Thứ Hai, 10 tháng 1, 2022

Cảnh giác với thông tin giả, bịa đặt

 

Thông tin bịa đặt không phải đến bây giờ mới xuất hiện trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện công nghệ mới, phương thức truyền tin, nhất là mạng xã hội phát triển sâu rộng thì tin giả càng thêm đất sống.

Tin giả như một loại virus độc hại, nó xâm nhập, gây rối dư luận, gây rối lòng tin, thậm chí làm khủng hoảng niềm tin. Các thế lực phản động, thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng điều này để xuyên tạc, kích động chống phá hòng gây mất ổn định đất nước ta. Vì thế, phải đấu tranh mạnh mẽ để loại bỏ mối hiểm họa thật sự này.

1. Tin giả, trong từ điển tiếng Anh và truyền thông quốc tế sử dụng gọi là fake news. Bản thân nó có nghĩa để chỉ tin rác, tin giả mạo được tuyên truyền nhằm cố ý lừa bịp người khác.

Ở Việt Nam, trong đời sống dân gian, loại tin đó được gọi nôm là “tin vịt”. Tin này dứt khoát không bao giờ đúng với thực tế, nó được đưa ra để nhằm đánh lừa, tạo sự hiểu sai về một vấn đề, sự kiện nào đó.

Đáng tiếc, tin giả giờ đây không chỉ được lan truyền miệng từ người này sang người kia mà thông qua các hiệu ứng truyền thông, mạng xã hội, nó lan truyền với tốc độ chóng mặt. Vì là tin bịa đặt, nên nó được cường điệu cho nên hàm chứa sự ly kỳ, hấp dẫn, dễ đánh vào xúc cảm, tâm lý của những người mà độ “hóng” cao.

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH DÙNG CHIÊU BÀI “TỰ DO”, “DÂN CHỦ TƯ SẢN”, “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ” GÂY SỨC ÉP, ĐÒI NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THAY ĐỔI BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ

 

          Từ năm 1986 đến nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước dấy lên một cao trào tuyên truyền cho “tự do”, “dân chủ tư sản”, “chủ nghĩa đa nguyên”. Đẩy mạnh hoạt động này, chúng nhằm hai mục đích. Thứ nhất, chúng gây sức ép với Nhà nước ta chấp nhận và hợp pháp hóa sự có mặt trên chính trường những tư tưởng tư sản và những lực lượng chính trị đối lập chống CNXH. Đây là cái bẫy rất hiểm độc mà chúng đã từng sử dụng ở một số nước Đông Âu và Liên Xô. Nếu chúng ta không sáng suốt, tỉnh táo thì khó lường hết những hậu quả sẽ xảy ra đối với chế độ XHCN ở nước ta, đối với Đảng và nhân dân ta. Thứ hai, nếu như về mặt công khai, mục tiêu này không đạt được, thì “việc tuyên truyền dân chủ, tự do tư sản, tuyên truyền cho đa nguyên, đa đảng sẽ kích động, khuyến khích được những người bất mãn, cá nhân chủ nghĩa, non kém về chính trị nổi lên chống CNXH ở Việt Nam”.

          Như vậy, khi sử dụng nội dung trên đây vào các hoạt động phá hoại nội bộ Nhà nước ta, chúng đã “cấy” vào xã hội ta tư tưởng chống CNXH và tạo thế cho các lực lượng phi XHCN phát triển và có chỗ đứng ở Việt Nam. Đến một lúc nào đó, khi có thêm “chất xúc tác” vào, các lực lượng này sẽ là những nhân tố tạo ra “ngòi nổ” làm sụp đổ CNXH ở Việt Nam.

          Bản chất của hoạt động tuyên truyền các nội dung trên đây là chống cộng, chống CNXH. Nó làm tan rã, làm triệt tiêu những giá trị tư tưởng của CNXH. Mặt khác, nó là những yếu tố kích thích sự phát triển các nhân tố phi XHCN trong lòng CNXH ở nước ta. Tất cả những việc làm và sự tấn công của các thế lực thù địch trong và ngoài nước trên mặt trận chính trị, tư tưởng trong thời gian qua đã gây tác động tiêu cực không nhỏ đến tình hình tư tưởng - chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Những kẻ cơ hội, xét lại, những phần tử bất mãn đã không tiếc công, tiếc sức tuyên truyền cho chủ nghĩa tư bản và con đường tư bản chủ nghĩa. Không ít người ngây thơ về chính trị đã ăn phải “bả độc” đó với những mức độ khác nhau./.

TBQL 17

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 


          Đây là một trong những nội dung chính của hoạt động “diễn biến hòa bình”, của hoạt động tuyên truyền phá hoại của kẻ thù trong những năm qua. Mỹ và các thế lực phản động tung ra nhiều luận điệu tuyên truyền nhằm kích động quần chúng loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, như: chúng phê phán Đảng ta không chịu đổi mới về chính trị, “không chịu thực hiện đa nguyên chính trị, giữ độc quyền lãnh đạo, hạn chế dân chủ”. Chúng cho rằng: “độc tài, Đảng trị là cái gốc sai chính của nhà cầm quyền Việt Nam hiện đại”. Và, “Đảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”. Chúng thống kê, tổng hợp lại toàn bộ những sai lầm, thiếu sót cả về đường lối lẫn chỉ đạo thực tiễn của Đảng ta trong quá khứ, đặc biệt là ở lĩnh vực kinh tế và quản lý xã hội để chứng minh cho sự “chấm dứt vai trò lịch sử của Đảng”, gạt Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân tộc. Chúng khai thác, lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm trong chỉ đạo và thực hiện đường lối, chính sách, những cán bộ, đảng viên tham nhũng, tha hóa, tạo ra sự phân hóa sâu sắc trong Đảng, làm suy yếu sức mạnh đoàn kết trong Đảng và giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Theo quan điểm của các thế lực thù địch, muốn chiến thắng đối phương phải phá vỡ sự gắn bó trong tổ chức Đảng Cộng sản và giữa Đảng với nhân dân. Chúng khuyến khích cải tổ, cải cách, đổi mới triệt để, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để làm suy yếu, đi đến phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Gần đây, chúng tung ra một số luận điệu vu khống, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cấp cao ở các thời kỳ nhằm đề cao người này, hạ thấp người kia để chia rẽ nội bộ, làm mất lòng tin của đảng viên, cán bộ và nhân dân. Chúng phủ định đường lối, chính sách của Đảng ta, với luận điệu: “kinh tế thị trường sẽ từng bước làm thay đổi bản chất chế độ XHCN còn non trẻ, ốm yếu ở Việt Nam... sẽ tới một ngày Chính phủ Việt Nam chỉ còn là Cộng sản trên danh nghĩa”.

          Chúng nỗ lực xây dựng, nhen nhóm tổ chức chính trị chống đối trong nội địa, nội bộ ta; nhưng đã bị ta phát hiện và kịp thời ngăn chặn có hiệu quả, như, đã làm thất bại ý đồ tái lập “Đảng Dân chủ”, lập “Đảng dân chủ xã hội”, lập “Liên minh dân chủ cấp tiến” ở phía Nam, “Mặt trận dân chủ cấp tiến” ở phía Bắc, Đảng “Dân chủ tự do Thiên Chúa giáo”, Đảng “Dân chủ tự do Phật giáo”, v.v.. Chúng đã và sẽ tiếp tục củng cố, phát triển, sử dụng lực lượng: Tình báo gián điệp làm tham mưu, nòng cốt, xung kích tổ chức hoạt động; Lực lượng phản động trong các tôn giáo, dân tộc; Lực lượng ngụy quân, ngụy quyền cũ làm lực lượng hoạt động phá hoại trực tiếp; Nguy hiểm nhất là lực lượng do CIA cấu kết với tình báo nước ngoài khác, sử dụng bọn “hậu chiến”, xét lại, cơ hội chính trị, thoái hóa biến chất trong nội bộ ta, dựng ngọn cờ “dân chủ cấp tiến”, tổ chức đảng phái đối lập “hình thành một tập hợp lực lượng dân chủ có đủ sức mạnh đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam”.

TBQL 17

Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2022

PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CỦA CÁCH MẠNG NƯỚC TA LÀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 


          Chúng hết lời ca ngợi Goócbachốp, công khai đi theo con đường TBCN: “Không nên cứ tôn thờ CNXH một cách lý thuyết suông mà không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường TBCN. Tự giác thì sẽ đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích chậm chạp hơn, đau đớn hơn”. Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền cho mô hình “xã hội dân chủ” và tư tưởng dân chủ tư sản; thực hiện âm mưu xóa bỏ chuyên chính vô sản, xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, phủ nhận đấu tranh giai cấp, gây mơ hồ về địch, ta; đề cao chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân tư sản. Đưa ra quan điểm về con đường “dân tộc” đi lên xây dựng xã hội văn minh do trí thức, sinh viên thanh niên làm nòng cốt; nhằm tác động vào giới trẻ để khuyến khích họ đấu tranh cho “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” và đẩy mạnh chiến tranh tâm lý tác động vào xã hội những khuynh hướng mơ hồ, lệch lạc để lừa bịp quần chúng nhân dân./.

TBQL 17

XUYÊN TẠC, PHỦ ĐỊNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

          Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là, sự thống nhất biện chứng giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Song, chúng cố tình xuyên tạc tư tưởng của Người, chúng cho rằng, tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh là tư tưởng dân tộc, để qua đó chúng xuyên tạc, biến tướng tư tưởng của Người thành tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, tư tưởng dân tộc tư sản. Thực chất là tư tưởng phản động, phản bội của chúng, nhưng nhân danh Bác. Chúng còn cho rằng: “Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu. Đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm. Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tư do” là phi nhân tính”.

          Mặt khác, chúng chỉ đạo viết những tài liệu xuyên tạc trắng trợn nhằm thực hiện ý đồ “hạ thần tượng Hồ Chí Minh”. Gần đây, chúng viết tài liệu với đầu đề dưới dạng văn học. Trong đó, chúng đã dựng chuyện, vu cáo bỉ ổi, bôi nhọ Bác, kể cả về đời tư và sự nghiệp lãnh đạo cách mạng. Chúng cho rằng, khi đã lợi dụng được tư tưởng Hồ Chí Minh để chuyển hóa quan điểm lý luận thì sẽ xóa luôn cả vai trò, vị trí lịch sử của Bác, để dựng ngọn cờ mới dưới các chiêu bài chủ nghĩa xã hội dân chủ, CNXH nhân văn, CNXH nhân bản, thực chất là xóa bỏ CNXH khoa học và học thuyết Mác - Lênin./.

TBQL 17

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, CHÚNG TA CẦN PHẢI KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

          Tận dụng sự bùng nổ của công nghệ thông tin, mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động tăng cường phát tán quan điểm sai trái, nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, vạch trần ý đồ của chúng; đề xuất giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề vừa có tính cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài.

          Để tiếp tục đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, cấp ủy đảng các cấp trong Quân đội cần nhận thức sâu sắc và tiến hành đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau đây:

          Một là, tăng cường giáo dục, xây dựng lập trường, tư tưởng chính trị kiên định, vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ, nâng cao sức đề kháng”, khả năng miễn dịch” trước quan điểm sai trái trên không gian mạng. Đây là giải pháp cơ bản, xuyên suốt, nhằm nâng cao “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước quan điểm sai trái cho cán bộ, chiến sĩ. Cấp ủy các cấp cần quán triệt, thực hiện có hiệu quả nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII). Tăng cường giáo dục bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối lãnh đạo của Đảng. Kịp thời thông tin có định hướng các sự kiện, vấn đề nảy sinh; chỉ rõ dấu hiệu nhận biết chiêu trò mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng. Từ đó, giúp cán bộ, chiến sĩ nêu cao cảnh giác, không dao động trước âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của chúng, tăng cường “sức đề kháng”, đề cao trách nhiệm, tính tự giác trong đấu tranh, phản bác quan điểm, sai trái, thù địch.

          Hai là, xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp căn cơ trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, là tiền đề quan trọng để xây dựng cơ quan, đơn vị “mẫu mực, tiêu biểu”; đồng thời, tạo môi trường trong sạch, lành mạnh để ngăn ngừa sự xâm nhập những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch vào đơn vị. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng nâng cao chất lượng ra nghị quyết, sinh hoạt đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng; tập trung vào giáo dục “đạo đức người cán bộ, đảng viên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Gắn xây dựng Đảng về đạo đức với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, cao đẹp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nêu gương thực hành đạo đức, tạo sự lan tỏa thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

          Ba làphát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, lực lượng nòng cốt, vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, lực lượng đấu tranh nòng cốt vừa có chức năng tham mưu, chỉ đạo, định hướng đấu tranh, vừa kịp thời cung cấp thông tin để thực hiện các biện pháp đấu tranh triệt phá thông tin xấu độc và giữ vai trò chủ đạo trong vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Vì thế, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng đấu tranh nòng cốt, chuyên sâu linh hoạt, phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, phù hợp với từng cơ quan, đơn vị; phát huy hiệu quả đội ngũ cộng tác viên trong tham gia viết bài đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên các báo, tạp chí. Đồng thời, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong việc chia sẻ thông tin tích cực, bài viết chuyên sâu, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”.

          Bốn là, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trước các vấn đề xã hội, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội. Kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, không tạo “khoảng trống” để các thế lực thù địch chống phá là một nội dung quan trọng trong thực hiện phương châm chỉ đạo của công tác tư tưởng, nhằm tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch. Điều đó đòi hỏi các cơ quan, đơn vị duy trì nghiêm nền nếp, chế độ cung cấp thông tin, bảo đảm cho các thông tin chính thống đến trước, đến sớm với cán bộ, chiến sĩ để định hướng tư tưởng; thông tin kịp thời các phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, như: chỉ rõ mục tiêu, luận điểm sai trái và cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác, làm cơ sở cho các lực lượng viết tin, bài đấu tranh. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn cần bám sát định hướng của trên, chủ động xây dựng các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện, tạo sự thống nhất cao trong hoạt động đấu tranh.

          Năm làđẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ đấu tranh trên internet, mạng xã hội; tăng cường trao đổi kinh nghiệm đấu tranh giữa các cơ quan, đơn vị, lực lượng. Các cơ quan, đơn vị kỹ thuật chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, nghiên cứu, khai thác hiệu quả các phần mềm kiểm soát, phân loại thông tin trên mạng xã hội. Tiếp tục phát triển các giải pháp công nghệ truyền thông; đầu tư nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật phục vụ lực lượng tham gia đấu tranh trên internet, mạng xã hội; kịp thời bóc gỡ thông tin xấu độc không để cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tiếp cận được với thông tin này. Duy trì tổ chức tốt hội nghị rút kinh nghiệm và tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, làm cơ sở cho các lực lượng, nhất là lực lượng nòng cốt, chuyên sâu nâng cao kỹ năng đấu tranh trên mạng xã hội. Chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương trao đổi thông tin, kinh nghiệm hay, cách làm mới, hiệu quả trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.

TBQL 17

TỰ SOI, TỰ SỬA - VŨ KHÍ SẮC BÉN ĐỂ CHỐNG SUY THOÁI TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Từ rất sớm, trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: làm cách mệnh “trước hết phải có Đảng cách mệnh…”. Theo Người, Đảng cách mệnh là nhân tố quyết định sự thắng lợi của cách mạng, nhưng Đảng đó phải bao gồm những người có tư cách của người cách mệnh, mà tư cách người cách mệnh được Người khái quát hết sức đơn giản, ngắn gọn đó là “Cần, kiệm; Hòa mà không tư; cả quyết sửa lỗi mình; cẩn thận mà không nhút nhát…”. Từ những tư tưởng đó với sự quyết tâm nỗ lực của chính mình, Người đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3 tháng 2 năm 1930.

           

Cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã có bước chuyển quan trọng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Song để Đảng trở thành người lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam Đảng phải không ngừng tự chỉnh đốn để Đảng thực sự là Đảng cách mạng. Từ khi chưa trở thành Đảng cầm quyền, năm 1939, Tổng Bí thư của Đảng Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm "Tự chỉ trích" để chỉnh đốn Đảng, đảng viên phải tự chỉ trích trước Đảng. Mục đích của “Tự chỉ trích”: Là phải thông qua phê bình và tự phê bình trong Đảng để “tìm ra những nguyên nhân thất bại và nghiên cứu phương pháp sửa lỗi và tiến thủ”. Trong “Tự chỉ trích”, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã chỉ rõ “Người cộng sản có bổn phận nói sự thật với quần chúng, dẫn đường cho quần chúng chớ không phải theo đuôi họ, hay phỉnh họ…”.

          

Về phương pháp phê bình và tự phê bình: Trong tác phẩm “Tự chỉ trích”, đồng chí Nguyễn Văn Cừ yêu cầu: “Phê bình và tự phê bình phải tôn trọng sự thật, công khai, mạnh dạn, thành thực vạch những lỗi lầm của mình và tìm phương châm sửa đổi, chống những xu hướng hoạt đầu, thỏa hiệp, như thế không phải làm yếu Đảng, mà là làm cho Đảng được thống nhất, mạnh mẽ.” Đồng chí còn chỉ rõ: “Mỗi đảng viên có quyền tự do thảo luận, tự do chỉ trích, miễn là sự thảo luận luôn luôn mang tinh thần Bôn-sê-vich, không làm giảm uy tín của Đảng.”

          

Nói về tự phê bình và phê bình trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành nhiều thời gian và công sức để giáo dục và rèn luyện Đảng ta. Tự phê bình và phê bình không những chỉ là tư tưởng mà còn là tấm gương mẫu mực của Người để toàn Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên học tập và làm theo. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình, thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi”.


Người khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình,… là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn…”.


Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích của tự phê bình và phê bình với người cách mạng là: “Giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ… Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”.


Trong toàn bộ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng, Người luôn chú ý đến việc giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, đồng thời Người luôn nhắc nhở Đảng, muốn xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân thì Đảng phải thường xuyên được xây dựng và chỉnh đốn để đáp ứng với lòng mong mỏi của nhân dân. Trước lúc đi xa, Người đã để lại bản Di chúc thiêng liêng cho toàn Đảng, toàn dân, trong đó lời dặn “Trước hết nói về Đảng”, Người chỉ rõ, để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng, “…Cần thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”, bởi theo Người đó “là cách tốt nhất”.


Trong quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn nhất quán quan điểm “Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt”. Đối với việc xây dựng chỉnh đốn Đảng, Đảng luôn coi trọng tự phê bình và phê bình, vì Đảng khẳng định:“Tự phê bình và phê bình là một quy luật phát triển và tiến bộ của Đảng, cũng là một phương pháp căn bản để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng”.


Quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, nhiều vấn đề mới, phức tạp nảy sinh đòi hỏi Đảng phải giải quyết, một trong những vấn đề nổi cộm đó là phải thực hiện xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh loại trừ những căn bệnh nguy hiểm có thể nảy sinh trong Đảng cầm quyền. Vì vậy các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đều chú trọng công tác xây dựng Đảng mà tập trung thể hiện cao nhất ở Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII vừa qua đã thảo luận và ban hành Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm với nhiều điểm mới nổi bật.


Đặc biệt trong thời gian tới, Kết luận số 21-KL/TW khẳng định: Phải tiến hành đồng bộ và quyết liệt hơn nữa nhiều công việc cụ thể, thiết thực, tập trung vào 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) đã đề ra; đồng thời bổ sung nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm”. 


Theo đó, phải chú trọng nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, "lợi ích nhóm". Rà soát, hoàn thiện, thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; công tác cán bộ, công tác kiểm tra; công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, của công luận.


Để triển khai thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIIIl đi vào thực tiễn cuộc sống, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp luôn nhận thức đầy đủ, sâu sắc trách nhiệm của mình trước dân, đất nước, trước Đảng để tự giác gương mẫu thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong đó, thực hiện nghiêm Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, có ý nghĩa quyết định trong việc ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.


Những nội dung mới đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và có phương pháp đúng đắn, linh hoạt để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) tạo chuyển biến mới trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, như lời phát biểu Bế mạc Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên "hãy phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm cá nhân, cùng với cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết, kết luận của Trung ương" để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay.

NỀN TẢNG CHO NHỮNG NẤC THANG MỚI

Trước thềm xuân mới, các chiến sĩ hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương. Mỗi người lại có những dự định cho riêng mình: Người có kế hoạch học nghề, người làm việc ở công ty, người đi xuất khẩu lao động... Tất cả đều có chung tâm trạng háo hức với tương lai phía trước.


Phấn khởi khi đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, Nguyễn Tuấn Dũng (Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội) chia sẻ rằng, qua hai năm rèn luyện trong môi trường quân ngũ, Dũng học tập, tích lũy được nhiều kiến thức, kinh nghiệm và cảm thấy trưởng thành, tự tin khi trở về địa phương bắt đầu cuộc sống mới. Dũng chọn học nghề lái xe vì có một công ty đã nhận vào làm việc.


Dũng cho biết, nhiều quân nhân xuất ngũ cùng đợt cũng được các doanh nghiệp ưu tiên tuyển dụng theo hướng vừa học vừa làm, tạo thuận lợi để có thể lao động được ngay. Với những phẩm chất như ý thức tổ chức kỷ luật tốt, tác phong làm việc nghiêm túc, trách nhiệm, bộ đội xuất ngũ được các đơn vị tin tưởng, ưu tiên tuyển dụng.


Nếu đi xuất khẩu lao động, có doanh nghiệp còn hỗ trợ kinh phí ban đầu, sau một thời gian làm việc có thể trả hết khoản vay vốn, tích lũy thu nhập gửi về gia đình. Rất nhiều thanh niên đã tìm thấy cơ hội tốt sau khi xuất ngũ.


Hai năm trong quân ngũ là khoảng thời gian để thanh niên học tập, rèn luyện. Nhiều đồng chí trưởng thành rõ rệt. Khi tiếp nhận quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về, nhiều địa phương tổ chức gặp mặt, đánh giá cao quá trình rèn luyện của thanh niên, mong muốn lực lượng này tiếp tục phát huy những kiến thức, kinh nghiệm, vốn sống tích lũy được, đóng góp sức trẻ cho cộng đồng.


Ngày lễ ra quân, nhiều địa phương tổ chức tưng bừng thì ngày trở về cũng trang trọng, chu đáo, thể hiện sự quan tâm, trân trọng đối với quân nhân xuất ngũ. Không những vậy, nhiều địa phương còn phối hợp với các đơn vị, doanh nghiệp tổ chức tư vấn, dạy nghề và giới thiệu việc làm.


Với bản lĩnh vững vàng, ý thức trách nhiệm cao, tinh thần kỷ luật tốt, tác phong làm việc nghiêm túc, những thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự có thể lựa chọn công việc phù hợp với bản thân, nhanh chóng ổn định cuộc sống.


Có thể khẳng định, quân đội là trường học tổng hợp giúp quân nhân học tập, rèn luyện bản thân. Mỗi đồng chí không chỉ tích lũy kiến thức, kinh nghiệm mà còn rèn về tác phong, ý thức kỷ luật, tinh thần trong lao động, công tác, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức tốt, thái độ sống tích cực, trách nhiệm, ý chí vượt qua mọi khó khăn, thử thách.


Không ít quân nhân nhận thấy môi trường quân đội phù hợp với điều kiện bản thân nên quyết tâm ôn thi vào các trường sĩ quan để được phục vụ quân đội lâu dài. Với những người trở về địa phương, họ mang theo kiến thức, kinh nghiệm và cả tác phong, lối sống trong quân ngũ. Đó sẽ là hành trang hữu ích để mỗi người vững vàng, tự tin hơn trong cuộc sống mới.


Tuổi trẻ luôn khát khao chinh phục những nấc thang hướng đến tương lai. Được sống, học tập và rèn luyện trong quân ngũ sẽ là những trải nghiệm ý nghĩa. Những ai đã trải qua đều thấy vinh dự, tự hào khi được là người quân nhân cách mạng, từ đó sống có lý tưởng, trách nhiệm hơn, tiếp tục phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội.  

Tổng thống Kazakhstan ra lệnh quân đội nổ súng vào các phần tử khủng bố

Ngày 7/1, Tổng thống Kazakhstan Kassym-Jomart Tokayev tuyên bố ông đã ra lệnh cho quân đội và lực lượng thực thi pháp luật sử dụng vũ khí sát thương nhằm chống lại những phần tử khủng bố, đồng thời cho phép nổ súng không cần cảnh báo trước.

Tổng thống Tokayev khẳng định ông cho phép sử dụng vũ lực, kể cả vũ lực sát thương, nhằm ngăn chặn các phần tử khủng bố và vãn hồi trật tự, ổn định. Nhà lãnh đạo Kazakhstan cũng bác bỏ mọi khả năng thương lượng với khủng bố.

Trong bài phát biểu toàn quốc được phát trên truyền hình, Tổng thống Tokayev cho hay ít nhất 20.000 tay súng đã tấn công thành phố Almaty, các phần tử nổi dậy có vũ trang được huấn luyện và có một trung tâm làm nhiệm vụ điều phối nhóm này. Ông Tokayev tuyên bố những kẻ khủng bố sẽ bị tiêu diệt nếu không đầu hàng./. 

Nhận diện nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ vấn đề cấp bách trong đấu tranh phòng chống diễn biến hòa bình.

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang thực sự trở thành một trong những nguy cơ, thách thức hàng đầu đối với sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Nước ta. Vì vậy, nhận diện nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là yêu cầu mang tính cấp bách đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. “Diễn biến hòa bình” với tư cách là một chiến lược toàn cầu phản cách mạng do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành nhằm chống phá các nước chủ nghĩa xã hội, phong trào độc lập dân tộc và cách mạng tiến bộ trên thế giới. Được hình thành từ sau chiến tranh Thế giới lần thứ 2, phát triển khá hoàn chỉnh trong Thập kỷ 80 và được vận dụng thành công “Vượt ngoài mong đợi” tại Liên Xô và các nước Đông Âu. Trong những năm gần đây, một số biến động dưới dạng “Diễn biến hoà bình” diễn ra ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi với các tên gọi khác nhau như: “Cách mạng màu”, “Cách mạng hoa” hay “Mùa xuân Ả Rập”,… Ngoài “Diễn biến hoà bình” do bên thứ ba tác động, còn một phần quan trọng khác đó là "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” trong nội bộ, một dạng “Diễn biến hoà bình” cực kỳ nguy hiểm đối với các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào độc lập dân tộc và cách mạng tiến bộ trên toàn thế giới. Đối với Việt Nam “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang thực sự trở thành một trong những nguy cơ thách thức đối với sự tồn vong của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bài viết làm rõ một số dấu hiệu để nhận diện được nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần đấu tranh làm thất bại Chiến lược “Diến biến hòa bình”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình hiện nay.

Vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không phải bây giờ mới có, cũng không phải chỉ có duy nhất ở Việt Nam, mà có ngay trong phong trào Cộng sản quốc tế ở các nước Xã hội chủ nghĩa từ trước. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế theo khuynh hướng tư tưởng đối lập như: phái Latxan, phái Công Liên, phái Blongxki, phái Bruđông,… Những phần tử thuộc các trường phái đó không những không đi theo mà còn công khai chống lại Học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội khoa học một cách quyết liệt. Đó là những người cộng sản đã bị thoái hóa, biến chất về chính trị - tư tưởng và trở thành những “Con chiên ngoan đạo” của “Chủ nghĩa cơ hội tả khuynh” hay “Hữu khuynh”. Trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, “Chủ nghĩa xét lại” đã xuất hiện ở Liên Xô, một trào lưu tư tưởng đối lập, thù địch với Chủ nghĩa Mác - Lênin. Những kẻ theo “Chủ nghĩa xét lại” đã công khai phê phán và đòi “xét lại Học thuyết Mác - Lênin”. Trong thời kỳ đó, ở Việt Nam cũng đã có một số cán bộ, đảng viên, trí thức đi theo “Chủ nghĩa xét lại”. Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, nước ta lại xuất hiện các đối tượng cơ hội chính trị mà thực chất đó là những cán bộ, đảng viên đã bị thoái hóa, biến chất và họ đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đặc biệt là hiện nay, khi mà kẻ thù đang thực hiện Chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, chúng luôn coi các yếu tố thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là điều kiện để thực thi có hiệu quả Chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam.

“Diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. “diễn biến hòa bình” tạo ra các yếu tố thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, còn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hệ quả nảy sinh từ phương thức, thủ đoạn của “diễn biến hòa bình” và là điều kiện để “diễn biến hòa bình” diễn ra nhanh chóng hơn. Trước hết, bằng việc thực thi Chiến lược “diễn biến hòa bình” kẻ thù đang tìm mọi cách làm cho đất nước ta từng bước suy yếu trên tất cả các phương diện, cùng với đó là những sai phạm của ta chậm được khắc phục như: suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, mất đoàn kết, thiếu dân chủ; sự tụt hậu xa hơn về kinh tế,… làm cho quần chúng bất bình, mất lòng tin vào Đảng và chính quyền, tạo ra mâu thuẫn gay gắt từ bên trong; kết hợp với các hoạt động chống phá, mua chuộc, lôi kéo bọn cơ hội chính trị của các thế lực phản động thù địch là những yếu tố tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, dẫn tới những biến động về chính trị trong nước, đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta một cách từ từ, khó nhận biết và rất khó phòng chống. “Tự diễn biến là tự biến đổi theo một chiều hướng nào đó”, còn “tự chuyển hóa là tự biến đổi từ dạng này sang dạng khác”. Đối với Việt Nam khi nói tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là nói tới sự suy thoái, thay đổi quan điểm, lập trường chính trị - tư tưởng ở một bộ phận cán bộ, đảng viên hay trong một số tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thể xã hội… “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường do sự tác động từ bên ngoài thông qua các hoạt động tuyên truyền thù địch, sự tác động từ những biến động tiêu cực của tình hình thế giới như: sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu hay gần đây là “Cách mạng màu”, “Cách mạng hoa”; Kết hợp với sự tác động từ bên trong bởi tình trạng mất dân chủ, quan liêu, tham nhũng, sự phân hóa giàu nghèo,… dẫn tới sự bất mãn, bất bình nghiêm trọng trong xã hội. Nhưng trước hết và chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan từ chính bản thân những cán bộ, đảng viên có lập trường chính trị - tư tưởng không vững vàng, sự bất mãn hay do buông lỏng trong quản lý, giáo dục của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, Đoàn thể xã hội trong hệ thống chính trị của Nhà nước ta. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trên nhiều phương diện, đó là nhận thức lệch lạc về chính trị - tư tưởng; sự sa đọa về phẩm chất đạo đức, lối sống… các biểu hiện suy thoái trên có quan hệ tương tác với nhau; từ sự suy thoái về chính trị - tư tưởng có thể dẫn tới sự tha hóa về phẩm chất đạo đức, lối sống và sự tha hóa về phẩm chất đạo đức, lối sống có thể dẫn đến sự thoái hóa về chính trị - tư tưởng. “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể diễn ra trong nội bộ Đảng, chính quyền Nhà nước và trong toàn xã hội. Nhưng nguy hiểm nhất là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ lãnh đạo Đảng và cơ quan quyền lực Nhà nước. Thực tế cho thấy, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới cuộc chính biến ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây đều bắt nguồn từ sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ Ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô và các nước Đông Âu. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể nảy sinh ở những cán bộ, đảng viên, quần chúng và cũng có thể đến từ những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền ở các cấp. Nhưng đáng chú ý và nguy hiểm hơn là khi nó nảy sinh từ những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền; những cán bộ cấp cao có trọng trách trong việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt nguy hiểm là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở những cán bộ cấp cao giữ vai trò “Cầm lái con thuyền đất nước”. Sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết gắn liền với tên tuổi của Gorbachev, Enxin,… có thể nói đó là những đảng viên Cộng sản cấp cao “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và trở thành những kẻ phản bội lại Đảng Cộng sản Liên Xô, chế độ Xô Viết và phong trào Cộng sản trên toàn thế giới. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về nhận thức thì sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự thay đổi hành vi, dẫn đến có các hành động chống đối về chính trị và các hoạt động chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa dưới nhiều hình thức của một cá nhân hay tổ chức, đi đôi với ca ngợi và tin theo các giá trị của chủ nghĩa tư bản. Đó là vấn đề có tính quy luật, cần phải hết sức cảnh giác, đề phòng và phải thấy được tính chất nguy hại của vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong một quá trình và thường biểu hiện qua những dấu hiệu cụ thể như: nói không đi đôi với làm và thậm chí còn làm ngược lại với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; thể hiện thái độ hoang mang, dao động hoặc đồng tình ủng hộ các quan điểm và việc làm “sai trái”; gắn với các yêu sách bất hợp lí, đòi đa nguyên, đa đảng và đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Nước ta; phủ nhận mọi thành tựu mà Đảng ta, nhân dân ta giành được trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước; xuyên tạc sự thật, bịa đặt lịch sử và nói xấu chế độ không nhận công lao to lớn của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh; truyền bá quan điểm đối lập, tư tưởng thù địch, cổ súy văn hóa phương Tây nhằm phá hoại nội bộ ta cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức thông qua các hành vi tập hợp bè phái, gây chia rẽ và làm mất đoàn kết nội bộ; kích động tư tưởng bất mãn, chống đối trong nội bộ các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các đoàn thể xã hội; tiến hành móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch bên ngoài, lôi kéo bọn chống đối bên trong chống lại Đảng, chính quyền Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đồng thời, nỗ lực bảo vệ quan điểm, tư tưởng và hành động sai trái của các phần tử chống đối, thậm chí ca ngợi chúng như những nhân vật “Anh hùng” đấu tranh cho “Dân chủ”, “Nhân quyền”.

Nhận biết “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một con người không đơn giản là căn cứ vào một vài biểu hiện bề ngoài. Bởi vì, hiện tượng bề ngoài không phải lúc nào cũng phản ánh đúng bản chất bên trong, thực tế có những trường hợp vì bức xúc, bất bình về vấn đề gì đó mà nhất thời có những lời nói, hành động thể hiện thái độ bất mãn thì đã vội vã cho là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà cần làm rõ nguyên nhân, bản chất sự việc. Việc kết luận một trường hợp nào đó có vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải hết sức thận trọng, khách quan trên cơ sở phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các dấu hiệu và hành vi diễn ra trong một quá trình. Trong đó, mấu chốt của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự thay đổi quan điểm, lập trường chính trị - tư tưởng theo hướng đối lập, thù địch với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở nhận diện được nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và để phòng có hiệu quả đòi hỏi các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thể xã hội và cả hệ thống chính trị cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp; áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với từng cán bộ, đảng viên và cơ quan, đơn vị. Nhận diện và phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là một vấn đề hết sức cấp bách, cuộc đấu tranh vì sự tồn vong của Đảng, chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, đòi hỏi phải có quyết tâm cao, sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và bằng những biện pháp quyết liệt với tinh thần thái độ kiên quyết, không khoan nhượng thì mới đạt được kết quả như mong muốn, đặc biệt là trong tình hình hiện nay.

Mỹ chia rẽ về dự luật trừng phạt Dòng chảy phương Bắc

 

Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng, dự luật không phải là một nỗ lực thực sự nhằm đối phó với các hành vi gây hấn của Nga hoặc để bảo vệ Ukraine. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Ned Price cho biết, một dự luật do Thượng nghị sỹ Cộng hòa Ted Cruz thúc đẩy nhằm áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Dự án Dòng chảy phương Bắc 2 dẫn khí đốt từ Nga tới Đức, sẽ làm suy yếu mặt trận thống nhất nhằm đối phó với Moscow. Phát biểu với báo chí, người phát ngôn Ned Price nêu rõ: “Mối lo ngại ở đây là nếu đạo luật được thông qua thì điều này sẽ làm suy yếu sự thống nhất giữa các đồng minh châu Âu của chúng ta vào thời điểm quan trọng khi chúng ta cần tạo ra một mặt trận thống nhất nhằm phản ứng trước các mối đe dọa của Nga với Ukraine”. “Theo đánh giá của chúng tôi, dự luật không phải là một nỗ lực thực sự nhằm đối phó với các hành vi gây hấn của Nga hoặc để bảo vệ Ukraine”. Ông Ned Price cho biết, chính quyền Tổng thống Biden cam kết làm việc với Quốc hội để ngăn chặn mạnh mẽ nguy cơ xảy ra một cuộc tấn công của Nga nhằm vào Ukraine. Hồi tháng 12/2021 vừa qua, nghị sỹ Cruz đã đạt được một thỏa thuận với các thành viên đảng Dân chủ về việc tiến hành một cuộc bỏ phiếu tại Thượng viện trước ngày 14/1 về dự luật áp đặt trừng phạt đối với Dự án Dòng chảy phương Bắc 2. Dự luật cho phép Quốc hội bỏ phiếu để khôi phục biện pháp trừng phạt trong trường hợp tổng thống từ bỏ. Ông Cruz cần sự ủng hộ của ít nhất 10 nghị sỹ Dân chủ để vượt qua ngưỡng 60 phiếu nhằm đưa dự luật trở thành luật. Tuy vậy, rất ít thành viên đảng Dân chủ tại Thượng viện có khả năng ủng hộ dự luật này. Thượng nghị sĩ Dân chủ Jeanne Shaheen cho rằng, việc ông Cruz đề xuất dự luật là điều “sai lầm” trong bối cảnh Washington cần phải hợp tác chặt chẽ với Đức và các nước đồng minh khác nhằm phản ứng trước các hành động của Nga đối với Ukraine.

Phê phán luận điệu phủ nhận “không có thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại.

Luận điệu sai trái về thời đại ngày nay: Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một việc rất cần thiết. Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách thức phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch trên đường đi; từ đó sẽ không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của thời cuộc và đời sống chính trị quốc tế. V.I.Lenin từng chỉ rõ: Khi phân tích bất cứ vấn đề xã hội nào, phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác. Nói cách khác, vấn đề thời đại là căn cứ khách quan và tiền đề cần thiết để các chính đảng đi theo Chủ nghĩa Mác phân tích tình hình, xác định nhiệm vụ, phân chia trận tuyến, xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, triển khai thực hiện một cách khoa học.

Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như hiện nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại và nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo. Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy, nhưng hiện nay, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến chủ nghĩa xã hội nữa. Cụ thể hơn, họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và hệ thống XHCN nữa thì Việt Nam làm sao có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được.

Đây là luận điệu sai trái cần phải phê phán, vì những lý do cơ bản sau: Thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga khai sáng. Theo nghĩa chung nhất, thời đại lịch sử được hiểu là toàn bộ thời kỳ phát triển của một hình thái kinh tế-xã hội hoặc những giai đoạn chủ yếu trong hình thái ấy. Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN tháng 11-1957 tại Moscow (Liên Xô) đã khẳng định: “Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga”. Thực tế cho thấy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và nhà nước XHCN đầu tiên ra đời năm 1917 đã đánh dấu chấm hết thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại mới, thời đại của sự quá độ lớn lao nhất trong lịch sử loài người, tiến tới một xã hội hiện thực không còn người bóc lột người, không còn nô dịch giữa người và người. Chế độ XHCN non trẻ đã vượt qua hàng loạt thử thách khắc nghiệt nhất của lịch sử, hiện diện cả ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, phát triển mạnh mẽ với nhiều ưu việt về chính trị, kinh tế, xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhận thức rõ bản chất, nội dung của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tình hình phức tạp, quanh co và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội nên đã hướng vào đánh giá trực tiếp những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng năm 1991 đã nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”. Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Thế giới có nhiều biến động nhưng khuynh hướng phát triển thời đại không thay đổi. Xem xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội loài người đều cho thấy, mỗi bước chuyển từ một hình thái kinh tế-xã hội này đến hình thái cao hơn đều diễn biến trong thời gian rất dài, có khi vài trăm năm hoặc vài nghìn năm. Vậy nên việc Đảng ta phân định giai đoạn hiện nay của thời đại “quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới” là tư duy sáng tạo, có tính khoa học xác thực và cần thiết. Theo đó, việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng được thực hiện trong khung khổ giai đoạn hiện nay của thời đại. Khi đã xác định thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga, thì rõ ràng nội dung của thời đại ngày nay có hai vấn đề chính: Một là, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; hai là, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục. Tuy nhiên, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại. Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì nay chủ nghĩa xã hội sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của chủ nghĩa tư bản; rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa. Cách nhìn nhận như vậy rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp, chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước thụt lùi. Sự đổ vỡ của XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản. Sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng. Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay. Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chấm hết. Đây là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng thành quả mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga. Vả chăng, lịch sử đã chứng minh, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng tư sản Pháp vào các năm 1830, 1848, 1871. Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười Nga làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ một mảng lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới của sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều bắt nguồn từ kết quả của xã hội đấu tranh của những người lao động và sâu xa hơn là được ảnh hưởng những yếu tố tích cực của Cách mạng Tháng Mười Nga. Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định của Đảng ta rằng, tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Chặng đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được. Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta. Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./. 

Nhận diện những biến tướng nguy hại về Chủ nghĩa Mác

 Âm mưu xuyên tạc, hạ bệ Chủ nghĩa Mác: Chính những kẻ từng khoác áo mác-xít sống được và thành danh nhờ Chủ nghĩa Mác-Lênin, sau năm 1991 và giờ đây lại quay sang coi C.Mác (Karl Marx), V.I.Lênin (Vladimir I.Lenin) như những “nhà tiên tri không thành đạt” (!), như những “ông thầy bói của lịch sử” (!). Nhưng chính những học giả của giai cấp tư sản, thông minh và bản lĩnh hơn những kẻ giả danh mác-xít nói trên, khi chính họ nhận ra sự “báo ứng” nan giải, sẽ trở nên vô phương cứu chữa đối với sự “cùng quẫn” của thể chế tư sản, lúc họ thiếu C.Mác. Bởi vì ở thời khắc cam go và hết sức phức tạp của lịch sử, ngay trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa, hiện nay đang khủng hoảng bởi thiếu một xung lực đúng đắn từ lĩnh vực tưởng ngỡ như nó nằm ngoài phạm vi hoạt động thực tiễn. Đó là lĩnh vực lý luận về kinh tế và xã hội, khi những cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu những năm 1997, 1998 và 2008; khi vấn nạn môi trường sinh thái toàn cầu lan rộng mà các quốc gia tư sản vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân không thể chối cưỡng. Điều đó giải thích vì sao chủ nghĩa tư bản (CNTB) và các phong trào chống lại “CNTB toàn cầu” đang bộc lộ sự lúng túng, yếu kém, thậm chí bất lực của chúng, vì họ thiếu một nền tảng lý luận xã hội căn bản, khoa học và phù hợp. Nhận thức về nhu cầu bất khả kháng đó, không phải ai khác và cũng không phải ở đâu khác, chính Jacques Derrida-một triết gia danh tiếng phương Tây đã phải thốt lên: Chúng ta phải trở về với Mác. Nhân loại không có tương lai mà lại không có Mác. Điều đó đã lan tỏa sang cả nước Mỹ, khi ông Bao-lô-xu-ây-xi, một giáo sư đại học tại bang Florida, lên tiếng cảnh tỉnh: Nếu chủ nghĩa xã hội (CNXH) dùng trí lực của nhân loại-giống như Mác đã nói-thế thì, rất rõ ràng, ngoài CNXH không có sự cứu thế nào khác; và ngài M.Kha-rin-tơn, một nhà văn hóa học người Mỹ, dõng dạc tuyên bố: CNXH sẽ là người kế thừa các cuộc cách mạng tư sản vĩ đại, là phong trào hiện thực “tự do, bình đẳng, bác ái”, những điều không thể thực hiện được trong khuôn khổ của CNTB.

Hiện nay, điều đáng nói hơn, ngay cả một bộ phận người cộng sản, trong hành trình hiện thực hóa lý tưởng cộng sản do chính Chủ nghĩa Mác-Lênin khởi xướng, vào những thời khắc khó khăn nhất, lại cũng tỏ ra do dự, hoài nghi, lúng túng; thậm chí, cả bằng sự thẩm xét hời hợt, nông cạn một cách hình thức qua các thái độ hoặc là ngoảnh mặt thờ ơ hoặc là kỳ thị, chối bỏ, rồi quay ra công kích Chủ nghĩa Mác. Sẽ trở thành ảo tưởng đáng thương hại, khi ai đó có thể tưởng tượng ra và kỳ vọng về một cuộc “cuộc duyệt binh” trong sự phát triển của những người làm lý luận mác-xít, với thứ mong muốn “đồng phục” về chính trị, về tư tưởng và trí lực. Trong sự phát triển và tiến hóa của tự nhiên cũng như vậy. Những kỳ vọng về sự thuần chủng tuyệt đối của một loài sinh vật nào đó là sự ảo tưởng, trái quy luật tự nhiên. Nói như vậy để khẳng định rằng, cần phải có một cách nhìn thực sự bình tĩnh, khách quan, cần một phương pháp khoa học, một tinh thần cách mạng, với thái độ thành tâm, nghiêm túc và cầu thị, chúng ta mới có thể khắc phục những khó khăn, thách thức mà cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác-Lênin đang phải đương đầu, trước hết về mặt tư tưởng lý luận.

Những biến tướng làm méo mó Chủ nghĩa Mác: Có mấy biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin mà bấy lâu nay một bộ phận người cộng sản đã ngộ nhận, ở mức độ này hay khác, lầm lẫn dù tự giác hay không tự giác, trực tiếp làm lệch lạc nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, vô hình bôi nhọ và phủ định nó.

Một là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tạo ra tồn tại dưới dạng sản phẩm của sự diễn dịch chủ quan và giáo điều. Đây là dạng mà ngay lúc còn sinh thời, chính Mác phải thốt lên: “Tôi không phải là Mác và người theo Chủ nghĩa Mác”, khi ông đọc lại chính tư tưởng của mình, qua sự giới thiệu của những người cùng thời. Giờ đây, người ta lại chia cắt, biệt lập Mác thời trẻ và đem đối lập với Mác sau này; đem đối lập Mác với Lênin. Với Lênin, người ta cũng làm vậy. Nhất là sau khi Lênin mất, những di sản tư tưởng vĩ đại của ông bị người ta giải thích một cách thiên kiến, cứng nhắc, chủ quan và thô lậu. Và để tạo ra một thứ, theo họ được gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin, người ta đánh một dấu cộng đơn thuần, giữa Mác và Lênin, một cách hình thức, rồi coi như hoàn tất mọi việc.

Hai là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tồn tại một cách phổ biến theo kiểu bị cắt xén, chắp vá một cách thực dụng. Bằng cách phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, với các quy luật khách quan cũng như mối liên hệ hữu cơ giữa các sự vật, hiện tượng, người ta tuyệt đối hóa vai trò ngẫu nhiên, vai trò cảm giác và kinh nghiệm chủ quan. Và điều tệ hại, nguy hiểm nhất là người ta không thừa nhận tính chất khách quan của chân lý mà cho rằng chân lý do chủ quan cá nhân quyết định, không phải chỉ có một chân lý mà có nhiều chân lý, chỉ có cái gì có lợi cho họ mới là chân lý (!). Chủ nghĩa Mác-Lênin được nhào nặn và tạo ra dưới bàn tay của họ, theo cách đó. Và thế là Chủ nghĩa Mác-Lênin bị biến thành chủ nghĩa công cụ, chủ nghĩa hành vi, là thứ triết học của sức mạnh, dưới sự chi phối của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cơ hội.

Ba là, dạng biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được dựng lên một cách giả trá theo chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội. Trên bình diện này, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, với bản chất cố hữu của nó, đã sử dụng một cách khôn ngoan chủ nghĩa thực dụng làm cơ sở phương pháp luận cho nó. Họ nhân danh Chủ nghĩa Mác-Lênin để thực hiện mưu toan tước bỏ nội dung giai cấp và tính cách mạng cốt làm méo mó, sai lệch ý tưởng của Mác, kỳ thực nhằm chống phá, phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin. Tất cả các luận đề của Mác, Ăngghen (Friedrich Engels), Lênin đều bị diễn đạt lại một cách không rõ ràng, hết sức trừu tượng đến mức phi lô-gích và lịch sử... bằng những mánh khóe bịp bợm, điều hòa đến mức không thể nào hiểu được một cách rõ ràng và dứt khoát. Nói như Lênin, bao giờ nó cũng tìm con đường trung dung, nó quanh co, uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thỏa thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại...

Từ đó Chủ nghĩa Mác-Lênin, qua bàn tay “nhào nặn” của những kẻ cơ hội và xét lại, chỉ còn là nhãn hiệu, chỉ còn là “xác” bằng sự tưởng tượng ngây thơ nhưng có sức nặng đủ để tự phản lại và giết chết chính nó, khi nằm trong tay họ, vô hình bóp nghẹt công tác lý luận, như lịch sử đã từng cảnh cáo. Nhận diện những biến thể chủ yếu của Chủ nghĩa Mác-Lênin, dù chưa đầy đủ nhưng cốt để nói rằng, chúng ta cần tỉnh táo và cấp bách trở về với Chủ nghĩa Mác-Lênin, như nó vốn có và trả lại cho nó những giá trị đúng như nó đã có và đang được hiện thực hóa một cách không gì cưỡng nổi. Cố nhiên, đây là một công việc cực kỳ khó khăn nhưng không thể nào khác được, nếu muốn tiếp tục phát triển công tác lý luận ngang tầm sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

Nhân loại đang trở về với Mác: Mác, Ăngghen, Lênin không phải là những “nhà tiên tri”, những ông “thầy bói của lịch sử” như mấy ai bôi nhọ hay huyễn hoặc. Các ông là những nhà cách mạng, nhà khoa học chân chính, thiên tài. Chủ nghĩa mà các ông sáng lập và đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện nó, là hành động một cách dũng cảm và cách mạng biến cái lô-gích phát triển tất yếu của nhân loại, trên cơ sở giải phẫu các xã hội mà loài người đã và đang tồn tại, để các quốc gia, dân tộc đi tới tương lai. Nói cách khác, lý luận của các ông chỉ giúp loài người lựa chọn điều cần và phải đi con đường dẫn tới chân lý, với những lực lượng tiên quyết, những điều kiện có tính chất cần và đủ, khi đứng ở ngã ba lịch sử của sự lựa chọn và phải quyết định, gồm: Một ngả dẫn đến vũng lầy của sự lầm lẫn, còn ngả kia là đi tới chân trời sáng sủa, tất yếu. Diễn đạt cụ thể, các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ đơn thuần giải phẫu các hình thái kinh tế-xã hội, mà bắt đầu từ cấu trúc nền tảng để làm nổi bật lên những vấn đề của chúng và cuối cùng, dự báo sự sụp đổ tất yếu và sự thay thế giữa chúng với nhau hoặc tuần tự hoặc nhảy vọt một cách biện chứng, theo quy luật. Cố nhiên, chúng ta không thể phủ nhận một điều là, những thập kỷ 70, 80, nhất là những năm 90 của thế kỷ 20, trong quá trình hiện thực hóa lý luận mác-xít, những người cộng sản vấp phải khó khăn to lớn. Đặc biệt, trong thời điểm lịch sử ở vào tình thế có tính bước ngoặt, khi xu thế toàn cầu hóa trở thành phổ biến với xung lực tất yếu và mạnh mẽ là kinh tế tri thức, công việc đó càng trở nên khó khăn gấp bội; và cho thấy, sẽ chỉ “sống sót” những lực lượng chính trị nào có thể đáp lại những thách thức mới của thời đại, tiếp tục đủ sức gánh vác trọng trách đó của lịch sử. Nhân loại đang trở về với Mác. Nhưng trở về với Mác, với Lênin như thế nào? Tất nhiên sự trở về không phải là sự thuộc lòng học thuyết của các ông, rập khuôn nó và coi nó như “chiếc chìa khóa vạn năng” nào đó, bất chấp những sự thay đổi của lịch sử. Như thế, vô hình đã bóp nghẹt sức sống của Chủ nghĩa Mác-Lênin, điều mà các ông lúc sinh thời đã cảnh báo và lịch sử từng nghiêm khắc phê phán. Mác không bao giờ và chưa bao giờ tiên thiên, không khi nào rơi vào định mệnh! Nói một cách hình ảnh, ông chỉ vén mây mù để tất cả nhìn thấy trời xanh tất yếu của sự tự do và con đường đi tới nó một cách tự nhiên, còn đi như thế nào lại tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, dân tộc và tình thế lịch sử cho phép. Lênin cũng thế. Ông rất căm ghét thói rập khuôn mù quáng. Cả hai ông đòi hỏi sự phê phán nghiêm ngặt học thuyết của các ông chứ không phải khư khư bám giữ những điều có thể là đúng với hôm qua, nhưng hôm nay đã bị cuộc sống vượt qua. Đó chính là nguồn gốc sức sống, con đường phát triển của chính lý luận Mác-Lênin - học thuyết cách mạng phê phán và tự phê phán cách mạng! Vượt qua tất cả các học thuyết hiện nay, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã mở ra một chân trời khám phá và sáng tạo không ngừng. Vì toàn bộ thế giới quan của học thuyết Mác, nói như Ăngghen, không chỉ là một học thuyết mà còn là phương pháp. Nó đưa ra không phải những giáo điều có sẵn mà là những xuất phát điểm để tiếp tục nghiên cứu toàn diện lịch sử./.

“Phi chính trị hóa” quân đội nhìn từ thiên tai - giải pháp phòng, chống hiệu quả

 Thực chất thủ đoạn “bới lông tìm vết”, thêu dệt, đơm đặt, ngụy tạo thông tin để tạo cớ như đã trình bày ở bài viết trước là rất nguy hiểm. Từ đây, một số đối tượng trong xã hội đã lớn tiếng góp ý, phê phán việc sử dụng quân đội vào hoạt động phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn là không cần thiết và lãng phí, đòi “phi chính trị hóa” quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Vậy nên việc tìm các giải pháp nâng cao hiệu quả trong phòng, chống thiên tai ở các đơn vị quân đội là rất cần thiết.

Không thể phủ nhận vai trò của quân đội trong phòng, chống thiên tai: Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều tổ chức ra quân đội với các chức năng khác nhau, nhưng cơ bản, bao trùm vẫn là bảo vệ Tổ quốc. Nghiên cứu quân đội các nước nhận thấy, việc tổ chức cho quân đội thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn là khá phổ biến. Ví dụ như Lực lượng vũ trang Hoàng gia Thái Lan có chức năng, trách nhiệm bảo đảm an ninh trật tự công cộng và tham gia các chương trình phát triển xã hội bằng cách hỗ trợ chính phủ dân sự; hỗ trợ nạn nhân của các thảm họa quốc gia và kiểm soát ma túy. Hay như Lực lượng vũ trang Malaysia (MAF) ngoài bảo vệ chủ quyền và các lợi ích chiến lược còn có trách nhiệm bảo vệ trật tự công cộng, ứng cứu, trợ giúp trong các thảm họa thiên nhiên. Do biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan, nhiều năm trở lại đây, Việt Nam là một trong 10 quốc gia bị thiên tai tàn phá nặng nề. Theo thống kê của Cục Tìm kiếm cứu hộ - Cứu nạn (Bộ Quốc phòng), giai đoạn 2004 - 2014, cả nước có tới 35.073 vụ thiên tai, tai nạn, sự cố, khiến 22 cán bộ, chiến sĩ hy sinh.

Theo Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, trong năm 2020, thiên tai đã khiến 356 người chết, mất tích và 876 người bị thương, thiệt hại ước tính hơn 35.181 tỷ đồng. Quân đội và lực lượng vũ trang đã “lĩnh ấn tiên phong”, trở thành lực lượng đi đầu trong lĩnh vực này. Giai đoạn 2004-2014, quân đội đã huy động 754.370 lượt bộ đội, 1.161.246 lượt dân quân tự vệ; 80.428 lượt phương tiện các loại tham gia phòng, chống, ứng cứu, khắc phục hậu quả 35.073 vụ thiên tai, tai nạn, sự cố; kêu gọi, hướng dẫn 3.399.606 lượt tàu thuyền tránh, trú bão; sơ tán, di dời 17.332.344 lượt người từ khu vực nguy hiểm đến nơi an toàn; cứu được 33.655 người, 4.088 phương tiện, trong đó có 343 vụ/5.380 người và 494 phương tiện có yếu tố nước ngoài. Chỉ tính hơn hai tháng cuối năm 2020, quân đội đã huy động hàng trăm nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ và hàng nghìn phương tiện tham gia cứu hộ, cứu nạn và hỗ trợ người dân; hướng dẫn, sắp xếp neo đậu cho 348.720 nghìn lượt phương tiện và 1.672.373 nghìn lao động, 186.000 lồng bè nuôi trồng thủy sản; bảo vệ an toàn các khu dân cư, khu công nghiệp, nhà cao tầng, công trình đang thi công; tổ chức sơ tán 282.547 hộ với 994.859 nhân khẩu đến nơi an toàn.

Trong lịch sử, sau khi thành lập nước (9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra các biện pháp cấp thiết củng cố hệ thống đê điều, phòng, chống lũ, lụt. Người xác định: “Bộ đội phải tranh thủ thời gian giúp đỡ nhân dân”(1). Ngay trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù chiến tranh khốc liệt, nhưng trước cơn đại hồng thủy lịch sử năm 1971 ở miền Bắc, các cơ quan, đơn vị quân đội đã cử lực lượng phòng, chống, khắc phục hậu quả. Với tầm nhìn chiến lược, trước những thách thức từ an ninh phi truyền thống, trước diễn biến phức tạp của thiên tai, năm 2013, Quốc hội đã ban hành Luật Phòng, chống thiên tai. Tiếp đó, các văn bản dưới luật về lĩnh vực này được bổ sung, hoàn thiện, trong đó vai trò của quân đội trong lĩnh vực này được khẳng định. Tại Mục 2 và 3 trong Điều 6 của Luật Phòng, chống thiên tai quy định nguồn nhân lực cho phòng, chống thiên tai là dân quân, tự vệ ở địa phương và quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt trong công tác sơ tán người, phương tiện, tài sản, cứu hộ, cứu nạn, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội theo sự điều động của người có thẩm quyền. Mục 4, Điều 42 cũng quy định Bộ Quốc phòng có trách nhiệm: Ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật trong phòng, chống thiên tai... lập phương án bố trí lực lượng, phương tiện sẵn sàng tham gia hộ đê, hộ đập, phân lũ, làm chậm lũ, tìm kiếm cứu nạn... Vào năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1041/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án Quy hoạch tổng thể lĩnh vực ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn đến năm 2020. Theo quyết định này, Bộ Quốc phòng lập các đơn vị chuyên trách làm nhiệm vụ ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.

Đánh giá chung về sự xung kích của quân đội trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, tối 19-12-2021, trong chương trình "Nghĩa tình quân dân" - chương trình giao lưu nghệ thuật, tôn vinh các điển hình tiên tiến trong phòng, chống dịch Covid-19 do Quân ủy Trung ương và Đài truyền hình Việt Nam tổ chức, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã phát biểu: Trong thời bình, những người con của nhân dân mang sứ mệnh màu xanh áo lính đã được dân tin yêu, giúp đỡ huấn luyện, tham gia sản xuất, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ bình yên của Tổ quốc. Những người lính ấy đã sống trong lòng nhân dân, giúp đỡ nhân dân cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống thiên tai, dịch họa, cứu hộ, cứu nạn... Ngày 22-3-2020, khi đến thăm, kiểm tra, làm việc trực tuyến với 50 điểm cầu phòng, chống dịch Covid-19 của Bộ Quốc phòng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, khi đó là Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định: “Quân đội luôn là trụ cột của quốc gia, đất nước, đặc biệt là khi đất nước lâm nguy, giặc giã, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm thì vai trò nòng cốt, “đứng mũi chịu sào” của quân đội càng được thể hiện rõ hơn và phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết”. Trong lần thăm Trường bắn Quốc gia Khu vực 1 vào ngày 19-11-2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá: Quân đội luôn là lực lượng đi đầu, nòng cốt trong phòng, chống thiên tai, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội. Thực tế lịch sử đã chứng minh, mọi thành công của quân đội đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Trong công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn cũng vậy. Từ những căn cứ trên có thể khẳng định, việc quân đội làm nòng cốt trong phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn là phù hợp với xu thế của thế giới, phù hợp với đặc thù điều kiện Việt Nam và đã góp phần quan trọng để giảm bớt hậu quả thiên tai ngày càng khốc liệt ở Việt Nam.

Các giải pháp nâng cao chất lượng phòng, chống thiên tai ở đơn vị quân đội: Để quân đội thực sự là nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai thì vấn đề quan trọng là phải thường xuyên đúc rút kinh nghiệm và tìm ra các giải pháp mới để nâng cao chất lượng. Đó cũng là một trong những biện pháp để ngăn chặn, đẩy lùi tư tưởng đòi “phi chính trị hóa” quân đội.  Hiện nay Đảng ta đã xây dựng được quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, làm nền móng xây dựng quân đội hiện đại, “tinh, gọn, mạnh” trong tương lai như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Đây là nền tảng rất thuận lợi cho tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. Để không còn những căn cứ để các đối tượng bới móc, quy chụp, vấn đề quan trọng là cần có các biện pháp để nâng cao chất lượng trong công tác này. Trước hết, yếu tố quan trọng hàng đầu là các cơ quan, đơn vị, địa phương cần tập trung xây dựng yếu tố chính trị tinh thần thật vững, tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về vai trò trách nhiệm của quân đội; kiên quyết chống tư tưởng coi nhẹ, chủ quan trong phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn. Đây là nội dung xuyên suốt, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị trong tình hình hiện nay. Vì vậy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc; thấy rõ hơn vai trò nòng cốt, trách nhiệm to lớn, vinh quang, là nhiệm vụ chính trị, là nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình” của quân đội ta. Trong giáo dục, tuyên truyền, cần nâng cao nhận thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về công tác huấn luyện, sẵn sàng ứng phó thiên tai, sự cố và tham gia tìm kiếm cứu nạn. Thực tế cho thấy, trước kia thiên tai, bão lũ thường tập trung vào dịp cuối năm, nhưng hiện nay, bão lũ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Để đạt được mục đích, yêu cầu trong phòng, chống bão lũ, thiên tai cần xác định phương châm “4 tại chỗ”, trong đó yêu cầu trước mắt đặt ra là cần làm tốt công tác phòng, chống ở đơn vị, cơ quan trước; đồng thời tích cực và tận tâm, tận lực giúp đỡ chính quyền, nhân dân phòng, chống có hiệu quả như tinh thần Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã quán triệt: “Quân đội làm hết sức mình vì nhân dân, vì Tổ quốc và sự trường tồn của đất nước này”. Tiếp đó là cần tập trung xây dựng tinh thần kỷ luật nghiêm trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, đặc biệt là tránh tình trạng lợi dụng việc giúp dân di dời, chằng chống nhà cửa, tài sản ra khỏi vùng nguy hiểm để vòi vĩnh hoặc bớt xén, lấy của nhân dân làm của riêng. Các cơ quan, đơn vị cần chủ động hoàn thiện các phương án phòng, chống, trong đó cần xác định rất rõ vùng bị ảnh hưởng, dân số trong vùng và mức độ thiệt hại để qua đó bố trí lực lượng, phương tiện nhanh chóng cơ động đến ứng cứu kịp thời. Cần hoàn thiện hệ thống thông tin chỉ huy trong phòng, chống thiên tai bão lũ theo phương châm nhanh chóng, kịp thời và chính xác. Thực tế cho thấy, thiên tai thường đến rất nhanh và bất ngờ nên việc giữ vững mạch thông tin chỉ huy thông suốt trong mọi điều kiện hoàn cảnh là rất quan trọng. Bởi khi nắm chắc thông tin thì người chỉ huy đơn vị sẽ có phương án tổ chức lực lượng cứu dân, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ và tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn kịp thời, hiệu quả. Bởi trong điều kiện thiên tai xảy ra, các yếu tố bảo đảm như điện dễ bị mất và không có sóng cho điện thoại di động dễ khiến cho hệ thống thông tin chỉ huy bị gián đoạn hoặc đứt gãy. Đầu tư, mua sắm các trang bị, phương tiện phục vụ cho nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn phù hợp với thực tế. Qua thực tiễn cơ sở nhận thấy, hiện nay nhiều đơn vị vẫn tận dụng khí tài, phương tiện cũ vào trong thực hiện nhiệm vụ khắc phục hậu quả thiên tai. Ví dụ, nhiều lữ đoàn ở cấp quân khu được trang bị loại xe chở quân thế hệ cũ, tốn nhiên liệu và cơ động chậm trên các tuyến đường đã được đầu tư làm mới. Nhiều đơn vị đóng quân ở khu vực rừng núi, thường xuyên làm nhiệm vụ chữa cháy rừng nhưng không được trang bị các loại phương tiện, máy thổi hơi loại nhỏ, hoặc các loại bảo hộ chữa cháy... mà phải dùng các dụng cụ thô sơ, khiến cho hiệu quả chữa cháy không cao. Trong quá trình khảo sát, ban chỉ huy quân sự các huyện ở khu vực thường xuyên có lũ lụt nhận thấy các đơn vị này đã được trang bị xuồng công suất lớn nhưng điều đáng buồn là lại không được trang bị phương tiện ô tô để kéo nó. Thế nên việc cơ động hạ xuồng thực hiện nhiệm vụ là rất khó khăn. Cùng với đó, hằng năm, các cơ quan, đơn vị cần rà soát, bổ sung các phương án, tích cực tổ chức luyện tập theo phương án đã xây dựng, đồng thời tổ chức huấn luyện bồi dưỡng các kỹ năng sử dụng phương tiện tác nghiệp trong vùng bão lũ, trong đó đặc biệt chú ý đến các phương án bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho bộ đội làm nhiệm vụ. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác huấn luyện, nâng cao trình độ, kỹ năng thực hành cho bộ đội trong phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn. Thực tế cho thấy, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn là quá trình làm việc phân tán, trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, rất nguy hiểm đến tính mạng. Thế nên, càng được tập huấn, bồi dưỡng sâu về chuyên môn, kỹ năng, phương pháp thoát hiểm, nhất là được luyện tập nâng cao thể lực thường xuyên thì sẽ giúp cho hiệu quả thực hiện nhiệm vụ cao hơn rất nhiều... Quá trình huấn luyện cần tổ chức huấn luyện kỹ từ kiến thức phổ thông, cách thức chằng chống nhà cửa, kho tàng, phương pháp sơ cứu, cấp cứu người bị nạn trong bão, lụt, thảm họa đến huấn luyện công tác bảo hộ, an toàn lao động, phòng chống cháy, nổ... Đối với các lực lượng chuyên trách cần nâng cao kỹ năng điều khiển, sử dụng thành thạo, hiệu quả các phương tiện tìm kiếm cứu nạn hiện đại, nhất là khi xảy ra tình huống trên biển, khắc phục sự cố tràn dầu, cứu sập đổ công trình, chống cháy nổ, cháy rừng tại các địa hình phức tạp... Bên cạnh đó, một trong những vấn đề cần quan tâm và đầu tư là bảo đảm thông tin báo chí tuyên truyền trong thiên tai. Khi thiên tai xảy ra thì dư luận xã hội rất quan tâm đến các thông tin chính xác từ hiện trường. Việc đưa tin nhanh, sâu, đúng, chính xác có tác dụng rất lớn, không chỉ cổ vũ, động viên nhân dân vùng thiên tai mà qua đó còn có tác dụng ngăn ngừa những nguồn tin không chính thống, thiếu chính xác của các thế lực thù địch và đối tượng bất đồng chính kiến trong xã hội chúng ta, ngăn ngừa khủng hoảng truyền thông có thể xảy ra. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự thương yêu, đùm bọc, hết lòng giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta đã không ngừng lớn mạnh, hoàn thành xuất sắc chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, xứng đáng là “quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng”. Do vậy, việc quân đội giữ vững ngọn cờ tiên phong trong thực hiện nhiệm vụ, “chiến đấu” với loại giặc mới là thiên tai và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, đặc biệt là không để xảy ra các sự cố, các hạn chế yếu kém để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá là yêu cầu hết sức cần thiết và phải được tiến hành thông qua “mệnh lệnh trái tim”!

PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SAI TRÁI VỀ HÌNH ẢNH VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Các đối tượng tung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch về hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các tổ chức phản động lưu vong, nhất là những phần tử trong chế độ cũ; một số chính phủ, tổ chức phi chính phủ phương Tây, chính trị gia, nhà tài phiệt có tư tưởng cực hữu chính trị, chống cộng.

Là những đảng viên cộng sản chính ta cần khẳng định giá trị tư tưởng lớn lao  của chủ tịch Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng thiên tài, nhà lý luận kiệt xuất. Tư tưởng của Người không chỉ ở những câu chữ hoặc trước tác mà nằm ở chiều sâu nội dung và ý nghĩa cao cả của nó, vừa kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chứa đựng khát vọng cháy bỏng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm đẫm triết lý nhân sinh, thân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, để đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột tàn bạo, vô nhân đạo, đấu tranh xóa bỏ nghèo nàn, “giặc dốt” và lạc hậu, nhằm tạo ra một xã hội mới theo mục tiêu, lý tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. 

Cống hiến lớn của Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt Nam là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn duy nhất đúng, một đột phá lý luận rất cơ bản về con đường, mục tiêu và phương thức phát triển của cách mạng. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam là một văn kiện quan trọng của UNESCO ghi nhận những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội./.

BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

 Để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp, nhất là người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với công tác quản lý cán bộ trong tình hình mới.

Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ để kịp thời phát hiện, khắc phục những vướng mắc, hạn chế nảy sinh trong thực tiễn.

Thứ ba, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trên cơ sở quán triệt sâu sắc, nghiêm túc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII), Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Tăng cường kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Thứ tư, chủ động ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Thứ năm, rà soát, thẩm tra, thẩm định chặt chẽ, kỹ lưỡng và kết luận rõ tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên, không để lọt những người không đủ tiêu chuẩn chính trị vào cấp ủy các cấp.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế phối hợp và đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ với các cơ quan chức năng liên quan trong việc nắm vững tình hình và giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ.

Thứ bảy, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại các địa phương, cơ quan, đơn vị đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.

GIỮ VỮNG TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG TRONG BỐI CẢNH MỚI

 

Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…, trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng ta:

Các thế lực thù địch đòi Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng bài bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta.

Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng chúng ta cần thực hiện tốt một số nội dung sau

Thứ nhất, công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta

Thứ hai, làm loãng thông tin xấu, độc bằng xây dựng tuyến, luồng bài viết có thông tin tích cực hoặc trực diện phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch để liên tục phủ lên và tiến tới chiếm thế thượng phong trên không gian mạng, không gian các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội.

Thứ ba, giữ vững vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, các cơ quan tuyên giáo, báo chí của Đảng.

Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác tổng kết thực tiễn - nghiên cứu lý luận, xây dựng hệ thống luận cứ, luận chứng khoa học - thực tiễn nền tảng cho công tác đấu tranh phản bác./.