Thứ Ba, 11 tháng 1, 2022

Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tiêu cực trong hoạt động xét xử

 

Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tiêu cực trong hoạt động xét xử

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh điều này tại Hội thảo khoa học “Cải cách tư pháp tại Tòa án nhân dân đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Ngày 11/1, tại Hà Nội, Tòa án Nhân dân tối cao tổ chức Hội thảo khoa học “Cải cách tư pháp tại Tòa án nhân dân đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương, Trưởng Ban chỉ đạo Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”  dự và phát biểu chỉ đạo. Cùng dự có các Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng: Phan Đình Trạc, Trưởng Ban Nội chính Trung ương; Nguyễn Hòa Bình, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Nguyễn Xuân Thắng- Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định; đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành, các chuyên gia, nhà khoa học hàng đầu về pháp luật và tư pháp.

Hội thảo đánh giá, sau 20 năm thực hiện cải cách theo các Nghị quyết của Đảng, công tác cải cách tư pháp trong Tòa án nhân dân - cơ quan giữ vị trí trung tâm trong hệ thống các cơ quan tư pháp đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao vị thế, diện mạo, uy tín và kết quả hoạt động của Tòa án. Tuy nhiên, nền tư pháp nước ta còn những bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu và mong muốn của người dân. Công tác cải cách tư pháp vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Các chuyên gia cho rằng, tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho thấy, cải cách tư pháp đang là xu thế tất yếu, liên tục và phổ biến không chỉ ở các nước đang phát triển mà còn được triển khai mạnh mẽ và hiệu quả ở tất cả các quốc gia. Cải cách tư pháp được tiến hành với quyết tâm cao, nội dung phong phú, trong đó việc ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng nền tư pháp minh bạch, hiện đại, thuận tiện cho nhân dân.

Phát biểu tại hội thảo, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh đến việc phân tích, đánh giá những định hướng, giải pháp cải cách tư pháp tại Tòa án làm căn cứ đề xuất Chiến lược cải cách tư pháp trong thời gian tới. Chủ tịch nước đánh giá cao kết quả thực hiện chiến lược cải cách tư pháp trong hệ thống Tòa án đã có những bước phát triển mới, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao vị thế, diện mạo và uy tín, xứng đáng với vai trò là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Nổi bật là việc tổ chức hòa giải, đối thoại tại tòa đã bước đầu thành công; trang phục các cán bộ tham gia phiên tòa, bố trí vị trí ngồi các chức danh trong phiên tòa bước đầu thực hiện tốt. Tranh tụng tại tòa là vấn đề quan trọng trong cải cách tư pháp, nhiều phiên đã tranh tụng mạnh mẽ; kết quả phán quyết của phiên tòa là toàn diện trên cơ sở chứng cứ và tham khảo, lắng nghe ý kiến Viện kiểm sát các cấp, luật sư. Tổ chức bộ máy tòa án các cấp ngày càng hoàn thiện theo hướng tinh gọn và chuyên nghiệp. Tòa án nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết, xét xử các vụ việc.

Năm 2021 theo báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao, số lượng bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan của Tòa án chỉ chiếm 0,81%, giảm 0,25% so với năm 2020, đáp ứng Nghị quyết của Quốc hội đề ra. Sắp xếp đội ngũ cán bộ tòa án bước đầu coi trọng chất lượng, năng lực, hiệu quả phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, xây dựng, thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp. Nhiều đạo luật quan trọng liên quan thủ tục tố tụng tư pháp đã được xây dựng và ban hành. Tòa án cũng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường cơ sở vật chất. 

Tuy nhiên, Chủ tịch nước cũng nêu rõ một số bất cập của nền tư pháp nước ta: Chưa có sự thống nhất trong nhận thức về nội hàm quyền tư pháp, chủ thể thực hiện quyền tư pháp. Một số nhiệm vụ được Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra nhưng chưa được triển khai thực hiện hoặc đã được triển khai nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của Tòa án cũng còn những tồn tại cần được tháo gỡ như: Mâu thuẫn về chế độ chính sách và điều kiện bảo đảm; mâu thuẫn giữa áp lực công việc và biên chế...., một bộ phận nhỏ cán bộ của tòa án chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ cũng như phẩm chất. Nhiều vấn đề mới phát sinh do tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các bối cảnh kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn mới cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách để ngày càng thích ứng tốt hơn với tình hình mới, thúc đẩy và bảo vệ quá trình phát triển bền vững về kinh tế - xã hội của đất nước.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ đó là xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chiến lược cải cách tư pháp có ý hết sức quan trọng đối với sự phát triển của đất nước ta, của chế độ ta trong giai đoạn mới, nhất là đối với hệ thống bộ máy Nhà nước, gồm cả hệ thống Toà án nhân dân các cấp.

Đặt vấn đề, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ, còn có những khó khăn, thách thức, đặt ra cho nền tư pháp nước ta những yêu cầu mới, Chủ tịch nước đề nghị ngành Tòa án và cả nền tư pháp phải tiếp tục cải cách mạnh mẽ nhằm thích nghi và đáp ứng tốt hơn yêu cầu, đòi hỏi của đất nước trong tình hình mới, để nền tư pháp nước ta phát triển tiên tiến, hiện đại, bắt kịp với trình độ chung của thế giới. Cải cách tư pháp cũng chính là động lực phát triển để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác của Toà án, Chủ tịch nước chỉ rõ.

Trên tinh thần đó, Trưởng Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương yêu cầu cần phân tích những định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cho Chiến lược cải cách tư pháp mới của Toà án với quyết tâm chính trị cao, khẩn trương, đồng bộ; xác định rõ những nội dung trọng tâm, trọng điểm; có chương trình, kế hoạch, lộ trình cải cách phù hợp. Tập trung một số nội dung trọng tâm là nghiên cứu, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các quan điểm, định hướng cải cách tư pháp đã được nêu trong Nghị quyết số 49-NQ/TW theo tinh thần Kết luận 84 của Bộ Chính trị.

Cùng với đó, đề xuất những giải pháp cải cách mới trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước và xu thế phát triển chung của thế giới. Tập trung vào các giải pháp cải cách về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân; phân định rõ quyền quản lý hành chính của tòa án để bảo đảm quyền độc lập giữa các cấp tòa án; đổi mới, hoàn thiện thủ tục tố tụng tư pháp chuyên nghiệp, hiệu quả. Xây dựng chế độ xét xử độc lập, công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý, tăng quyền của tòa án trong xét xử các vụ án xâm phạm lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước, phối hợp các cơ quan liên quan, nhất là các cơ quan tố tụng kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thưc hiện pháp luật. Nâng cao chất lượng cán bộ, đặc biệt là chức danh tư pháp, có chế độ chính sách phù hợp dành cho cán bộ Tòa án;. Ngoài ra , cần tăng cường cơ sở vật chất, bảo đảm nguồn lực để xây dựng Tòa án chính quy, hiện đại, hoạt động hiệu quả; chú trọng phát triển Tòa án điện tử ngang tầm với trình độ phát triển chung của thế giới… ; vấn đề xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động xét xử của tòa án; tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp.

Chủ tịch nước đề nghị lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học để hoàn chỉnh Chuyên đề được giao, đề xuất xây dựng chiến lược cải cách tư pháp mới, báo cáo Ban chỉ đạo Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”  để trình Bộ Chính trị, Trung ương cho ý kiến, quyết định trong năm 2022.

 

 

Những tổ chức không đủ tư cách để cáo buộc Việt Nam “vi phạm nhân quyền”

Cứ mỗi dịp cuối năm, một số tổ chức lấy danh “nhân quyền” như Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW) có trụ sở tại New York (Hoa Kỳ) lại phát đi thông cáo kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ “cần sử dụng vòng đối thoại nhân quyền để thúc ép Việt Nam trả tự do cho những “tiếng nói bất đồng” đang bị giam giữ và có những cải thiện về nhân quyền”.

Đặc xá năm 2021 - minh chứng bác bỏ luận điệu vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền”

Hay gần đây, tổ chức nhân quyền Safeguard Defenders công bố xuất bản một cuốn sách bằng tiếng Việt với mục đích hướng dẫn áp dụng Luật Magnitsky của Hoa Kỳ để “trừng phạt vi phạm nhân quyền ở Việt Nam”. Ngoài ra, một số tổ chức mang danh nhân quyền khác cũng thực hiện các hoạt động vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp những nhà “bất đồng chính kiến” hay giam giữ “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”...

Những “thư ngỏ”, “thông cáo” của các tổ chức này thực chất là việc lợi dụng chiêu bài nhân quyền để thúc đẩy các quốc gia, tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, hướng lái theo ý đồ của họ; là công cụ nhằm can thiệp, gây khó khăn cho Việt Nam trong hội nhập quốc tế, tham gia vào các hoạt động quốc tế, khu vực. Trong khi đó, chính những tổ chức quốc tế nhân danh bảo vệ nhân quyền nói trên lại vi phạm các quy định của quốc tế về nhân quyền.

Cụ thể, hoạt động của một số tổ chức về nhân quyền trên vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc quốc tế không can thiệp các vấn đề thuộc thẩm quyền của quốc gia khác theo Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 và Nghị quyết 2625 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về Tuyên bố những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc.  

Theo đó: “Không quốc gia nào hay nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của bất kỳ quốc gia nào khác. Can thiệp vũ trang và tất cả các hình thức can thiệp hay đe dọa chống lại tư cách của quốc gia hay chống lại các đặc trưng chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia đó - đều là vi phạm luật pháp quốc tế”.

Dù lấy danh nghĩa bảo vệ nhân quyền nhưng hành vi của các tổ chức trên lại không tuân theo nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật nhân quyền quốc tế đối với chủ quyền quốc gia và trách nhiệm quốc gia. Chẳng hạn, theo Điều 1 của Công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị thì: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá”; “Các quốc gia thành viên Công ước này, kể cả các quốc gia có trách nhiệm quản lý các lãnh thổ uỷ trị và các lãnh thổ quản thác, phải thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết dân tộc và phải tôn trọng quyền đó phù hợp với các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc”. Theo Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế, điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc ban hành kèm theo Nghị quyết 2625 năm 1970, nêu rõ: Tôn trọng chủ quyền quốc gia về lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và chính sách đối ngoại; sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi quốc gia; bình đẳng chủ quyền của các quốc gia và quyền tự quyết của các dân tộc; không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác; giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình; các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau...

Bất chấp những quy định của luật pháp quốc tế, những tổ chức mang danh nhân quyền nói trên vẫn lấy cớ can thiệp, cáo buộc bằng cách làm sai lệch bản chất các vụ việc diễn ra trên thực tế để quy chụp, bôi lem tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Với việc vi phạm các quy định luật pháp quốc tế về nhân quyền, hoạt động có mục đích, động cơ xấu, chống phá, can thiệp vào nội bộ nước khác bằng thủ đoạn bóp méo, xuyên tạc sự thật về nhân quyền, rõ ràng những tổ chức này không có tư cách để nói về nhân quyền, đánh giá và cáo buộc về nhân quyền.

Tại phiên họp cấp cao khóa 16 Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ở Geneva, khi Việt Nam lần đầu chính thức tuyên bố ứng cử làm thành viên nhiệm kỳ 2014 - 2016 của tổ chức này, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định: “Nhà nước Việt Nam quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và Nhà nước pháp quyền, các quyền con người ở Việt Nam ngày càng được tăng cường”; “phấn đấu cùng cộng đồng quốc tế thúc đẩy việc hưởng thụ và bảo vệ nhân quyền cho nhân dân các nước”. Bằng hành động cụ thể trong thúc đẩy nhân quyền, Việt Nam đã nhận được sự tín nhiệm, ủng hộ của các quốc gia trên thế giới. Ngày 12/11/2013, Ðại hội đồng Liên hợp quốc khóa 68 đã bầu Việt Nam làm thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền, với 184 nước ủng hộ trong số 193 nước tham gia bỏ phiếu. Việt Nam còn tích cực hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế để phát huy các giá trị nhân quyền tốt đẹp, phù hợp đạo đức, thuần phong mỹ tục, lợi ích dân tộc, mở ra các kênh đối thoại, tổ chức hội thảo để chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia ở các cấp độ khác nhau.

Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của AICHR theo hình thức trực tuyến diễn ra cuối tháng 11/2020, các nước đánh giá cao vai trò của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch AICHR 2020 đã dẫn dắt hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch COVID -19. Việt Nam không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước các tác động của đại dịch mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan trọng định hướng hợp tác trong thời gian tới. Việt Nam quan tâm thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân ASEAN, đặc biệt chú trọng đến nhóm yếu thế như thúc đẩy quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, gắn kết tình hữu nghị, thống nhất, tạo đồng thuận và hợp tác, trong đó đặc biệt là nỗ lực bảo đảm quyền con người trong đại dịch COVID-19, được cộng đồng các quốc gia ASEAN đánh giá cao. Đồng thời, tham gia đóng góp tích cực vào định hình các chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người, đặc biệt quyền của các nhóm dễ bị tổn thương… Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025.

Sự cố gắng và thành quả của Việt Nam trong việc đảm bảo và thực thi quyền con người đã được nhiều tổ chức quốc tế, chính giới các nước ghi nhận, đánh giá cao, là cơ sở quan trọng để Việt Nam được tín nhiệm, giao phó các cương vị quan trọng trên trường quốc tế như thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch luân phiên ASEAN và nhiều tổ chức quan trọng khác. Trong phiên làm việc ngày 25/1/2019, nhóm làm việc về rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã đồng thuận thông qua Báo cáo về kết quả rà soát của Việt Nam và khẳng định, Việt Nam luôn đảm bảo những quyền tự do cơ bản của công dân, phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người. Sự đảm bảo đó được thể hiện trong hiến pháp, pháp luật và bảo đảm trên thực tế ở Việt Nam.

Trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (ngày 15/9/2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm, hòa thuận, hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn phép, gia phong, nền nếp... Một làng, một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công sở phải có nội quy; một tổ chức, đoàn thể phải có quy chế, có điều lệ... Một đất nước, một xã hội muốn tốt đẹp thì bên cạnh sự giáo dục, sự khuyên nhủ, càng phải có kỷ cương, phép nước, phải có pháp luật nghiêm minh để bảo vệ cái tốt, cái đúng; răn đe, trừng trị những cái xấu, cái sai, có hại cho dân cho nước, tức là phải có sự quản lý bằng cơ chế, pháp luật, phải có phép nước”.

Cần khẳng định rằng, ở bất kỳ quốc gia nào, quyền của mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Tại Việt Nam cũng như ở bất kỳ quốc gia có chủ quyền, người nào vi phạm pháp luật phải bị xử lý theo quy định pháp luật. Hoàn toàn không có việc Việt Nam vi phạm nhân quyền thông qua các hoạt động tố tụng như khởi tố, bắt giữ, điều tra, truy tố, luận tội, xét xử trước tòa án. Ở Việt Nam không có khái niệm, danh xưng nào gọi những đối tượng vi phạm pháp luật là những nhà “bất đồng chính kiến” hay “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” như những luận điệu mà các tổ chức chống phá đưa ra. “Báo cáo nhân quyền” mà các tổ chức lấy danh về nhân quyền đưa ra hằng năm nhằm cáo buộc tình hình vi phạm nhân quyền ở Việt Nam là dựa trên những thông tin thu thập theo kiểu cóp nhặt, phiến diện, xuyên tạc. Do đó, những luận điệu của các cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí lấy cớ nhân quyền để quy chụp, chống phá Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng.ST

 

Dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng

Vấn đề một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo, cầm quyền không phải là vấn đề mới và vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, vấn đề này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mỗi đảng khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mà mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng.

Lâu nay, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối cho rằng, Việt Nam không có dân chủ vì thực hiện chế độ nhất nguyên, nhất đảng nên “vừa đá bóng, vừa thổi còi” và vì thế dẫn đến dân chủ hình thức hoặc mất dân chủ. Trong khi đó, các tổ chức nhân danh dân chủ phương Tây đã và đang tìm cách cổ suý “tiêu chuẩn nhân quyền” kiểu phương Tây vào Việt Nam, đồng thời tung tin bịa đặt với các luận điệu cho rằng: “Việt Nam thiếu văn hóa dân chủ, không có dân chủ, hạn chế quyền riêng tư của công dân”, “Việt Nam vi phạm nghiêm trọng quyền con người”, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội tức là theo chế độ đảng trị, bằng “đảng chủ”; “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị”; “chế độ một đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”; “chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam là “vừa đá bóng, vừa thổi còi” dẫn đến ở Việt Nam không có dân chủ hoặc dân chủ hình thức”.

Đây là những luận điệu phản khoa học, hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ, phát triển của đất nước, dân tộc. Thực chất luận điệu trên là muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để đi đến xóa bỏ định hướng XHCN ở nước ta. Vấn đề mấu chốt trong học thuyết “dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cần áp dụng đối với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam. Như vậy, chiêu bài dân chủ thực chất là các thế lực thù địch nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước và định hướng XHCN ở nước ta.

Trên thế giới hiện nay có ba chế độ dân chủ: Dân chủ tư sản, dân chủ nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mỗi chế độ dân chủ nói trên đều có những thiết chế khác nhau, nhưng đều có những yếu tố chung: (1) Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân (bao gồm tất cả thành viên xã hội); (2) bầu cử tự do và theo nhiệm kỳ bầu ra các cơ quan, người lãnh đạo đất nước; (3) quyền lực của nhà nước được chia làm ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi cơ quan trên có chức năng riêng: Hiến pháp và pháp luật được xem là tối thượng; các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được tôn trọng và bảo đảm.

Chế độ dân chủ sau Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là chế độ dân chủ Nhân dân hướng theo con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ ở Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc Hiến định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013).

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam ngày càng hoàn thiện các quan điểm về dân chủ, nhân quyền, coi nỗ lực thể chế hóa, luật hóa quan điểm dân chủ, nhân quyền là yêu cầu bức thiết của phát triển. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, khẳng định “phải phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng”. Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định 29/1998/NĐ-CP (đến năm 2003 thay thế bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP) kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã quy định về nội dung, phương thức, trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân. Năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn... Đây là các bước đi thống nhất, đồng bộ về chủ trương kết hợp hành động cụ thể tạo điều kiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Vấn đề một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo, cầm quyền không phải là vấn đề mới và vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, vấn đề này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mỗi đảng khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mà mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng.

Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang tính chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp mà đảng ấy đại diện. Lịch sử hiện đại đã chứng minh rằng, trình độ dân chủ và sự phát triển của đất nước không tỷ lệ thuận với sự gia tăng của số lượng đảng phái chính trị. Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, mỗi giai cấp khác nhau có đảng khác nhau, thậm chí trong cùng một giai cấp cũng có thể có nhiều đảng khác nhau. Những đảng của cùng một giai cấp sẽ có cùng bản chất của giai cấp, có lợi ích gắn liền với giai cấp sinh ra nó, chúng chỉ khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể mà không đối lập về bản chất.

Những đảng của các giai cấp khác nhau hoặc đối lập nhau thì không chỉ khác nhau về tôn chỉ, mục đích, phương cách hoạt động, nguyên tắc tổ chức mà còn đối lập về bản chất của đảng. Như vậy, sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời là đa nguyên chính trị.

Quan điểm một đảng thì mất dân chủ, cản trợ sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển là luận điệu sai trái. Cho đến nay chưa có cơ sở khoa học nào chứng minh điều này. Bởi đất nước có dân chủ hay phát triển không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đó có mang bản chất cách mạng, tiên phong hay không, có bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số nhân dân lao động hay chỉ cho một bộ phận thiểu số người trong xã hội đó.

Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà quốc gia đó có. Vì thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển. Trong khi, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế-xã hội phát triển, đời sống nhân dân được bảo đảm, nhân dân cảm thấy hạnh phúc, ấm no và có vị thế trên thế giới. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia - dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân vì nước mà hành động, chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo. Điều đó là bằng chứng hùng hồn, là minh chứng khẳng định đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển.

Điển hình như hiện nay, Armenia có khoảng 40 đảng, Hà Lan có 25 đảng, Na Uy có 23 đảng... nhưng rõ ràng chúng ta không thể kết luận Armenia dân chủ hơn Hà Lan hay Na Uy. Trên thế giới hiện nay có hơn 30 quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng. Điều đó cho thấy rằng, chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là đặc điểm chỉ có ở các nước XHCN do Đảng Cộng sản lãnh đạo và không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ, đất nước không phát triển.

Ngay trong chủ nghĩa tư bản, có những thời kỳ một số quốc gia và vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển mạnh mẽ. Điển hình như vào cuối những năm 1980, Singapore, Hàn Quốc... vẫn theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền nhưng đất nước vẫn phát triển mạnh mẽ và ngược lại, ở một số quốc gia đa đảng vẫn không thực hiện tốt dân chủ. Đồng thời, trong hệ thống chính trị đa đảng, tại một giai đoạn chính trị nhất định cũng chỉ có một đảng thực chất cầm quyền và thậm chí ngay cả trường hợp khi liên minh đảng cầm quyền để thành lập chính phủ, đảng nào chiếm số ghế nhiều hơn trong nghị viện sẽ có quyền quyết định trong các chính sách phát triển của đất nước. Ở một số quốc gia khác (điển hình là Mỹ), mặc dù có nhiều đảng nhưng chỉ có hai đảng luân phiên cầm quyền là Đảng Cộng hoà và Đảng Dân chủ. Những đảng này đại diện cho giai cấp tư sản thì tất yếu phải hướng đến phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản chứ không thể là một “chính quyền của tất cả mọi người”.

Trải qua hơn 90 năm ra đời và lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn khẳng định được vị trí, vai trò không thể thay thế đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Những thành tựu to lớn và ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân Việt Nam đã khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, đó cũng là minh chứng rõ nét rằng bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng và đối với Việt Nam dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền dân chủ trong xã hội không những không bị mất đi, không bị hạn chế mà còn được bảo đảm, được phát huy sâu rộng trong thực tế. ST

 

Việt Nam hiện thực hóa quyền con người bằng nhiều chính sách thiết thực

Trong những năm qua, Việt Nam đã triển khai các biện pháp đồng bộ, ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Các thành tựu về phát triển kinh tế, xã hội và việc tăng cường hội nhập quốc tế đã tạo ra các điều kiện vật chất và nguồn lực để Việt Nam bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân.

Nâng cao công tác tập huấn để bảo đảm tốt hơn quyền con người

Nghiêm túc với các cam kết quốc tế

Cho đến nay, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào tiến trình hợp tác quốc tế, khu vực, đa phương và song phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó có việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Đặc biệt, Việt Nam đã hoàn thành trước hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và đang tích cực triển khai thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG).

Việt Nam hiện thực hóa quyền con người bằng nhiều chính sách thiết thực -0

Con người luôn là trung tâm trong tiến trình phát triển của Việt Nam.

Trước những diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19, Việt Nam cũng nhanh chóng đưa ra các chính sách, biện pháp đồng bộ, hiệu quả, trong đó, kiểm soát dịch bệnh là ưu tiên hàng đầu nhằm bảo vệ sức khỏe, bảo đảm quyền tối thượng là quyền được sống của người dân; đồng thời thực hiện hiệu quả, đồng bộ các giải pháp giảm thiểu tác động của dịch đối với nền kinh tế, duy trì và phục hồi sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, an sinh xã hội và đời sống của người dân, nhất là những người dễ bị tổn thương.

Từ năm 2019 đến nay, Việt Nam đã thông qua 36 luật, trong đó có nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân, góp phần cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Bộ luật Lao động, Luật Thanh niên, Luật Cư trú, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án, Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Thư viện... Các luật này đã góp phần kiến tạo thể chế, khung pháp lý điều chỉnh trên lĩnh vực kinh tế-xã hội có liên quan trực tiếp đến việc thụ hưởng quyền của người dân.

Thực hiện một số khuyến nghị theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam cũng đang xem xét sửa đổi, bổ sung một số Luật phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam như việc sửa đổi Luật Trẻ em, cụ thể là định nghĩa trẻ em là người dưới 18 tuổi, nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật Phòng, chống mại dâm, quy định cụ thể định nghĩa quấy rối tình dục trong Bộ luật Lao động 2019...

Nhiều Chương trình hành động cấp quốc gia được ban hành như Chương trình hỗ trợ người khuyết tật giai đoạn 2021-2030, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình bảo vệ trẻ em trên không gian mạng và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030, Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030, Chương trình phát triển xã hội giai đoạn 2021-2030…, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền của các nhóm dễ bị tổn thương. Việt Nam đang tiếp tục triển khai Luật Bình đẳng giới, Luật Người khuyết tật và tích cực nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật về các vấn đề này.

Việc bảo đảm các quyền con người của Việt Nam được thực hiện phù hợp với các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam hiện là thành viên của 7/9 Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người. Việt Nam cũng là thành viên của 25 Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế, trong đó có 7/8 Công ước cơ bản; đang nghiên cứu phê chuẩn Công ước cơ bản còn lại là Công ước 87 về Quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức. Việt Nam luôn thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết nghĩa vụ theo các công ước này, trong đó có nghĩa vụ báo cáo tình hình thực thi các Công ước tại Việt Nam.

Những thành tựu nổi bật

Nỗ lực trong phát triển kinh tế và bảo đảm sinh kế, tạo nền tảng cho việc thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân, Việt Nam đã tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 đã có những kết quả tích cực như tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng 2,75%, bình quân trong 5 năm giai đoạn giảm khoảng 1,43%/năm; tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo còn khoảng 24%, bình quân trong 5 năm giảm 5,65%. Trong thời kỳ đại dịch COVID-19, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động; chủ trương bảo đảm tiêm vaccine phòng COVID-19 miễn phí cho người dân theo các đối tượng ưu tiên mà WHO khuyến nghị.

Về giáo dục, tại Việt Nam, người dân được tạo điều kiện để học liên tục mọi nơi, học suốt đời theo nhiều hình thức khác nhau. Vì thế, trong giai đoạn 2012-2020 đã xóa mù chữ cho 295.308 người trong độ tuổi 15-60, nâng tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-60 là 97,85% và tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-35 là 99,3%. Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho các nhóm yếu thế, trong đó tập trung hỗ trợ học sinh vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, việc tiếp cận thông tin của người dân ngày càng được phát triển, rộng mở, đặc biệt là người dân tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo.

Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Mạng lưới viễn thông tiếp tục được hiện đại hóa và phát triển rộng khắp với mức phủ sóng đạt 99,7% dân số, trong đó mạng 3G và 4G phục vụ 98% dân số. Theo báo cáo xếp hạng An toàn an ninh mạng toàn cầu (GCI) năm 2020 do ITU công bố mới đây, Việt Nam đã tăng 25 bậc trong 2 năm, vươn lên vị trí thứ 25 trong tổng số 194 quốc gia, vùng lãnh thổ và đứng thứ 7 trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thứ 4 trong khu vực ASEAN.

Trong lĩnh vực tự do tôn giáo, tín ngưỡng, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và có hàng ngàn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung độc lập được đăng ký sinh hoạt tôn giáo (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam).

Tính đến ngày 31/12/2020, cả nước hiện có 50.703 cơ sở tín ngưỡng; có 29.801 cơ sở tôn giáo, 53.390 chức sắc, 95.360 chức việc; 40.075 người vừa là chức sắc, vừa là chức việc tại 62/63 tỉnh, thành phố và 26.548.509 tín đồ. Việt Nam hiện có 63 cơ sở giáo dục, đào tạo tôn giáo gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo với hơn 18.000 học viên đăng ký theo học các khóa đào tạo tôn giáo mỗi năm. Năm 2020 có khoảng 230 cơ sở thờ tự được xây mới, 308 cơ sở thờ tự được nâng cấp, sửa chữa...

Những chính sách thiết thực, hiệu quả nêu trên đã khẳng định quyền con người ở Việt Nam hiện được bảo đảm và không ngừng nâng cao. ST

 

Không đỗ công chức, tự huyễn hoặc bản thân, bất mãn tự đề cao bản thân

rồi thành kẻ chống phá đất nước

Đường Văn Thái, còn gọi là Thái Văn Đường, sinh năm 1982 tại Đông Anh, Hà Nội. Đường Văn Thái được đào tạo cơ bản ở trong nước, có thời gian tham gia hoạt động đoàn và làm hợp đồng tại Phòng Quản lý đất đai & Giải phóng mặt bằng huyện Đông Anh. Năm 2013, thi công chức nhưng không đỗ và nảy sinh bất mãn, Thái xin nghỉ việc.

Sau đó đi học về chuyên ngành quản lý đất đai tại Hàn Quốc theo dạng tự túc. Từ khi có tư tưởng tiêu cực, bất mãn và nhất là sau khi sang Hàn Quốc du học, Đường Văn Thái đã giao du với nhiều đối tượng xấu, có hoạt động chống Việt Nam, tham gia kích động tụ tập đông người gây rối an ninh trật tự trên địa bàn Hà Nội. Y đã móc nối tham gia vào các hội, nhóm chống đối như Hội Nhà báo độc lập, Hội Anh em dân chủ….

Đường Văn Thái đã tạo lập nhiều tài khoản trên mạng xã hội để phát tán những bài viết, hình ảnh chứa đựng những thông tin không đúng sự thật trên nhiều lĩnh vực của Việt Nam, tập trung bóp méo, thổi phồng, bôi đen hiện tình đất nước và kích động người dân tham gia vào các hoạt động gây rối.

Năm 2017, sau khi về nước, Đường Văn Thái đã chuyển vào sống tại TP Hồ Chí Minh và tiếp tục có các hoạt động chống phá Việt Nam ngày một manh động. Khi một số đồng bọn bị bắt, biết rất khó tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật, năm 2019, y đã tìm cách trốn ra nước ngoài với mục đích xin tỵ nạn chính trị.

Cuộc sống tỵ nạn của Đường Văn Thái ở Thái Lan cùng với một số trường hợp khác đang rất khó khăn, khổ sở. Để được các thế lực thù địch chú ý, quan tâm và có tiền sinh sống, y thường xuyên tạo lập và phát tán trên youtube nhiều tin tức bịa đặt, thông tin giả xuyên tạc tình hình ở trong nước. Rất nhiều ý kiến trên cộng đồng mạng đã phản đối hành vi sai trái của Đường Văn Thái và gọi y là kẻ “tiểu nhân, kẻ bán nước cầu vinh”.

Từ Đường Văn Thái cho đến Lê Văn Thương, Phạm Minh Vũ, Trương Quốc Huy và Trần Minh Nhật cùng một số kẻ khác đều có quá trình sa ngã, dần trượt dài từ một công dân thành những kẻ phá hoại đất nước.

 

Lo sợ trước sự phản ứng của người dân trong nước và sợ bị pháp luật trừng trị, các đối tượng đã tìm cách đào tẩu ra nước ngoài, bám gót các thế lực chống đối và lợi dụng không gian mạng để phát tán tin giả, thông tin bịa đặt chống phá, bôi nhọ hình ảnh đất nước trên trường quốc tế. ST

 

Từ một sinh viên vô kỷ luật đến trượt dài trên hành trình phạm tội

Phạm Minh Vũ sinh năm 1992 tại Quảng Trị, từng là sinh viên Trường Cao đẳng Phát thanh và Truyền hình 1 tại tỉnh Hà Nam. Không như những sinh viên khác luôn nỗ lực học tập để thành tài, Phạm Minh Vũ lại dành thời gian quý báu để truy cập vào những trang phản động và bị tiêm nhiễm những tư tưởng chống đối, rồi tham gia vào những hoạt động tội lỗi, đi ngược lại những quy định của nhà trường và bị đuổi học.

Được sự lôi kéo của các đối tượng thuộc tổ chức phản động “Hội anh em dân chủ của Nguyễn Văn Đài, Phạm Minh Vũ đã tham gia điều hành trang phản động của tổ chức này và liên kết với các đối tượng Đỗ Nam Trung, Lê Thị Phương Anh tham gia vào các hoạt động tụ tập đông người, tuần hành gây rối an ninh trật tự.

Thông qua đối tượng Nguyễn Thái Học, thành viên tổ chức khủng bố Việt Tân, chúng đã chuyển cho Phạm Minh Vũ tiền để thu thập tài liệu, biên soạn bịa đặt, kích động và kêu gọi công nhân trong các khu công nghiệp nghỉ việc, tụ tập biểu tình phá rối an ninh trật tự tại các tỉnh phía Nam.

Tối ngày 14/5/2014, trong khi Phạm Minh Vũ cùng đồng bọn đến Bình Dương quay phim, chụp ảnh các hoạt động gây rối của những kẻ quá khích trà trộn vào giới công nhân thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ. Phạm Minh Vũ, Đỗ Nam Trung và Lê Thị Phương Anh đã bị khởi tố, điều tra theo Điều 258, Bộ luật Hình sự. Sau đó, Phạm Minh Vũ đã bị tòa tuyên phạt 18 tháng tù giam về hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích Nhà nước.

Trong quá trình chống phá đất nước, Phạm Minh Vũ đã được các tổ chức phản động nhiều lần chuyển tiền, điện thoại và máy ảnh làm phương tiện phục vụ cho việc thu thập, phát tán tin tức, tài liệu xuyên tạc tình hình đất nước, thông qua các đối tượng chống đối như Nguyễn Thái Học, Trần Bửu Thọ, Ngô Duy Quyền.

Đáp lại, Phạm Minh Vũ đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Sep Pham” và địa chỉ hộp thư điện tử “vuemail” để phát tán 174 trang tài liệu có nội dung đả kích chế độ, kích động biểu tình, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Sau khi ra tù, không chịu hoàn lương trở thành người có ích, Phạm Minh Vũ tiếp tục có nhiều hoạt động chống phá Việt Nam thông qua việc sử dụng tài khoản trên mạng xã hội để phát tán nhiều thông tin xuyên tạc, nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ chủ chốt các cấp và lực lượng vũ trang; xuyên tạc tình hình chính trị, các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, tự do báo chí và tự do ngôn luận, công tác phòng, chống đại dịch COVID-19 của Việt Nam. Lo sợ bị bắt, bị xử lý, Phạm Minh Vũ đã chạy trốn ra nước ngoài và tiếp tục hành trình xuyên tạc, bịa đặt nói xấu quê hương, đất nước trên các trang mạng xã hội. ST

 

Kẻ bôi nhọ Thiên Chúa, tay sai của tổ chức khủng bố Việt Tân

Trần Minh Nhật sinh năm 1988, trong một gia đình Thiên Chúa giáo quê Nghệ An. Là một sinh viên được đào tạo cơ bản ở TP Hồ Chí Minh, có tri thức, cứ tưởng Trần Minh Nhật sẽ trở thành người có ích. Tuy nhiên, Nhật đã bị các đối tượng xấu móc nối, lôi kéo tham gia tổ chức khủng bố Việt Tân, có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ, do đó đã bị bắt, bị xử lý về hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Trần Minh Nhật đã quan hệ với một số đối tượng phản động cùng quê Nghệ An, như Nguyễn Xuân Kim, Đặng Xuân Diệu và đặc biệt là các đối tượng trong nhóm Hồ Đức Hòa, thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân.

Năm 2011, Trần Minh Nhật xuất cảnh đi Thái Lan tham gia khóa huấn luyện cách thức chống phá Việt Nam do tổ chức khủng bố Việt Tân tổ chức, sau đó được chúng cung cấp tài chính, tung trở lại Việt Nam để phá hoại.

Tuy nhiên, hoạt động phạm tội của chúng đã bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ và điều tra làm rõ. Năm 2013, Hồ Đức Hòa cùng đồng bọn đã bị tòa án xét xử về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; trong đó, Trần Minh Nhật bị tuyên phạt 4 năm tù giam, 3 năm quản chế.

Tháng 8/2015, ra tù, Trần Minh Nhật chuyển vào cư trú tại tỉnh Lâm Đồng. Trong thời gian chấp hành hình phạt quản chế, y vẫn tiếp tục “ngựa quen đường cũ” có nhiều hoạt động chống phá đất nước. Năm 2016, Trần Minh Nhật trốn ra Nghệ An và đã có nhiều hoạt động gây rối an ninh trật tự, lôi kéo tụ tập đông người chặn Quốc lộ 1, đập phá trụ sở chính quyền địa phương. Trần Minh Nhật đã bị khởi tố, rồi bị truy nã về hành vi không chấp hành án theo quy định tại Điều 304 BLHS. Biết sẽ bị bắt nếu còn ẩn trốn ở trong nước, y đã cùng vợ chạy trốn ra nước ngoài.

Để hoạt động chống phá đất nước và mong nhận được sự bố thí của các thế lực ngoại bang, Trần Minh Nhật đã tạo lập, sử dụng nhiều tài khoản trên mạng xã hội, trong đó có tài khoản youtube VoteTV để phát tán thông tin bịa đặt, sai sự thật về tình hình đất nước, đi ngược lại những điều tốt đẹp của người Công giáo và những điều răn của Chúa. ST

 

Con rối trong tay các thế lực bên ngoài

Trương Quốc Huy, sinh năm 1981 tại TP Hồ Chí Minh. Huy chỉ học hết lớp 7 rồi bỏ giữa chừng, trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự đã vi phạm kỷ luật và bị loại ngũ. Do kém hiểu biết, trong giai đoạn 2004, 2005, Huy và Hàng Tấn Phát - một kẻ đồng tính, đã bị các tổ chức phản động dụ dỗ, lôi kéo tham gia vào tổ chức phản động“Hội đồng Dân quân cứu quốc” do đối tượng khủng bố Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu.

Sau đó, được sự hà hơi, tiếp sức, chỉ đạo của các đối tượng phản động Bùi Quang Vinh, Nguyễn Hoàng Huy Đức và Lisa Phạm, Trương Quốc Huy đã thu thập, phát tán các tài liệu trên các trang web phản động có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và phát tán tờ rơi có nội dung xuyên tạc chính quyền “đàn áp tôn giáo”, do đó đã được tổ chức khủng bố của Nguyễn Hữu Chánh chuyển cho 600 USD.

Do có hoạt động vi phạm pháp luật, năm 2005, Trương Quốc Huy và Lisa Phạm đã bị cơ quan chức năng của Việt Nam bắt để điều tra làm rõ. Trong thời gian bị tạm giam, hai đối tượng đều tỏ ra ăn năn hối lỗi, viết nhiều lá đơn xin khoan hồng, nội dung rất thống thiết như “Đơn xin cam kết từ bỏ hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam; tôi nhận thấy hành vi của mình vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đi ngược lại mục tiêu chung của dân tộc…

Tôi xin cam kết từ bỏ tất cả để trở thành công dân lương thiện…”. Với mục đích nhân đạo, mở cho kẻ lầm đường lạc lối trở lại thành công dân lương thiện, Trương Quốc Huy được trả tự do sau 9 tháng giam giữ mà không bị truy tố và Lisa Phạm bị trục xuất về Mỹ.

Tuy nhiên, với bản chất phá hoại khó thay đổi, sau khi được trả tự do, Trương Quốc Huy đã tiếp tục có hoạt động vi phạm pháp luật, gia nhập các tổ chức phản động. Năm 2006, Trương Quốc Huy và anh trai là Trương Quốc Tuấn bị bắt về tội "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

Năm 2008, Trương Quốc Huy bị tòa án xét xử, tuyên phạt 6 năm tù giam và 3 năm quản chế. Năm 2012, sau khi mãn hạn tù, Trương Quốc Huy cùng Trương Quốc Tuấn trốn sang Thái Lan và bị bắt giữ vì hành vi nhập cảnh trái phép; sau đó đã được tỵ nạn tại Mỹ dưới sự bảo trợ, bảo lãnh của tổ chức, cá nhân phản động đã từng hà hơi, tiếp sức cho đối tượng hoạt động chống phá Việt Nam.

Sau khi được tỵ nạn tại Mỹ, Trương Quốc Huy tiếp tục “ngựa quen đường cũ” và để có tiền trang trải cho cuộc sống, y đã tuyên bố gia nhập các tổ chức phản động và tạo lập các tài khoản mạng xã hội, trang mạng phản động, trong đó có N10Tv để phát tán tài liệu sằng bậy, bịa đặt chống phá Việt Nam.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và người Việt Nam yêu chuộng hòa bình đã đăng trên các tài khoản mạng xã hội gọi Trương Quốc Huy là loại “tâm thần chính trị”; những quân nhân có thời gian nhập ngũ cùng đã tẩy chay, bóc mẽ, chỉ ra những việc làm vi phạm đạo đức, vi phạm kỷ luật quân đội của Trương Quốc Huy. ST

 

Từ kẻ vô kỷ luật đến con đường chống phá đất nước

Thời gian gần đây, một số đối tượng là công dân Việt nhưng vì quyền lợi vị kỷ, bị kẻ xấu, các tổ chức phản động lôi kéo dẫn đến bất chấp đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bất chấp pháp luật, sử dụng không gian mạng phát tán nhiều thông tin sai lệch, công khai công kích, chống phá Việt Nam, tiếp tay cho kẻ xấu gây tâm lý hoang mang, ngờ vực, chia rẽ nội bộ, làm hại đất nước.

Ban đầu, các đối tượng đều là những công dân bình thường nhưng rồi sa ngã dần, trượt dài trên con đường tội lỗi khi bị mê muội trước sự lôi kéo của kẻ xấu. Khi phát hiện có nguy cơ nhận sự trừng trị ở trong nước, các đối tượng đã tìm cách chạy ra nước ngoài để bám gót các thế lực thù địch làm hại đất nước, dân tộc. Trong ssố đó phải kể đến. Lê Văn Thương, sinh năm 1988 tại vùng đất Quảng Ngãi giàu truyền thống cách mạng với biết bao tấm gương hy sinh vì đất nước. Là người từng có thời gian phục vụ trong quân ngũ, được quan tâm tạo điều kiện đào tạo thành sỹ quan nhưng do không chịu rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu trở thành người có ích cho đất nước, cho quân đội và gia đình mà sa ngã, trượt dài trên con đường tội lỗi. Sau nhiều lần vi phạm kỷ luật, mặc dù đã được động viên, giáo dục, Thương vẫn tính nào tật ấy, do đó đã bị kỷ luật và được giải quyết cho xuất ngũ.

Thiết tưởng, sau khi trở về địa phương, Thương sẽ vượt qua lầm lỗi, chí thú làm ăn chăm lo cho gia đình, trở thành công dân tốt, nhưng y lại tiếp tục trượt dài, bộc lộ bản chất của một kẻ phá hoại, bắt tay với các đối tượng xấu có nhiều hoạt động chống phá đất nước và tuyên bố “tự nguyện ra quân và rời bỏ Đảng” để thành lập lực lượng hòng thay đổi chế độ. Một kẻ ảo tưởng mới chỉ được đào tạo những kiến thức ở cấp phân đội về quân sự nhưng Thương lại lừa bịp, tuyên bố rất hùng hồn có năng lực, khả năng chỉ huy những đội quân lớn có thể làm thay đổi được tình hình đất nước.

Trước những hoạt động chống phá đất nước, có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, Lê Văn Thương đã bị khởi tố về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, đồng thời đã bị truy nã sau khi bỏ trốn khỏi địa phương vào năm 2018. Các cơ quan chức năng đã nhiều lần có văn bản gửi gia đình, vận động, kêu gọi Thương ra đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Biết không thể có nơi dung thân ở trong nước, Lê Văn Thương đã tìm cách đào tẩu ra nước ngoài. Để được các thế lực ngoại bang sử dụng và có tiền sinh sống, Thương đã bất chấp sự khoan dung của đất nước và tiếp tục lún sâu hơn vào con đường tội lỗi khi sử dụng không gian mạng tạo lập các tài khoản để bịa đặt, nói xấu tình hình đất nước, chống phá Việt Nam. Trên tài khoản facebook cá nhân và tài khoản youtube “Tiếng nói Dân chủ Việt”, đối tượng đã công khai bộc lộ là một kẻ phản bội lại quê hương, đất nước khi liên tục phát tán những thông tin sai trái, bịa đặt. Chính y đã tự bôi xấu bản thân, làm ảnh hưởng đến những người thân và tự chặn lại con đường trở về quê hương mà một số kẻ đã sai lầm mắc phải trước đây.ST

ĐOÀN KẾT XUÔI CHIỀU NGUY HẠI NHƯ MẤT ĐOÀN KẾT

             Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã nhìn nhận một cách rất rõ ràng về tác hại của sự "đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức.”

Phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng do Bộ Chính trị đã tổ chức vào ngày 9/12 tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Mọi thái độ nể nang, né tránh, hữu khuynh, "ngậm miệng ăn tiền" hoặc cực đoan, muốn lợi dụng phê bình để đả kích người khác, gây rối nội bộ đều là không đúng.”

Nó nguy hiểm ở chỗ không gây tác hại tức thì, không biểu hiện rõ ràng như tình trạng mất đoàn kết để có thể “kích hoạt sự miễn dịch” của tổ chức Đảng. Nó phá hoại sức mạnh của Đảng một cách từ từ, lặng lẽ.

Kết quả các cuộc kiểm tra cho thấy nhiều tổ chức đảng và người đứng đầu vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nội bộ các tổ chức đảng không thực hiện nghiêm túc chế độ phê bình và tự phê bình, đội ngũ cán bộ, đảng viên thiếu tinh thần đấu tranh với những hành vi vi phạm của đồng chí, đồng đội.Nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị để cho những khuyết điểm, yếu kém kéo dài nhiều năm, không giải quyết thấu đáo, xử lý dứt điểm mà còn có biểu hiện bao che, dung túng bởi nội bộ tập thể gần như bị tê liệt do thái độ “im lặng đáng sợ” của số đông cán bộ, đảng viên trong đơn vị, cơ quan.

Như vậy, đoàn kết xuôi chiều được nhận diện là căn bệnh đáng báo động ngang hàng với sự mất đoàn kết nội bộ. Đoàn kết xuôi chiều được coi là sự suy thoái trong nhận thức và trong hành động của cán bộ, đảng viên. 

Vì vậy, Tổng Bí thư yêu cầu các tổ chức Đảng phải “khắc phục tình trạng xuê xoa, nể nang, thậm chí biến cuộc họp tự phê bình và phê bình thành nơi vuốt ve, ca tụng lẫn nhau; đồng thời cũng ngăn chặn, tránh tình trạng lợi dụng dịp này để "đấu đá," "hạ bệ" nhau với những động cơ không trong sáng.”./.

NHẬN DIỆN "SỰ IM LẶNG LÀ VÀNG... THAU"

            Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã nhìn nhận một cách rất rõ ràng về tác hại của sự "đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức.”

Đoàn kết xuôi chiều được biểu hiện phổ biến dưới hình thức “nương theo” ý kiến của lãnh đạo, của những người có tầm ảnh hưởng. Tại không ít các tổ chức đảng, những đảng viên “bình thường” e ngại thể hiện chính kiến, sợ mất lòng, sợ va chạm, sợ bị đánh giá là không ủng hộ cấp trên, không ủng hộ đồng nghiệp.

Đoàn kết xuôi chiều về lâu dài sẽ gây ra tình trạng mất đoàn kết nội bộ, tiềm ẩn hình thành nhóm lợi ích, tác động tiêu cực đến tư tưởng và tâm lý xã hội, giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Đoàn kết xuôi chiều là “mẹ đẻ” của thái độ nể nang, không dám đấu tranh vì chính nghĩa, vì cái tốt, cái thiện, cản trở sự tiến bộ của chi bộ, cơ quan. Đoàn kết xuôi chiều nhiều khi còn được che đậy dưới lập luận “mỹ miều” là biểu hiện của sự đồng thuận, sự nhường nhịn, không cần ganh đua nhỏ nhặt.

Ẩn sau sự đoàn kết giả tạo là thái độ yếu hèn, ích kỷ, vụ lợi, mũ ni che tai, thờ ơ với tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, thờ ơ với vận mệnh của đất nước, của Đảng.

Tại nhiều chi bộ, cơ quan, đơn vị sự mất đoàn kết nội bộ, lợi ích nhóm rất khó được nhận diện vì núp dưới vỏ bọc hoàn hảo là “đoàn kết” - sự đoàn kết xuôi chiều, giả tạo. Sự “im lặng là vàng… thau” của một cán bộ, đảng viên đã nguy hại, nhưng sự “im lặng đáng sợ của tập thể” có sức tàn phá gấp hàng chục, hàng trăm lần.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra các cấp trong toàn Đảng đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng. Nguyên nhân quan trọng khiến cả một tổ chức đảng bị kỷ luật chính là sự đoàn kết xuôi chiều, thái độ thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh.

Đoàn kết xuôi chiều và dân chủ hình thức là “anh em sinh đôi,” thường đi kèm với nhau, làm nảy sinh ra tình trạng “dân chủ mà không có dân chủ.”

Dân chủ hình thức là sự mất dân chủ dưới vỏ bọc “đúng quy trình,” “đúng quy chế,” nên khó phát hiện. Mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức trong công tác cán bộ đã và đang gây ra những hệ lụy nghiêm trọng, không những bản thân cán bộ được đề bạt, bổ nhiệm khó khăn, lúng túng trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, mà nguy hại hơn là làm nản lòng những cán bộ có đủ tài, đức; là môi trường dễ nảy sinh sự thiếu thống nhất, mất đoàn kết trong nội bộ.

Quy định 37-QĐ/TW bổ sung một số quy định mới về những điều đảng viên không được làm. Trong đó, Điều thứ 3 quy định đảng viên không được “phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ," đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyển quyền, quan liêu, xa rời quần chúng.” 

Như vậy là lần đầu tiên khái niệm “đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh” được đưa vào nội dung của Quy định “19 điều đảng viên không được làm”./.

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN KHI THAM GIA MẠNG XÃ HỘI

             Hiện nay, mạng internet nói chung và MXH nói riêng có quá nhiều thông tin giả, thông tin bịa đặt, xấu độc, kể cả các thông tin chống phá Đảng, Nhà nước, các vị lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta. Người tham gia MXH, đặc biệt là đảng viên, phải tỉnh táo, phân tích, kiểm chứng để xác định tính chính xác của thông tin. Nếu không kiểm chứng tính đúng đắn, chân thực, chuẩn mực đạo đức… mà đã vội chia sẻ, bình luận không đúng thì dẫn đến tiếp tay cho các phần tử phản động, cơ hội chính trị, thậm chí vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Trong quá trình tham gia MXH, mọi người đều có quyền viết, chia sẻ những gì pháp luật không cấm, qua đó cũng là thể hiện quyền tự do của cá nhân. Tuy nhiên, đối với đảng viên, khi tham gia MXH ngoài việc chấp hành các quy định pháp luật thì khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng, nhất thiết phải chấp hành cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và khi nói, viết cần bám sát, dựa trên cơ sở các quan điểm, đường lối của Đảng; phải có trách nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trên thực tế, nhiều đảng viên khi tham gia MXH đã bày tỏ quan điểm cá nhân, chia sẻ những thông tin chưa kiểm chứng, sai trái, độc hại, thậm chí đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có những đảng viên khi vào MXH không đọc hết, xem hết nội dung thông tin, không nhạy cảm chính trị mà vội vã chia sẻ bài viết đã được người đăng cố tình lồng ghép vào những nội dung xấu độc, thậm chí xuyên tạc, điều này vô tình tiếp tay lan truyền thông tin xấu độc, phản động trên MXH. Hành động đó của đảng viên không chỉ vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà còn làm cho cộng đồng mạng bị đầu độc.

Nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên, nâng cao tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, ngày 25/10/2021 Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm, thay thế Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI.

Quy định số 37-QĐ/TW nêu một số điều đảng viên không được làm liên quan đến mạng internet và MXH: “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng” (Điều 3); “Cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng những thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước hoặc những việc chưa được phép công bố; tàng trữ, tuyên truyền, tán phát hoặc xúi giục người khác tuyên truyền, tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những thông tin, quan điểm trái với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” (Điều 4); “Viết bài hoặc cung cấp tài liệu cho người khác viết, nói, cho đăng tải tin, bài sai sự thật, không đăng tải ý kiến phản hồi, cải chính theo quy định. Sáng tác, sản xuất, tàng trữ, tán phát các tác phẩm, công trình văn học, nghệ thuật không lành mạnh, trái thuần phong mỹ tục Việt Nam, mang tính kích động gây ảnh hưởng xấu trong xã hội; tán phát bài viết, bài nói, phỏng vấn, hồi ký, phim, ảnh không đúng quy định” (Điều 5).

Đây là những quy định chặt chẽ yêu cầu đảng viên phải tuân thủ nghiêm ngặt khi nói, viết và đặc biệt là khi tham gia MXH. Mỗi đảng viên phải gương mẫu thực hiện, đồng thời phải thực hiện trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng.

            Ngày nay trong đời sống xã hội, hay trên không gian mạng cái đúng phải được bảo vệ, phát huy; cái sai cần được đấu tranh, ngăn chặn loại bỏ thì chúng ta mới xây dựng được xã hội phát triển phồn vinh và không gian mạng trong lành. Điều này bất cứ công dân bình thường cũng phải làm và có thể làm được thì đảng viên lại càng phải gương mẫu đi đầu. Đảng viên cần xác định trách nhiệm của mình khi tham gia MXH, đó là không chỉ là tỉnh táo, thận trọng khi đăng tin, bài, chia sẻ, bình luận đúng pháp luật, quy định của Đảng, giá trị đạo đức mà còn phải mạnh dạn lan tỏa thông tin tích cực, đấu tranh phản bác đối với thông tin xấu độc, phản động./.

"XÂY" ĐI LIỀN VỚI "CHỐNG"

             Việc xây dựng và chỉnh đốn luôn song hành với nhau trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong công tác tư tưởng. Một trong những quan điểm mang tính chỉ đạo xuyên suốt trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay là phải kết hợp chặt chẽ giữa “bảo vệ” và “đấu tranh.”

Nghị quyết số 35-NQ/TW (ngày 22/10/2018) của Bộ Chính trị (khóa XII) về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới nêu rõ: "Gắn kết chặt chẽ giữa "xây" và "chống,” xây là cơ bản, chống phải quyết liệt, hiệu quả.”

"Xây" là giải pháp tập trung vào bên trong chủ thể còn “chống" là sự hướng vào việc ngăn chặn những tác động tiêu cực từ bên ngoài.

Trong lĩnh vực xây dựng Đảng, “xây” là những biện pháp tiếp tục phát huy những giá trị đã có, những ưu thế đang tồn tại để hướng tới mục tiêu củng cố tổ chức Đảng ngày càng ổn định, vững mạnh và phát triển; “chống” là toàn bộ phương thức ngăn chặn biểu hiện tiêu cực, làm thất bại mọi hoạt động làm phương hại đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Từ tháng 10/2018 trở về trước, Đảng ta chủ trương tập trung vào nhiệm vụ “chống âm mưu diễn biến hòa bình” - đối tượng hướng tới là thế lực thù địch bên ngoài. Khi Nghị quyết số 35-NQ/TW đặt ra mối quan hệ giữa “bảo vệ” với "đấu tranh,” việc "chống" không chỉ diễn ra bên ngoài mà cả ở bên trong.

Có nghĩa là trong khi bảo vệ Đảng trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, đồng thời cũng bảo vệ lý tưởng của Đảng trước sự thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Bởi vậy, nhiệm vụ "đấu tranh" không chỉ diễn ra ở bên ngoài mà còn diễn ra ở bên trong - cuộc đấu tranh của Đảng trước những khuyết điểm, hạn chế đang tồn tại trong nội bộ.

“Chống” và “xây” tuy nhằm vào các đối tượng khác nhau nhưng đều chung một mục đích; không tách biệt, đối lập mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động, hỗ trợ lẫn nhau. "Chống" để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vững chắc hơn, "xây" để Đảng mạnh hơn, chắc chắn, vững vàng trước mọi sự xuyên tạc, phá hoại của các phần tử bất mãn, cơ hội, tiêu cực.

Hơn nữa, việc "chống suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa,” chống phai nhạt lý tưởng, bè phái trong Đảng thực chất là một phần của việc "xây.”

            Bởi lẽ, muốn xây dựng Đảng mạnh thì bắt buộc phải ngăn chặn, đẩy lùi được các biểu hiện suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa- "chống" là quá trình bắt buộc để "xây" hiệu quả hơn. Ngược lại, khi “xây” có kết quả và những biểu hiện tiêu cực, suy thoái giảm, việc "chống" ở bên trong sẽ thuận lợi hơn./.

MÀN ĐỐI ĐÁP GIỮA NGOẠI GIAO MỸ VÀ NGA

         Sau khi có thông tin Nga đồng ý đưa quân, hỗ trợ chính phủ Kazakhstan ổn định tình hình, ngăn chặn khủng bố,Ngoại trưởng Mỹ đã phát biểu: "Một trong những bài học lịch sử gần đây là khi người Nga tới nhà bạn, rất khó để yêu cầu họ rời đi. Tôi cho rằng Kazakhstan đủ năng lực giải quyết các cuộc biểu tình, do đó không rõ tại sao họ cảm thấy cần bên ngoài hỗ trợ".

- Bộ Ngoại giao Nga nhanh chóng đáp lại: "Nếu Antony Blinken yêu thích các bài học lịch sử đến vậy, hãy nhớ rằng khi người Mỹ tới nhà bạn, rất khó để có thể bảo toàn tính mạng và không bị cướp bóc hay h.ấ.p d.i.ê.m. Phát biểu của ngài Blinken trở thành đòn tự đấm vào mồm vì lịch sử 300 năm của Mỹ đã dạy chúng ta bài học này. Người da đỏ ở Bắc Mỹ, Triều Tiên, Việt Nam, Iraq, Panama, Nam Tư, Libya, Syria và những nơi xui xẻo từng gặp những vị khách không mời này sẽ có nhiều điều để nói".

Nói chung, đến tầm này rồi, Mỹ còn muốn bịp thiên hạ chỉ trông chờ vào mấy hãng truyền thông thân phương Tây như BBC, Reuter,... sắp lại chiến dịch tuyên truyền giống như Mùa xuân Ả rập mà thôi. Còn phát biểu của Bộ Ngoại giao Mỹ không có gì ngoài giúp người xem giải trí và giảm stress mà thôi./.

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2022

SẢN VẬT VẬT TRĂM MIỀN RA NƠI ĐẦU SÓNG

 

Những chuyến tàu ra quần đảo Trường Sa, Nhà giàn DK1 ăm ắp tình cảm hậu phương gửi những người lính đang ngày đêm “Canh giữ đảo để nhân dân đón Tết/Gác biển trời cho Tổ quốc vào xuân”. Khó khăn do đại dịch Covid-19, đồng bào cả nước vẫn chung tay gửi mùa xuân ra biển, đảo, cùng lan tỏa niềm tin, tình cảm đoàn kết vững bền.


Những cánh thư vượt sóng


2021 là năm thứ sáu liên tiếp, Câu lạc bộ Tuổi trẻ vì biển đảo quê hương thực hiện chương trình “Xuân biên giới-Tết hải đảo”. Kỹ sư Trần Vũ Thành, Chủ nhiệm câu lạc bộ xúc động chia sẻ, đợt phát động (từ 25/11 đến 20/12/2021) trùng vào thời điểm cả nước đang căng mình chống dịch. Tuy nhiên, đội ngũ thực hiện chương trình luôn thấy rưng rưng khi liên tục tiếp nhận ủng hộ từ các cá nhân, đơn vị. Đất liền khó khăn nhường nào cũng quyết tâm gửi gắm tình cảm nồng ấm ra nơi đảo xa. Và như mọi năm, Câu lạc bộ tiếp nhận rất nhiều quà Tết của nhân dân gửi tới tất cả các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, Nhà giàn DK1, tàu trực Tết trên biển và tuyến đảo phía bắc.


Nhiều trường học khắp cả nước đã phát động chương trình “Những cánh thư vượt sóng”, khích lệ các em học sinh viết thư tay, làm thiếp chúc Tết gửi các chú bộ đội. Trong hơn hai vạn bức thư, thiếp được chuyển về câu lạc bộ có nhiều tấm thiệp 3D, 4D cầu kỳ, sống động, bất ngờ; có những bức thư chan chứa tình cảm được thể hiện bởi những nét chữ đẹp như hoa… Trong đó, xuất hiện bức thư, thiếp được cô giáo và học sinh cùng thực hiện; có những cô giáo là vợ bộ đội; có học sinh làm thiếp gửi cho bố là chính trị viên đảo Trường Sa Đông… 


Nhiều tỉnh, thành phố không có biển nhưng tinh thần vì biển, đảo được thể hiện vô cùng ấn tượng. Tiêu biểu ở huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ trong năm 2021 đã khánh thành 25 mô hình cột mốc chủ quyền Trường Sa tại các trường học và có tới hơn 80 điểm trường, tính cả trường mầm non đều trồng và chăm sóc cây bàng quả vuông được đưa về từ Trường Sa. Phó Bí thư Huyện ủy Cẩm Khê Bùi Xuân Vĩnh chia sẻ, địa phương luôn nỗ lực trong công tác giáo dục tình yêu và lòng tự hào về chủ quyền biển đảo tới các em học sinh. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để cán bộ, giáo viên, nhân dân… cùng thể hiện bằng những hành động thiết thực, nối gần Trường Sa với vùng quê đất Tổ. Với các em học sinh Thủ đô Hà Nội, chương trình cũng mang đến nhiều trải nghiệm rất ý nghĩa qua  những dòng thư: “Kính gửi các chú hải quân đang làm nhiệm vụ trên quần đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1, cháu tên là Nguyễn Khoa Đăng lớp 3A8 Trường tiểu học Dịch Vọng B. Từ Thủ đô Hà Nội, cháu xin gửi tấm thiệp nhỏ cùng bài thơ do cháu tự sáng tác dành tặng các chú. Các bạn học sinh trường cháu cũng vẽ rất nhiều thiệp, tranh và viết rất nhiều thư để gửi các chú đấy ạ! Mẹ cháu nói, Trường Sa ở xa lắm, từ đất liền ra hải đảo phải đi mấy ngày trên tàu mới tới. Để bảo vệ biển, đảo Tổ quốc, các chú phải ở rất xa gia đình, xa đất liền. Cháu mong những lá thư, tấm thiệp của chúng cháu sẽ nhanh chóng đến được với các chú…”.


Sắc hoa tô thắm mầu cờ


Mỗi phần quà gửi ra biển, đảo gói trọn tình cảm của hậu phương với: Mứt Tết, thạch, trà, cà-phê, nước ngọt, miến, mì, măng khô, nấm hương, mộc nhĩ, tai chua, hạt tiêu, tương bần, đặc sản các vùng miền… Đặc biệt, dụng cụ thể thao, lịch xuân, hoa Tết, hạc giấy tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ… cũng được nhân dân cả nước chăm lo. Tỉnh Hưng Yên tặng Trường Sa và Nhà giàn DK1 130 cây quất, 200 cây hoa giấy, 1.400 cây giống hoa mẫu đơn; tỉnh Phú Thọ tặng 1,7 tấn mì gạo; Thái Nguyên tặng 850 kg trà; Công ty Vietfoods tặng 1 tấn thạch; Bắc Giang tặng mì Chũ; Bình Định tặng bánh dừa; Đà Lạt tặng phong lan… Công ty đường sắt Hà Nội hỗ trợ vận chuyển miễn phí hàng quà Trường Sa tới ga Nha Trang và hàng quà Nhà giàn DK1 tới ga Sài Gòn; Tổng công ty bưu chính Viettel hỗ trợ vận chuyển miễn phí hàng quà các đảo phía bắc tới Hải Phòng…


Chia sẻ về ấn tượng đáng nhớ, các thành viên câu lạc bộ kể về kỷ niệm với bà con nhân dân xã Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Khi địa phương mang tặng 1.000 cây giống hoa mẫu đơn đỏ cho Trường Sa, nghe câu chuyện về tinh thần tô thắm mầu cờ nơi đầu sóng ngọn gió, bà con xúc động rồi chợt nhớ ra, giống hoa mang tặng cũng mang sắc cờ và cần thêm sao vàng nữa. Vậy là 400 cây giống hoa mẫu đơn vàng được chuẩn bị, gửi cùng hoa đỏ với niềm ước mong sắc hoa tô thắm mầu cờ. Chị Nguyễn Thị Quy, Bí thư Huyện đoàn Văn Giang, tỉnh Hưng Yên cho biết, nhiều năm qua địa phương đã lựa chọn cây quất làm quà tặng. Bà con nhân dân đã dành những cây quất đẹp, chăm sóc kỹ lưỡng nhất từ nhiều ngày tháng trước đó để gửi ra biển, đảo. Nhân dân xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên thì luôn tự hào về mảnh đất có giống trà cổ với vị ngọt hậu đặc biệt, được sinh trưởng ở môi trường trong lành, đã trở thành món quà không thể thiếu vào dịp Tết nơi đầu sóng. 


Kỹ sư Trần Vũ Thành tâm sự, quà Tết của đất liền luôn được nâng niu với tình cảm, trách nhiệm cao nhất của nhân dân. Những can tương Bần của Hưng Yên bà con đóng gói cẩn thận, về tới câu lạc bộ lại thêm lần nữa được quấn nylon cho khỏi vỡ, khi lên tàu, các nhân viên đường sắt cẩn thận chèn thêm bìa các-tông tránh khi tàu chạy rung lắc, đáy can bị mòn… Năm nay là một mùa xuân quá đặc biệt, khu câu lạc bộ và các địa phương đều bảo đảm chặt chẽ nguyên tắc phòng, chống dịch với khẩu trang, sát khuẩn, khai báo y tế, đóng dấu kiểm dịch, xét nghiệm và cả cách ly y tế... suốt quá trình gửi quà ra đảo xa. Tình cảm mộc mạc mà thấm thía nghĩa tình ấy chính là động lực tinh thần lớn lao để những người lính thêm chắc tay súng bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. 

VÌ SAO PHẢI PHÒNG CHỐNG TIÊU CỰC TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Một trong những điểm mới của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kết luận tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII vừa qua là “Cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải tích cực phòng ngừa và chủ động, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực…”.


Đặc biệt là Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đã mở rộng phạm vi trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, không dừng lại ở phòng, chống tham nhũng mà còn phòng chống tiêu cực, trong đó lấy phòng chống tiêu cực làm trọng tâm, trọng điểm. Bởi vì phòng chống tiêu cực chính là phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Suy thoái đến một mức nào đó là tự diễn biến, tự chuyển hóa, phai nhạt lý tưởng, không kiên định với Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không kiên định với con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.


Tiêu cực ở đây rộng hơn tham nhũng rất nhiều. Trước hết là tiêu cực trong tư tưởng, suy nghĩ ẩn giấu bên trong mỗi con người rất khó phát hiện. Từ đó dẫn đến suy thoái và ngay cả vấn đề tự diễn biến, tự chuyển hóa cũng là tiêu cực trong tư tưởng. Nguyên nhân gốc của vấn đề này chính là chủ nghĩa cá nhân. Tiêu cực trong suy nghĩ dẫn đến tiêu cực trong lời nói, từ đó dẫn đến tiêu cực trong hành động. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, con người là gốc của mọi công việc; nếu cán bộ hư hỏng, tiêu cực thì công việc hỏng. Cán bộ nào phong trào đó, nếu cán bộ nhất là người đứng đầu hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì phong trào ở địa phương, cơ quan, đơn vị đó sẽ tốt, hiệu quả và ngược lại.


Thực tiễn đã cho thấy ngày càng rõ, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ dừng lại ở phòng, chống tham nhũng. Bởi tham nhũng, lợi ích nhóm chỉ là bề nổi của chủ nghĩa cá nhân. Nếu chỉ phòng, chống tham nhũng thì chỉ làm phần ngọn mà chưa làm đến cái gốc sâu xa là “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Đây chính là nguy cơ bên trong đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ cần phải trị tận gốc.      

CÁI TÊN NÓI LÊN CUỘC ĐỜI

 

Lặng lẽ trong công việc và khiêm tốn khi vinh quang. Chấp nhận sống một cuộc đời lạc lõng cô độc để thực hiện sứ mạng lịch sử của mình. Công việc luôn đặt trong tình trạng có thể phát hiện và bị giết bất cứ lúc nào, hay cuộc sống luôn bị dò xét nghi ngờ vì tình cảm chân thành của ông dành cho những người bạn bên kia chiến tuyến.


Nếu năm 1975, Việt Nam làm chấn động chính trường thế giới khi chế độ ngụy quyền Sài Gòn sụp đổ, thì thế giới tình báo cũng bàng hoàng khi biết người ký giả nổi tiếng của TIME cũng như Reuters tại Sài Gòn này, lại là điệp viên đơn tuyến của Cộng Sản. Tuy vậy, những người bạn bên kia chiến tuyến của ông, rất ít người có cảm giác bị phản bội, vì họ hiểu tính chất công việc của ông. Và hơn hết, họ hiểu ông là một người Việt Nam, chọn cách sống cho một Việt Nam thống nhất và họ tin tưởng vào tình bạn của ông Ẩn với mình.


Sau cùng ông vẫn là ông, vẫn đi theo sứ mệnh cho một dân tộc độc lập và thống nhất. Mình thích khái niệm "Người Việt trầm lặng" khi tả về người đàn ông này. Con người cũng như cái tên - Phạm Xuân Ẩn.

THÔNG ĐIỆP CỦA TỔNG THỐNG PUTIN KHI ĐIỀU QUÂN TỚI KAZAKHSTAN!

      Sự xuất hiện của quân đội Nga tại Kazakhstan đã nhanh chóng khiến tình hình bạo loạn tại quốc gia Trung Á này đảo chiều, dù phía Moscow khẳng định không tham gia hoạt động trấn áp. Giới chuyên gia nhận định, đây được coi là một thông điệp "cứng rắn" mà Kremlin gửi tới Nhà Trắng. 

Hôm 5/1, lực lượng an ninh Kazakhstan đã phải hứng chịu thương vong nặng nề trong các vụ bạo loạn vì giá nhiên liệu tăng và đứng trước nguy cơ mất kiểm soát tình hình. Tuy nhiên, Tổng thống Tokayev chỉ hai ngày sau đó đã ra lệnh cho lực lượng an ninh "nổ súng tiêu diệt mà không cần báo trước" đối với các phần tử khủng bố hay nhóm côn đồ có vũ trang, đồng thời tuyên bố không đàm phán với phe biểu tình.

Theo tờ Bloomberg, sự xoay chuyển tình hình tại quốc gia Trung Á là nhờ những hỗ trợ lớn từ Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể (CSTO), trong đó có Moscow, dù lực lượng này khẳng định chỉ bảo vệ các cơ sở quan trọng của Kazakhstan và không tham gia hoạt động trấn áp bạo loạn.

Cụ thể, quân đội Nga trong hai ngày qua huy động 75 vận tải cơ liên tục đưa khoảng 3.000 lính dù cùng nhiều thiết giáp, xe đặc chủng tới Kazakhstan. Trước đó, các đơn vị tiền trạm của Nga xuất hiện ở Almaty, thành phố lớn nhất Kazakhstan, chỉ vài giờ sau khi Tổng thống Tokayev yêu cầu hỗ trợ.

Lực lượng này giúp đảm bảo an ninh tại các địa điểm chiến lược quan trọng như sân bay quốc tế Almaty, vốn bị người biểu tình chiếm giữ trong thời gian ngắn trước khi lực lượng an ninh Kazakhstan giành lại quyền kiểm soát.

Được biết, quốc gia 18 triệu dân này có tới 20% là người gốc Nga. Đường biên giới chung của Kazakhstan và Nga dài hơn 7.600 km - một trong những biên giới trên bộ liên tục dài nhất thế giới. Với Tổng thống Putin, việc sớm ổn định tình trạng bạo loạn ở biên giới phía Nam của đất nước sẽ giúp Nga tập trung giải quyết căng thẳng với phương Tây về vấn đề Ukraine.

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hội đồng Liên bang Nga Konstantin Kosachyov cho rằng, đợt điều quân được đánh giá là thông điệp tái khẳng định quyết tâm bảo vệ những nước Nga coi là "sân sau".

Không những vậy, chuyên gia chính trị Sergei Markov bình luận: "Đây là lần đầu tiên lực lượng CSTO được triển khai tới một nước thành viên, và đó là thông điệp Tổng thống Vladimir Putin gửi tới Mỹ, rằng Nga cũng có khả năng thực hiện các sứ mệnh quân sự không kém gì Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)".

Được biết, động thái này diễn ra vài ngày trước khi Nga tổ chức đàm phán với Mỹ và các đồng minh NATO để thảo luận về căng thẳng liên quan đến Ukraine, một trong những điểm nóng an ninh hiện nay trong quan hệ giữa Moscow và phương Tây.

Trong một diễn biến có liên quan, ngày 8/1, Tổng thống Putin đã điện đàm với người đồng cấp Tokayev về tình hình Kazakhstan. Giới chức Nga cho biết ông Tokayey đã cảm ơn sự hỗ trợ của các đối tác trong CSTO, đặc biệt là Moscow.

Về phần mình, Tổng thống Putin ủng hộ đề xuất của người đồng cấp Kazakhstan về việc tổ chức hội đàm trực tuyến giữa lãnh đạo các nước thành viên CSTO vào những ngày tới nhằm đưa ra các biện pháp nhằm khôi phục trật tự tại đất nước Trung Á này./.

Ảnh: Tình trạng bạo loạn tại Kazakhstan đảo chiều sau khi CSTO điều lực lượng an ninh tới đây hỗ trợ.

Yêu nước ST.