Chủ Nhật, 31 tháng 10, 2021

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, VÔ ƠN VỀ CHÍNH SÁCH CHỐNG DỊCH

 


            Trong điều kiện dịch bệnh hiện nay diễn ra quá phức tạp, hơn ai hết, Đảng và Nhà nước ta rất lo lắng cho người dân và doanh nghiệp. Từ đó, đã kịp thời ban hành các chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất trong điều kiện sống chung với dịch đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương…. Những chính sách như: Tổ chức sản xuất an toàn trong điều kiện phòng, chống dịch theo 1 trong 4 phương án: “3 tại chỗ”; “1 cung đường, 2 địa điểm”; Kết hợp 2 mô hình; và “4 xanh”… đã đem lại sức sống mới cho người dân và doanh nghiệp trong điều kiện mới. Tuy nhiên tùy vào điều kiện kinh tế, sản xuất mà doanh nghiệp có thể lựa chọn phương án phù hợp, trong quá trình thực hiện, nhiều doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn. Những khó khăn này chắc chắn sẽ được khắc phục nhanh chóng trong thời gian tới.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch chống phá vẫn ngày đêm tuyên truyền xuyên tạc bằng những lời lẽ vô ơn. Những luận điệu xuyên tạc, phản động của chúng không thể che lấp được những thành quả mà Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện: Đó là tổ chức tiêm vaccine được đẩy nhanh, đó là số ca nhiễm bệnh được giảm xuống đáng kể, đó là chuyển biến tích cực trong các tỉnh, thành phố… Để công tác chống dịch covid – 19 diễn ra hiệu quả, người dân cần hết sức cảnh giác với những luận điệu chống phá vô căn cứ, chúng ta phairheest sức bình tĩnh cùng các cấp, ngành, địa phương bước qua đại dịch. Những luận điệu trên của đối tượng đã phủ nhận trắng trợn những thành quả của TP.HCM, Bình Dương… đạt được trong suốt thời gian qua.

Như vậy, có thể nói, mặc dịch, bệnh covid - 19 diễn biến tình hình phức tạp, nhưng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vẫn đang gồng mình để chiến thắng đại dịch. Diễn biến tình hình thay đổi khôn lường, không thể rập khuôn một phương án mà chúng ta cần phải điều chỉnh linh hoạt sao cho phù hợp với từng địa phương có dịch. Kết quả tích cực tại TP.HCM, Bình Dương… trong suốt thời gian qua cho thấy, các bước đi của chúng ta đã đúng hướng. Những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vô ơn của thế lực thù địch và phản động lưu vong sẽ chẳng có tác dụng gì trong tiến trình đi lên, chiến thắng đại dịch của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN CÔNG KHẾ - KẺ CHIÊU HỒI VẬY MÀ THĂNG TIẾN THÀNH TỔNG BIÊN TẬP BÁO THANH NIÊN?

     Nguyễn Công Khế kẻ đã dùng mưu mô xảo quyệt để cướp ghế Tổng biên tập của Huỳnh Tấn Mẫm như thế nào?

 Lời tác giả, Mấy hôm nay trên mạng xã hội lùm xùm về Nguyễn Công Khế cựu TBT Báo TN, một tờ báo có rất nhiều tai tiếng trong làng báo VN... điều đáng chú ý là không hiểu sao đến lúc này người ta mới khui ra được bản "cung khai" của Nguyễn Công Khế với Cảnh sát Ngụy Sài Gòn thời ông ta hoạt động trong phong trào Sinh Viên trước năm 1975 ở miền Nam.....nếu đây là thực, thì Nguyễn Công Khế kẻ chiêu hồi nguy hiểm đã lọt vào truyền thông CM Suốt một thời gian dài đã lũng đoạn Báo Thanh Niên danh tiếng ban đầu và càng ngày rất nhiều sạn, đầy tai tiếng sau này....không những thế trong khuôn khổ bài viết dưới đây người viết sưu tầm chắt lọc thông tin để thấy Nguyễn Công Khế có âm mưu xảo quyệt hất cẳng ân nhân của mình, như một kẻ vong ân bội nghĩa để độc tôn chiếm ghế TBT Báo Thanh niên dễ bề thao túng tờ báo này để hoạt động chống phá.....

Để làm rõ bản chất sự việc, đã tìm lại từng trang của tàng thư công văn, giấy tờ liên quan từ 30 năm trước. Xin công khai đến quý độc giả, nhất là đội ngũ cán bộ, phóng viên, công nhân viên Báo Thanh Niên để thấy được thói ti tiện, bất chấp thủ đoạn vốn nằm trong bản chất con người Nguyễn Công Khế từ ngày xưa và không hề thay đổi cho đến tận bây giờ.

Huỳnh Tấn Mẫm là người kiên quyết bảo vệ Nguyễn Công Khế.

Cuối năm 1985, Nguyễn Công Khế đang là phóng viên báo Phụ Nữ Việt Nam, đang chuẩn bị hồ sơ xin kết nạp Đảng thì xuất hiện thông tin tố cáo Khế tư thông với địch trong thời gian bị tù (từ tháng 5/1972 đến tháng 2/1975), nội dung tố cáo Khế đã thành khẩn khai báo, cung cấp nhiều thông tin về tổ chức, hoạt động của Tổng đoàn Học sinh Đà Nẵng khiến hàng loạt đồng chí bị bắt, cầm tù, thủ tiêu ngay sau thời điểm Khế bị bắt.

Dù chưa có kết luận chính thức của TW Đoàn nhưng nhờ biên bản xác nhận, bảo lãnh của những người đồng chí, đồng đội trong khoảng thời gian cùng bị giam cầm với Khế tại nhà giam Chí Hòa như Lê Văn Nuôi, Đặng Thanh Tịnh, Đoàn Khắc Xuyên và đặc biệt là Huỳnh Tấn Mẫm (Trưởng ban Mặt trận TW Đoàn, Thường trực Ủy ban TW Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam) mà Khế được kết nạp vào Đảng ngày 3/2/1986 tại Chi bộ Văn phòng 2, Phụ nữ Trung ương (Quận ủy Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh). Thời ấy, được kết nạp vào Đảng là sự tự hào ghê gớm và cũng là điều kiện tiên quyết nếu muốn thăng hoa sự nghiệp.

Sự ra đời của Tuần tin Thanh Niên, tiền thân của Báo Thanh Niên

Từ năm 1984, sau khi hoàn thành luận án Phó tiến sĩ tại Viện Hàm lâm Khoa học Xã hội Liên Xô, Huỳnh Tấn Mẫm về nước, tiếp tục công tác tại TW Đoàn với chức danh Trưởng ban Mặt trận TW Đoàn, Thường trực Ủy ban TW Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và bắt đầu nung nấu ý tưởng hình thành một tờ báo để làm diễn đàn nhằm tập hợp, tổ chức thanh niên, cũng vừa là phương tiện để trao đổi, tuyên truyền, hướng dẫn thanh niên trong giai đoạn mới. Khi anh trình bày ý tưởng, ngoài Lê Quang Vịnh (Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam), hầu hết các lãnh đạo của TW Đoàn đều gạt phắt vì khi ấy TW Đoàn đã có 2 tờ báo là Tiền Phong và Thiếu niên Tiền phong.

Để có giấy phép thành lập tờ báo, suốt gần 02 năm ròng rã, bất chấp mọi sự ngăn cản, phản đối, Huỳnh Tấn Mẫm đã ra bắc vào nam gõ cửa khắp nơi để bảo vệ ý tưởng, chính kiến của mình. Mãi đến đầu năm 1986, Ban Tuyên huấn TW mới ra công văn cho phép xuất bản “Tuần tin Thanh Niên”. Nếu không có cái bản lĩnh mang tên “Huỳnh Tấn Mẫm” ấy thì chắc chắn tờ “Thanh Niên” không bao giờ xuất hiện.

Biết Khế có khả năng viết lách, Huỳnh Tấn Mẫm đã làm thủ tục cho Khế về Tuần tin Thanh Niên, đầu tiên bị báo Phụ Nữ Việt Nam, nơi Khế đang công tác từ chối. Nhờ sự kiên trì của Huỳnh Tấn Mẫm, Đặng Thanh Tịnh mà cuối cùng Khế được về Thanh Niên làm việc. Huỳnh Tấn Mẫm không ngờ việc anh nỗ lực để bảo vệ và đưa Nguyễn Công Khế về Tuần tin Thanh Niên lại là một quyết định sai lầm lớn nhất và không thể sửa chữa suốt cuộc đời làm báo.

Thủ đoạn ti tiện của Nguyễn Công Khế đã chấm dứt sự nghiệp báo chí của Huỳnh Tấn Mẫm.

Tổng biên tập Huỳnh Tấn Mẫm đã đưa những ý tưởng cải cách, đổi mới của mình làm tiêu chí hoạt động của Tuần tin Thanh Niên, nhờ thế tờ báo tìm được chỗ đứng trong lòng bạn đọc ngay từ những số đầu tiên và phát triển nhanh chóng, tia-ra liên tục tăng.

Sau khi đưa Nguyễn Công Khế về Tuần tin Thanh Niên, Huỳnh Tấn Mẫm tiếp tục nâng đỡ, giúp đỡ Khế. Tháng 6/1987, qua sự đề nghị của anh Mẫm, Khế được thăng chức Phó tổng biên tập và tham vọng quyền lực của Khế cũng bắt đầu từ đấy.

Chỉ ít lâu sau khi được cất nhắc lên ghế Phó tổng biên tập, Khế bỗng “phát hiện” mình có tài lãnh đạo, quyết không cam chịu làm cái bóng cho Huỳnh Tấn Mẫm. Từng bước, từng bước một Khế tìm đủ mọi cách để triệt hạ uy tín Tổng biên tập Huỳnh Tấn Mẫm nhưng không thành công. Bằng bản lĩnh, khí chất của mình, Huỳnh Tấn Mẫm đã vượt qua tất cả.

Để đạt được mục đích, Khế đã giở mánh khóe cuối cùng và nhơ bẩn, ti tiện nhất để hạ gục bằng được Huỳnh Tấn Mẫm bằng yếu tố “gia đình”. Thủ đoạn của Khế cùng đồng bọn là vu vạ cho chị Nguyễn Lương Dung (vợ anh Huỳnh Tấn Mẫm) đã “giật hụi hơn cả trăm cây vàng” (!?) để chị dính vào vòng lao lý và lấy đó làm cái cớ để triệt uy tín Huỳnh Tấn Mẫm trong các cuộc họp giao ban cán bộ TW Đoàn phía nam. Nghe một số cán bộ TW Đoàn kể lại, thời điểm đó Khế đã rỉ tai, tạo dư luận khắp nơi nhằm bêu rếu Tổng biên tập Huỳnh Tấn Mẫm.

Quá thất vọng trước tình đời đen bạc, Huỳnh Tấn Mẫm chỉ cười nhạt và lạnh lùng ra đi, bỏ lại Tuần tin Thanh niên mà anh đã tốn bao tâm huyết gầy dựng. Nhà báo Minh Diện nhớ lại: Buổi sáng hôm ấy, cuộc họp cuối cùng ở số nhà 27 – Cao Thắng, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh, Huỳnh Tấn Mẫm đứng dậy mỉm cười, nói: “Thôi các anh làm gì thì làm!” và ra khỏi phòng họp. Tôi nhớ mãi nụ cười buồn trên gương mặt rất lạnh, toát lên vẻ kiêu hãnh và khinh khi!. Thiếu sâu sát, quá nhẹ dạ cả tin vào những lời đường mật của Nguyễn Công Khế, ngày 1/11/1988, TW Đoàn đã vội vã ra quyết định số 88 TB/TWĐTN, chính thức kết thúc sự nghiệp báo chí của Huỳnh Tấn Mẫm và giao cho Nguyễn Công Khế “phụ trách toàn diện” mọi hoạt động của Tuần tin Thanh niên.

Tin vào những lời đường mật của Khế, chỉ 03 ngày sau, Bí thư thứ nhất TW Đoàn Hà Quang Dự tiếp tục ký công văn số 1207 gửi Ban Tuyên huấn TW về việc đề cử Nguyễn Công Khế làm quyền Tổng biên tập Tuần tin Thanh Niên.

Thủ đoạn bỉ ổi của Nguyễn Công Khế bị bại lộ khi chỉ vài tháng sau, chị Nguyễn Lương Dung (vợ anh Mẫm) được minh oan, lúc này TW Đoàn mới ngã ngửa nhưng tất cả đều đã quá muộn. Ngày 3/6/1989, Bí thư Trịnh Tố Tâm đã ký thông báo / nghị quyết thi hành kỷ luật đảng viên với hình thức “khiển trách” đối với Nguyễn Công Khế. Tuy nhiên, vì vấn đề “bảo vệ nội bộ” nên văn bản hoàn toàn không nhắc đến bản chất sự việc mà chỉ nêu một số khuyết điểm nhẹ nhàng của Khế:

Phong cách lãnh đạo mang tính chất gia trưởng thiếu dân chủ, thể hiện mối quan hệ giữa đồng chí với đồng chí Mẫm, giữa đồng chí với anh chị em dưới quyền, nói năng thiếu cân nhắc chín chắn, nóng nảy thiếu bình tĩnh.

Ý thức tổ chức kỷ luật yếu: cũng là một nguyên nhân của việc gây mất đoàn kết nội bộ. Đồng chí và đồng chí Mẫm tìm mọi cách chống phá nhau, là đối địch của nhau, ý thức tự phê bình yếu, phê bình người khác thiếu thuyết phục.

Suốt một thời gian dài là người phụ trách tờ báo nhưng không quan tâm đến công tác quần chúng, không tổ chức công đoàn. Hội nhà báo tuy có nhưng hoạt động yếu, quản lý cơ quan mang tính cách gia đình chủ nghĩa.

Án kỷ luật của TW Đoàn chỉ làm chậm bước tiến của Khế và cũng không hề được Khế kê khai trong những bản kiểm điểm đảng viên hàng năm. Bằng “năng khiếu” chạy chọt, y đã dàn xếp thành công cho Lương Ngọc Bộ (Phó Tổng biên tập báo Tiền Phong) tạm thời “giữ giúp” ghế Tổng biên tập Tuần tin Thanh Niên dưới hình thức kiêm nhiệm và phải trả lại cho Khế chỉ 01 năm sau đó.

Qua câu chuyện từ 30 năm trước, cho thấy tính phàm ăn tục uống, thượng đội hạ đạp, lừa thầy phản bạn đã nằm trong máu của Khế từ ngày xưa. Bản năng loài linh cẩu đó, đến tận bây giờ vẫn chưa từng thay đổi. Về quá khứ Nguyễn Công Khế thì còn nhiều chuyện kinh thiên động địa, nhất là giai đoạn mà y đã đánh lừa được cả lịch sử./.




Môi Trường ST.

MỖI ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CẦN QUÁN TRIỆT SÂU SẮC VÀ CHẤP HÀNH NGHIÊM QUY ĐỊNH SỐ 37-QĐ/TW VỀ NHỮNG ĐIỀU ĐẢNG VIÊN KHÔNG ĐƯỢC LÀM

 


--------------------------------

Để tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, không cho lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm.

Quy định nêu rõ 19 điều đảng viên không được làm. Cụ thể:

Điều 1: Nói, viết, làm trái hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế, quyết định của Đảng; làm những việc mà pháp luật không cho phép.

Điều 2: Không chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; tự ứng cử, nhận đề cử và đề cử các chức danh của tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ khi chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền cho phép.

Điều 3: Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng.

Điều 4: Cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng những thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước hoặc những việc chưa được phép công bố; tàng trữ, tuyên truyền, tán phát hoặc xúi giục người khác tuyên truyền, tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những thông tin, quan điểm trái với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Điều 5: Viết bài hoặc cung cấp tài liệu cho người khác viết, nói, cho đăng tải tin, bài sai sự thật, không đăng tải ý kiến phản hồi, cải chính theo quy định. Sáng tác, sản xuất, tàng trữ, tán phát các tác phẩm, công trình văn học, nghệ thuật không lành mạnh, trái thuần phong mỹ tục Việt Nam, mang tính kích động gây ảnh hưởng xấu trong xã hội; tán phát bài viết, bài nói, phỏng vấn, hồi ký, phim, ảnh không đúng quy định.

Điều 6: Tố cáo có nội dung mang tính bịa đặt; cùng người khác viết, ký tên trong đơn tố cáo; viết đơn tố cáo giấy tên, mạo tên. Gửi hoặc tán phát đơn khiếu nại, tố cáo dưới mọi hình thức đến nơi không có thẩm quyền giải quyết.

Đe doạ, trù dập, trả thù người khiếu nại, tố cáo; không thực hiện các quy định của Đảng và pháp luật về bảo vệ người tố cáo, phê bình, góp ý; kích động, xúi giục, mua chuộc, cưỡng ép người khác khiếu nại, tố cáo.

Điều 7: Tổ chức, tham gia các tổ chức, hội trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; biểu tình, tụ tập đông người gây mất trật tự, an ninh.

Điều 8: Tổ chức, xúi giục, tham gia các hoạt động bè phái, cục bộ gây mất đoàn kết nội bộ. Lợi dụng việc phản ánh, góp ý kiến đối với Đảng, Nhà nước để đả kích, vu cáo, xúc phạm, nhận xét, đánh giá tùy tiện đối với tổ chức, cá nhân.

Điều 9: Báo cáo, lập hồ sơ, kê khai lý lịch, kê khai tài sản, thu nhập không trung thực. Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận giả, không hợp pháp; nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định.

Điều 10: Chủ trì, tham mưu ban hành văn bản có nội dung trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thực hiện không đúng quy định trong quản lý đầu tư, xây dựng, sử dụng nhà, đất, tài nguyên, tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước.

Điều 11: Vi phạm đạo đức công vụ, bao che, báo cáo sai sự thật khi thực hiện nhiệm vụ; thiếu trách nhiệm để cơ quan, đơn vị, địa phương, cá nhân do mình trực tiếp quản lý xảy ra tình trạng mất đoàn kết, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các vi phạm khác. Không báo cáo, không xử lý các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Can thiệp, tác động hoặc để vợ (chồng), con, bố, mẹ, anh, chị, em ruột mình, bên vợ (chồng) và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác của mình để trục lợi. Lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Điều 12: Có hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay, can thiệp, tác động dưới mọi hình thức đến tổ chức, cá nhân để bản thân hoặc người khác được tiếp nhận, tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, đề cử, ứng cử, khen thưởng, phong tặng danh hiệu, đi học, đi nước ngoài, thực hiện chế độ, chính sách cán bộ trái quy định.

Điều 13: Can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tác động, ép buộc, mua chuộc tổ chức, cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác.

Điều 14: Tham ô, đưa, nhận, môi giới hối lộ hoặc lợi dụng vị trí công tác để môi giới, hối lộ dưới mọi hình thức; tổ chức, tham gia hoặc tạo điều kiện thực hiện hoạt động rửa tiền, đi vay, cho vay trái quy định của pháp luật.

Điều 15: Tặng, nhận quà dưới mọi hình thức để tác động đến tổ chức, người có trách nhiệm dẫn đến việc quyết định sai, có lợi riêng cho bản thân hoặc cá nhân, tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp.

Điều 16: Không thực hành tiết kiệm, để xảy ra thất thoát, lãng phí trong việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công trái quy định.

Điều 17: Can thiệp, tác động để vợ (chồng), con, bố, mẹ, anh, chị, em ruột mình, bên vợ (chồng), bản thân và người khác đi du lịch, học tập, chữa bệnh bằng nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến ngành, lĩnh vực theo dõi, quản lý.

Điều 18: Tổ chức, tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức; sử dụng các chất ma tuý; sử dụng rượu, bia không đúng quy định hoặc đến mức bê tha và các tệ nạn xã hội khác. Tổ chức việc cưới, việc tang và các sự kiện khác của cá nhân, gia đình xa hoa, lãng phí hoặc nhằm mục đích vụ lợi. Thờ ơ, vô cảm với các hành vi sai trái trong xã hội; có hành vi bạo lực trong gia đình; vi phạm chính sách dân số; sống chung với người khác như vợ chồng, vi phạm quy định về kết hôn với người nước ngoài.

Điều 19: Mê tín, hoạt động mê tín; ủng hộ hoặc tham gia các tôn giáo bất hợp pháp hoặc lợi dụng các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng để trục lợi.

Ban Chấp hành Trung ương giao Ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn thực hiện Quy định này và giúp Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Các cấp uỷ Đảng có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Quy định và định kỳ hằng năm báo cáo với cấp uỷ cấp trên tình hình thực hiện Quy định qua uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ cấp trên. Trong quá trình thực hiện có vấn đề thấy cần bổ sung, sửa đổi thì báo cáo Ban Chấp hành Trung ương xem xét, quyết định.

Đảng viên vi phạm quy định này phải được xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Quy định này thay thế Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về những điều đảng viên không được làm. St

Đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc kết quả phòng, chống dịch Covid – 19 ở nước ta hiện nay

Để chống lại những luận điệu xuyên tác kết quả phòng chống dịch của các thế lực phản động, chúng ta cần phải kết hợp nhiều biện pháp như:

        Một là, cung cấp thông tin đảm bảo “Kịp thời - Minh bạch - Chính xác và Tin cậy” bằng các lực lượng, phương tiện, sử dụng triệt để các hình thức tạo ra chiến dịch truyền thông để nhân dân nhận thấy quyết tâm “chống dịch như chống giặc” của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị cùng tham gia phòng, chống dịch bệnh. Đưa thông tin chính thống, chính xác tạo một dòng chảy chủ đạo của truyền thông trong phòng chống đại dịch Covid-19 và tạo được niềm tin của người dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ, sự vào cuộc của chính quyền địa phương, các cấp, các ngành, các lực lượng. Đồng thời, khẳng định các giải pháp chống dịch của chúng ta đã và luôn được thế giới đánh giá cao, hiệu quả.

         Hai là, tuyên truyền cho nhân dân nhận thức rõ những nỗ lực, thành tựu của đất nước trong phòng, chống đại dịch. Với quan điểm thực hiện “mục tiêu kép” vừa chống dịch hiệu quả vừa phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội cho nhân dân, Chính phủ đã chủ động bình ổn giá thị trường, ngăn chặn, phát hiện, xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, tự ý nâng giá bán nhu yếu phẩm. Quản lý chặt chẽ hoạt động xuất, nhập cảnh; siết chặt cách ly những người đi, về từ vùng dịch. Công tác tuyên truyền người dân nâng cao ý thức phòng ngừa dịch bệnh được tăng cường với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Tăng cường đầu tư trang thiết bị, vật tư y tế về các địa phương, nhất là địa bàn cơ sở xã, phường giúp phòng ngừa, khoanh vùng và dập dịch tại chỗ. Đặc biệt trong đợt dịch này, Chính phủ đưa ra gói hỗ trợ lần 2 (26.000 tỉ đồng) để hỗ trợ cho người dân bị ảnh hưởng vì đại dịch, góp phần giảm bớt khó khăn cho nhân dân.

      Ba là, tích cực, chủ động đấu tranh với luận điểm “Việt Nam chậm trễ, bị động; Đảng, Nhà nước thiếu trách nhiệm trong việc bảo đảm vaccine Covid-19” mà địch xuyên tạc làm cho nhân dân hiểu rõ: cùng với các biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn, kiểm soát, chúng ta cũng đã rất tích cực, khẩn trương, chủ động, tìm mọi cách để có thể nhanh chóng tiếp cận, tìm nguồn, nhập vaccine phòng Covid-19 và triển khai tiêm cho nhân dân, trước hết là lực lượng trên tuyến đầu chống dịch, các đối tượng ưu tiên. Chính phủ, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định về việc phê duyệt kế hoạch tiếp nhận, bảo quản, phân phối, sử dụng vaccine phòng Covid-19 trong giai đoạn 2021-2022 do COVAX Facility (Giải pháp tiếp cận vaccine phòng Covid-19 toàn cầu) hỗ trợ. Đến nay Việt Nam đã đặt hàng 170 triệu liều vaccine phòng Covid-19 từ nhiều nguồn, nhiều nhà cung cấp trong năm 2021 để tiêm 2 mũi cho khoảng 70% số dân là những người đủ 18 tuổi trở lên. Đây cũng là tỷ lệ tiêm vaccine ngừa Covid-19 để đạt được miễn dịch cộng đồng. Vì thế, “Chiến lược 5K + Vaccine” và gần đây nhất Bộ Y tế vừa phát đi “Thông điệp 5T”, trở thành “pháo đài” mới trong giai đoạn chống dịch tiếp theo của Việt Nam là một chiến lược đúng đắn, hiệu quả và căn cơ để đẩy lùi đại dịch Covid-19, đưa mọi hoạt động kinh tế-xã hội trở lại trạng thái bình thường mới.

       Bốn là, nêu cao tinh thần đoàn kết, sự sẻ chia cộng đồng và nhận thấy rõ tính ưu việt của Đảng, Nhà nước ta trong chính sách phòng, chống dịch. Cần nhận thức đúng đắn rằng: Chính phủ, UBMTTQ Việt Nam vận động hỗ trợ, quyên góp ủng hộ phòng chống dịch Covid-19 là hoàn toàn tự nguyện. Toàn bộ kinh phí vận động đều được sử dụng một cách công khai, minh bạch trong công tác phòng, chống dịch như: hỗ trợ y bác sĩ, hỗ trợ người cách ly tập trung, sản xuất trang thiết bị, vật tư y tế.... Bên cạnh đó, với tinh thần “lá lành đùm lá rách” đã xuất hiện nhiều tổ chức, cá nhân có các hoạt động tình nghĩa, các đoàn công tác, y bác sỹ không ngại nguy hiểm, khó khăn gian khổ xung phong vào nơi tuyến đầu chống dịch. Nhiều cây “ATM gạo”, “gian hàng không đồng”, phần quà miễn phí được triển khai để hỗ trợ cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn thể hiện nghĩa cử cao đẹp của một dân tộc luôn đoàn kết trong những lúc khó khăn. Điều đó khẳng định, không có bất kỳ ai bị bỏ quên trong cuộc chiến phòng, chống dịch Covid-19.

     Đại dịch Covid-19 bùng phát trở lại, diễn biến phức tạp là cơ hội để kẻ xấu lợi dụng, tăng cường chống phá. Chính vì vậy, là công dân có trách nhiệm, chúng ta cần phải tỉnh táo, biết “gạn đục khơi trong”, luôn lạc quan, tin tưởng vào công tác phòng, chống dịch bệnh của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các ngành, địa phương. Chỉ có đoàn kết, chung sức, đồng lòng, chúng ta mới vững vàng trước mọi khó khăn, sớm chiến thắng trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19./.

-          St-


NỤ CƯỜI CHIẾN THẮNG MÃI MÃI RẠNG NGỜI CÙNG LỊCH SỬ DÂN TỘC

 


    Là người nổi tiếng trong bức ảnh “Nụ cười chiến thắng”, bà Võ Thị Thắng (1945-2014) sinh tại xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, tỉnh Long An trong một gia đình 9 anh chị em. Năm 11 tuổi, Võ Thị Thắng tham gia hoạt động cách mạng bằng việc đưa thư liên lạc và cùng gia đình nuôi giấu cán bộ, với suy nghĩ rất đơn giản rằng cả quê hương, toàn dân đánh giặc thì tất nhiên trong đó có mình.

    Sau quá trình tham gia các phong trào đấu tranh xuống đường của thanh niên, sinh viên Sài Gòn, phong trào công nhân và nhân dân lao động khu xóm, xí nghiệp nội thành, diệt ác phá kềm, bà bị bắt giam. Suốt 6 năm dài, bà bị giam cầm và tra tấn ở các nhà lao Thủ Đức, Chí Hòa, Côn Đảo.

    Đất nước thống nhất, bà Võ Thị Thắng tham gia công tác tại Thành đoàn, Hội liên hiệp Phụ nữ TP HCM, rồi được giao nhiệm vụ Phó Chủ tịch thường trực Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà từng trúng cử Ban chấp hành Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam – Cuba và sau này giữ cương vị Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch (1996-2007).

    Trong ký ức của nhiều người thuộc thế hệ đi trước vẫn còn nhớ rất rõ sự kiện xảy ra ngày 2/8/1968. Trước Tòa án quân sự mặt trận vùng 3 chiến thuật của chính quyền Sài Gòn, sau khi nghe kết án, Võ Thị Thắng đã nở nụ cười, dõng dạc tuyên bố: “LIỆU CHÍNH QUYỀN CỦA CÁC ÔNG CÓ TỒN TẠI ĐẾN 20 NĂM ĐỂ BỎ TÙ TÔI KHÔNG?”.

    Bức ảnh “Nụ cười chiến thắng” với câu nói ngắn gọn, đanh thép của cô gái miền Nam, nữ sinh Sài Gòn Võ Thị Thắng đã làm rung động lòng người, tác động tích cực đến tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, là nguồn cảm hứng cho nhiều sáng của văn nghệ sĩ trong nước và ngoài nước vào thời bấy giờ.

    Ngày 22/8/2014, bà Võ Thị Thắng qua đời tại TP HCM ở tuổi 69. Nụ cười của bà mãi mãi rạng ngời cùng lịch sử dân tộc. St

 

Nhận diện những luận điệu xuyên tạc kết quả phòng, chống dịch Covid – 19 ở nước ta hiện nay

         Ở Việt Nam, với những chủ trương đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc quyết liệt của Nhà nước, Chính phủ, chính quyền các địa phương, của cả hệ thống chính trị và sự nỗ lực, đoàn kết chung tay phòng, chống đại dịch của toàn dân đã giành được những kết quả bước đầu, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Tuy vậy, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo nhằm gây nhiễu loạn thông tin, phủ nhận kết quả phòng chống, dịch ở nước ta. Đặc biệt, trước diễn biến phức tạp của đợt dịch bùng phát lần thứ tư, các đối tượng phản động đã tung ra những thông tin bịa đặt, các luận điệu xuyên tạc, vu cáo trắng trợn nỗ lực phòng, chống Covid-19 tại nước ta. Phủ nhận mọi nỗ lực và thành quả chống dịch của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Thậm chí chúng còn cho rằng “Việt Nam đưa ra các biện pháp cách ly y tế hay phong tỏa khu vực dân cư có người nhiễm Covid-19, hạn chế tụ tập đông người là vi phạm nghiêm trọng tự do của mỗi người”. Chúng lập luận rằng “Mọi người được tự do cư trú” nhưng người nhiễm virut Covid-19 và cả những người tiếp xúc gần đều bị đưa đi cách ly ở các khu vực do Nhà nước quy định, như vậy thì người dân không được tự do lựa chọn nơi cư trú theo mong muốn của bản thân, làm cho nhân dân có những suy nghĩ, nhận thức sai lệch về “Tự do”, kích động cổ vũ nhân dân chống phá Đảng, chống phá chính quyền trong công tác phòng, chống dịch. 

          Nghiêm trọng hơn, chúng còn xuyên tạc rằng Việt Nam “Giấu thông tin về dịch bệnh, số người thực tế nhiễm và tử vong do Covid-19 cao hơn nhiều so với con số được công bố”. Đồng thời, cho rằng Chính phủ các nước tư bản tung các gói cứu trợ cho người dân, hỗ trợ phòng, chống dịch cho quốc tế và các hình thức hỗ trợ khác để phòng, chống dịch bệnh còn Chính phủ, UBMTTQ Việt Nam kêu gọi vận động hỗ trợ, quyên góp ủng hộ quỹ vaccine phòng chống dịch Covid-19. Từ đó, so sánh và xuyên tạc rằng chính quyền Việt Nam yếu kém chỉ biết "xin tiền" nhân dân… Đây là những luận điệu xuyên tạc với mục đích công kích, phủ nhận nỗ lực chống dịch của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, nhằm gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong dư luận xã hội, tạo sự hoài nghi về công tác phòng, chống dịch nhằm gây bất ổn chính trị - xã hội trong nước. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh, phản bác làm thất bại những luận điệu sai trái trên.

_St_

THƯỢNG TƯỚNG, GIÁO SƯ HOÀNG MINH THẢO: TƯ LỆNH TỪ DUYÊN HẢI ĐẾN TÂY NGUYÊN

 

Năm 1945, khi mới 24 tuổi, Hoàng Minh Thảo được giao làm Khu trưởng Chiến khu 3, thay đồng chí Nguyễn Bình vào Nam làm Tư lệnh Nam Bộ. Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, ông được giao giữ nhiều vị trí quan trọng trong quân đội, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Ông cũng được biết đến là người nhận quân hàm Đại tá trẻ nhất toàn quân, khi ở tuổi 27.

24 tuổi trấn giữ vùng duyên hải

Chàng thanh niên mới ngoài tuổi đôi mươi đã đảm nhiệm trấn giữ cả một vùng duyên hải rộng lớn từ Hải Dương đến Móng Cái (thuộc tỉnh Hải Ninh lúc đó), nơi đối mặt trực tiếp với thực dân Pháp đổ bộ từ cửa biển Hải Phòng vào. Trong hồi ký, ông viết: “Đầu tháng 9-1945 thì Bộ Quốc phòng cử tôi về làm Tư lệnh Chiến khu 3-vùng duyên hải Bắc Bộ. Lúc đó, anh Lê Quang Hòa là phái viên chính trị, được trên cử về trước tôi nhận bàn giao công việc với anh Nguyễn Bình để anh ấy đi nhận nhiệm vụ mới ở miền Nam”.

Từ người phụ trách vài chục đội viên đội du kích Tràng Định, với lối đánh nhỏ lẻ trên địa bàn hẹp của tỉnh Lạng Sơn, nay Hoàng Minh Thảo nhận trách nhiệm mới rất nặng nề, khó khăn: Phụ trách một địa bàn lớn, với bao công việc chồng chất, phức tạp. Những công việc này hoàn toàn mới mẻ và thật sự là một thử thách lớn đối với chàng thanh niên 24 tuổi.

Chiến khu 3 vừa thành lập, bao gồm cả Đệ tứ chiến khu Đông Triều. Lúc này, nhiệm vụ trọng tâm của Khu trưởng là phải tập hợp, đoàn kết được sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang (LLVT) trong toàn địa bàn gồm cả trí tuệ cùng vũ khí. Cùng Khu trưởng Hoàng Minh Thảo thực hiện nhiệm vụ lúc này là những người có tinh thần yêu nước, mang khát vọng nước nhà độc lập, đồng bào thoát khỏi ách nô lệ thực dân. Tuy nguồn gốc xuất thân khác nhau: Nông dân, công nhân, thanh niên, sinh viên, nhà tu hành, các sĩ quan, hạ sĩ quan và binh lính yêu nước trong quân đội Pháp, cả những “anh hùng hảo hán” một thời làm mưa làm gió ở đất cảng, vì có lòng yêu nước mà hội tụ về Chiến khu 3 như: Nguyễn Hải Thanh, Trần Cung, sư Tuệ (Nguyễn Kiên Tranh), sư Lương (Hoàng Ngọc Lương), Lê Hai, Bùi Sinh, Nguyễn Khai, Đặng Tính, Vũ Đình Thiệp... Khu trưởng Hoàng Minh Thảo mau chóng chỉ huy việc dẹp phỉ hoành hành ở vùng Chí Linh (Hải Dương), Sơn Động (Quảng Yên, nay thuộc Bắc Giang), Đình Lập (Hải Ninh, nay thuộc Lạng Sơn), đồng thời trực tiếp nắm tình hình ở Móng Cái để sau đó tham gia chỉ đạo việc giành chính quyền cách mạng tại đây.

Đặc biệt, những trận đánh với quân đội nhà nghề của thực dân Pháp trên Đường số 5 từ Hải Dương ngược lên Hưng Yên sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) đã cho thấy ở ông bản lĩnh của một vị tướng cầm quân. Một câu hỏi được đặt ra: Từ đâu mà Hoàng Minh Thảo có kiến thức quân sự khi tuổi đời còn trẻ đến vậy?

Năm 1941, Tổng bộ Việt Minh cử đoàn cán bộ thanh niên đi học quân sự ở Liễu Châu (Trung Quốc). Trường này do chính quyền Tưởng Giới Thạch lập ra để đào tạo sĩ quan chống phát xít Nhật. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi đó, với tầm nhìn xa của mình, đã tiên đoán được sự phát triển của cách mạng cần một lực lượng quân đội hùng mạnh. Dựa vào chủ trương của chính quyền Tưởng Giới Thạch, để có những vị tướng giỏi chỉ huy quân đội sau này, Nguyễn Ái Quốc yêu cầu lựa chọn các nam thanh niên ưu tú sang học quân sự tại đây. Học viên từ khắp các nước trong khu vực: Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện (nay là Myanmar)... đều được thu nhận. Đoàn học viên đến từ Việt Nam do Tổng bộ Việt Minh cử đi có Tạ Thái An (sau này mang tên Hoàng Minh Thảo), Đàm Quang Trung, Vũ Lập, Nam Long...

Đại tá Hoàng Long Xuyên, năm nay 105 tuổi, là học viên trường quân sự ở Liễu Châu (Trung Quốc) tròn 80 năm trước, vẫn nhớ đến người bạn đồng môn của mình. Ông kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng khổ luyện học tập quân sự, thời gian sau này hai ông sát cánh chiến đấu ở Lạng Sơn, giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Ở Lạng Sơn, Hoàng Minh Thảo đã tham gia tổ chức đội du kích huyện Tràng Định. Sau này, năm 2008, cùng với Đại tá Đào Văn Trường, Thượng tướng Phùng Thế Tài, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã đại diện cho các đội quân du kích tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam lên nhận Huân chương Quân công hạng Nhất do Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao tặng. Đó là Đội Cứu quốc quân do các ông: Lương Văn Tri, Chu Văn Tấn chỉ huy; Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân do ông Võ Nguyên Giáp chỉ huy; đội Du kích Ba Tơ do ông Phạm Kiệt chỉ huy; Đệ tứ chiến khu do ông Nguyễn Bình chỉ huy...

Tháng 5-1945, đội du kích Tràng Định lập chiến công đầu tiên đánh chiếm đồn Pò Mã. Sau trận đánh đồn Pò Mã, đội du kích Tràng Định chiêu tập thêm người, đi các địa phương xây dựng cơ sở. Bằng việc tổ chức đánh thổ phỉ bảo vệ cuộc sống nhân dân, đội quân cách mạng được dân chúng tin yêu.Để tổ chức đội du kích huyện Tràng Định (Lạng Sơn), Hoàng Minh Thảo và các đồng chí cốt cán tập hợp được chừng 20 người, vận động đồng bào đóng góp tiền của để sang Trung Quốc mua sắm vũ khí. Sau đó, đội du kích Tràng Định được Cao Bằng tăng cường một tiểu đội và một khẩu trung liên.

Thời cơ đến, sáng 22-8-1945, đội du kích Tràng Định vũ trang đầy đủ, chia làm hai mũi tiến vào phủ đường Tràng Định. LLVT cách mạng nhanh chóng làm chủ tình hình, nắm chính quyền. Lập chính quyền mới ở Tràng Định xong, Hoàng Minh Thảo cùng các đồng chí về thị xã Lạng Sơn tham gia khởi nghĩa nhưng chưa đến nơi thì thị xã cũng đã giành được chính quyền. Tỉnh trưởng Linh Quang Vọng đầu hàng, bàn giao ấn tín cho Việt Minh.

Tiếng sấm Tây Nguyên - đòn trúng huyệt Buôn Ma Thuột

Cuộc đời binh nghiệp của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là bản anh hùng ca gắn liền với những chiến công vang dội, tạo được niềm tin cho cấp dưới của mình. Các nhà nghiên cứu quân sự đánh giá Hoàng Minh Thảo là người đam mê đánh giặc bằng mưu kế, thế trận điển hình là Chiến dịch Đắc Tô 1 (năm 1967), Chiến dịch Đắc Xiêng (năm 1970), Chiến dịch Đắc Tô-Tân Cảnh (năm 1972). Chiến dịch Tây Nguyên mà ông làm tư lệnh là đỉnh cao về nghệ thuật đánh giặc bằng mưu kế.

Năm 1975, Hoàng Minh Thảo là Tư lệnh chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, đã giáng đòn điểm huyệt vào quân Mỹ-ngụy, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tiếp nối là Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng” viết: “Trong một buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là một thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi địch sơ hở nhất, có khả năng phát triển xuống đồng bằng. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân, thiếu nước”.

Từ sau ngày đất nước thống nhất, Hoàng Minh Thảo lần lượt đảm nhiệm các trọng trách: Viện trưởng-Bí thư Ðảng ủy Học viện Quân sự cấp cao (1977-1990), nay là Học viện Quốc phòng; Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự, Bộ Quốc phòng (1990-1995). Ông tập trung trí tuệ viết nên nhiều tác phẩm tổng kết về lý luận quân sự, làm cẩm nang cho các thế hệ mai sau: “Tìm hiểu một số vấn đề về nghệ thuật chỉ huy”, “Nghệ thuật tác chiến: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn”, “Về cách dùng binh”, “Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự”...

Ghi nhận những cống hiến trong nghiên cứu khoa học, ông được phong học hàm Giáo sư ngành khoa học quân sự, danh hiệu Nhà giáo Nhân dân. Năm 2005, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm công trình về nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Thượng tướng, GS, NGND Hoàng Minh Thảo (1921-2008) tên thật là Tạ Thái An, sinh ra tại huyện Tràng Định (Lạng Sơn) trong một gia đình tiểu thương, bố làm thợ may với một cửa hiệu nhỏ ở thị trấn Thất Khê, còn quê nội của ông ở xã Bảo Khê, huyện Kim Động (nay là xã Bảo Khê, TP Hưng Yên), tỉnh Hưng Yên. Ngày 5-4-1948, tại thị trấn Vân Đình, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), Bộ trưởng Hoàng Minh Giám thay mặt Chính phủ đã chủ trì lễ gắn quân hàm Đại tá hạng nhất cho ông Hoàng Minh Thảo-Khu trưởng Chiến khu 3, khi ông 27 tuổi.

Trong vai trò người chỉ huy quân sự, từ tháng 10-1966, ông Hoàng Minh Thảo vào chiến trường B, đảm nhiệm các chức vụ: Phó tư lệnh, rồi Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (B3), Phó tư lệnh Liên khu 5 (1974-1976). Ông được phong quân hàm Thiếu tướng (năm 1959); Trung tướng (năm 1974); Thượng tướng (năm 1984). Thượng tướng Hoàng Minh Thảo được bầu là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa IV (năm 1976); Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa V (năm 1982). Ông được Ðảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Ðộc lập hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng... St

 

Bản chất của luận điệu “phi chính trị hóa quân đội”

 Hiện nay, các thế lực thù địch và các đối tượng phản động tập trung cao độ tuyên truyền cho cái gọi là “quân đội phi giai cấp”. Chúng tận dụng mọi phương tiện truyền thông, mọi khả năng có thể nhằm đạt được mục đích để “đưa cho được” cái quan điểm, quân đội và các lực lượng vũ trang chỉ có mục tiêu duy nhất là bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Chúng luận giải rằng, quân đội và các lực lượng vũ trang không phải là lực lượng mang tính giai cấp. Để có thể “ru ngủ” được lòng người, chúng lấy mô hình xây dựng quân đội của các nước như là một minh chứng cho quan điểm của mình. Vậy, bản chất thật của luận điệu trên như thế nào và nhằm mục đích gì?

Để chống phá Đảng, Nhà nước, các thế lực thù địch, đối tượng phản động chủ yếu tập trung vào mấy mục tiêu sau: Thứ nhất là phá vỡ nền tảng tư tưởng chính trị, đó là học thuyết lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta đã xác định là nền tảng tư tưởng, là “kim chỉ nam” cho mọi hành động. Sau nữa là xuyên tạc, bao vây, phá vỡ nền kinh tế để làm cho nền kinh tế suy yếu dẫn đến đời sống xã hội khó khăn, gây sự bất tín trong nhân dân, từ đó, lôi kéo tạo nên những điểm nóng, lấy cớ châm ngòi cho hành động bạo loạn, lật đổ chế độ. Tận dụng những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng Đảng, Nhà nước, nhất là các tệ nạn tham ô, tham nhũng, vi phạm đạo đức của một số cán bộ các cấp, từ đó, xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu, đổ đồng đội ngũ cán bộ, tạo sự nghi ngờ trong bất cứ việc tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, từng bước gây mất niềm tin của nhân dân vào Đảng.

Song song với các mục tiêu trên, các thế lực thù địch, đối tượng phản động ra sức tuyên truyền quan điểm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Đây là thủ đoạn rất xảo quyệt và cực kỳ nguy hiểm. Quân đội, Công an và các lực lượng vũ trang khác là lực lượng chuyên chính, là sức mạnh không chỉ bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, mà còn là “thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Một khi quân đội và các lực lượng vũ trang khác bị “phi chính trị hóa”, đánh mất nền tảng tư tưởng, cái cốt lõi để tạo nên sức mạnh thì chắc chắn sẽ suy yếu. Khi đó, sức mạnh tư tưởng đã suy yếu, dẫn đến không còn khả năng ngăn chặn các cuộc bạo động, bạo loạn từ bên trong cũng như khả năng tấn công từ bên ngoài của các thế lực thù địch. Một khi, nền tảng chính trị không được giữ vững, sự bất ổn định trong quản lý đất nước xảy ra, các hoạt động chống đối, phá hoại có cơ hội lộ diện. Lúc đó, sức mạnh chuyên chính không được thực thi, khả năng ngăn chặn sự tấn công từ bên trong và bên ngoài sẽ bị vô hiệu hóa. Đất nước sẽ dẫn đến tình trạng an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội bị đảo lộn, pháp luật không được thực thi, từng bước sẽ dẫn đến bạo loạn, thậm chí nội chiến và khi đó, các thế lực thù địch bên ngoài sẽ lấy cớ giúp đỡ “lực lượng tiến bộ”, tiến hành chiến tranh xâm lược, đất nước rơi vào chiến tranh và sẽ mất độc lập, tự chủ. Bản chất của cái gọi là “quân đội phi chính trị”, “quân đội phi giai cấp” chỉ là thứ ngôn ngữ hoa mỹ nhằm che đậy âm mưu toan tính lật đổ chế độ, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với cách thức, thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch và đối tượng phản động mà thôi.

Quân đội của chúng ta là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, được nhân dân chăm lo nuôi dưỡng, với mục tiêu xuyên suốt, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân, bảo vệ nền độc lập dân tộc mà biết bao thế hệ ông cha đã dày công, đổ xương máu xây đắp, dựng nên. Quân đội ấy được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng, cùng có chung lợi ích dân tộc, đất nước, giai cấp và nhân dân. Xây dựng quân đội kiên định về chính trị, vững mạnh về tư tưởng, chặt chẽ, trong sạch về tổ chức, có đủ sức mạnh đánh trả bất cứ hành động xâm lược nào cũng như hoạt động làm tổn hại đến sự ổn định của đời sống xã hội. Đây không chỉ là yêu cầu của Đảng mà đó là nhiệm vụ của toàn dân tộc, của nhân dân, của mọi thành phần trong xã hội và của chính quân đội.

Nhận thức đúng bản chất, nhận rõ âm mưu thủ đoạn, tường tận mọi cách thức hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động đối với quân đội cũng là biện pháp, cách thức xây dựng quân đội không ngừng tăng cường sức mạnh. Đó là sức mạnh chính trị tư tưởng, sức mạnh của niềm tin. Với sức mạnh ấy, không chỉ làm thất bại toàn diện mọi luận điểm chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, mà còn là sự khẳng định bản chất giai cấp của quân đội. Một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Một đội quân mang bản chất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo Phạm Quế Nghi_ Báo biên phòng

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

 


Ngày 01 tháng 11 năm 1967

“…Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công” .

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”, gửi cho báo Pravđa (Liên Xô); Báo Nhân dân, đăng số 4952, ngày 01 tháng 11 năm 1967.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh xem chủ nghĩa Mác - Lênin như kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và Người luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo “cẩm nang thần kỳ” đó vào thực tiễn cách mạng. Sự khẳng định trên của Bác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định và đánh giá cao bài học kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng, đó là một trong những bài học có tính nguyên tắc và phổ biến, đảm bảo cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức. Thực tiễn chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiếp tục giành những thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nguyên giá trị, nhất là trong công tác xây dựng Đảng. Theo đó, Đảng ta phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; Đảng phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Đối với Quân đội ta, đó cũng là nguyên tắc, nền tảng tư tưởng để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu cao; xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn cao tinh thần tự giác, tích cực nghiên cứu, học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy đảng; đồng thời biết vận dụng sáng tạo vào hoạt động thực tiễn của đơn vị nhằm thực hiện có hiệu quả chức trách, nhiệm vụ được giao. St

 

 

 

DANH TƯỚNG KIỆT XUẤT TRẦN HƯNG ĐẠO VỚI KẾ SÁCH “VƯỜN KHÔNG NHÀ TRỐNG” CHIẾN THẮNG GIẶC NGUYÊN MÔNG LÀ ĐỈNH CAO VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM

 


Đế chế Nguyên Mông nổi tiếng hưng thịnh và hùng mạnh nhất thế giới, vó ngựa của chúng tung hoành khắp nơi, chinh phạt trời Á sang Âu. Không có nước nào địch nổi đội quân hùng mạnh, thiện chiến của Hốt Tất Liệt. Nhưng cả ba lần (1258, 1285 và 1287), chúng sang xâm lược nước ta là cả ba lần phải nhận đại bại nhục nhã dưới tài chỉ huy của các danh tướng nhà Trần, mà tiêu biểu là Trần Hưng Đạo lừng danh, Trần Hưng Đạo quê ở Nam Định, là danh tướng vĩ đại của nhà Trần.

Chiến thắng giặc Nguyên Mông là đỉnh cao về nghệ thuật quân sự ở nước ta mà chiến lược gia không ai khác đó chính là thiên tài quân sự Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn. Ông dùng kế sách “vườn không nhà trống”, không để cho giặc lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, kéo dài chiến tranh không có lợi cho ta; xóa bỏ mọi hiềm khích, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, khích lệ tướng sĩ bằng hùng văn bất hủ “Hịch tướng sĩ”. Đây là bản Tuyên ngôn thứ hai thể hiện hào khí chống ngoại xâm của dân tộc ta. Tướng sĩ nghe lời hịch nấc lòng, thích vào tay hai chữ “THÁT SÁT” (giết giặc Mông Nguyên). Ông xây dựng khối đại đoàn kết trên dưới một lòng, giết giặc giữ nước, trọng dụng nhân tài như Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật, Yết Kiêu, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản… để làm nên chiến thắng.

Lần đầu tiên trong chế độ phong kiến đã diễn ra “Hội nghị Diên Hồng” nổi tiếng. Ông đã khéo dựa vào sức dân để phát động nghệ thuật chiến tranh nhân dân hợp lực lại để đánh bại chế độ hùng mạnh nhất bấy giờ. Tố chất xuất chúng của ông là biết chọn lựa thời cơ để đánh giặc. Minh chứng hùng hồn là trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng năm 1287, ông đã dựa vào quy luật thiên nhiên để đánh thắng giặc, bằng cọc gỗ vát nhọn cắm xuống sông che lấp bằng thủy triều và nhử chúng vào sâu, vào thế trận của ta giăng sẵn rồi nhấn chìm tất cả kẻ thù xuống sông khi thủy triều xuống.

Bằng nghệ thuật quân sự độc đáo này ông đã ba lần đánh bại quân Nguyên Mông xâm lược, làm sụp đổ một triều đại Hốt Tất Liệt hùng mạnh, mở ra nền độc lập cường thịnh cho dân tộc Việt Nam. Tấm gương của ông là tài sản vô giá, là nguồn cổ vũ động viên to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam đời này sang đời khác. Nhân dân ta lập đền thờ ông ở nhiều nơi để tưởng nhớ công lao to lớn của Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn và suy tôn ông là Đức Thánh Trần. Ngày nay ông trở thành vị Thánh thiêng liêng được thờ phụng trên mọi miền đất nước. St

 

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm an toàn thông tin trong truyền thông xã hội

Nền tảng pháp lý được coi là một trong những chìa khóa của sự phát triển kinh tế số, trong đó có truyền thông xã hội. Trước sự tác động hai mặt của truyền thông xã hội, nhiều nước trên thế giới đã chủ động có những biện pháp nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực từ truyền thông xã hội, xây dựng các quy định cụ thể để tăng cường quản lý, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong lợi dụng loại hình truyền thông mới này.

Việt Nam đã ban hành nhiều quy định về trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong bảo đảm an toàn thông tin trên in-tơ-nét nói chung và truyền thông xã hội nói riêng. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để ngăn chặn, xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật trong việc sử dụng in-tơ-nét nói chung, truyền thông xã hội nói riêng; chủ động ngăn chặn, vô hiệu hóa việc lợi dụng truyền thông xã hội gây nguy hại đến an ninh, trật tự xã hội. Trong năm 2019, thực hiện yêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam, Facebook đã gỡ bỏ 207 tài khoản, trong đó có 46 tài khoản giả danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước; còn lại là các tài khoản đưa thông tin giả mạo, nói xấu, kích động chống phá Nhà nước Việt Nam; gỡ bỏ 2.444 link rao bán sản phẩm bất hợp pháp; 271 link phát ngôn gây thù hận, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các thương hiệu, cá nhân và tổ chức; gỡ bỏ 330 fanpages quảng cáo game cờ bạc, đổi thưởng. Youtube gỡ bỏ 9.501 video vi phạm, ngăn chặn truy cập từ Việt Nam vào 19/62 kênh Youtube phản động thường xuyên đăng tải nội dung chống phá Nhà nước Việt Nam, chứa khoảng 5.000 video clip; tiếp tục xem xét, ngăn chặn các kênh còn lại. Trên Google Play, Google đã gỡ 108/111 game trong đó có 104 game bài và một game có tên “Lấy lại quê hương” có nội dung phản động, chống phá Nhà nước Việt Nam và các game không phép(7)...

Tuy nhiên, công tác giám sát, ngăn chặn, vô hiệu hóa các thông tin độc hại trên truyền thông xã hội còn gặp nhiều khó khăn, bất cập:

Một là, trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, tội phạm mạng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, ứng dụng các thành tựu khoa học hiện đại để tiến hành các chiến dịch tấn công mạng, dẫn dắt dư luận trên truyền thông xã hội, khiến công tác phòng ngừa, ngăn chặn của cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn.

Hai là, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan công tác bảo đảm an ninh mạng đã được xây dựng nhưng chưa hoàn thiện; vai trò và hiệu lực quản lý nhà nước trên lĩnh vực an ninh mạng nói chung, truyền thông xã hội nói riêng còn bất cập.

Ba là, ý thức của một số cơ quan, đơn vị và người dùng về công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ bí mật riêng tư trên môi trường in-tơ-nét, truyền thông xã hội chưa cao, chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, tầm quan trọng của công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng; kiến thức, kỹ năng bảo đảm an ninh mạng còn hạn chế. Không ít cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chưa chú trọng áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin.

Bốn là, các hệ thống mạng thông tin ở nước ta chưa theo một tiêu chuẩn thống nhất, nhiều nơi chưa có thẩm định về an ninh mạng; nhiều cơ quan, bộ, ngành sử dụng các thiết bị mạng lõi của một số tập đoàn công nghệ vẫn tồn tại lỗ hổng bảo mật, có nguy cơ bị theo dõi, giám sát, thu thập thông tin từ xa; hầu hết linh kiện điện tử giá rẻ tại Việt Nam đều có nguồn gốc từ nước ngoài, chứa nhiều lỗ hổng bảo mật hoặc bị cài sẵn các tài khoản truy cập “cửa hậu” (backdoor), khiến Việt Nam luôn nằm trong danh sách các quốc gia bị ảnh hưởng bởi các “mạng máy tính ma” lớn nhất thế giới(8)

Năm là, công tác bảo vệ an toàn thông tin, an ninh mạng chưa được đầu tư tương xứng và thỏa đáng. Sự phát triển như vũ bão về khoa học và công nghệ đã khiến cho vòng đời của sản phẩm an ninh mạng ngắn lại; yêu cầu đầu tư để theo kịp sự phát triển, không bị lạc hậu trong điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn là một trong những thách thức đang đặt ra. Nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ vào bảo đảm an ninh mạng ở nước ta chưa theo kịp tốc độ phát triển khoa học - công nghệ của thế giới; chưa tự chủ, sản xuất được các thiết bị công nghệ thông tin, dẫn đến lệ thuộc nhiều vào các sản phẩm nước ngoài.

Sáu là, công tác đào tạo nguồn nhân lực, chuyên gia an ninh mạng chưa theo kịp yêu cầu về số lượng và chất lượng, thiếu lực lượng chuyên gia chuyên trách bảo vệ an ninh mạng; chính sách đãi ngộ còn nhiều bất cập nên chưa phát huy hết năng lực chuyên môn của đội ngũ này.

TT

Một số lệch lạc khi nhận thức không đầy đủ về mối quan hệ giữa văn hóa và con người

(1) Chưa nhận thức sâu sắc quan điểm văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Vì vậy, cấp ủy, chính quyền ở không ít nơi chỉ “khoán trắng” cho cán bộ làm văn hóa.

(2) Chưa nhận thức tác động sâu sắc của văn hóa tới đạo đức, nhân cách, lối sống của từng con người, đặc biệt ở thời cơ chế thị thường khi các chuẩn mực đạo đức, lối sống bị đảo lộn giá trị; những hành vi ác độc lấn át cái thiện, dẫn tới nhiều thảm kịch đau lòng trong xã hội (cha giết con, vợ giết chồng, anh giết em chỉ vì lợi nhuận trong hợp tác đầu tư không được thỏa mãn; các tệ nạn ma túy, mại dâm có đà phát triển; đặc biệt sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống có biểu hiện đáng báo động, tạo cơ sở phát triển tệ tham nhũng, quan liêu nghiêm trọng…) Như vậy, một trong những mục đích cao đẹp của văn hóa là góp phần bồi đắp CHÂN - THIỆN - MỸ đã không được đáp ứng.

(3) Mặc dù Nghị quyết đề cập nhiều giải pháp căn cơ, nhưng trong quá trình thực hiện, không ít cơ quan, địa phương chưa coi trọng đúng mức nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đặc biệt là trong các trường học, cơ quan, doanh nghiệp… Chúng ta đau lòng khi mươi năm trở lại đây, nạn ma túy xâm nhập một số trường học; nhất là hiện tượng chửi tục, đánh đập nhau, xé quần áo… trong các phe nhóm nữ sinh ở độ tuổi 14-15 diễn ra ngay tại sân trường, lớp học, đường phố…, nhưng hình như không ai can thiệp, thậm chí có nhóm người đứng xem cổ suý vô tư!

Ở bình diện lý luận, một số nhà nghiên cứu chưa làm rõ nội hàm CON NGƯỜI. Đây là một thực thể bao gồm 2 thành tố CON và NGƯỜI. Chừng nào thành tố “con vật” lấn át thành tố “con người” thì sẽ gây hiểm họa khôn lường (mà những hành động nêu trên chỉ là ví dụ tiêu biểu).

Ở bình diện thực tiễn, sự quan tâm chỉ đạo đi liền với giải pháp thì các cơ quan hữu quan chưa thật sự chú ý chọn trọng tâm, trọng điểm trong từng giải pháp mà Nghị quyết đã ghi. Chúng ta chỉ có thể xây dựng được môi trường văn hóa lành mạnh khi cả xã hội chung tay góp sức, nhưng vai trò của gia đình còn bị xem nhẹ; hoặc đã thấy, nhưng không làm quyết liệt. Chúng ta cảm thông trong cuộc sống mưu sinh hiện nay, nhiều cặp vợ chồng đi làm sớm, về nhà lại rất muộn nên việc học gần như phó thác cho con cái. Trong bối cảnh internet, điện thoại thông minh phát triển mạnh mẽ, nhiều cháu về đến nhà chỉ vùi đầu vào máy để chơi game, quên cả làm bài tập; trong khi sự tác động xấu của những trò chơi mang tính bạo lực cùng các hình ảnh kích dục, lại có sức hút mạnh mẽ với các em chưa đến tuổi thành niên. “Thế giới nhà trường” và “thế giới gia đình” hình như còn tách biệt; vai trò của Ban phụ huynh học sinh trong các trường dường như chỉ là hình thức, chưa phối hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm và ban giám hiệu trong việc đánh giá sâu sắc và toàn diện công tác giáo dục, quản lý với từng học sinh…

Về mặt xã hội, chúng ta vui mừng “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được phát động từ trước năm 1998 và tiếp tục được duy trì, mở rộng đến hôm nay. Tình làng, nghĩa xóm được khơi dậy; truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái được đề cao; ý thức chia sẻ, động viên nhau trong khó khăn, hoạn nạn càng ngời sáng - mà qua 4 đợt bùng phát đại dịch COVID-19 trong hai năm qua, cả nước đã chứng kiến nhiều tấm lòng, nhiều việc làm tình nghĩa, rất đáng trân trọng, có tác động giáo dục tích cực, nhất là đối với lớp trẻ. Nhưng nếu nghiêm túc xem xét, có một câu hỏi đặt ra: vậy lúc bình thường thì thế nào? Tôi nhớ mãi lời cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc sinh thời đã nói rất thật với một số nhà hoạt động văn hóa: “Các đồng chí nên sâu sát hướng về cơ sở hơn nữa. Tôi đã có dịp ghé thăm hàng chục phường, xã, khóm, ấp từng được công nhận là “đơn vị văn hóa”, nhưng khi hỏi chuyện cả cán bộ và nhân dân những việc họ đã làm, thì tất cả tỏ ra lúng túng…” Như vậy, có nghĩa là, trên thực chất, trong nhận thức của ngay cả cán bộ làm văn hóa cũng chưa hiểu rõ vai trò quan trọng của văn hóa nên dẫn đến các việc làm mang tính hình thức; đáng chú ý là ở một số nơi đạt “danh hiệu văn hóa”, nhưng tệ cờ bạc, mê tín dị đoan, kể cả ma túy có chiều hướng gia tăng…

 

Mai Năm Mới