quân bán nước của cộng đồng, đó là những tương lai tha hương nơi đất khách quê người, sống lang thang mà không có ngày trở về đất mẹ.

     Nên nhớ "Làm người có ích cống hiến cho xã hội, xây dựng đất nước cần một sự cố gắng, nỗ lực và là một chặng đường dài, nhưng làm được điều ấy thì không những người đó sẽ có tương lai tươi sáng mà còn lưu lại tiếng thơm muôn đời, ngược lại, nếu muốn làm những hạng bán nước cầu vinh như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống thì rất đơn giản, có thể có những lợi ích đạt được nhưng tiếng xấu sẽ truyền mãi về sau, bị người đời coi rẻ”.

     Phản bội Tổ quốc, phản bội Nhân dân không bao giờ có kết cục tốt đẹp./.


 

Tự do ngôn luận trong quan hệ với luật pháp


          Tạo điều kiện cho công dân thụ hưởng quyền tự do ngôn luận, nhiều năm qua Đảng và Nhà nước Việt Nam không chỉ chú trọng đầu tư phát triển lĩnh vực báo chí, truyền thông, mà còn nỗ lực hoàn thiện hệ thống luật pháp để bảo vệ quyền tự do ngôn luận không bị xâm phạm, lợi dụng.

         

          Cùng với đó, các cơ quan chức năng cũng xây dựng và công bố các văn bản có tính chất khuyến cáo, mà mới đây là Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành nhằm giúp mọi công dân bảo đảm quyền tự do ngôn luận, đồng thời thể hiện ý thức trách nhiệm, giữ gìn thuần phong mỹ tục, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

          Tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người. Ở Việt Nam, Điều 25 của Hiến pháp năm 2013 khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận đồng thời nhấn mạnh “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Điều đó là tương ứng với yêu cầu được đặt ra trong các văn bản quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.

          Như: Điều 19 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (Tuyên ngôn) xác định mọi người đều có quyền tự do quan niệm, tự do phát biểu quan điểm, tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tin tức, ý kiến bằng phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia; đồng thời, Điều 29 Tuyên ngôn khẳng định khi thực hiện quyền này, mọi người phải tuân thủ những hạn chế do luật định nhằm bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng quyền của người khác, đáp ứng các đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.

          Tương tự, khoản 2 Điều 19 Công ước Quốc tế về các quyền Chính trị và Dân sự khẳng định “Mọi người có quyền tự do ngôn luận”, đồng thời khoản 3 Điều 19 nhấn mạnh việc thực hiện quyền này kèm theo nghĩa vụ, trách nhiệm đặc biệt, phải chịu một số hạn chế được quy định trong pháp luật để tôn trọng quyền, uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức...

          Trong bối cảnh internet - nổi lên là mạng xã hội phát triển nhanh chóng song rất phức tạp, để quyền tự do ngôn luận của người dân được thực thi nghiêm túc và toàn diện, các luật, văn bản dưới luật về tự do ngôn luận đã ngày càng được hoàn thiện để vừa bảo đảm quyền của công dân, vừa giúp quyền đó thực hiện trên cơ sở luật pháp.

          Cụ thể như: Luật Báo chí, Luật Tiếp cận thông tin, Luật An ninh mạng, Bộ luật Hình sự (với Điều 117 “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, Điều 155 “Tội làm nhục người khác”, Điều 156 “Tội vu khống”, Điều 167 “Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…”, Điều 331 “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”…), Luật Viễn thông (Điều 12 “Các hành vi bị cấm trong hoạt động viễn thông” có khoản 4 là “Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân”), Bộ luật Dân sự (Điều 32 về “Quyền của cá nhân đối với hình ảnh”, Điều 34 về “Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín”…); Nghị định 72/2013/NĐ-CP về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng”, Nghị định 15/2020/NĐ-CP “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử”… Để hưởng ứng, năm 2016, Hội Nhà báo Việt Nam đã ban hành “10 điều Quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam”, đến năm 2018, Hội Nhà báo tiếp tục ban hành “Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam”.

          Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, khi internet và các mạng xã hội phát triển với tốc độ chóng mặt, thì không chỉ Việt Nam mà các nước trên thế giới đều phải đối diện với những thách thức đến từ sự phức tạp, khó kiểm soát về thông tin có nguồn gốc từ quan điểm coi tự do ngôn luận trên mạng xã hội là tuyệt đối, không có giới hạn. Xét từ quan hệ bản chất - hiện tượng, tự do - tất yếu, khách quan - chủ quan, trong rất nhiều trường hợp nếu không vượt qua, nếu không chế định được các thách thức, mọi người đều có thể bị xúc phạm, tiến công trên mạng xã hội mà khó có cơ hội đòi lại danh dự và công bằng. Thậm chí ở tầm quốc gia cũng có thể nguy cơ rơi vào tình trạng hỗn loạn về thông tin - yếu tố có thể gây rối loạn nhân tâm, rối loạn xã hội.

          Vì thế, không chỉ Việt Nam, mà các nước trên thế giới cũng đều có biện pháp kiên quyết về pháp luật, vừa khuyến cáo công dân ứng xử văn minh trên mạng xã hội, để tự do ngôn luận vận hành tích cực, đáp ứng yêu cầu phát triển lành mạnh của xã hội, con người. Căn cứ sự lựa chọn đường hướng phát triển, truyền thống văn hóa, điều kiện, bối cảnh cụ thể,… mà mỗi quốc gia đều xây dựng hệ thống tiêu chí luật pháp riêng về tự do ngôn luận cho đất nước mình.

          Như tại Singapore, với luật Bảo vệ khỏi sự thao túng và lừa dối trực tuyến, tin giả (fake news) được coi là đi ngược lợi ích và ổn định cộng đồng, làm tổn hại an ninh và an toàn cộng đồng, làm tổn hại sức khỏe, kích động sự hận thù giữa các nhóm xã hội, suy giảm niềm tin vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, làm tổn hại quan hệ giữa Singapore với các quốc gia khác; nếu bị phát hiện đưa tin giả lên mạng xã hội, khi nhà chức trách yêu cầu cải chính mà không chấp hành, có thể sẽ bị phạt đến 20.000 đô-la Singapore hoặc 12 tháng tù (hoặc cả hai). Singapore cũng có quy định về việc nói xấu, phỉ báng, vu khống trong sinh hoạt hằng ngày và trên mạng xã hội sẽ phải đối diện án phạt đến 100.000 đô-la Singapore hoặc phạt tù tới 3 năm (hoặc cả hai); tội vu khống, nói xấu được áp dụng mức phạt đến 20.000 đô-la Singapore hoặc phạt tù 12 tháng (hoặc cả hai).

          Ở Mỹ, giới hạn về tự do ngôn luận thể hiện qua án lệ của tòa án, cho phép chính quyền có quyền ngăn chặn, trừng phạt phát ngôn có tính khiêu dâm, phỉ báng, tục tĩu, xúc phạm, gây hấn. Tối cao pháp viện Mỹ đã khẳng định tự do ngôn luận không có nghĩa là có quyền bịa chuyện vu khống, phỉ báng cá nhân. Ở Pháp, Đức,… các bộ luật liên quan tự do ngôn luận đều đặt ra những giới hạn, chế tài nghiêm khắc đối với hành vi lạm dụng tự do ngôn luận làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, đồng thời chống lại việc vu khống, bôi nhọ, phân biệt chủng tộc, tôn giáo, kích động bạo lực, gây hận thù, xâm phạm đời tư cá nhân... Việc bày tỏ quan điểm trên internet cũng chịu sự điều chỉnh của luật báo chí.

          Ngoài ra còn có rất nhiều những quy định, quy tắc mang tính chế tài khác như Quy tắc hành nghề cho các nhà cung cấp nền tảng truyền thông xã hội trực tuyến ở Anh; Bộ Quy tắc ứng xử trên truyền thông xã hội và bình luận trực tuyến ở Australia... Không chỉ mỗi quốc gia riêng biệt, Liên minh châu Âu (EU) cũng ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên internet, Facebook, Twitter, Google cũng đã hỗ trợ thiết lập Bộ Quy tắc ứng xử với cam kết bảo đảm tiếp cận nhanh chóng, đánh dấu và gỡ bỏ các phát ngôn thù địch cùng nội dung bất hợp pháp trên các nền tảng của họ. Đến năm 2020, mạng xã hội TikTok cũng đã gia nhập Bộ Quy tắc ứng xử này.

          Tại Việt Nam dù đã có những quy định luật pháp cụ thể, các cơ quan chức năng đã nhiều lần khuyến cáo, và nhiều phát ngôn, hành vi vi phạm bị xử lý nghiêm khắc, song gần đây tình trạng sai phạm trong phát ngôn, bình luận, đưa tin, đề cập và bàn luận về tổ chức hoặc người khác trên một số mạng xã hội đang có chiều hướng gia tăng, thậm chí diễn ra khá phức tạp.

          Trong khi nhiều người Việt Nam không phân biệt lứa tuổi, giới tính, sắc tộc, học vấn, vùng miền,… sử dụng mạng xã hội làm phương tiện kết nối với người thân, bạn bè cùng sở thích để chia sẻ, tâm sự, trao đổi, học hỏi, giúp đỡ trau dồi tri thức, truyền bá và nhân rộng các giá trị chân - thiện - mỹ,… thì vẫn còn không ít cá nhân đã ứng xử tùy tiện, thiếu văn hóa thậm chí tiêu cực trên mạng xã hội, khiến dư luận xã hội không khỏi bất bình, lên tiếng gay gắt. Dường như các công dân đó lầm tưởng mạng xã hội là nơi tự do ngôn luận không có giới hạn, không ở trong phạm vi hiệu lực của luật pháp quốc gia, không liên quan đến chuẩn mực văn hóa cộng đồng, nên họ ứng xử bất chấp luật pháp, chuẩn mực văn hóa? Rồi khi cơ quan chức năng khuyến cáo, xử lý, họ lại lớn tiếng cho rằng quyền tự do ngôn luận bị xâm phạm, tạo cớ để kẻ xấu lợi dụng vu cáo Việt Nam!

          Về bản chất, khi đưa ra ý kiến, bình luận, chia sẻ nội dung,… trên mạng xã hội là tổ chức, cá nhân đã thực hiện một hành vi liên quan tự do ngôn luận. Ý kiến, bình luận, chia sẻ,… có ý nghĩa tích cực hay tiêu cực, văn hóa hay phản văn hóa, đều trực tiếp tác động đến người xem, nghe. Như vậy, hành vi nêu trên không còn ở trong giới hạn phạm vi cá nhân, mà là hoạt động cộng đồng, vì thế phải tuân thủ những giới hạn mà luật pháp cho phép. Vượt qua giới hạn đó, tổ chức, cá nhân sẽ tự đẩy mình đến chỗ vi phạm pháp luật, nên cần được khuyến cáo để tự điều chỉnh.

          Vì thế việc Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội (Bộ Quy tắc) với những tiêu chí: “tôn trọng, tuân thủ pháp luật; lành mạnh; an toàn bảo mật thông tin; trách nhiệm” là cần thiết, phù hợp. Cũng cần lưu ý, dù các tiêu chí không kết hợp yêu cầu về thưởng - phạt, chỉ là khuyến cáo nhưng từ ý thức trách nhiệm của công dân cũng như với cộng đồng, nếu mọi người tham gia mạng xã hội đều ứng xử theo tiêu chí của Bộ Quy tắc sẽ góp phần quan trọng để xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh tại Việt Nam.

 

Hậu duệ và trí tuệ

Nhiều năm nay, nói về hiện tượng tiêu cực trong công tác đề bạt, bổ nhiệm, tuyển chọn cán bộ của ta trong xã hội đã lưu truyền câu vè: “Thứ nhất quan hệ/ Thứ nhì tiền tệ/ Thứ ba hậu duệ/ Thứ tư trí tuệ”. Thật ra, câu vè này còn có tới mấy dị bản. Thí dụ: Dị bản 1, “Thứ nhất tiền tệ/ Thứ nhì hậu duệ/ Thứ ba đồ đệ/ Thứ tư trí tuệ”. Dị bản 2, “Thứ nhất hậu duệ/ Thứ nhì quan hệ/ Thứ ba tiền tệ/ Thứ tư trí tuệ”. Điều đáng chú ý là ở tất cả các dị bản đó, trí tuệ đều bị xếp ở cuối bảng tổng sắp. Với các dị bản nêu trên, theo tôi, dị bản 2 xem ra là phù hợp nhất với những hiện tượng có trong thực tế của nước ta hiện nay. Bởi vì, dù có quan hệ rộng rãi hay có nhiều tiền bạc đến mấy thì những cán bộ trẻ chưa đầy 30 tuổi, rất thiếu vốn kiến thức chuyên ngành và thiếu cả kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, không thể bỗng chốc nhảy phóc lên tới chức vụ trưởng, cục trưởng, thứ trưởng, bí thư, chủ tịch cấp huyện, cấp tỉnh hay tổng giám đốc một tổng công ty cực lớn có tới mấy nghìn cán bộ, công nhân viên nếu không phải là “con, cháu các cụ”. Vì thế, người ta đưa hậu duệ lên đầu bảng tổng sắp là rất có lý. Hậu duệ ở đây, dân gian thường gọi là lớp người thuộc “4c”: “con, cháu các cụ”. Người Nhật có câu: “Quan hệ tốt coi như đã hoàn thành tới 70% công việc”. Vì thế, quan hệ được xếp ở vị trí thứ hai. Khái niệm quan hệ mà người Nhật nói chủ yếu là quan hệ giao tiếp, ứng xử; nhưng ở Việt Nam chủ yếu lại là quan hệ bà con, họ hàng hay bạn bè thân thiết, thậm chí là quan hệ theo nhóm lợi ích. Dù giao tiếp, ứng xử giỏi đến mấy; dù có là quan hệ bà con, họ hàng hay bạn bè thân thiết với những cán bộ “cốp” mà thiếu tiền thì nhiều khi cũng không được việc. Vì thế, trong bảng tổng sắp, tiền tệ được xếp ở vị trí thứ ba. Còn trí tuệ? Xin mời xuống cuối bảng. Tôi biết, có không ít sinh viên học rất giỏi ở các trường đại học danh tiếng tại Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a,... nhưng không phải là “con, cháu các cụ”; tiền không nhiều; quan hệ lại không rộng rãi, không khôn khéo, hoặc không được những người thân, quen có địa vị cao trong xã hội giới thiệu thì vẫn cứ lang thang, thất nghiệp. Tài năng và trí tuệ của các em chẳng có nghĩa lý gì. Từ một số hiện tượng nêu trên, tôi xin nêu ra ba trường hợp với mong muốn cùng độc giả trao đổi. Một là, nếu “con, cháu các cụ” thật sự có năng lực và phẩm chất tốt thì cho dù họ còn rất trẻ cũng xứng đáng được giao những chức vụ quan trọng, và chúng ta phải mừng vì đó cũng là hiện tượng “hổ phụ sinh hổ tử”. Hai là, nếu “các cụ” đặt con, cháu mình vào những chiếc ghế đầy quyền lực, nhưng thấy họ không đủ năng lực và phẩm chất để đảm đương công việc, “các cụ” lại tỉnh táo động viên, khuyên bảo họ từ chức để người khác làm thay. Trường hợp này đương nhiên không thể khen, song cũng không đáng trách. Ba là, “các cụ” bế con, cháu mình lên đặt vào những chiếc ghế đầy quyền lực, nhưng khi thấy con, cháu không đủ năng lực và phẩm chất đảm đương công việc mà “các cụ” vẫn “cố đấm ăn xôi”, quyết dùng ảnh hưởng của mình để giữ ghế cho họ. Trường hợp này chẳng những đáng phê phán mà còn phải có hình thức kỷ luật thích hợp; bởi vì, như vậy rõ ràng là “các cụ” đã vi phạm nghiêm trọng Quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về những điều đảng viên không được làm”. Các cụ ta từ xưa đã tổng kết: “cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm”. Thâm thúy quá!

Hội chứng “Bắn chỉ thiên”

Nói chung thì cơ quan nào cũng có quy chế, nội quy, quy định hoạt động, được tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể cụ thể hóa từ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của các đoàn thể chính trị - xã hội. Hằng năm, tổ chức đảng, công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh còn phát động các phong trào thi đua, ký kết giao ước, cam kết thực hiện đến từng đảng viên, hội viên, đoàn viên, người lao động. Nếu ai không thực hiện đúng cam kết thì trừ vào kết quả thi đua cuối năm. Vậy mà, ở không ít cơ quan, vài việc cỏn con liên quan đến sinh hoạt hằng ngày nhưng chẳng mấy khi thực hiện được trọn vẹn, năm nào cũng phải nhắc nhở. Đó là việc thực hiện: 1- Ra vào cơ quan và trong lúc làm việc tất cả mọi người phải đeo thẻ có dán ảnh, ghi tên, chức danh cụ thể; 2- Ra vào cơ quan tất cả mọi người phải xuống xe, tắt máy, dắt bộ; 3- Ra khỏi phòng làm việc phải tắt điện, tắt quạt, tắt điều hòa không khí; 4- Cấm hút thuốc lá trong cơ quan. Thường thì bao giờ cũng được thời gian đầu, sau đó vì nhiều lý do, không ít cán bộ, công chức, người lao động không đeo thẻ khi ra, vào và trong thời gian làm việc ở cơ quan; có những người cứ phóng thẳng xe khi ra, vào, chả mấy khi xuống xe, lại càng không bao giờ tắt máy; nhiều cán bộ, công chức khi ra khỏi phòng, thậm chí, khi cơ quan lên hội trường họp hết, nhiều phòng làm việc điện còn sáng choang, điều hòa vẫn chạy ù ù; ở chân các cầu thang, trong khu vệ sinh, vẫn thấy vương vãi những mẩu thuốc lá. Mỗi lần sơ kết, tổng kết công tác hay hội nghị tại cơ quan, những vi phạm quy định, hạn chế, thiếu sót cũng được chỉ ra trong văn bản rằng “có những đơn vị”; “có những đồng chí”; “một số cán bộ, đảng viên”; “đôi khi”; “có nơi, có lúc”... nhưng không có địa chỉ đơn vị, cá nhân người vi phạm cụ thể, mặc dù trong cơ quan không lấy gì làm đông người lắm và hoàn toàn có thể chỉ đích danh từng đơn vị, cá nhân vi phạm. Chính vì vậy, có người trong cơ quan gọi hiện tượng này là “hội chứng bắn chỉ thiên”. Vì là “bắn chỉ thiên” chỉ để cảnh báo, không trúng vào ai, cho nên dần dần, nếu có ai vi phạm quy định, tuy có nghe thấy “tiếng súng” này nhưng họ cũng không sợ vì có nhằm cụ thể vào ai bao giờ đâu. Đi tìm nguyên nhân của “hội chứng” này, anh em trong cơ quan nói nửa đùa nửa thật mà rằng: - Các “sếp” sợ “bắn” nhầm vào “sếp”; “vuốt mặt cũng phải nể mũi chứ”! Hóa ra, trong việc thực hiện các quy định nói trên, không ít “sếp” là thủ trưởng, thủ phó cơ quan, đơn vị rồi cả người đứng đầu, đứng thứ các đoàn thể ở cơ quan cũng vi phạm, trong đó phổ biến nhất là không đeo thẻ, không tắt điện khi ra khỏi phòng làm việc và hút thuốc lá trong phòng. Có lần, trong Dự thảo kiểm điểm cán bộ, đảng viên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, có nêu tên những tập thể, cá nhân cán bộ, đảng viên (không có “sếp” nào là lãnh đạo cấp vụ trở lên có tên trong danh sách vi phạm các quy định). Đến lúc duyệt lần cuối, “sếp” trưởng cơ quan lấy bút đỏ gạch bỏ hết những tên đơn vị, cá nhân vi phạm và “chua” bên cạnh dòng chữ: “Đề nghị chỉ nêu hiện tượng, không nên nêu tên cụ thể thế này!”. Từ đó, những người được giao chấp bút các báo cáo, kiểm điểm thường “biết ý”, khi nói đến khuyết điểm, yếu kém, tuyệt nhiên không bao giờ nêu đích danh tổ chức, cá nhân nào. “Hội chứng bắn chỉ thiên” xem ra đã trở thành hiện tượng khá phổ biến trong không ít cơ quan, đơn vị, tổ chức hiện nay. Không biết có phải là do người ta đề phòng chuyện “quân ta bắn vào quân mình” hay không?

Thứ Hai, 12 tháng 7, 2021

Cán bộ… tắc kè hoa! Ai cũng biết sở trường lớn nhất của tắc kè hoa là khả năng biến hình - tự thay đổi màu sắc cơ thể để thích ứng với môi trường và đánh lừa kẻ thù. Song nếu người cán bộ “học được” sở trường này của loài tắc kè hoa thì lại là một nguy hại lớn… Là một cán bộ có thâm niên công tác nhiều năm ở huyện A, ông S được mọi người biết đến không phải vì năng lực công tác mà chính bởi khả năng “biến hình” tài tình. “Biến hình” ở đây không có nghĩa là ông có tài ảo thuật gì cao siêu mà là việc ông S luôn có những chuyển biến “tích cực”, những “tiến bộ” rõ rệt “đúng vào thời điểm cần thiết”. Hoạt động trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng, lẽ ra ông S phải là người cán bộ có tác phong công tác quần chúng, gần gũi cấp dưới, tinh tế nhạy bén khi tiếp xúc với nhân dân. Nhưng ngược lại, ông luôn tỏ ra “quan cách”, “trịnh thượng”, ngại đi cơ sở, ngại tiếp xúc với nhân dân; giải quyết công việc một cách máy móc, “kinh nghiệm chủ nghĩa”… Tại các hội nghị, với tinh thần tự phê bình và phê bình, mọi người trong cơ quan đã không ít lần đóng góp ý kiến một cách chân thành, thẳng thắn, những mong ông S nhận rõ khuyết điểm, từ đó chủ động, tích cực khắc phục để hoàn thiện bản thân. Song với tư duy bảo thủ, thái độ thiếu cầu thị, việc khắc phục khuyết điểm ở ông “gần như bằng không”. Hay như cách ông S vẫn thường ngụy biện thì những khuyết điểm ấy là do “cá tính” nên “rất khó thay đổi”, “phải sửa dần dần” và “tập thể cần thông cảm cho ông”! Tuy vậy, cứ gần đến những thời điểm “nhạy cảm”, ông S lại làm cho mọi người trong cơ quan, nhất là những cán bộ mới chuyển về thực sự “bất ngờ” trước sự “chuyển biến vượt bậc” của ông. Còn nhớ thời gian đầu khi mới về cơ quan công tác, tôi đã thực sự “choáng” bởi khả năng “biến hình” của ông S. Đó là trước mỗi kỳ đại hội hoặc những khi cần lấy phiếu tín nhiệm hay đề bạt, bổ nhiệm… thì chẳng cần đến ý kiến phê bình, góp ý của mọi người, ông S vẫn “chủ động, tích cực khắc phục khuyết điểm của bản thân” - như ông tự nhận trong bản kiểm điểm. Mọi người trong cơ quan thấy ông gần gũi hơn, nhiệt tình hơn trong các công việc tập thể, quan tâm đến cấp dưới một cách “đột xuất”, thậm chí là thái quá! Ông hạn chế va chạm với mọi người, cũng không còn hách dịch, quan cách; dường như ông S đã trở thành người khác, “con người của công việc”, “người cán bộ của quần chúng”. Tiếc rằng, hình ảnh đẹp đó chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi, để rồi sau khi đã qua thời điểm nhạy cảm ông lại trở về với con người thật của mình bởi đó là do “cá tính trời sinh”. Tuy chưa phải quá phổ biến song hiện nay, những “cán bộ… tắc kè hoa” như ông S cũng không còn là cá biệt. Nhiều người tự hỏi, phải chăng đó là biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, lối sống thực dụng ở một số cán bộ, đảng viên? Vẫn biết “nhân vô thập toàn”, trong sinh hoạt, học tập, công tác… ai cũng có thể mắc khuyết điểm song điều quan trọng là thái độ thành thực trước khuyết điểm và quyết tâm khắc phục những khuyết điểm đó. Những cán bộ như ông S dù có “biến hình” tài tình đến mấy thì cũng không thể mãi đánh lừa được tập thể. Thiết nghĩ, với những “cán bộ… tắc kè hoa”, cách làm hiệu quả nhất là mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần nêu cao tinh thần đấu tranh, phê bình thẳng thắn, kiên quyết để từng tổ chức đảng, từng cơ quan thực sự là một tổ chức đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động xứng đáng với niềm tin của quần chúng, nhân dân./.

Nhật Bản tiếp tục viện trợ cho Việt Nam một triệu liều vắc xin Covid-19

 Bộ Y tế cho biết lô vắc xin này sẽ được chuyển về sân bay Tân Sơn Nhất vào rạng sáng 16/7.

Sáng 13/7, Ngoại trưởng Nhật Bản Motegi công bố viện trợ thêm một triệu liều vắc xin AstraZeneca phòng Covid-19 cho Việt Nam. Lô vắc xin thứ 4 này sẽ được chuyển từ Nhật Bản về Việt Nam (sân bay Tân Sơn Nhất) vào rạng sáng 16/7.

Như vậy, tổng số liều vắc xin phía Nhật viện trợ cho Việt Nam là 3 triệu liều.

Theo báo cáo của Bộ Y tế, với kế hoạch vắc xin về trong thời gian tới (tháng 7 có thể có khoảng 8 triệu liều từ các nguồn về Việt Nam), dự kiến đến quý 3 năm nay sẽ tiêm được cơ bản cho các đối tượng ưu tiên, trong đó, đủ số lượng vắc xin để tiêm cho lực lượng sản xuất.

Đến nay đã có 97.110 liều Pfizer và 2.000.040 liều vắc xin Moderna đã về đến Việt Nam. Hơn 2 triệu liều vắc xin Moderna là số vắc xin Covid-19 Hoa Kỳ hỗ trợ thông qua cơ chế Covax. Bộ Y tế đã chuyển khẩn cấp một triệu liều vắc xin Moderna này cho TPHCM.

Đến 16h ngày 12/7, Việt Nam đã thực hiện tiêm chủng 4.063.872 liều vắc xin. Trong đó, số người đã được tiêm một mũi là 3.783.505 người. Số người đã được tiêm đủ 2 mũi là: 280.367 người.

Nam Phương

Việt Nam có tiêm kết hợp 2 loại vắc xin ngừa Covid-19 hay không?

 PGS.TS Dương Thị Hồng - Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết Việt Nam khuyến cáo nên tiêm 2 liều phòng Covid-19 cùng một loại vắc xin.

Trưa 13/7, trao đổi với Dân trí, PGS.TS Dương Thị Hồng - Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Trưởng Văn phòng Tiêm chủng mở rộng Quốc gia cho biết như trên.

Trong thời gian qua, nhiều bài báo, nguồn dịch, mạng xã hội đưa thông tin về xu hướng tiêm gộp vắc xin để tăng hiệu quả bảo vệ. Tại Việt Nam, khi có thêm các nguồn vắc xin khác ngoài AstraZeneca về, nhiều người cũng bày tỏ mong muốn được tiêm mũi thứ 2 là vắc xin khác.

Việt Nam có tiêm kết hợp 2 loại vắc xin ngừa Covid-19 hay không? - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Việt Nam đưa ra khuyến cáo nên tiêm ngừa 2 mũi vắc xin Covid-19 cùng một loại vắc xin.

Theo bà Hồng, Việt Nam có chủ trương tiêm phòng 2 liều vắc xin Covid-19 cùng một loại vắc xin.

"Trước đó, một số quốc gia có nghiên cứu tiêm kết hợp giữa vắc xin ngừa Covid-19 của AstraZeneca và Pfizer nhưng cho thấy số lượng phản ứng tăng lên", bà Hồng nói.

Theo PGS Hồng, với nguyên tắc tiêm ngừa vắc xin Covid-19, phải có sự đồng ý của người tiêm, phải kí vào giấy đồng ý, chịu trách nhiệm với quyết định tiêm. Vì thế, ngay cả với việc tiêm kết hợp 2 loại vắc xin, cán bộ y tế cũng phải giải thích rất rõ nguy cơ, hướng dẫn theo dõi chặt sau tiêm. Trên thực tế  theo dõi cho thấy sự kết hợp giữa hai loại vắc xin, cụ thể trong trường hợp này là AstraZeneca và Pfizer ở một số quốc gia cho thấy phản ứng tăng lên.

Trước khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo các nước không tiêm trộn các loại vắc xin khác nhau khi chưa có đủ dữ liệu, Việt Nam hiện cũng khuyến cáo người dân tiêm 2 liều phòng Covid-19 cùng một loại vắc xin.

Theo đó, như Dân trí đưa tin, bà Soumya Swaminathan, trưởng nhóm khoa học của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đã khuyến cáo các nước không nên tiêm trộn và kết hợp các loại vắc xin Covid-19 từ các nhà sản xuất khác nhau. Bà Swaminathan cho rằng đây là "xu hướng nguy hiểm" vì hiện có rất ít dữ liệu về tác động của việc tiêm trộn vắc xin đến sức khỏe của con người.

"Có nhiều người đang nghĩ đến việc trộn và kết hợp vắc xin. Chúng tôi nhận được rất nhiều câu hỏi từ những người nói rằng, họ đã tiêm một liều vắc xin và đang có ý định tiêm một liều khác. Đó là xu hướng khá nguy hiểm. Chúng tôi chưa có dữ liệu và có bằng chứng về khả năng kết hợp vắc xin", bà Swaminathan nói trong cuộc họp trực tuyến ngày 12/7.

"Các cuộc nghiên cứu vẫn đang được tiến hành, chúng ta cần phải chờ đợi các nghiên cứu đó. Có thể đó sẽ là một cách tiếp cận tốt. Tuy nhiên, hiện tại chúng ta mới chỉ có dữ liệu về vắc xin Oxford-AstraZeneca, tiếp đó là Pfizer. Sẽ xảy ra tình huống hỗn loạn ở các quốc gia, nếu người dân bắt đầu tự quyết định khi nào và ai sẽ tiêm liều thứ hai, thứ ba và thứ tư", nhà khoa học WHO cảnh báo.

Hồng Hải

TĂNG CƯỜNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC ĐẢNG CHO ĐỘI NGŨ BÍ THƯ, CẤP ỦY

 


 

Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Nghị quyết chỉ rõ những nguyên nhân chủ quan đó là: sinh hoạt Đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn hình thức, đơn điệu; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm, chưa có cơ chế để bảo vệ người đấu tranh phê bình. Để tự phê bình và phê bình trong chi bộ, cấp ủy và tổ chức cơ sở Đảng thực sự hiệu quả, nhất là chống lạm dụng phê bình vì mục đích cá nhân, cần thực hiện nhiều giải pháp. Trong đó, có giải pháp quan trọng đó là: cần tích cực kiểm tra, tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động công tác Đảng cho đội ngũ bí thư, cấp ủy viên. Thực tế hiện nay, nhiều cán bộ, đảng viên được tín nhiệm bầu vào cấp ủy nhưng chưa có nhiều kiến thức và kinh nghiệm về công tác Đảng. Có cấp ủy, tổ chức Đảng thực hiện công tác Đảng không bài bản, còn kết hợp sinh hoạt Đảng với sinh hoạt nhiệm vụ chuyên môn, không bóc tách được công tác lãnh đạo với công tác quản lý, chỉ huy. Do đó, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng hạn chế; duy trì sinh hoạt tự phê bình, phê bình thiếu nền nếp, không triệt để; công tác kiểm tra, giám sát thiếu chặt chẽ, ít tác dụng. Vì vậy, việc tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Đảng cho đội ngũ bí thư, cấp ủy hiện nay là hết sức cần thiết./.

THỰC HIỆN NGHIÊM NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH

 


 

Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Nghị quyết chỉ rõ những nguyên nhân chủ quan đó là: sinh hoạt Đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn hình thức, đơn điệu; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm, chưa có cơ chế để bảo vệ người đấu tranh phê bình. Để tự phê bình và phê bình trong chi bộ, cấp ủy và tổ chức cơ sở Đảng thực sự hiệu quả, nhất là chống lạm dụng phê bình vì mục đích cá nhân, cần thực hiện nhiều giải pháp. Trong đó, có giải pháp rất quan trọng đó là: Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ, đảng viên có chức vụ lãnh đạo, quản lý. Muốn thực hiện tự phê bình và phê bình có hiệu quả rất cần vai trò nêu gương của cán bộ. Trong thực hiện tự phê bình và phê bình cần nêu đầy đủ ưu điểm, khuyết điểm của mình và đồng chí mình; thực hiện phê bình "việc" chứ không phê bình "người". Cần phát hiện, chỉ rõ và chấn chỉnh kịp thời những nhận thức sai lệch về mục đích của phê bình, nhất là với những cá nhân cố tình lợi dụng phê bình để nói xấu, hạ bệ lẫn nhau hoặc vì lợi ích nhóm. Vì vậy, thực hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình có ý nghĩa vô cùng quan trọng./.

 

TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

 


 

Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Nghị quyết chỉ rõ những nguyên nhân chủ quan đó là: sinh hoạt Đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn hình thức, đơn điệu; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm, chưa có cơ chế để bảo vệ người đấu tranh phê bình. Để tự phê bình và phê bình trong chi bộ, cấp ủy và tổ chức cơ sở Đảng thực sự hiệu quả, nhất là chống lạm dụng phê bình vì mục đích cá nhân, cần thực hiện nhiều giải pháp. Trong đó, giải pháp đầu tiên, quan trọng đó là: Các cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng cần tổ chức tốt việc xây dựng quy chế lãnh đạo chặt chẽ, khoa học, dân chủ; thường xuyên rà soát hệ thống quy chế đểhoàn thiện và vận hành quy chế triệt để, hiệu quả. Giải pháp này sẽ khắc phục được hạn chế là sự vận hành quy chế thiếu đồng nhất ở một số cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng; từ đó, dẫn tới công tác kiểm tra, giám sát bị lơi lỏng; đảng viên, tổ chức Đảng vi phạm hay biện bạch, đổ lỗi, thao túng. Do đó, việc rà soát, củng cố hệ thống quy chế lãnh đạo ở mỗi tổ chức cơ sở Đảng là rất quan trọng./.

GIỮ LÒNG TRONG, BÚT SẮC CỦA NGƯỜI LÀM BÁO CÁCH MẠNG

 


 

Thời gian qua, đại dịch COVID-19 đã tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và báo chí cũng không phải là ngoại lệ. Đứng trước những khó khăn, thách thức bởi dịch bệnh, các cơ quan báo chí đã chủ động thay đổi từ cách thức tác nghiệp đến việc thể hiện tác phẩm báo chí. Nổi bật là nhiều cơ quan báo chí đã ứng dụng công nghệ để cho ra đời những tác phẩm truyền thống đa phương tiện với hình thức, nội dung thể hiện sinh động, lôi cuốn. Đặc biệt các nhà báo cũng thích nghi tốt với hoàn cảnh, nhanh nhạy ứng dụng công nghệ trong tiếp cận nguồn tin, đồng thời thể hiện tinh thần dấn thân, trách nhiệm với xã hội, trở thành những chiến sĩ trên tuyến đầu chống dịch bằng việc trực tiếp đi vào các điểm nóng dịch bệnh để tác nghiệp, cung cấp đến công chúng những thông tin đầy đủ, chính xác, bảo đảm tính định hướng, tạo sức mạnh, niềm tin của Nhân dân trong cuộc chiến chống dịch./.

 Khởi tố thêm 1 thành viên fanpage nhóm ‘Báo Sạch’

Chiều hôm qua 6/7, Cơ quan An ninh điều tra đã ra quyết định khởi tố với Lê Thế Thắng (ngụ TP Hà Nội) để điều tra về hành vi “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Bị can Thắng được tại ngoại, cấm đi khỏi nơi cư trú.
Thắng là đồng phạm với Trương Châu Hữu Danh, cũng là thành viên trong nhóm “Báo Sạch”.
Trước đó, Công an TP Cần Thơ đã khởi tố Trương Châu Hữu Danh (38 tuổi, ngụ Long An), Nguyễn Phước Trung Bảo (39 tuổi, ngụ TP Đà Nẵng), Nguyễn Thanh Nhã (41 tuổi), Đoàn Kiên Giang (36 tuổi, cùng ngụ TP.HCM) về hành vi “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân”.
Theo kết luận điều tra, tháng 8/2019, từ mối quan hệ quen biết trong hoạt động báo chí và mạng xã hội, Trương Châu Hữu Danh, Bảo, Nhã, Giang, Thắng và 2 người khác trao đổi, thống nhất thành lập Fanpage để viết, đăng bài phản biện lại các thông tin, vấn đề "nóng" mà xã hội quan tâm.
Nhóm này thành lập Fanpage “Báo Chí Sạch”, sau đó đổi tên thành “Báo Sạch”. Sau một thời gian hoạt động, do mâu thuẫn nên hai thành viên rời “Báo Sạch”.
Tháng 3/2020, Hữu Danh đến ấp Thới Thuận B, thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ gặp Nguyễn Hoàng Trung Kiên (31 tuổi) và một số hộ dân bị ảnh hưởng bởi “Dự án Khu đô thị mới Thới Lai”.
Hữu Danh tự xưng là nhà báo đến thu nhập thông tin viết bài để bảo vệ quyền lợi của người dân. Lợi dụng thời điểm một số người dân đang bức xúc do bị ảnh hưởng bởi dự án, Danh đã livestream hình ảnh phản ứng tiêu cực của người dân, viết bài kèm hình ảnh minh họa đăng lên Facebook với nội dung đả kích các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, công tác bố trí cán bộ tại địa phương; công tác thực thi pháp luật của cơ quan bảo vệ pháp luật.
Hành vi của Danh cũng bôi nhọ, xúc phạm đến cá nhân một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên địa bàn TP Cần Thơ.
Quá trình điều tra, cơ quan An ninh điều tra đã thu thập 31 bài viết liên quan đến TP Cần Thơ và 29 video đăng công khai trên Facebook của Danh. Trương Châu Hữu Danh thừa nhận 31 bài viết phản ánh liên quan đến Cần Thơ là sai sự thật.
Theo kết luận điều tra, từ khi thành lập “Báo Sạch” đến ngày Trương Châu Hữu Danh bị bắt, nhóm đã viết, đăng tải nhiều bài liên quan những vấn đề nóng được dư luận quan tâm lên Fanpage và Group như vụ án Hồ Duy Hải, Đồng Tâm, hạn mặn miền Tây, Trường ĐH Tôn Đức Thắng - Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, cưỡng chế tại Gia Trang Quán…
Khi hay tin Hữu Danh bị Công an TP Cần Thơ bắt, các thành viên trong nhóm đã tự động rời nhóm. Riêng Thắng là người trực tiếp thực hiện thao tác xóa Fanpage “Báo Sạch”.