Thứ Ba, 13 tháng 7, 2021

Phòng ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

 Đảng ta xác định nguyên nhân chủ yếu của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là do cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất chính trị, dẫn tới lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài, làm giảm sút ý chí phấu đấu.

 Những năm qua, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho bộ đội, không ngừng bồi đắp, nâng cao phẩm chất chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, góp phần hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giáo dục chính trị ở một vài đơn vị chưa thật hiệu quả. Giáo dục chính trị tư tưởng là công việc của mọi cấp, mọi ngành. Bởi công tác giáo dục chính trị tư tưởng góp phần bồi đắp lý tưởng cách mạng trong sáng, bản lĩnh chính trị vững vàng, để khi đối mặt với khó khăn, thử thách; đứng trước những cám dỗ vật chất, tác động từ những tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường hay đòn tấn công hiểm độc của các thế lực thù địch, cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên định, vững vàng, không hoang mang, dao động, phai nhạt lý tưởng, giảm ý chí chiến đấu. Nếu mọi cán bộ, chiến sĩ đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, thì sự “xâm nhập” của các tác nhân làm nảy sinh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ bị triệt tiêu từ khi có “mầm”.

Để ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần coi trọng triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Một trong những giải pháp hàng đầu là tổ chức thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác quản lý cán bộ, chiến sĩ; kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái ngay từ khi mới xuất hiện; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Điều quan trọng, đó là bản thân mỗi cán bộ, chiến sĩ phải tự giác rèn luyện, nâng cao khả năng “tự bảo vệ”, tăng cường “sức đề kháng” và “độ miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của các thế lực thù địch và sự tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng,

Tiến hành đồng bộ, có chất lượng các giải pháp trên, sẽ từng bước đẩy lùi cái xấu, làm cho đạo đức cách mạng trong mỗi cá nhân ngày càng phát triển, góp phần xây dựng các tổ chức đảng TSVM, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, làm thất bại âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch./.

Đoàn kết trong nội bộ Quân đội - Vũ khí chống các quan điểm sai trái

 Đoàn kết nội bộ Quân đội là sự gắn kết chặt chẽ giữa quân nhân với quân nhân, quân nhân với tổ chức, các tổ chức trong Quân đội với nhau trên cơ sở tình cảm giai cấp, tình thương yêu con người, tình đồng chí, đồng đội, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự chỉ đạo của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, nhằm xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.

Những năm qua, mối quan hệ đoàn kết trong nội bộ Quân đội, nhất là đoàn kết trong cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chủ trì ngày càng vững chắc; cán bộ, chiến sĩ thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Toàn quân đoàn kết, thống nhất một lòng trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, phấn đấu thực hiện mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Tuy nhiên, thời gian qua đoàn kết nội bộ trong Quân đội có nơi còn mang tính hình thức; tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quân phiệt, bè phái, cục bộ địa phương dẫn đến mất đoàn kết, biểu hiện bằng mặt mà không bằng lòng… Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên đang là nhân tố hiện hữu tác động xấu đến sự đoàn kết, thống nhất trong cơ quan, đơn vị. Có người tuy là cán bộ, đảng viên nhưng có tư tưởng thực dụng, toan tính cá nhân, thiếu trung thực, gây bè kéo cánh, phá vỡ sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ đơn vị.

Tình trạng trên đang là một trong những nguyên nhân để các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với Quân đội ta. Chúng lợi dụng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị và những yếu kém, khuyết điểm, hạn chế của ta, để bôi nhọ, nói xấu, xuyên tạc mối đoàn kết trong nội bộ đơn vị, gây hoài nghi lẫn nhau, làm giảm lòng tin của cán bộ, chiến sĩ vào lãnh đạo, chỉ huy, khoét sâu mâu thuẫn, bất đồng trong cơ quan, đơn vị nhằm chia rẽ nội bộ Quân đội ta, chia rẽ Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội...

Để nâng cao tinh thần đoàn kết trong nội bộ Quân đội, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng mối đoàn kết nội bộ trong cơ quan, đơn vị. Quan tâm xây dựng, củng cố tổ chức đảng gắn với việc lựa chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có chất lượng cao, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt phải là người mẫu mực về tinh thần đoàn kết, biết kết hợp, giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích, đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, có khả năng quy tụ tinh thần đoàn kết trong cấp ủy, chi bộ, đảng bộ./.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG

Nếu “tự lực” có nghĩa là dựa vào sức mình để sống và làm việc, tuyệt đối không trông chờ, ỷ lại vào người khác thì “tự cường” có nghĩa là tự làm cho mình mạnh lên, không chịu thua kém người khác, dân tộc khác. Tự lực, tự cường, tự chủ là những phẩm chất tốt đẹp của mỗi con người, mỗi dân tộc vì chứa đựng trong đó lòng tự trọng, ý chí vươn lên và khát vọng khẳng định bản thân. Là người tìm đường và dẫn đường cho dân tộc, Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần tự lực, tự cường và nổi bật trong tư tưởng đặc sắc đó của Người là một số nội dung chính sau đây.

Thứ nhất, Hồ Chí Minh coi tự lực, tự cường là tiền đề của độc lập tự do và là điều kiện tiên quyết để phát triển quan hệ, vị thế ngoại giao.

Thực tế đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa đã giúp Hồ Chí Minh hiểu rằng: Công cuộc giải phóng phải là công cuộc “tự giải phóng” chứ không thể trông chờ vào thiện chí hay sự bố thí, rộng lượng của những kẻ cướp nước. Vì thế, lên án chủ nghĩa thực dân bao nhiêu thì Người cũng quyết liệt bấy nhiêu trong việc kêu gọi nhân dân các dân tộc bị áp bức tiến hành cuộc đấu tranh tự giải phóng: “Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”.

Trở về lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau 30 năm hoạt động quốc tế, Người luôn nhấn mạnh: Việc giải phóng của ta phải do ta tự làm lấy chứ không thể trông mong vào lực lượng bên ngoài. Tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi vào tháng 8/năm 1945, Người đã kêu gọi đồng bào “đem sức ta mà giải phóng cho ta. Sức mạnh như “triều dâng, thác đổ” của tinh thần dân tự giải phóng đã mang lại nền độc lập thiêng liêng cho Tổ quốc.

Từ kinh nghiệm và bài học thực tế của Việt Nam và thế giới, Người đã rút ra kết luận: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Sau khi đã giành được chính quyền, với vị thế của một nguyên thủ Quốc gia, Hồ Chí Minh tìm mọi cách để duy trì sự độc lập, tự chủ của nhân dân Việt Nam. Người nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”, kể cả sự can thiệp của các đồng minh. Khi động viên toàn dân tích cực tham gia và ủng hộ kháng chiến vì nền độc lập thiêng liêng của Tổ quốc, Người nói rõ: “Mỗi một người dân phải hiểu: Có tự lập mới độc lập, có tự cường, mới tự do”.

Là một nhà hoạt động quốc tế lỗi lạc, Hồ Chí Minh luôn coi đoàn kết quốc tế là chiến lược trọng yếu của Đảng nhưng Người hiểu rằng, muốn tăng cường đoàn kết quốc tế thì trước hết phải tăng cường nội lực dân tộc, phát huy tinh thần tự lực cánh sinh. Người nhấn mạnh: “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn. Ngược lại, nếu không có thực lực thì không thể nói gì đến ngoại giao, càng không thể mong muốn sự bình đẳng, độc lập, tự chủ mà “chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy. Tóm lại, giữa tự chủ, tự lực, tự cường và sức mạnh, vị thế dân tộc có mối quan hệ tỉ lệ thuận với nhau.

Thứ hai, Hồ Chí Minh khẳng định phát huy tinh thần tự lực, tự cường là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong mọi chặng đường lịch sử.

Là biểu hiện của ý chí và tinh thần độc lập, tự chủ, ngay từ khi tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã hiểu rằng: Nếu biến lý luận Mác - Lênin thành “kinh thánh” và “công thức sáo mòn” thì tức là đã gạt bỏ nó ra khỏi cuộc sống. Vì thế, Người đã rất sáng tạo trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Người đã đặt câu hỏi: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh không chỉ làm cho học thuyết Mác - Lênin được “Việt hóa”, thích ứng với điều kiện Việt Nam mà còn giúp nhân dân Việt Nam thoát khỏi tâm lý thụ động để phát huy truyền thống tự lực, tự cường của dân tộc để đi đến những thắng lợi vĩ đại. 

Với sự trải nghiệm của một người đã từng đi “năm châu, bốn biển, ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã cho rằng nền văn hóa mới của Việt Nam phải góp phần tẩy bỏ tâm lý nô lệ để xây dựng một tinh thần mới - “tinh thần độc lập tự cường”. Thực hiện nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Hồ Chí Minh, trong mọi chặng đường cách mạng, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đều nỗ lực phát huy tinh thần “Tự lực cánh sinh”. Nếu Cách mạng Tháng Tám diễn ra theo tinh thần “mang sức ta mà giải phóng cho ta” thì phương châm cuộc kháng chiến chống Pháp là “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh”. Theo Hồ Chí Minh, Việt Nam không chỉ cần tự lực, tự cường trong công cuộc kháng chiến, giành độc lập mà còn phải tự lực tự cường cả trong việc xây dựng chế độ mới, đưa miền Bắc Việt Nam vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Người yêu cầu: “Trước đây, nhân dân ta đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng chiến, thì ngày nay chúng ta càng phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng nước nhà”. Người căn dặn, trong mọi hoàn cảnh, luôn phải “lấy tự lực cánh sinh làm gốc để ứng phó với mọi phát triển của tình hình; dù tình hình ấy thuận lợi hay gay go thì ta vẫn chủ động(10) bởi sự chủ động sẽ mang đến cơ hội thành công và mọi sự phụ thuộc, lệ thuộc đều dẫn đến việc đánh mất quyền độc lập dân tộc.

Thứ ba, Hồ Chí Minh cho rằng tinh thần tự lực tự cường của dân tộc phải được xây đắp bằng ý chí tự lực tự cường, tự lực cánh sinh của mỗi cá nhân.

Tinh thần dân tộc là sự kết tinh ý chí, sức mạnh của toàn dân nên việc phát huy tinh lần tự lực, tự cường không chỉ là trách nhiệm của lực lượng lãnh đạo mà là của muôn dân. Tính tự lực, tự cường không chỉ giúp mỗi con người thành công mà còn giúp họ trở thành những người có lòng tự trọng, hiểu biết và có một cuộc đời hữu ích. Do đó, mỗi người dân phải tự tìm việc làm, tự lên kế hoạch, tự vượt qua khó khăn để đạt được kết quả tốt nhất trong công việc; mỗi khi gặp khó khăn thì tinh thần tự lực, tự cường trong họ càng phải được trỗi dậy và phát huy cao độ. Hồ Chí Minh còn cho rằng tự lực, tự chủ là phẩm chất, quyền lợi mang “tính người và nếu con người không có quyền tự chủ thì không còn là con người nữa. Vì thế, Người đã viết: “Thế thượng thiên tân hòa vạn khổ/ Mạc như thất khước tự do quyền!/ Nhất ngôn, nhất động bất tự chủ/ Như ngưu, như mã, nhậm nhân khiên” (Trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do/ Mỗi việc, mỗi lời không tự chủ/ Để cho người dắt tựa trâu bò). Được tự chủ, làm chủ cuộc đời là hạnh phúc lớn nhất nên khi chế độ dân chủ ra đời, Hồ Chí Minh đã căn dặn nhân dân: Dân chủ không có nghĩa là muốn ăn bao nhiêu thì ăn, muốn làm bao nhiêu thì làm mà phải có tinh thần chủ động khắc phục khó khăn.

Trong hoàn cảnh đất nước còn nghèo, miền Nam chưa được giải phóng thì tinh thần tự lực, tự cường càng cần phải phát huy. Hồ Chí Minh căn dặn: “Cứ chờ Đảng và chờ Chính phủ giúp đỡ, thì không đúng đâu. Đảng và Chính phủ đề ra chính sách, phái cán bộ về hướng dẫn, thế là giúp đỡ. Nhưng đó là phụ. Lực lượng nhân dân tổ chức nhau lại là chính. Không nên ỷ lại, mà phải tự lực cánh sinh”. Hồ Chí Minh yêu cầu tinh thần này phải được lan tỏa và trở thành ý thức tự giác trong mọi tầng lớp nhân dân. Bộ đội phải coi tăng gia sản xuất cũng là một bộ phận trong chính sách tự lực cánh sinh; các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ mặc dù nhận được sự giúp đỡ của nhân dân, sự ưu tiên của chính phủ, cũng “cần phải cố gắng tăng gia sản xuất, tự lực cánh sinh, tùy theo khả năng mà tham gia các công tác trong xã, chớ nên yêu cầu quá đáng, ra vẻ “công thần”. Tự lực, tự cường là phẩm chất cao quý mà người có đạo đức, có lòng tự trọng phải có nên trong nhà trường, ngoài việc giáo dục cho học trò lòng yêu nước thương nòi thì “phải dạy cho họ có chí tự lập tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”.

Trong công cuộc giải phóng phụ nữ thì “chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh” cho quyền lợi của chính mình… Sức mạnh của dân tộc được quy tụ bởi sức mạnh của mỗi con người nên phát huy tinh thần tự lực, tự cường của mỗi cá nhân trong xã hội là quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh

Thứ tư, Hồ Chí Minh khẳng định việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường hoàn toàn không loại trừ việc tranh thủ sự giúp đỡ của thế giới trên nguyên tắc lấy nội lực làm nhân tố quyết định.

Với tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa nội lực và ngoại lực và Người luôn khẳng định: Tăng cường sức mạnh nội lực không có nghĩa là đóng kín, khước từ sự giúp đỡ ở bên ngoài mà là phải tìm mọi cách gia tăng sự ủng hộ của thế giới để nhân lên sức mạnh của nội lực. Ngay trong cuộc sống của mỗi con người, có nhiều việc nếu được người khác giúp đỡ thì sẽ trở nên dễ dàng hơn. Dù vậy, nội lực luôn giữ vai trò quyết định, ngoại lực chỉ gia tăng sức mạnh cho nội lực mà thôi. Hơn nữa, sự giúp đỡ bên ngoài phải thông qua lực lượng bên trong mới phát huy được tác dụng. Vì thế, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”. Khi Việt Nam đánh Mỹ và nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô và Trung Quốc, Hồ Chí Minh vẫn kiên trì nhắc nhở cán bộ và nhân dân: “Các nước bạn ta, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc ra sức giúp đỡ ta một cách vô tư, khẳng khái, để chúng ta có thêm điều kiện tự lực cánh sinh” chứ không phải để ta sinh ra tật ỷ lại, trông chờ vào người khác. Trên thực tế, sức hậu thuận của thế giới thường tỷ lệ thuận với những thắng lợi của nhân dân ta và điều đó đã nói lên vai trò quyết định của nội lực.

Nhìn chung, tự lực, tự cường là truyền thống của văn hóa Việt Nam và nó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát huy lên một tầm cao mới.

Mai Năm Mới (ST)

Lập trường của Việt Nam về Biển Đông là rõ ràng và nhất quán

Việt Nam ủng hộ việc giải quyết các tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán ở Biển Đông thông qua các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Ngày 12/7, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết bình luận của Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 5 năm Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông ra Phán quyết cuối cùng, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nêu rõ:
Lập trường của Việt Nam về việc giải quyết các tranh chấp liên quan ở Biển Đông là rõ ràng và nhất quán, theo đó Việt Nam luôn ủng hộ việc giải quyết các tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán ở Biển Đông thông qua các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực và bằng các giải pháp, biện pháp hòa bình phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (Công ước).
Với tư cách là quốc gia thành viên Công ước và quốc gia ven Biển Đông, Việt Nam đề nghị tất cả các bên liên quan tôn trọng và thực thi đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý của mình được quy định trong Công ước, cùng nhau hợp tác, đóng góp tích cực, thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không và trật tự ở Biển Đông dựa trên luật pháp quốc tế.
Nhân dịp này, Việt Nam cũng khẳng định lại lập trường nguyên tắc của mình về vấn đề chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam được xác định trên cơ sở Công ước./.

Học và làm theo lời dạy của Bác “ĐƯỢC LÒNG DÂN, THÌ VIỆC GÌ CŨNG LÀM ĐƯỢC, TRÁI Ý DÂN, THÌ CHẠY NGƯỢC CHẠY XUÔI”

 Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Sẽ được mấy lâu?”, đăng trên Báo Nhân dân, số 122, từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 7 năm 1953; là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta bước vào tổng phản công, quyết giành thắng lợi cuối cùng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải hành động vì dân, thấu hiểu, chia sẻ, quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân. Có như vậy, nhân dân mới tin tưởng và ủng hộ Chính phủ thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng.

Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân để xác định chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật, không ngừng chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; nhân dân tin tưởng, đi theo Đảng, theo cách mạng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ và đại thắng mùa Xuân năm 1975, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; trong nước các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng... Đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải sâu sát quần chúng, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, có chủ trương, đường lối hợp lòng dân, tạo được sự đồng thuận giữa ý Đảng với lòng dân. Có như thế, mới tranh thủ được thời cơ, vượt qua thách thức, tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng đội quân công tác trong tình hình mới, quan tâm chăm lo củng cố mối quan hệ đoàn kết nội bộ và làm tốt công tác dân vận; xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, toàn quân đẩy mạnh phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới” với nhiều mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; tiêu biểu: “Nâng bước em tới trường”, “Tết Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”, “Tặng bò giống cho đồng bào nghèo”, “Bệnh xá quân dân y kết hợp”, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh… góp phần củng cố, giữ vững thế trận lòng dân, được cấp ủy, chính quyền, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi phải tập trung xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; không ngừng tăng cường, củng cố mối quan hệ đoàn kết quân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

Đừng vì những hạt sạn mà hiểu sai về lòng người dân sài gòn

 Những ngày qua dư luận xôn xao về việc có những tiếng nói lạc lõng , cực đoan bày tỏ thái độ phân biệt vùng miền khi hay tin 300 thành viên đoàn Đại học kỹ thuật y tế Hải Dương tình nguyện vào thành phố Hồ Chí Minh chống dịch .

Điều đáng xấu hổ trong số những tiếng nói theo hội chứng đám đông thì bên cạnh đó có một vài cá nhân là giới hoạt động nghệ thuật như Trác Thuý Mưu ( kẻ sinh ra ở Huế ngụ cư TP HCM khơi mào ) - những ngôn từ dơ bẩn, thiếu văn hoá, thiếu nhân cách đã được một số kẻ cực đoan lợi dụng cổ vũ, kích động,chia rẽ, phân biệt vùng miền tuôn ra trên mạng xh.

Trong khi cả nước đặc biệt Thành Phố HCM đang trong giai đoạn dịch bùng phát vô cùng nguy hiểm- cả nước ngày đêm hướng về phía Nam cầu mong cho người dân nơi đây sớm vượt qua khó khăn.

Cũng như TPHCM- Hải Dương , Bắc Giang , Bắc Ninh , Hải Phòng ... đã từng gặp phải những khó khăn như thành phố HCM hiện tại- với tinh thần đoàn kết tương thân tương ái hỗ trợ nhau trong lúc khó khăn giữa địa phương với địa phương- vì vậy việc đoàn 300 thành viên trường Đại học kỹ thuật y tế Hải Dương tình nguyện lên đường vào tâm dịch TPHCM chung tay với lực lượng tại chỗ giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khăn chính là nghĩa cử cao đẹp cần được nhân rộng và tôn trọng.

Ấy vậy có những kẻ mượn danh “người Sài Gòn “ để lên tiếng phân biệt vùng miền, thoá mạ, xuyên tạc trước một nghĩa cử cao đẹp - điều đó làm cho những người từng yêu mến Sài Gòn, những người con Sài Gòn đang sinh sống, những người con Sài Gòn xa xứ cảm thấy lạnh người , sượng sùng xấu hổ trước những ngôn từ thiếu văn hoá của những kẻ đến Sài Gòn lập nghiệp .

Lẽ ra trong hoàn cảnh này chúng không bày tỏ được lời cám ơn vốn là phép lịch sự tối thiểu khi được người khác chấp nhận nguy hiểm giúp nhân dân trên mảnh đất mình đang sống , thì hãy giữ im lặng- đằng này chúng chẳng nhân danh ai nhưng đã làm tổn thương đến những người con Hải Dương đến giúp đỡ- đã vậy chúng còn làm những người yêu Sài Gòn, những người con sinh ra ở Sài Gòn hiện đang sinh sống hoặc xa xứ cảm thấy ngại ngùng - thậm chí sượng sùng... xấu hổ.

Bởi thế cho nên nhân gian mới có câu : “ Kẻ dại ở truồng ... người khôn xấu mặt “ là vậy ( xin lỗi bạn đọc tôi phải mượn từ trong nhân gian này để ám chỉ hành động của chúng mới xác đáng với hành động đó )

Tuy nhiên mạng xh bây giờ rất rộng - người dân cả nước đã biết những kẻ nào mượn danh “ Người Sài Gòn “ hay “ Người yêu Sài Gòn “ nào đã lên tiếng kích động- bởi vậy sau chút bàng hoàng đã qua - mọi người lại trở về trạng thái bình thường như vốn dĩ- nhưng những hạt sạn , những mầm mống nấm độc kia đã làm vấy bẩn một góc Sài Gòn vốn dĩ hào hoa xinh đẹp.

Chung tay phòng chống covid-19 Mỗi người dân cần phải hy sinh những nhu cầu cơ bản của cá nhân

 Kể từ sau đại dịch cúm những năm 1918-1920, nhân loại chưa từng chứng kiến số ca nhiễm và tử vong nhiều như đại dịch Covid-19 hiện nay.

Covid-19 đang đe dọa nghiêm trọng đến an ninh con người trên toàn Trái đất và đang đặt ra những thách thức đối với tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Đại dịch Covid-19 đã gây ra sự rối loạn, ngừng trệ và thậm chí là tê liệt một số quyền cá nhân ở các quốc gia mà nó lan tới như quyền tự do đi lại, tự do giao thương, tiếp cận y tế đồng đều, giáo dục... Hơn một nửa dân số thế giới đã phải sống trong tình trạng hy sinh những nhu cầu cơ bản của cá nhân như đi làm, đến trường, đi du lịch hay gặp gỡ người thân… Những người nghèo, thu nhập thấp càng phải trả giá đắt trong đại dịch (ở Mỹ, người gốc Phi chỉ chiếm 30% dân số, nhưng lại chiếm hơn 70% người mắc bệnh Covid-19).

Ở nước ta những ngày này, TP.HCM là nơi đang trải qua cuộc chiến thật sự, phải chấp nhận hy sinh lợi ích ngắn hạn để phòng, chống dịch. Do đó, thành phố phải nâng cao các biện pháp phòng, chống dịch, sau 4 lần kéo dài các biện pháp giãn cách xã hội, 0 giờ ngày 9/7 - TP.HCM chính thức quyết định áp dụng Chỉ thị 16. Đây là một quyết định khó khăn với lãnh đạo thành phố, vì TP. Hồ Chí Minh là địa bàn rộng lớn, dân số đông, tập trung nhiều khu công nghiệp.

Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong khẳng định: Dù số ca nhiễm đang tăng nhanh, thành phố đã chuẩn bị sẵn sàng mọi tình huống, thành phố đảm bảo lượng hàng hóa cung ứng nên người dân không cần mua tích trữ, không tập trung đông người và "bình tĩnh, tin tưởng các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 của thành phố”.

Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong "Mong người dân ủng hộ, cảm thông khi thành phố áp dụng biện pháp giãn cách, cách ly trên diện rộng. nếu tổ chức thực hiện nghiêm túc, quyết liệt thì hy vọng tình hình dịch bệnh sẽ được đẩy lùi".

Hiện nay đã có hơn 50 loại vaccine tiềm năng. Tuy nhiên, việc bảo đảm an ninh và phân phối nguồn vaccine (cần tới 15.000 chuyến bay phân phối khắp thế giới) đang đặt ra một thách thức mà nhân loại chưa từng đối mặt. Trong đó nhiều loại Vaccine phải được bảo quản ở nhiệt độ -70 độ C và vận chuyển đến vùng sâu, vùng xa của Trái đất. Song các chuyên gia còn lo ngại số vaccine chảy về các nước giàu có. Người giàu (thuốc tốt, nhanh), người nghèo (thuốc rẻ, chậm, thậm chí không tiếp cận được) và nếu như vậy, dịch bệnh sẽ không được kiểm soát trên toàn cầu, nguy cơ tái bùng phát là khó tránh.

Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có quan điểm đúng đắn ngay từ đầu trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19 là bên cạnh việc bảo đảm tính mạng con người, còn phải bảo đảm cuộc sống cho nhân dân, tạo điều kiện cho mọi người dân được làm việc, làm ăn, được học hành, phát triển, bảo đảm an ninh con người. Tuy nhiên, trong tương lai, nhân loại nói chung và người Việt Nam nói riêng cần tiếp tục thay đổi tư duy về lợi ích, về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, mối quan hệ giữa con người và môi trường để cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn./.


 

ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN

 Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) của Đảng khẳng định: “Công tác tư tưởng, lý luận là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ, tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, khẳng định và nâng cao vai trò tiên phong của Đảng về chính trị, lý tưởng, trí tuệ, văn hóa và đạo đức; thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

     Thực tiễn cách mạng của Đảng ta chỉ rõ, ở bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, công tác tư tưởng, lý luận luôn đứng ở vị trí hàng đầu trong các mặt công tác của Đảng và có vai trò quan trọng. Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, mạng xã hội, việc phát tán các quan điểm sai trái, thù địch trở nên rất dễ dàng, nên công tác đấu tranh phản bác các quan điểm này cũng được xác định là một nội dung quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” cần phải lấy bảo vệ là chính kết hợp với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nghị quyết có hai hoạt động cơ bản là bảo vệ và đấu tranh, phù hợp với phương châm “xây” và “chống” trong công tác tư tưởng, lý luận. Trong đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng là vấn đề quan trọng hàng đầu, được đặt lên trước. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, điều này đã được Cương lĩnh và Điều lệ Đảng khẳng định. Bảo vệ nền tảng tư tưởng là việc nghiên cứu, bổ sung, phát triển, hoàn thiện chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đồng thời, trong bảo vệ phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, hiện thực hóa hệ tư tưởng của Đảng vào đời sống và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.

     Hiện nay, chúng ta thường tập trung vạch trần bản chất phản khoa học, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, thù địch. Có thể thấy đây chỉ là cách đấu tranh ở phần ngọn. Vì nếu chúng ta phản bác được quan điểm này, các thế lực thù địch lại tiếp tục đưa ra các quan điểm khác, ngày càng tinh vi, xảo quyệt và thâm độc hơn. Mặt khác, hệ tư tưởng, lý luận của chúng ta hiện nay đang tiếp tục được hoàn thiện để phù hợp với điều kiện mới, giải quyết những vấn đề đã bị thực tiễn vượt qua; trong khi đó, công cuộc đổi mới vẫn đang còn có những hạn chế, khuyết điểm. Để khắc phục tình trạng đó, chúng ta cần truy đến tận gốc, tức là phải xác định chủ thể của các quan điểm sai trái, thù địch để phân loại và có biện pháp đấu tranh phản bác phù hợp.

Việc thấm nhuần quan điểm của Đảng ta trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch “trong bất kỳ hoàn cảnh và tình huống nào cũng phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đây là nền tảng tư tưởng, lý luận vững chắc của Đảng”, sẽ giữ vững được thành quả cách mạng của Đảng ta trong 91 năm qua.

Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn kiên định với nền tảng tư tưởng đã lựa chọn, luôn có bản lĩnh vững vàng trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Sự kiên định ấy không chỉ dừng lại trong tư tưởng, mà cần được thể hiện ở những hành động, việc làm cụ thể trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH KHI THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” Ở VIỆT NAM

 Chiến lược “diễn biến hòa bình” do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiến hành nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội ở nước ta từ bên trong; chủ yếu bằng biện pháp phi quân sự. Do vậy, để làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, cấp ủy, lãnh đạo các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức, xác định rõ quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên cơ sở định hướng tiếp nhận thông tin một cách khách quan, có chọn lọc, phản ánh chân thực, từ đó, làm cơ sở cho thống nhất ý chí và hành động trong đấu tranh. Trước những vấn đề bức xúc về tư tưởng, phức tạp về dư luận xã hội thì các cấp ủy phải làm tốt định hướng thông tin để kịp thời giải quyết một cách ổn thỏa những bức xúc trong xã hội, không để xảy ra các “điểm nóng”, khiếu kiện vượt cấp, đông người, như vậy sẽ không còn cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, bịa đặt chống phá.

Cấp ủy, lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong xã hội, giữ vững định hướng XHCN trên các lĩnh vực; đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân lao động. Cùng với đó nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch cho cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp Nhân dân, việc xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang vững mạnh về mọi mặt, nắm chắc mọi diễn biến không để bị động và bất ngờ xảy ra cũng cần được chú trọng.

Đội ngũ những người làm báo nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp. Các cơ quan, ban, ngành xây dựng cơ chế, hình thức và nội dung phát ngôn, chịu trách nhiệm trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Nhân dân có nhu cầu được cung cấp thông tin về đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, theo tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng”; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Các cơ quan, ban, ngành khắc phục những bất cập trong quản lý những nội dung thông tin trên mạng internet phản ánh phiến diện, suy diễn liên quan đến các vụ việc phức tạp, những bài viết thiếu chính xác, sai lệch bản chất về những vấn đề văn hóa, chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống,… Các đơn vị tăng cường nâng cao chất lượng công tác kiểm soát, định hướng trong việc đưa thông tin chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, câu khách trên các kênh thông tin đại chúng. Cơ quan chức năng xử lý nghiêm khắc những vi phạm theo quy định về hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng qua các kênh thông tin theo Luật An ninh mạng.

Các phương tiện thông tin đại chúng, ngành liên quan tích cực giới thiệu, quảng bá hình ảnh Việt Nam về đất nước, con người, lịch sử văn hóa, tiềm năng hợp tác và phát triển của dân tộc Việt Nam; từ đó nhằm thúc đẩy quan hệ chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng - an ninh giữa Việt Nam với các nước, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Có như vậy, chúng ta sẽ đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch khi thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” ở Việt Nam.

 

Vạch trần thủ đoạn xuyên tạc bản chất cách mạng của Quân đội Nhân dân Việt Nam

 Xuyên tạc bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, nhất là làm xói mòn, hạ uy tín truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" là một thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ, tiến tới “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội. Thời gian gần đây, thủ đoạn này càng được tiến hành ráo riết hơn, vì vậy, cần phải nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

THÁNG 7 TRI ÂN NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI LÀM TIM TA NHÓI ĐAU

 1. ANH HÙNG, LIỆT SĨ

- Có 1.146.250 Liệt sỹ trên cả nước.

+ Có 191.605 Liệt sỹ hi sinh trong kháng chiến chống Pháp

+ Có 849.018 Liệt sỹ hi sinh trong kháng chiến chống Mỹ

+ Có 105.627 Liệt sỹ hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc, cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo…)

- Hơn 200.000 hài cốt Liệt sỹ chưa được tìm thấy, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Cam pu chia, Biển Đông…

- Hơn 300.000 hài cốt Liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính tên tuổi, quê quán, đơn vị…

- Tỉnh có nhiều Liệt sĩ hi sinh nhất: Tỉnh Quảng Nam có 65.000 Liệt sĩ hi sinh trong các cuộc chiến tranh. (ngoài ra tỉnh Quảng Nam còn có hơn 30.000 thương binh) (tính đến năm 2012).

- Huyện có nhiều liệt sỹ nhất cả nước là huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) với hơn 19.800 Liệt sĩ. (tính đến năm 2012).

2. NGƯỜI DÂN

- Ngoài ra, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có khoảng hơn 4 triệu dân thường Việt Nam ở hai miền (miền Bắc và miền Nam) đã chết và bị thương tật suốt đời do bom đạn, do kẻ thù giết hại…

3. CÔNG TRÌNH TRI ÂN ANH HÙNG, LIỆT SỸ

- Có 9.637 công trình tri ân, ghi công Liệt sỹ như tượng đài, nhà bia, nghĩa trang Liệt sỹ trên địa bàn cả nước. (tính đến năm 2012)

+ Hơn 3.000 nghĩa trang Liệt sĩ trên địa bàn cả nước (hầu hết các tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã, phường, thị trấn trên đất nước Việt Nam đều có nghĩa trang Liệt sỹ…)

- Các Nghĩa trang Liệt sĩ cấp Quốc gia nổi tiếng linh thiêng như:

+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên (Hà Giang)

+ Nghĩa trang Liệt sĩ Điện Biên Phủ (Điện Biên)

+ Nghĩa trang Mai Dịch (Thủ đô Hà Nội)

+ Nghĩa trang Quốc tế Việt – Lào (Anh Sơn, Nghệ An)

+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn (Quảng Trị)

+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9 (Đông Hà, Quảng Trị)

+ Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM)…

+ Nghĩa trang Liệt sĩ Hàng Dương (Côn Đảo, Bà Rịa Vùng Tàu)

4. NGƯỜI CÓ CÔNG CỦA VIỆT NAM

- Có 9.000.000 người có công trên cả nước

- Trên 127.000 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng có chồng, con hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Một số Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu:

+ Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam có chồng, chín con đẻ, một con rể, 2 cháu ngoại là liệt sĩ;

+ Mẹ Trần Thị Mít ở Quảng Trị có chồng, sáu con đẻ, một con dâu và một cháu nội là liệt sĩ;

+ Mẹ Lê Thị Tự ở Quảng Nam có chín con là Liệt sĩ;

+ Mẹ Phạm Thị Ngư ở Bình Thuận, mẹ Nguyễn Thị Rành ở huyện Củ Chi (Sài Gòn) đều có tám con là Liệt sĩ, bản thân 2 mẹ cũng là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

- Tỉnh Quảng Nam là tỉnh có nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhất với 11.658 mẹ (số liệu tính đến 2001).

- Gần 13.000 Anh hùng LLVTND và Anh hùng Lao động.

- Gần 800.000 Thương binh và người được hưởng chính sách như Thương binh.

- Hơn 300.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam.

- Gần 111.000 người hoạt động cách mạng, người tham gia kháng chiến bị địch bắt giam, tù đày, tra tấn trong các nhà tù nổi tiếng như (Nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Lao Bảo, Côn Đảo, Phú Quốc…)

HỖN LOẠN CHỈ LÀM CHÚNG TA YẾU ĐI!

 Công nhân của công ty AMPACS Bình Dương đã hô nhau đạp đổ cổng bỏ chạy khỏi công ty khi nghe phải ở lại công ty xét nghiệm vì nghi có ca dương tính. Nhìn hình ảnh trên, bất giác mình lại nhớ lại hình ảnh anh em công nhân đập phá khu công nghiệp ở Bình Dưỡng năm 2014, cứ hò theo đám đông mà chẳng nghĩ tới hậu quả như thế nào!

Giả dụ, nếu có ca dương tính thật, thì với số lượng người đông như thế kia, nguyên việc đứng cạnh nhau trong hình ảnh trên, thì việc truy vết sẽ khó khăn như thế nào?

Hôm qua, TP Hồ Chí Minh đã phải đồng ý cho F1 cách ly tại nhà, tức có nghĩa là hệ thống y tế đã quá tải và thực sự đã quá sức chịu đựng .Nhiều F0 phải tạm thời ở nhà vì không còn nhân lực tới đưa đi, F1 thì vô số kể , các nhân viên y tế cũng như các tình nguyện viện ai có thể huy động đều đã điều động rồi nhưng vẫn không đủ. Giờ chỉ trông đợi vào tiếp viện 10.000 người từ các tỉnh thành khác trợ giúp mới có thể lật ngược được tình thế.

TP Hồ Chí Minh còn như thế, thử hỏi Bình Dương nếu chống chịu được mấy ngày?

Mỗi người có ý thức một tý thì chúng ta sẽ càng nhanh dập dịch thành công, anh em công nhân còn đỡ khổ. Nếu mà giãn cách suốt thì chính anh em mới là người khổ đó.

BẢN NĂNG VÀ BẢN LĨNH!

 Từ qua cho đến nay, hình ảnh một số công nhân đẩy cổng công ty tại Bình Dương khi nghe tin một đồng nghiệp dương tính với Covid-19 đã được lan truyền trên mạng khiến dư luận xôn xao. Cụ thể, sự việc xảy ra tại Công ty TNHH Ampacs International (KCN Bàu Bàng, huyện Bàu Bàng, ngành nghề sản xuất tai nghe điện thoại, Tổng số công nhân lao động 5.900, ngay sau khi một công nhân dương tính với Covid-19 thì lãnh đạo công ty này đã tiến hành khóa cổng, phục vụ truy vết của ngành y tế. Do một số công nhân lo lắng, thiếu hiểu biết nên đã đẩy cổng để ra về. Tuy nhiên, số lọt ra ngay trong ngày đã trở lại công ty để tiến hành truy vết, xét nghiệm. Nhưng điều đáng buồn là mạng xã hội và một số báo lại không phản ánh đầy đủ thông tin trên.

Nhìn những hình ảnh náo loạn đó chúng ta thấy rõ bản năng và bản lĩnh của mỗi con người. Lo sợ trước dịch bệnh nhất là khi nghe nó đã xuất hiện trong công ty, tại khu sản xuất, việc tìm cách thoát ra khỏi công ty là điều bình thường rất dễ hiểu. Ai sẽ đón con chiều nay, ai sẽ là nấu cơm cho gia đình chiều nay, nhỡ mình cách ly, nhỡ mình đi chữa trị thì nhà cửa sẽ ra sao. Trốn chạy nỗi sợ nó là một bản năng nhưng sau khi thoát khỏi cảnh cổng đó, nghĩ mình nếu mang mầm bệnh thì về gặp người thân gia đình liệu có ích gì và họ quay lại, tránh lây lan, nó lại thành bản lĩnh. Và có thể thấy bản năng là số ít vì nhiều người trong công ty đó vẫn bản lĩnh đối đầu với Covid-19, bởi đối đầu với nó, chúng ta chưa chắc đã thiệt nhưng chạy nó, chắc chắn cộng đồng sẽ thiệt.

Trong mùa dịch, giữa bản năng và bản lĩnh nhiều khi chúng ta không đủ lý trí để lựa chọn. Nên dù xem thông tin về những người xô đổ cổng chúng ta hãy có cái nhìn bao dung. Lẽ dĩ nhiên, có những kẻ nhân tiện sự việc trên để đẩy sự hoang mang trong dư luận. Tất nhiên, lúc đó chính là khi chúng ta cần bản năng và bản lĩnh của người tiếp nhận tin. 

BÁC HỒ - TẤM GƯƠNG VỀ TỰ HỌC

 Bác Hồ, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, nhà tư tưởng giáo dục, nhà sư phạm thực tiễn vĩ đại, đồng thời là một tấm gương sáng ngời về tự học.

Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập khai mạc ngày 6-5-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu: “Lê-nin khuyên chúng ta: “Học, học nữa, học mãi”. Mỗi người phải ghi nhớ và thực hành điều đó”. Người còn cho treo trong phòng họp lời dạy của Khổng Tử: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Người coi lời dạy của Lê-nin và Khổng Tử là phương châm sống và hành động trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Cũng tại Hội nghị này, Người nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”. Người còn xác định: “Không phải có thầy thì học, không thầy đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”(1947), khi nói về cách học tập, Người viết: “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”.

Thân phụ của Người, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy là thầy dạy chữ Hán cho Người. Nhờ chăm học và học rất giỏi, sau này, Người sử dụng thành thạo chữ Hán trong sáng tác thơ Đường. Khi theo thân phụ vào Huế, Người học ở Trường tiểu học Pháp - Việt Đông Ba, rồi Trường Quốc hội Huế, Người rất yêu thích học tiếng Pháp. Trong cuộc biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, Người đã từng làm phiên dịch giúp cho những người biểu tình đề đạt nguyện vọng, đấu tranh với viên Khâm sứ Pháp.

Ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911), trên tàu Latouche Tréville, người thanh niên Nguyễn Tất Thành với tên mới Văn Ba đã nêu cao ý chí tự học: Mỗi ngày, đến 9 giờ tối công việc mới xong… dù mệt lử nhưng trong khi mọi người nghỉ hay đánh bài người thanh niên Nguyễn Tất Thành vẫn đọc hay viết đến mười một giờ hoặc nửa đêm. Trong thời gian ở thị trấn Saint Adret, làm vườn cho gia đình viên chủ hãng tàu, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chăm chỉ học tiếng Pháp. Khi gặp những từ mới, người thanh niên Nguyễn Tất Thành viết vào một tờ giấy dán vào chỗ dễ thấy, có khi viết vào cánh tay để trong lúc làm việc vẫn học được. Cả khi đi đường vẫn nhẩm những từ mới học. Và cứ như thế, mỗi ngày, người thanh niên Nguyễn Tất Thành học thêm vài từ mới, và tìm cách ghép câu để dùng ngay. Sau đó không lâu, người thanh niên Nguyễn Tất Thành học cách viết báo từ bài báo ngắn đến bài báo dài và từ bài báo dài lại viết ngắn. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã nhanh chóng trở thành nhà báo có uy tín tại thủ đô nước Pháp và trở thành chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo “Le Paria”( Người cùng khổ) với nội dung đầy sức chiến đấu, lên án chủ nghĩa thực dân Pháp, đấu tranh cho quyền lợi của người lao động. Cuối chiến tranh thế giới lần thứ nhất, từ Anh trở lại Pháp, Nguyễn Tất Thành viết bài cho các báo, tạp chí. Những bài đăng trên các báo Le Paria, Thư tín Quốc tế, Đời sống công nhân… đặc biệt là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã minh chứng cho sự thành công của việc tự học. Được sự giúp đỡ của nghị sĩ Quốc hội Pháp là P.V.Couturier, Nguyễn Tất Thành có thẻ đọc thường xuyên của thư viện Pháp. Tại đây, Nguyễn Tất Thành khai thác được nhiều tài liệu cho việc nghiên cứu và đấu tranh chính trị… Chỉ trong một thời gian chưa đầy 10 năm sống ở Pháp, người thanh niên có chí khí ấy đã học được nhiều điều bổ ích cần thiết cho sự nghiệp cách mạng của mình.

Trong những năm tháng bôn ba ở nước ngoài, người thanh niên Nguyễn Tất Thành còn đi đến nhiều nơi ở Pháp, Ý, Thuỵ Sĩ, Đức và cả Tòa thánh Vatican để bổ sung những điều đã đọc trong sách vở. Khi đến Liên Xô, đất nước của Lê-nin vĩ đại, làm việc ở Bộ Phương Đông, học ở Trường Quốc tế Lê-nin, nghiên cứu sinh ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc học và thuộc địa, Nguyễn Tất Thành tự học tiếng Nga và có những bài viết đăng báo, tạp chí và đã hoàn thành chương trình học tập ở Trường Quốc tế Lê-nin. Năm 1928, khi hoạt động cách mạng tại Thái Lan, Nguyễn Tất Thành đã tự học thêm tiếng Thái. Mỗi ngày học 10 chữ và chỉ sau ba tháng đã xem được báo chữ Thái.

Tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (1935), với bí danh Lin, khi khai lý lịch, trả lời câu hỏi về trình độ học vấn (tiểu học, trung học, đại học), Nguyễn Tất Thành ghi: Tự học. Trả lời câu hỏi: Đồng chí biết những ngoại ngữ nào? được ghi: Anh, Pháp, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga.

Người luôn luôn nhắc nhở đồng chí của mình và thế hệ trẻ phải nỗ lực học và tự học. Người ân cần dạy bảo: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”.

Trong Bài nói chuyện với những cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm, ngày 9-12-1961, Người tâm sự: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học… Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau. Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30 tuổi so với sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ… thì chúng mình dốt lắm. Tôi cũng dốt lắm… Nếu thế hệ già khôn hơn thế hệ trẻ thì không tốt. Thế hệ già thua thế hệ trẻ mới là tốt. Các cháu không hơn là bệt. Bệt là không tốt. Người ta thường nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Ta hiểu như thế, nhưng không có tư tưởng thụt lùi nạnh kẹ…”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng. Và chính cuộc đời của Người là tấm gương sáng ngời về tự học. Dù Người đã đi xa, song tấm gương học, học không biết mệt mỏi của Người thì vẫn còn sống mãi với muôn đời các thế hệ con cháu mai sau./.

Kẻ cơ hội thì không từ thủ đoạn

 Những ngày vừa qua, hàng triệu người hâm mộ bóng đá nước nhà luôn dõi theo và dành sự quan tâm đặc biệt để động viên, cổ vũ Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam thi đấu. Đáp lại lòng mong đợi, lần đầu tiên đội tuyển đã vượt qua các đối thủ để bước vào vòng loại thứ ba World Cup 2022. Đây là thành tích rất xứng đáng của một tập thể với tinh thần thi đấu bền bỉ và quyết tâm cao. Điều rất lạ là: một số tờ báo, trang mạng nước ngoài lại thể hiện thái độ hằn học, khó chịu. Có nhiều bài viết đã cố tình xuyên tạc sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với đội bóng, thậm chí còn công kích những phát biểu của các cầu thủ trước truyền thông. Chúng cho rằng “vận mệnh của dân tộc đang đặt dưới đôi chân của cầu thủ”, “nhờ bóng đá để ru ngủ người dân”... Có bài viết còn “mổ xẻ”, phân tích cú ngã trong vòng cấm địa của cầu thủ Văn Toàn dẫn đến bàn thắng trong trận gặp đội tuyển Malaysia là do “ăn vạ”. Từ viện dẫn đó, chúng quy chụp đây là hệ quả của cách ứng xử xấu mang màu sắc văn hóa dân tộc?

Sự thật cho thấy, những lời công kích, cố tình suy diễn trên chẳng có cơ sở nào, thể hiện rõ tâm địa đen tối, xấu xa của những kẻ thù địch luôn tìm cách chống phá nước ta bằng mọi giá. Bóng đá từ lâu đã được coi là môn “thể thao vua”. Những trận cầu giúp người hâm mộ có cơ hội được giao lưu, trao đổi thông tin, hình thành sự gắn kết bất kể xuất thân, nghề nghiệp, quốc tịch. Mỗi đội tuyển bóng đá quốc gia đều mang màu cờ, sắc áo của dân tộc mình và Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam cũng không ngoại lệ. Do vậy, với những thành tích đội tuyển đạt được, việc lãnh đạo đất nước chúc mừng, khen thưởng là hết sức bình thường, được đông đảo nhân dân đồng tình, ủng hộ. Bên cạnh đó, các pha bóng kịch tính hay tình huống va chạm trên sân cỏ cũng là chuyện thường xuyên diễn ra ở mọi trận đấu bóng đá. Qua nhiều mùa giải đã cho thấy, Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam đã và đang duy trì lối chơi hay, một tinh thần thể thao fair - play trên đấu trường quốc tế.

Như vậy, từ xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, nhân quyền, giờ đây, các đối tượng thù địch, bất mãn lại tìm cách soi mói đến cả thể thao, lợi dụng tạo cớ suy diễn, xuyên tạc, quy chụp trong mọi việc nhằm thực hiện âm mưu xuyên suốt là chống phá cách mạng Việt Nam. Rõ ràng, những kẻ khi đã mang tâm địa cơ hội thì thường không từ bất kỳ một thủ đoạn nào./.