Thứ Ba, 11 tháng 1, 2022

ĐÚNG NHƯ NHỮNG GÌ TƯỚNG VỊNH NÓI!

        Nhìn những gì đã và đang diễn ra ở Afghanistan hiện nay lại nhớ câu trả lời của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh khi hỏi ông về di sản mà Việt Nam để lại ở Campuchia sau 10 năm ở lại nước bạn:

“Cũng cần nhắc thêm rằng, thời kỳ đó, tất cả các cuộc chiến tranh mà một nước đưa quân vào một nước khác đều thất bại. Tất cả đều không giữ được chế độ, tất cả đều gây mất ổn định và chìm sâu vào nội chiến.

Duy nhất chỉ có Campuchia là giữ được chính quyền, giữ được sự ổn định, có được hòa bình, giải giáp được Khmer Đỏ và bước ra môi trường quốc tế sau khi được kết nạp vào ASEAN năm 1998 tại Hà Nội. Không có cuộc chiến nào để lại được di sản vĩ đại như những gì Việt Nam mang lại cho Campuchia”.


Tướng Vịnh tâm sự:

"Tôi sang Campuchia khá muộn, năm 1984 - 5 năm sau ngày 7-1-1979.

Khi đó, thủ đô Phnom Penh vẫn là một thành phố vắng người, hoang tàn và nghèo khó, chưa có một công trình nào được xây dựng lại. Thỉnh thoảng tôi ra làm việc ở khu vực sân bay Pochentong.

Cứ khoảng 10h sáng mỗi ngày có chuyến bay chuyển thương về Việt Nam. Nhiều xe Gaz-66 chở anh em ra sân bay, trên thùng xe xếp những băng ghế để thương binh ngồi.

Tôi thấy 30 anh em, đa số mất một chân vì vướng mìn. Họ bá vai nhau hát hò, cười nói thật vô tư.

Họ sắp được về nhà..."

“Cuộc chiến đó không chỉ vì Việt Nam mà còn vì nhân dân Campuchia, vì hòa bình của khu vực và thế giới.”


Cách đây vài hôm, trong bài phát biểu, ông Hun Sen, Thủ tướng Campuchia nói: "Ngày 7-1-2022 là ngày kỷ niệm 43 năm chiến thắng lịch sử của nhân dân Campuchia lật đổ chế độ d.iệt c.hủng Pol Pot, kịp thời cứu dân tộc hồi sinh, kết thúc thời kỳ đen tối, mở ra kỷ nguyên mới độc lập, tự do, dân chủ và phát triển xã hội của Campuchia"./.

Ảnh: Phnom Penh 2021 và Phnom Penh 2005.

Yêu nước ST.

BIẾN ĐỘNG CHÍNH TRỊ VÀ MẠNG TRUYỀN THÔNG

                 Điểm lại lịch sử, một số cuộc cách mạng sắc màu có sự tác động của mạng truyền thông xã hội. Sau khi Liên bang Xô viết tan rã, các cuộc chiến tranh như ở I rắc (1989-1991), chiến trang Nam Tư, chiến tranh Apsganixtan, nước Mỹ và đồng minh sử dụng sử dụng sức mạnh của vũ khí có thể nhanh chóng giành chiến thắng. Tuy nhiên kết quả đạt được tốn kém về tài chính, tiêu hao về vũ khí và sinh mạng con người. Chính vì vậy, các thủ đoạn chiến thắng không cần chiến tranh lại được các nước phương Tây áp dụng với những chiêu bài rất mới. Trong đó triệt để sự dụng công cụ truyền thông trên mạng internet để tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật, kích động hận thù giai cấp, dân tộc tôn giáo, gây chia rẽ nội bộ đối phương, kích động dân chúng chống chính quyền, làm rối loạn xã hội.

            Điển hình như cuộc “cách mạng nhung ở Nam Tư” năm 2000. Chưa đầy một năm, sau cuộc tiến công hỏa lực đường không của Mỹ và NaTo, Nam Tư tiến hành cuộc bầu cử tổng thống. Theo kết quả vòng một, hai ứng cử viên là đương kim tổng thống Slobodan Milosevic và thủ lĩnh đảng đối lập – Đảng dân chủ Xecsbia Côxtunica đều không giành được đa số phiếu theo luật định để giành thắng lợi trực tiếp, mà phải tiến hành bầu cử vòng 2. Ngay lập tức Đảng dân chủ Xecsbia đã tuyên bố có gian lận trong kết quả bầu cử, bác bỏ yêu cầu bầu cử vòng 2; tiếp theo là sự vào cuộc của truyền thông kêu gọi dân chúng hưởng ứng chiến dịch “bất tuân lệnh” trên toàn quốc, đòi ông Milosevic từ chức để trao quyền điều hành đất nước cho ông Côxtunica. Ngày 5-10-2000, phe đối lập đã tràn vào tòa nhà Quốc hội, Đài phát thanh truyền hình và ông Côxtunica tuyên bố mình là tổng thống Liên bang. Ngày 6-10, Tòa án Hiến pháp Nam Tư tuyên bố thủ lĩnh đảng đối lập Côxtunica thắng cử và trở thành tổng thống mà không cần bầu cử vòng 2.

            Cuộc “cách mạng hoa hồng” ở Grudia năm 2003 cũng là một kịch bản tương tự như ở Nam Tư xảy ra. Tháng 11-203, Grudia tiến hành bầu cử Quốc hội. Kết quả kiểm phiếu ban đầu cho thấy, Đảng của ông Eduard Shevardnadze và những người ủng hộ ông đã giành chiến thắng. Tuy nhiên, Đảng đối lập ở Grudia và chính phủ các nước phương Tây tuyên bố có gian lận trong kết quả bầu cử. Trên các phương tiện truyền thông, các luận điệu tuyên truyền, kích động đòi ông Shevardnadze từ chức và tiến hành cuộc bỏ phiếu lại nở rộ của các thế lực đối địch. Một ngày sau khi quốc hội họp khóa mới đầu tiên, tổng thống Shevardnadze buộc phải đọc đơn từ chức.

            Qua cuộc “cách mạng nhung ở Nam Tư” và “cách mạng hoa hồng” ở Grudia cho ta thấy, không gian mạng có ảnh hưởng lớn trong việc truyền tải thông tin, định hướng dư luận; tác động mạnh tới tư tưởng nhận thức, quan điểm của người dùng mạng xã hội trong mọi vấn đề đời sống xã hội. Các nguy cơ mất an toàn thông tin, sự chống phá của các thế lực thù địch nhằm mục đích “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, chiến trang mạng… ngày càng hiện hữu và là thách thức lớn mà các cơ quan an ninh lớn đang phải đối mặt.

            Đối với Việt Nam, việc lợi dụng các phương tiện truyền thông đặc biệt là mạng xã hội để chống phá Đảng và Nhà nước ta đã được các đối tượng triệt để thực hiện. Thông qua, mạng xã hội youtobe, facebook, chúng tung ra nhiều video, bài viết xuyên tạc về thành quả cách mạng, về sự phát triển kinh tế, chính trị xã hội của đất nước. Chúng lợi dụng các vụ việc có ảnh hướng lớn tác động đến đời sống xã hội để kích động người dân thiếu hiểu biết tổ chức biểu tình, chống phá. Sự việc Trung Quốc hạ đạt giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng biển Việt Nam năm 2014 là một minh chứng. Lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam, thông qua các phương tiện truyền thông, các tổ chức chống đối, thù địch đã thành lập những nhóm kín kêu gọi người dân đứng lên biểu tình phản đối. Từ lời kêu gọi mỹ miều trên không gian mạng đã tạo nên một hiệu ứng yêu nước mù quáng, nhiều người dân nghe theo kẻ xấu tụ tập biểu tình, rồi kích động đập phá các nhà máy, xí nghiệp của Trung Quốc và một số nước tạo nên sự bất ổn chính trị, xã hội ở một số nơi. Bên cạnh đó, thông qua mạng xã hội, chúng còn tuyên truyền cho nhau cách thức đối phó chống lại các lực lượng chức năng… 

        Nguy hiểm hơn, nhân các sự kiện chính trị trọng đại của dân tộc, nhất là khi chúng ta tiến hành đại hội Đảng các cấp, các thế lực thù địch càng ráo riết lợi dụng phương tiện truyền thông, báo chí ở nước ngoài, nhất là các trang mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc làm giảm uy tín cá nhân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội thông qua những cái gọi là “tài liệu nhạy cảm”. Chúng khai thác, cắt xén, nhào nặn những thông tin sai sự thật, khó kiểm chứng, thật giả lẫn lộn, dễ gây hoài nghi, tò mò trong dư luận. Không những thế, chúng còn tuyên truyền, lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn dưới danh nghĩa các “nhà dân chủ” để tập hợp lực lượng, hòng dựng “ngọn cờ”, lập các tổ chức chống đối thông qua các trang mạng, blog cá nhân; lợi dụng phản biện xã hội để chống Đảng, chế độ, phủ nhận thành quả của sự nghiệp đổi mới đất nước. Đặc biệt, chúng lợi dụng một số đối tượng, trong đó có cả những người đã từng hoạt động trong cơ quan báo chí viết bài viết tung lên mạng để xuyên tạc, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

ĐỂ ĐẢNG MÃI TRONG LÒNG DÂN!

        Trong lịch sử 92 năm xây dựng và phát triển của mình, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng luôn gắn bó với Nhân Dân. Tôn chỉ, mục tiêu tối thượng của Đảng là vì độc lập dân tộc, vì tự do và hạnh phúc của Nhân Dân.

Sự vĩ đại của Đảng không phải ở số lượng đảng viên và tổ chức cơ sở đảng, mà ở chỗ Đảng hóa thân trong khát vọng tự chủ, tự cường, trường tồn dân tộc. Dưới ánh dương rực rỡ của Đảng, mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân không có đất sinh tồn. Nhưng chủ nghĩa cá nhân không tự nó tiêu vong mà Đảng phải có phương thức đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi, kiên quyết đấu tranh xử lý nghiêm minh.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian qua của Đảng đã minh chứng cho tinh thần cách mạng “làm trong sạch Đảng” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh lúc sinh thời là phải “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Chủ nghĩa cá nhân là căn nguyên của mọi biểu hiện tha hóa quyền lực “làm quan cộng sản”, “kiêu ngạo cộng sản”.

Mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang xuất lộ nhiều thứ “dịch bệnh”, nguy hại nhất là bệnh “coi khinh lý luận”, hoặc chỉ miễn cưỡng học lý luận chính trị nhằm có đủ tiêu chuẩn vào quy hoạch, được bổ nhiệm. Những phần tử cơ hội chính trị, những cán bộ, đảng viên hám chức vụ, mau chóng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, và khi dân không tin, thì làm sao dân yêu quý, giúp đỡ và bảo vệ Đảng?

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã đưa “tiêu cực” vào đối tượng “giặc nội xâm” là hết sức xác đáng; mở rộng phạm vi không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả xây dựng hệ thống chính trị. Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định: “Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm”. Vậy nên trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng phải dựa vào dân để làm cho Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch vững mạnh, xứng tầm với yêu cầu và nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Đây chính là sự nhận thức sâu sắc hơn, trở về với giá trị cốt lõi của lý luận cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam “Dân là gốc”, đồng thời thể hiện sự tuyệt đối trung thành của Đảng “vì nước, vì dân”.

Những điểm mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được lòng dân đồng thuận. Cơ đồ của đất nước đàng hoàng, bề thế, tươi sáng như ngày hôm nay là thành quả của bao thế hệ đảng viên ưu tú từ Nhân Dân mà ra, gắn bó máu thịt với Nhân Dân mà trưởng thành. Chìa khóa thành công của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng 92 năm qua, cũng như mãi mãi về sau này là phải không ngừng làm cho Đảng “là đạo đức, là văn minh” mãi trong lòng Dân./.

Yêu nước ST.

HÃY BẢO VỆ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VÀ CỦA DÂN TỘC TA!

         Chúng ta đều biết chưa lúc nào CNĐQ chấp nhận các quốc gia khác được sống trong hoà bình, độc lập, tự do thật sự, với họ một là phải phụ thuộc và tuân theo gậy chỉ huy của họ, hai là trở thành nước đối địch với họ và phải bị tiêu diệt (thực tiễn I Rắc, Xi Ry, Li Bi, Venezuyela, Cu Ba, Triều Tiên... đã chứng minh điều đó). Điều này đã được họ khẳng định trong thời kỳ chiến tranh lạnh, dù các nước XHCN mong muốn cùng các nước TBCN  gìn giữ hoà bình song bằng nhiều cách khác nhau CNĐQ tìm cách gây ra hết cuộc chiến tranh này đến chiến tranh khác nhằm xoá bỏ CNXH,  mà Việt Nam chúng ta là nạn nhân tàn khốc của âm mưu đó, hàng triệu đồng bào ta đã ngã xuống để giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước... và khi bằng biện pháp quân sự không thành công thì họ lại bằng trăm phương ngàn cách khác để xoá bỏ các nước XHCN và thực tế bằng DBHB và thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hoá CNĐQ đã thành công khi đã làm tan rã hệ thống XHCN và xoá sổ Liên bang xô viết cách đây vừa hơn ba mươi năm.

     Ngày nay đất nước chúng ta đã hội nhập với toàn cầu, Việt Nam sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy với các nước và các tổ chức quốc tế  và thực sự chúng ta đã và đang là bạn với tất cả các nước và các tổ chức quốc tế, song các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách xoá bỏ nền độc lập, tự do, dân chủ của nước ta. Chúng đẩy mạnh CL “DBHB“ nhằm thúc đẩy “tự diễn biến, tự chuyển hoá“ trong nội bộ, hòng thực hiện ý đồ  mà như Kissinger đã nói “Đời chúng tôi thua các ngài nhưng đến đời con, đời cháu chúng tôi sẽ quay lại Việt Nam với tư cách kẻ chiến thắng, hôm nay chúng tôi đã thua nhưng ngày mai bằng những xấp đô la chúng tôi sẽ trở lại Việt Nam và lúc đó lá cờ của Hoa Kỳ sẽ tung bay không chỉ ở Sài Gòn  mà còn hiên ngan giữa lòng Hà Nội“ và như những nhà diều hâu ở Mỹ đã nói “Những gì mà mấy chục năm nay (25 năm can dự và xâm lược trực tiếp VN) nước Mỹ không làm được trên đất nước này, thì rồi đây con cháu của các ngài, thế hệ trẻ Việt Nam trong tương lai, nó sẽ giúp nước Mỹ thực hiện được giấc mơ người Mỹ đã chưa thực hiện được...” và họ đã kiên trì, kiên định thực hiện mục tiêu đó. Khi Ôbama lên làm tổng thống, ông ta đã cho lập kế hoạch “Xoá bỏ hội chứng Việt Nam “ từ 2015-2025 với chỉ phí hàng trăm triệu đô la  công khai, với kế hoạch này Mỹ đã xúc tiến mạnh mẽ , thúc đẩy tự diễn biến , tự chuyển hoá bên trong ở nước ta và khách quan đánh giá họ đã gặt hái những thành công bước đầu của kế hoạch. Vậy họ đã đạt đến đâu, ta hãy thử phấn tích và đánh giá:

        Điều đầu tiên Mỹ đã thành công trên lĩnh vực tâm lý , tư tưởng ghét Mỹ đã giảm xuống , thân Mỹ xem Mỹ là bạn tốt đã tăng lên. Bằng nhiều cách quan hệ từ chính trị, kinh tế, văn hoá đến quốc phòng , an ninh Mỹ đã tạo nên mối quan hệ ngày càng gắn bó giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Ngày nay một bộ phận người dân Việt Nam, nhất là lớp trẻ không còn cảm nhận đầy đủ nỗi đau mà thế hệ cha ông của họ đã gánh chịu trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ gây ra, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc là một nước nhỏ đã đánh thắng nhiều đế quốc to đã bị phải nhạt, thay vào đó là tâm lý nhược tiểu đớn hèn của không ít người Việt Nam đã xảy ra. Chúng ta không mang hận thù với Mỹ trong khi hai nước đã là đối tác toàn diện của nhau, nhưng không nhận rõ âm mưu của Mỹ đã và đang tiến hành DBHB  xoá bỏ thành quả Cách mạng của dân tộc ta là điều đáng báo động, nó không chỉ còn là sự mất cảnh giác của quần chúng mà đã lan vào trong nội bộ đảng viên, kể cả ở cấp cao.

          Thứ hai, một bộ phận không nhỏ (có xu thế lớn lên dần) trong nội bộ ta đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hoá. Đó là một bộ phận tham nhũng, thoái hoá biến chất ở tất cả các cấp, mặc dù chúng ta đã và đang xử lý quyết liệt song vẫn chưa có dấu hiệu đẩy lùi, gần đây hàng loạt cán bộ cấp cao, hàng loạt tướng lĩnh trong quân đội và công an vào tù, bước đầu đã củng cố niềm tin của Dân với Đảng trên lĩnh vực này,  theo tôi tham nhũng cũng đáng lo song tác động của nó không thể lôi kéo quần chúng cùng tham nhũng, nó chỉ là chất xúc tác gây khủng hoảng niềm tin để các thế lực thù địch tấn công ta trên các mặt trận khác, để làm suy yếu nền tảng chính trị, tinh thần của Dân tộc ta, gần đây ngày càng công khai các quan điểm của Chủ nghĩa xét lại trên các lĩnh vực lịch sử, văn học nghệ thuật, văn hoá, giáo dục... đây mới là điều đáng lo bởi vì những người truyền bá quan điểm xét lại họ có học hàm, học vị là những Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, những Nhà giáo nhân dân... tiếng nói của họ dễ được quần chúng ủng hộ và hậu quả cuối cùng của nó sẽ đến là xét lại đường lối chính trị của dân tộc ta. Khi đó bài học của sự sụp đỗ ở Liên Xô, Đông Âu sẽ xảy ra trên đất nước ta.

      Để những dự báo đó không cho phép xảy ra thì ngay từ bây giờ chúng ta hãy góp phần nhỏ của minh tham gia xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh, làm nòng cốt vững chắc trong xây dựng Hệ thống chính trị để ngăn chặn hiệu quả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, phải chống thành công biểu hiện của tự diễn biến tự chuyển hoá, phải nhận rõ âm mưu DBHB của CNĐQ và các thế lực thù địch, trước mắt góp phần cùng toàn Đảng, cùng Nhà nước ta chống tham nhũng, tiêu cực hiệu quả, kiên định và kiên quyết vạch trần bản chất phản động của CN xét lại, mà trực tiếp là những quan điểm xét lại lịch sử đánh đồng công tội, nâng công rửa tội, biến tội thành công, để mục tiêu cuối cùng của chúng là BIẾN CÔNG THÀNH TỘI nhằm xoá bỏ thành quả CM của dân tộc ta.

      Chúng ta muốn hoà bình và phát triển, chúng ta muốn làm bạn với tất cả các Dân tộc khác song chúng ta cần và luôn luôn cảnh giác với âm mưu của CNĐQ và các thế lực thù địch đã và đang muốn quay lại nước ta với “tư cách kẻ chiến thắng“ để nô dịch Dân tộc ta một lần nữa. Không, lời dạy của Bác Hồ vẫn còn nguyên giá trị “Thà hy sinh tất cả, chớ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ“ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do“ . Vàng, bạc, kim cương là rất quý song Độc lập tự do còn quý giá gấp triệu lần. Các thế hệ cha ông đã đem xương máu giành lại non song gấm vóc , thì các thế hệ hiện nay và mai sau cũng phải ra sức gìn giữ, để muôn đời đất nước ta sống trong hoà bình, độc lập và tự do./.

Ảnh: Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng CTH, TCCT QĐND.

Yêu nước ST.

Cần khẳng định việc ban hành định Quy định số 37 là yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong công tác xây dựng Đảng về chính trị hiện nay

Ngày 25/10/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Quy định số 37 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về những điều đảng viên không được làm” thay thế Quy định 47, ngày 1/11/2011 trước đây. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đã xuyên tạc những nội dung trong Quy định số 37; đồng thời suy diễn, quy kết, chỉ trích chế độ, vị trí, vai trò của Đảng. Một số trang mạng của cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, hội đoàn chống cộng hải ngoại xuyên tạc rằng, việc Đảng ban hành quy định mới là để “vá những lỗ thủng quá nhiều của chế độ”. Các đối tượng vu cáo tình trạng tham nhũng là “do lỗi của thể chế chính trị” và đưa ra luận điệu xuyên tạc “Đảng đứng trên pháp luật; chồng lấn pháp luật”. Trên đài RFA, VOA, BBC… đăng tải xuyên tạc, viện dẫn nhiều ý kiến vô căn cứ của những đối tượng vốn có tư tưởng chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam. Những quy định cấm đảng viên chỉ là chiêu bài chứ không có hiệu quả trong thực tế. Xuyên tạc những nội dung mới, số này tập trung khoét sâu vào một số quy định như cấm đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, cấm chuyển tài sản hay cấm thực hiện các giao dịch tài sản ở nước ngoài nhằm quy kết, rêu rao là vi phạm Hiến pháp… Thực chất, đây là những luận điệu xuyên tạc của các phần tử phản động, chống phá hòng hạ thấp mục tiêu, vai trò, ý nghĩa của Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, tạo ra diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phủ nhận thành tựu to lớn của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và cuối cùng là làm suy giảm niềm tin, hạ thấp, thúc đẩy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Trước hết cần khẳng định, quy định về kỷ luật Đảng là công tác hệ trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là công việc thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Việc bổ sung một số quy định mới để đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Từ đó, các tổ chức Đảng, đảng viên có cơ sở, căn cứ để rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, phòng ngừa “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, không thể lợi dụng vào một số quy định mới để xuyên tạc, suy diễn. Quy định đảng viên không được “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng” (Điều 3). Việc bổ sung, phát triển quy định như trên là yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong công tác xây dựng Đảng về chính trị. Hay quy định đảng viên không được “nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”. Điều lệ Đảng ghi rõ: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân” (Điều 1). Nếu thừa nhận một công dân có 2 quốc tịch là lẽ thường tình, song đối với đảng viên, lý tưởng suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, giai cấp, nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân sẽ phải giải thích thế nào khi một đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, chuyển tiền ra nước ngoài. Vậy trung thành với nhân dân, Tổ quốc thế nào nếu đảng viên có thêm quốc tịch khác? Đảng viên vào Đảng trên tinh thần tự nguyện, phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng cộng sản, hạnh phúc của nhân dân. Việc bổ sung nội dung này là rất cần thiết và phù hợp nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong bối cảnh hiện nay. Thực tế ngay từ khi Đảng mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu từng tổ chức Đảng phải duy trì chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương, nền nếp tổ chức, làm cho Đảng ta ngày càng xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo chấp hành kỷ cương, kỷ luật. Thực hiện tốt kỷ luật Đảng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đầu, hoàn thành trọng trách của mình. Trong những năm qua, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng. Qua đó, kỷ luật Đảng được thực hiện nghiêm minh; đồng thời cảnh tỉnh, giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Giữ nghiêm kỷ cương phép nước để cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”. Bởi vậy, việc Đảng ta bổ sung, ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm không chỉ thể hiện quyết tâm cao của Đảng, mà còn tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

NHỮNG KẺ ĐỒNG LOÃ Ở ĐÂU? TẠI SAO KHÔNG THẤY?

        Ngày 16/11/2018, Tòa án quốc tế xét xử tội ác Khmer Đỏ tại Campuchia (ECCC) phán quyết rằng chính quyền Khmer Đỏ đã phạm tội "diệt chủng" tại Campuchia trong giai đoạn từ năm 1975-1979.

Đây là lần đầu tiên tòa án đặc biệt ECCC đưa ra phán quyết như vậy sau gần 4 thập kỷ. Chủ tọa phiên tòa, thẩm phán Nil Nonn nói: "Tòa án tuyên bố chính quyền Khmer Đỏ đã phạm các tội ác diệt chủng nhằm vào người Việt Nam và người Hồi giáo Chăm tại Campuchia". 

Trong gần 4 năm, chính quyền Khmer Đỏ đã phạm vào tội ác chống lại loài người, hủy diệt hàng loạt, nô dịch, tra tấn và khủng bố gây ra cái chết cho gần 2 triệu người dân Campuchia. Trong số đó có 20 ngàn người Việt (100%) kẹt lại đều bị Khmer Đỏ sát hại.

Chế độ diệt chủng khủng khiếp nhất thế kỉ 20 có lẽ đã bị tiêu diệt, bị vùi dập xuống địa ngục vào năm 1979 sau khi bị quân đội Việt Nam cùng Quân cách mạng Campuchia đẩy lui về tận biên giới Thái Lan. Khmer Đỏ đã không thể tồn tại suốt hơn 10 năm sau nếu không có sự hỗ trợ cả về quân sự, kinh tế lẫn chính trị từ Trung Quốc, Mỹ, Thái Lan, Anh, Singapore và Asean.


Cuối cùng sau hơn 40 năm thì công lý đã thực thi, nỗi hàm oan mang tiếng "xâm lược Cam" của Việt Nam đã được sáng tỏ. Thế giới giờ đây đã công nhận rằng Khmer Đỏ là 1 chế độ diệt chủng khủng khiếp nhất thế kỉ 20 sau khi Tòa án Quốc tế xét xử tội ác Khmer Đỏ tuyên phán. 

Vậy còn những kẻ đồng lõa, tiếp tay cho bọn diệt chủng Khme Đỏ trong suốt 10 năm tại sao không thấy đâu? Những kẻ đã trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ Khmer Đỏ gây ra cái chết cho gần 2 triệu người dân Campuchia và hàng chục ngàn thường dân Việt Nam vô tội.

Nếu công lý quốc tế không phải là tấm hài kịch, thì phải gọi những người đã đồng hành, tiếp tay cho kẻ gây tội ác ra trước Tòa án Quốc tế, hay chí ít cũng nên ghi tên họ vào "danh sách nhục nhã"./.

Môi Trường ST.

CÓ RẤT NHIỀU NGƯỜI HỎI: TẠI SAO PHẢI TEST MÁU NHƯ VẬY? TẠI SAO PHẢI ĐIỀU ĐỘNG NHƯ VẬY? NAY XIN TRẢ LỜI RÕ!

PHẢI TỈNH TÁO TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA 3 QUE

      Bà con biết tại sao xộ khám "Tịnh Thất Bồng Lai" phải cẩn trọng như thế nào chưa?

Quân triều đình điều động tới rất đông mặc dù "Tịnh Thất" chỉ cần 20-30 chiến sĩ cảnh sát là có thể khống chế được, thế nhưng vẫn phải huy động tới cả trăm cảnh sát, phòng ngừa từ xa không để những kẻ không liên quan tiếp cận...

Như tướng Tô Ân Xô từng phát biểu để bắt giữ những đối tượng nổi tiếng không hề dễ dàng, phải xem xét và tính toán rất kỹ lưỡng.

Khi họ có đông đảo những kẻ mù quáng hoặc những kẻ cố tình mù quáng để sẵn sàng xuyên tạc chống phá đất nước, ảnh hưởng đến an ninh Quốc gia thì mọi chuyện không thể hấp tấp vội vàng.

Giả sử không tính toán kỹ lưỡng, để những kẻ có ý đồ xấu tiếp cận, quay phim chụp hình, đưa những hình ảnh sai lệch lên trên mạng, chúng sẽ tha hồ cắt ghép bôi xấu chế độ, bôi xấu đất nước, việc xảy ra bạo loạn hoàn toàn có thể đến từ những sự việc tưởng như bình thường, nếu như ta không cẩn trọng.

Sự việc tại "Tịnh Thất Bồng Lai" nhìn bằng mắt thường, đa phần công chúng đều nhận diện được dấu hiệu trục lợi, mặt mũi những thành viên trong “chùa” giống nhau tới mức việc xét nghiệm ADN chỉ mang tính hình thức…

Rõ ràng là vậy, nhưng vẫn có một nhóm (rất nhiều người) cả trong và ngoài nước “Khóc thuê” cổ súy cho "Thiền Am", với những mục đích rất rõ ràng “Thể hiện sự bất mãn tới vô lý với chế độ, với nền hòa bình dân tộc đang được ngày ngày vun đắp xây dựng.

Mặc dù được dư luận đặc biệt là CEO Đại Nam tiên phong mở đường vạch mặt để bà con nhận diện rồi mới xộ khám, nhưng cũng không thể thức tỉnh nổi nhóm người điên cuồng chống phá này…

Xen lẫn sự nghiêm minh còn có sự khoan hồng của luật pháp khi cho Lê Tùng Vân được tại ngoại, các bạn thử tưởng tượng nếu Y chết già trong trại tạm giam thì sự việc sẽ được đẩy lên cao trào như thế nào? Bọn chúng, những kẻ không có thiện cảm với đất nước này sẽ bấu víu vào đó, và làm gì thì ai cũng biết…

Nên việc tạm thả Lê Tùng Vân để tiếp tục điều tra cũng nằm trong sự tính toán rất kỹ lưỡng của Bộ Công an, và Công an tỉnh Long An. Mọi người phải nắm rõ, Y không phải được tha tội, tội của Y là nặng nhất, nhưng buộc phải tại ngoại tạm thời trong sự kiểm soát thể hiện sự nhân đạo (tuổi quá cao để phải chịu sự kìm kẹp trong Đại Lao, Nếu oẳng, rất khó điều tra tiếp) và cũng là cách để phòng chống những diễn biến sâu xa.

Mong mọi người hoàn toàn tỉnh táo, ngoài việc tố giác Tịnh Thất, giải cứu Diễm My thì việc ngăn chặn tin xấu - độc, bảo vệ An Ninh Quốc Gia cũng là nhiệm vụ Tối Thượng…

Là người dân yêu nước, xin hãy tỉnh táo và cùng đoàn kết, chống lại luận điệu xuyên tạc của bọn chống phá.

Mong sao, mỗi đồng bào mình trên mạng xã hội là 1 chiến sĩ, bởi đã đến lúc cuộc chiến 4.0 này cần sự chung tay đoàn kết của toàn dân tộc!

Yêu nước ST.

Bảo vệ, xây dựng và phát triển Chủ nghĩa Mác trong tình hình hiện nay

Âm mưu xuyên tạc, hạ bệ Chủ nghĩa Mác Chính những kẻ từng khoác áo mác-xít sống được và thành danh nhờ Chủ nghĩa Mác-Lênin, sau năm 1991 và giờ đây lại quay sang coi C.Mác (Karl Marx), V.I.Lênin (Vladimir I.Lenin) như những “nhà tiên tri không thành đạt” (!), như những “ông thầy bói của lịch sử” Nhưng chính những học giả của giai cấp tư sản, thông minh và bản lĩnh hơn những kẻ giả danh mác-xít nói trên, khi chính họ nhận ra sự “báo ứng” nan giải, sẽ trở nên vô phương cứu chữa đối với sự “cùng quẫn” của thể chế tư sản, lúc họ thiếu C.Mác. Bởi vì ở thời khắc cam go và hết sức phức tạp của lịch sử, ngay trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa, hiện nay đang khủng hoảng bởi thiếu một xung lực đúng đắn từ lĩnh vực tưởng ngỡ như nó nằm ngoài phạm vi hoạt động thực tiễn. Đó là lĩnh vực lý luận về kinh tế và xã hội, khi những cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu những năm 1997, 1998 và 2008; khi vấn nạn môi trường sinh thái toàn cầu lan rộng mà các quốc gia tư sản vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân không thể chối cưỡng. Điều đó giải thích vì sao chủ nghĩa tư bản (CNTB) và các phong trào chống lại “CNTB toàn cầu” đang bộc lộ sự lúng túng, yếu kém, thậm chí bất lực của chúng, vì họ thiếu một nền tảng lý luận xã hội căn bản, khoa học và phù hợp. Bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác trong tình hình hiện nay. Nhận thức về nhu cầu bất khả kháng đó, không phải ai khác và cũng không phải ở đâu khác, chính Jacques Derrida-một triết gia danh tiếng phương Tây đã phải thốt lên: Chúng ta phải trở về với Mác. Nhân loại không có tương lai mà lại không có Mác. Điều đó đã lan tỏa sang cả nước Mỹ, khi ông Bao-lô-xu-ây-xi, một giáo sư đại học tại bang Florida, lên tiếng cảnh tỉnh: Nếu chủ nghĩa xã hội (CNXH) dùng trí lực của nhân loại-giống như Mác đã nói-thế thì, rất rõ ràng, ngoài CNXH không có sự cứu thế nào khác; và ngài M.Kha-rin-tơn, một nhà văn hóa học người Mỹ, dõng dạc tuyên bố: CNXH sẽ là người kế thừa các cuộc cách mạng tư sản vĩ đại, là phong trào hiện thực “tự do, bình đẳng, bác ái”, những điều không thể thực hiện được trong khuôn khổ của CNTB. Hiện nay, điều đáng nói hơn, ngay cả một bộ phận người cộng sản, trong hành trình hiện thực hóa lý tưởng cộng sản do chính Chủ nghĩa Mác-Lênin khởi xướng, vào những thời khắc khó khăn nhất, lại cũng tỏ ra do dự, hoài nghi, lúng túng; thậm chí, cả bằng sự thẩm xét hời hợt, nông cạn một cách hình thức qua các thái độ hoặc là ngoảnh mặt thờ ơ hoặc là kỳ thị, chối bỏ, rồi quay ra công kích Chủ nghĩa Mác. Sẽ trở thành ảo tưởng đáng thương hại, khi ai đó có thể tưởng tượng ra và kỳ vọng về một cuộc “cuộc duyệt binh” trong sự phát triển của những người làm lý luận mác-xít, với thứ mong muốn “đồng phục” về chính trị, về tư tưởng và trí lực. Trong sự phát triển và tiến hóa của tự nhiên cũng như vậy. Những kỳ vọng về sự thuần chủng tuyệt đối của một loài sinh vật nào đó là sự ảo tưởng, trái quy luật tự nhiên. Nói như vậy để khẳng định rằng, cần phải có một cách nhìn thực sự bình tĩnh, khách quan, cần một phương pháp khoa học, một tinh thần cách mạng, với thái độ thành tâm, nghiêm túc và cầu thị, chúng ta mới có thể khắc phục những khó khăn, thách thức mà cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác-Lênin đang phải đương đầu, trước hết về mặt tư tưởng lý luận. Những biến tướng làm méo mó Chủ nghĩa Mác Có mấy biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin mà bấy lâu nay một bộ phận người cộng sản đã ngộ nhận, ở mức độ này hay khác, lầm lẫn dù tự giác hay không tự giác, trực tiếp làm lệch lạc nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, vô hình bôi nhọ và phủ định nó. Một là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tạo ra tồn tại dưới dạng sản phẩm của sự diễn dịch chủ quan và giáo điều. Đây là dạng mà ngay lúc còn sinh thời, chính Mác phải thốt lên: “Tôi không phải là Mác và người theo Chủ nghĩa Mác”, khi ông đọc lại chính tư tưởng của mình, qua sự giới thiệu của những người cùng thời. Giờ đây, người ta lại chia cắt, biệt lập Mác thời trẻ và đem đối lập với Mác sau này; đem đối lập Mác với Lênin. Với Lênin, người ta cũng làm vậy. Nhất là sau khi Lênin mất, những di sản tư tưởng vĩ đại của ông bị người ta giải thích một cách thiên kiến, cứng nhắc, chủ quan và thô lậu. Và để tạo ra một thứ, theo họ được gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin, người ta đánh một dấu cộng đơn thuần, giữa Mác và Lênin, một cách hình thức, rồi coi như hoàn tất mọi việc. Hai là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tồn tại một cách phổ biến theo kiểu bị cắt xén, chắp vá một cách thực dụng. Bằng cách phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, với các quy luật khách quan cũng như mối liên hệ hữu cơ giữa các sự vật, hiện tượng, người ta tuyệt đối hóa vai trò ngẫu nhiên, vai trò cảm giác và kinh nghiệm chủ quan. Và điều tệ hại, nguy hiểm nhất là người ta không thừa nhận tính chất khách quan của chân lý mà cho rằng chân lý do chủ quan cá nhân quyết định, không phải chỉ có một chân lý mà có nhiều chân lý, chỉ có cái gì có lợi cho họ mới là chân lý (!). Chủ nghĩa Mác-Lênin được nhào nặn và tạo ra dưới bàn tay của họ, theo cách đó. Và thế là Chủ nghĩa Mác-Lênin bị biến thành chủ nghĩa công cụ, chủ nghĩa hành vi, là thứ triết học của sức mạnh, dưới sự chi phối của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cơ hội. Ba là, dạng biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được dựng lên một cách giả trá theo chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội. Trên bình diện này, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, với bản chất cố hữu của nó, đã sử dụng một cách khôn ngoan chủ nghĩa thực dụng làm cơ sở phương pháp luận cho nó. Họ nhân danh Chủ nghĩa Mác-Lênin để thực hiện mưu toan tước bỏ nội dung giai cấp và tính cách mạng cốt làm méo mó, sai lệch ý tưởng của Mác, kỳ thực nhằm chống phá, phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin. Tất cả các luận đề của Mác, Ăngghen (Friedrich Engels), Lênin đều bị diễn đạt lại một cách không rõ ràng, hết sức trừu tượng đến mức phi lô-gích và lịch sử... bằng những mánh khóe bịp bợm, điều hòa đến mức không thể nào hiểu được một cách rõ ràng và dứt khoát. Nói như Lênin, bao giờ nó cũng tìm con đường trung dung, nó quanh co, uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thỏa thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại... Từ đó Chủ nghĩa Mác-Lênin, qua bàn tay “nhào nặn” của những kẻ cơ hội và xét lại, chỉ còn là nhãn hiệu, chỉ còn là “xác” bằng sự tưởng tượng ngây thơ nhưng có sức nặng đủ để tự phản lại và giết chết chính nó, khi nằm trong tay họ, vô hình bóp nghẹt công tác lý luận, như lịch sử đã từng cảnh cáo. Nhận diện những biến thể chủ yếu của Chủ nghĩa Mác-Lênin, dù chưa đầy đủ nhưng cốt để nói rằng, chúng ta cần tỉnh táo và cấp bách trở về với Chủ nghĩa Mác-Lênin, như nó vốn có và trả lại cho nó những giá trị đúng như nó đã có và đang được hiện thực hóa một cách không gì cưỡng nổi. Cố nhiên, đây là một công việc cực kỳ khó khăn nhưng không thể nào khác được, nếu muốn tiếp tục phát triển công tác lý luận ngang tầm sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc. Nhân loại đang trở về với Mác Mác, Ăngghen, Lênin không phải là những “nhà tiên tri”, những ông “thầy bói của lịch sử” như mấy ai bôi nhọ hay huyễn hoặc. Các ông là những nhà cách mạng, nhà khoa học chân chính, thiên tài. Chủ nghĩa mà các ông sáng lập và đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện nó, là hành động một cách dũng cảm và cách mạng biến cái lô-gích phát triển tất yếu của nhân loại, trên cơ sở giải phẫu các xã hội mà loài người đã và đang tồn tại, để các quốc gia, dân tộc đi tới tương lai. Nói cách khác, lý luận của các ông chỉ giúp loài người lựa chọn điều cần và phải đi con đường dẫn tới chân lý, với những lực lượng tiên quyết, những điều kiện có tính chất cần và đủ, khi đứng ở ngã ba lịch sử của sự lựa chọn và phải quyết định, gồm: Một ngả dẫn đến vũng lầy của sự lầm lẫn, còn ngả kia là đi tới chân trời sáng sủa, tất yếu. Diễn đạt cụ thể, các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ đơn thuần giải phẫu các hình thái kinh tế-xã hội, mà bắt đầu từ cấu trúc nền tảng để làm nổi bật lên những vấn đề của chúng và cuối cùng, dự báo sự sụp đổ tất yếu và sự thay thế giữa chúng với nhau hoặc tuần tự hoặc nhảy vọt một cách biện chứng, theo quy luật. Cố nhiên, chúng ta không thể phủ nhận một điều là, những thập kỷ 70, 80, nhất là những năm 90 của thế kỷ 20, trong quá trình hiện thực hóa lý luận mác-xít, những người cộng sản vấp phải khó khăn to lớn. Đặc biệt, trong thời điểm lịch sử ở vào tình thế có tính bước ngoặt, khi xu thế toàn cầu hóa trở thành phổ biến với xung lực tất yếu và mạnh mẽ là kinh tế tri thức, công việc đó càng trở nên khó khăn gấp bội; và cho thấy, sẽ chỉ “sống sót” những lực lượng chính trị nào có thể đáp lại những thách thức mới của thời đại, tiếp tục đủ sức gánh vác trọng trách đó của lịch sử. Nhân loại đang trở về với Mác. Nhưng trở về với Mác, với Lênin như thế nào? Tất nhiên sự trở về không phải là sự thuộc lòng học thuyết của các ông, rập khuôn nó và coi nó như “chiếc chìa khóa vạn năng” nào đó, bất chấp những sự thay đổi của lịch sử. Như thế, vô hình đã bóp nghẹt sức sống của Chủ nghĩa Mác-Lênin, điều mà các ông lúc sinh thời đã cảnh báo và lịch sử từng nghiêm khắc phê phán. Mác không bao giờ và chưa bao giờ tiên thiên, không khi nào rơi vào định mệnh! Nói một cách hình ảnh, ông chỉ vén mây mù để tất cả nhìn thấy trời xanh tất yếu của sự tự do và con đường đi tới nó một cách tự nhiên, còn đi như thế nào lại tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, dân tộc và tình thế lịch sử cho phép. Lênin cũng thế. Ông rất căm ghét thói rập khuôn mù quáng. Cả hai ông đòi hỏi sự phê phán nghiêm ngặt học thuyết của các ông chứ không phải khư khư bám giữ những điều có thể là đúng với hôm qua, nhưng hôm nay đã bị cuộc sống vượt qua. Đó chính là nguồn gốc sức sống, con đường phát triển của chính lý luận Mác-Lênin - học thuyết cách mạng phê phán và tự phê phán cách mạng! Vượt qua tất cả các học thuyết hiện nay, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã mở ra một chân trời khám phá và sáng tạo không ngừng. Vì toàn bộ thế giới quan của học thuyết Mác, nói như Ăngghen, không chỉ là một học thuyết mà còn là phương pháp. Nó đưa ra không phải những giáo điều có sẵn mà là những xuất phát điểm để tiếp tục nghiên cứu toàn diện lịch sử.

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng con người

Đất nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường, “xã hội thị trường” sẽ hình thành một cách tự nhiên. Đó chính là mặt trái của kinh tế thị trường mà bất cứ quốc gia nào cũng phải đối mặt. Sự lên ngôi của đồng tiền kích thích lòng tham, cái ác, cái xấu trong mỗi con người. Do đó, phòng, chống tham nhũng xã hội chủ nghĩa, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là việc không dễ dàng. Nhưng đây là nhiệm vụ, là cuộc đấu tranh quyết liệt, để từ đó ngăn chặn cái xấu, lan tỏa cái tốt trong hành trình xây dựng con người mới, xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Với những kết quả đạt được trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua đã làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ sự nghiêm khắc, quyết liệt của Đảng, Nhà nước. Thế nhưng, tham nhũng, tiêu cực còn hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có những giải pháp phòng, chống căn cơ, quyết liệt hơn. Những nỗ lực trong cuộc chiến chống tham nhũng. Kết quả nổi bật của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua cho thấy mấy điều: Thứ nhất, đấu tranh phòng, chống tham nhũng “không có vùng cấm” hoàn toàn là sự thật. Thứ hai, tài sản bị tham nhũng được thu hồi rất tích cực. Thứ ba, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước ngày càng được thắt chặt để ngăn chặn hành vi tham nhũng. Thứ tư, nhân dân ta và dư luận quốc tế ngày càng tin tưởng vào hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng tại Việt Nam. Từ đó khẳng định: Đảng hoàn toàn có thể lãnh đạo công tác phòng, chống tham nhũng hiệu quả, tạo đồng thuận xã hội, chứ không phải bất khả thi như một vài luồng ý kiến từng lo ngại. Ngày 16-9-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Quy định số 32-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (sau đây gọi tắt là Ban chỉ đạo) thay thế Quy định số 211-QĐ/TW ngày 25-12-2019 của Bộ Chính trị khóa XII về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Đây là một bước chuyển lớn trong hoạt động của Ban chỉ đạo khi mở rộng phạm vi chỉ đạo, không chỉ tập trung vào nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, mà còn là cả phòng, chống tiêu cực, coi đây là hai loại án. Trong đó nội hàm của phòng, chống tiêu cực được xác định cụ thể vào việc phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Để cụ thể hóa hơn nữa làm cơ sở cho việc xử lý vi phạm, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 về những điều đảng viên không được làm. Quy định này thay thế Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Trong 19 điều đảng viên không được làm theo Quy định số 37 điều chỉnh gần như đầy đủ những thói hư, tật xấu mà không ít cán bộ, đảng viên mắc phải trong suốt thời gian qua. Sự mở rộng phạm vi là cơ sở để Ban chỉ đạo chỉ đạo xử lý các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, bảo đảm sự trong sạch, tăng cường sức chiến đấu cho Đảng. Những năm gần đây, Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) ghi nhận Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam có xu hướng cải thiện tích cực. Theo công bố đầu năm 2021, xếp hạng CPI của Việt Nam năm 2020 đứng thứ 104/180 nước. Điều này phản ánh kết quả các nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong việc đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là việc truy tố, xét xử hàng loạt vụ án tham nhũng lớn. Năm 2019 có 54,1% doanh nghiệp phản ánh về việc tồn tại hiện tượng nhũng nhiễu khi cán bộ nhà nước, địa phương giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, giảm so với con số 58,2% của năm 2018. Nếu so với con số 70% doanh nghiệp phản ánh phải trả chi phí không chính thức vào năm 2006, thì con số 53,6% của năm 2019 cho thấy đã có bước tiến lớn trong nỗ lực của chính quyền các địa phương. Dù vậy, tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được ngăn chặn triệt để. Tham nhũng trên nhiều lĩnh vực còn nghiêm trọng, phức tạp, với biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội, vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng con người Theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì bên cạnh những giá trị tốt đẹp của con người truyền thống, con người xã hội chủ nghĩa phải hình thành các phẩm chất như: Tư tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức xã hội chủ nghĩa, tác phong xã hội chủ nghĩa... Điều đáng lưu ý là có rất nhiều cán bộ cấp cao, cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đã bị kỷ luật Đảng, bị pháp luật xử lý. Trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp cao còn thiếu tu dưỡng rèn luyện, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tham nhũng. Giai đoạn vừa qua, việc không ít cán bộ, đảng viên nhúng chàm bị xử lý vì tham nhũng là cần thiết, là đích đáng, thế nhưng cũng rất chua xót. Qua các vụ án tham nhũng, mất mát tiền bạc, vật chất đã đau xót, nhưng mất mát con người, mất mát niềm tin còn đau xót hơn nhiều. Những cán bộ, đảng viên có hành vi xấu xa kia có thể không phải là con người tồi tệ, xấu xa ngay từ khi bước vào đội ngũ. Họ có thể cũng đã có những nỗ lực phấn đấu, những đóng góp tích cực được ghi nhận, như vậy mới được quy hoạch, bổ nhiệm lên các chức vụ cao hơn. Nhưng chính vì không giữ được sự rèn luyện, tu dưỡng, và cũng bởi luật pháp và những quy định ràng buộc cán bộ, đảng viên còn sơ hở nên họ đã gục ngã bởi những “viên đạn bọc đường”. Cũng có thể, có những người ngay từ khi bước vào đội ngũ cán bộ, công chức thì phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống đã có vấn đề, nhưng vì không kịp thời được phát hiện, chấn chỉnh, ngăn chặn, lại được nâng đỡ “không trong sáng”, nhờ chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích mà có được cơ hội thăng tiến, để rồi khi đã ngồi vào vị trí có “quyền sinh, quyền sát” thì bắt đầu tác oai tác quái, tham nhũng, thao túng, lạm quyền làm rối loạn, suy yếu cơ quan, đơn vị, gây mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, để lại hậu quả kéo dài. Phải chặt đứt cái gốc của tham nhũng Việc Ban chỉ đạo mở rộng phạm vi sang cả phòng, chống tiêu cực đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban chỉ đạo, luận giải rõ: “Không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế, mà quan trọng hơn phải chống tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Hai cái này nó có liên quan đến nhau. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì mới dẫn đến tham nhũng. Đây mới là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống. Lợi ích kinh tế thường gắn liền với quyền lợi chính trị, chức quyền, với sự hư hỏng về đạo đức, lối sống...”. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn đội ngũ cán bộ, đảng viên rằng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì bên cạnh những giá trị tốt đẹp của con người truyền thống, con người xã hội chủ nghĩa phải hình thành các phẩm chất như: Tư tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức xã hội chủ nghĩa, tác phong xã hội chủ nghĩa... Như thế, có thể thấy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên cạnh rất nhiều phẩm chất thì con người xã hội chủ nghĩa dứt khoát phải có hai phẩm chất là phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống. Hai phẩm chất này cần được thể hiện trước hết ở đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong cuộc họp Thường trực Ban chỉ đạo ngày 18-11-2021 đã phân tích rằng: “Nếu bản lĩnh chính trị anh tốt, không bị lôi kéo thì làm gì mà tham nhũng. Nếu đạo đức trong sáng, giữ gìn liêm sỉ thì làm gì mà tham nhũng. Cái đó là cái gốc”. Người chức vụ càng cao, địa vị càng cao mà dính vào tham nhũng, có những biểu hiện tiêu cực trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì rõ ràng “người ta trông vào” sẽ cảm thấy bị sứt mẻ niềm tin. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” và “... Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Quay trở lại vấn đề về mối quan hệ giữa tham nhũng và tiêu cực, ta thấy rằng, chứng cứ của việc tham nhũng thì không dễ phát hiện, nhưng những biểu hiện tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì dễ nhìn thấy hơn. Người ta có thể che giấu chứng cứ tham nhũng, nhưng những biểu hiện tiêu xài lãng phí, xa hoa, sa đọa, hủ hóa, những biểu hiện nhũng nhiễu, lạm quyền, dọa nạt, vòi vĩnh để hòng trục lợi thì không khó để nhìn ra, để nhận biết. Vừa qua có một số hành động của cán bộ không phải hành vi tham nhũng nhưng trở thành “cái gai” trong mắt nhân dân, rất tai hại cho hình ảnh cán bộ, đảng viên. Rồi những cán bộ có quốc tịch, tài sản ở nước ngoài, biệt phủ, siêu xe, những biểu hiện ma chay, hiếu hỉ, tiệc tùng tốn kém, phô trương... Những biểu hiện ấy, dù không thể định lượng bằng số tiền mà Nhà nước, nhân dân bị thiệt hại, tuy nhiên, nó làm cho hình ảnh cán bộ, đảng viên, thậm chí tính chính danh của Đảng sẽ bị ảnh hưởng. Nhân dân ta một lòng theo Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đồng lòng xây dựng đất nước, chiến sĩ ta chiến đấu, hy sinh để giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân. Đó là vì “Đảng là đạo đức, là văn minh”. Do đó, giữ đạo đức, giữ văn minh chính là giữ tính chính danh, giữ vị thế lãnh đạo của Đảng. Đấy là cuộc đấu tranh không khoan nhượng!

Chữa bệnh thành tích, khoe mẽ của cán bộ, đảng viên hiện nay

Nếu là những thường dân nói khoác, kể những câu chuyện có tính chất phóng đại cho vui thì có thể vô hại mà lại có ích là giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống như kiểu chuyện “bác Ba Phi”, chuyện “Trạng Quỳnh”... Thế nhưng sự khoe mẽ, khoác lác của những người làm quan xưa kia, những cán bộ ngày nay thì lại có hại vô cùng. Bởi sự khoác lác ấy sẽ đánh lừa quần chúng, làm cho họ lẫn lộn thật giả, dẫn đến nhận thức lệch lạc, tiêu cực. Tính khoe mẽ, khoác lác giống như một mầm bệnh, lâu ngày sẽ biến các cán bộ thành kẻ ảo tưởng, huyễn hoặc về bản thân, nói nhiều, làm ít, nói hay, làm dở, hoặc chỉ nói mà không làm, tệ hơn là làm thoái hóa, biến chất cán bộ, đảng viên... Tật khoe mẽ, khoác lác của cán bộ không phải bỗng nhiên mà có. Nó được hình thành từ trong quá trình công tác, từ quá trình tiếp xúc, quan hệ với các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Do yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, các cán bộ có thể nắm được một số thông tin. Nếu với những người được rèn luyện nghiêm túc, có bản lĩnh vững vàng, nhận thức đúng đắn thì họ sẽ biết cách xử lý, phổ biến các thông tin ấy một cách phù hợp với từng đối tượng nên sẽ có tác dụng định hướng tư tưởng, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho người tiếp nhận thông tin và làm cho nhiệm vụ, công việc được hoàn thành đúng ý định. Còn đối với những người nhận thức non nớt, tính cách huênh hoang, bồng bột thì lại coi những thông tin mình nắm được như một phương tiện để tự tâng bốc mình, đưa mình trở thành nhân vật quan trọng trước những người được truyền đạt thông tin. Chữa bệnh khoe mẽ của cán bộ, đảng viên. Chứng kiến có anh cán bộ chỉ là một thư ký giúp việc cho một cán bộ cao cấp, nhưng lúc nào anh cũng tỏ ra mình là người quan trọng, mình mới là người có thể... quyết định việc này, việc kia. Khi có cơ quan đến đề xuất nội dung công việc với thủ trưởng thì anh bẻ hành, bẻ tỏi, yêu cầu phải làm thế này, làm thế kia và thay đổi, đảo lộn gần như hoàn toàn nội dung, kế hoạch của cơ quan đề xuất. Anh không biết, hoặc cố tình không biết rằng chính những phần việc ấy đã được các chuyên gia và cơ quan tham mưu xem xét, bàn thảo, cân nhắc kỹ càng trước khi đề xuất. Hành vi ấy biểu hiện rằng, anh đã tự cho mình cái quyền đứng trên cơ quan tham mưu, vượt qua giới hạn trách nhiệm và bổn phận của một thư ký giúp việc. Cũng có người, do yêu cầu công việc nên được tiếp xúc với thủ trưởng cấp trên thường xuyên. Lẽ ra anh nên lấy đó làm cơ hội để học hỏi, tích lũy thêm kiến thức, nâng cao trình độ, phương pháp, tác phong công tác. Nhưng tiếc thay, anh lại coi những cuộc tiếp xúc đó là thế mạnh, là “năng lực” của mình trước đồng nghiệp. Anh hay kể rằng, mình quen thủ trưởng này, biết thủ trưởng kia, có thể đến chỗ này, vào chỗ khác, có thể giải quyết được nhiều công việc, thậm chí cả những việc đặc biệt quan trọng như sắp xếp, điều động, bổ nhiệm cán bộ... Những người biết anh thì chỉ cười mỉm, họ biết rằng đó chỉ là sự ảo tưởng, bởi thực chất, anh cũng chỉ là một trợ lý bình thường như bao trợ lý khác trong cơ quan. Có chăng những người khác họ không khoe mẽ, không ra vẻ như anh, mà họ biết trách nhiệm và biết giữ đúng bổn phận của người cán bộ, không bao giờ vượt quá giới hạn đã được tổ chức xác định. Nhưng có người không biết, lần đầu tiếp xúc với anh thì lại tưởng anh có quyền năng thật, nên lân la nhờ vả, đề nghị hỗ trợ, giúp đỡ, thậm chí có cả phần “chè nước” để đưa đẩy, nhằm bảo đảm cho sự việc hanh thông. Nhưng cuối cùng, vì không có quyền năng thực sự nên sự việc không được tổ chức thông qua, không được thủ trưởng chấp thuận. Khỏi phải nói sau sự việc như thế hình ảnh của anh trong mắt đồng nghiệp như thế nào. Có một điều rất đáng suy ngẫm là hiện tượng khoe mẽ, huênh hoang của cán bộ, lúc sinh thời đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhiều lần trong các bài nói, bài viết. Điển hình là trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc". Trong tác phẩm này, Bác chỉ rõ bệnh kiêu ngạo của người cán bộ, đảng viên, đó là: “Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình... Việc gì cũng muốn làm thầy người khác” (1). Đến tháng 11-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết hẳn một bài báo tựa đề “Bệnh tự ái, tự kiêu” đăng trên Báo Sự thật số 102, ra ngày 15-11-1948. Trong bài báo, Bác chỉ rõ: “Tự kiêu tức là cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được. Việc gì mình cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai” (2). Những năm gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng thường nhắc đến hành vi khoe mẽ, tự kiêu, tự đại, nịnh trên, nạt dưới của một số cán bộ. Thế nhưng những cảnh báo đó dường như chưa thấm, chưa ngấm vào một bộ phận cán bộ, đảng viên. Vì thế trong thực tế vẫn còn nhiều cán bộ, đảng viên mắc phải thói hư này. Đây là căn nguyên sinh ra bệnh cá nhân chủ nghĩa có hại cho Đảng và có hại cho chính bản thân cán bộ, đảng viên. Đến ỷ thế làm liều. Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo xử lý nhiều vụ án quan trọng có liên quan đến các cán bộ, đảng viên. Đã cách chức, giáng chức, giáng cấp, khai trừ, kỷ luật hàng nghìn cán bộ, đảng viên có vi phạm. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp của Đảng, sĩ quan cao cấp trong LLVT đã bị truy tố do vi phạm pháp luật. Trong số các vụ án nói trên có không ít vụ là do các đối tượng đã lợi dụng danh nghĩa, danh tiếng của cá nhân, tổ chức để làm liều. Điển hình là các vụ án như vụ Phan Văn Sào Nam, lợi dụng, cấu kết với một số cán bộ để tổ chức đánh bạc và rửa tiền; vụ Phan Văn Anh Vũ lợi dụng chức vụ, quyền hạn, núp bóng cấp trên, lôi kéo, tha hóa cán bộ và đã phạm nhiều tội nghiêm trọng như: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ; Cố ý làm lộ bí mật Nhà nước; Lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản. Hoặc như phạm nhân Trịnh Xuân Thanh (bị tòa án xét xử năm 2018), trước khi bị khởi tố đã có một quá trình vi phạm pháp luật, tham nhũng, nhưng lợi dụng các mối quen biết, tiếp tục “luồn lách” “chui sâu, leo cao” và được bổ nhiệm giữ chức Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang. Sở dĩ Thanh tham nhũng, vi phạm pháp luật trong thời gian dài có một nguyên nhân rất quan trọng đó là dựa bóng cấp trên, dựa vào sự bao che của cấp trên để phóng tay làm liều, biết sai mà vẫn làm. Việc Thanh bị báo chí phanh phui từ hành vi sử dụng chiếc xe ô tô tư nhân đắt tiền, nhưng lại gắn biển xe công vụ thực chất chỉ là giọt nước tràn ly và cũng là xuất phát từ thói huênh hoang, khoe mẽ, "coi trời bằng vung" của một cán bộ đã nhiễm thói hư, tật xấu từ lâu... Trên đây chỉ là một số vụ án lớn, điển hình về sự tha hóa của cán bộ có nguyên nhân khởi nguồn từ thói dựa hơi, dựa tiếng cấp trên, thậm chí tha hóa cán bộ cấp trên để tạo tấm bình phong cho mình làm liều, làm bậy, vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Trong thực tế cuộc sống, cũng còn nhiều cán bộ, đảng viên mới có một chút chức quyền trong tay nhưng đã bộc lộ thói huênh hoang, làm liều, như: Dọa nạt, hành hung cán bộ, nhân viên khi họ đang thi hành công vụ; mạt sát, coi thường, sách nhiễu nhân dân khi người dân có việc cần đến cơ quan công quyền; nịnh trên, nạt dưới, vi phạm dân chủ ở cơ quan, đơn vị... Thậm chí có cả những người có học hàm, học vị, giữ chức vụ quan trọng ở một nhà trường, nhưng lại nói năng lỗ mãng, hống hách, ứng xử thiếu văn hóa với khách đến tìm hiểu về cơ quan, đơn vị mình. Những hiện tượng này đang xảy ra khá phổ biến và đã được các cơ quan báo chí đăng tải, phê phán, nhưng xem ra việc khắc phục, sửa chữa chuyển biến tiến bộ còn rất chậm. Mới đây, phát biểu trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra một số thói hư, tật xấu, thiếu văn hóa... của một số cán bộ, đảng viên và thói học đòi, tiếp thu thiếu chọn lọc văn hóa nước ngoài. Sự ý nhị của Tổng Bí thư khi đọc bài thơ "Chân quê" của Nguyễn Bính, trong đó nhấn mạnh mấy câu cuối của bài thơ này: “Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê/ Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” là lời nhắc nhở sâu sắc cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, xây dựng và duy trì lối sống trong sáng, lành mạnh, có văn hóa... Sửa những thói hư, tật xấu, thói khoe mẽ, huênh hoang của cán bộ, đảng viên là việc cấp thiết và phải tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi trong một đảng cầm quyền thì mỗi đảng viên phải là một hạt nhân đoàn kết, phải có phẩm chất đạo đức tốt, có liêm sỉ, có cách ứng xử văn hóa trước quần chúng nhân dân, như thế mới tập hợp, thu hút được quần chúng, mới giúp Đảng hoàn thành trọng trách lãnh đạo xã hội. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vừa ban hành Quy định số 37-QĐ/TW quy định về những điều đảng viên không được làm, mục đích cũng là để làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng ngày càng thấm nhuần đạo đức cách mạng, tự rèn luyện, tu dưỡng để xứng đáng với vai trò tiền phong. Vì vậy tinh thần, nội dung của Quy định 37-QĐ/TW cần phải nhanh chóng được lan tỏa tới các chi bộ và từng đảng viên. Đảng viên và tổ chức đảng các cấp trong sinh hoạt cần nêu cao tính tự phê bình và phê bình, nghiêm túc quán triệt, học tập thực hiện các điều trong quy định và phải kiên quyết xử lý các đảng viên vi phạm quy định. Phải tăng cường công tác kiểm tra Đảng, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các đảng viên khi có biểu hiện, dấu hiệu vi phạm. Thời gian qua, chính vì chưa chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, hoặc khi đấu tranh, phê bình còn e dè, nể nang, nên thói chuyên quyền, độc đoán, huênh hoang có cơ hội tồn tại và phát tác trong một số cán bộ, đảng viên. Còn đối với mỗi cán bộ, đảng viên muốn chữa được bệnh huênh hoang, khoe mẽ thì cần luôn ghi nhớ và học cách khiêm tốn, cần biết nói những gì, nói ở đâu và nói vào lúc nào, cần phải biết lắng nghe phê bình, tiếp thu phê bình một cách thành thật, rồi tích cực sửa chữa sai lầm theo đúng tinh thần của người cộng sản. Người xưa đã nói đại ý: Khiêm tốn bao nhiêu cũng chưa đủ, tự kiêu một chút hóa ra thừa. Câu nói này có lẽ đến nay vẫn đúng và vẫn còn giá trị.

Bàn thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030

Chiều qua 24/11, tại Hội trường Diên Hồng nhà Quốc hội đã diễn ra phiên làm việc thứ 2 của Hội nghị văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đoàn chủ tịch điều hành có đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Vũ Đức Đam, Phó Thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Văn Hùng, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Sau phát biểu chỉ đạo định hướng của đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, đồng chí Nguyễn Văn Hùng trình bày về việc tổ chức, triển khai thực hiện Chiến lược văn hóa đến năm 2030 với 4 mục tiêu chung, 8 mục tiêu cụ thể, 11 nhiệm vụ và giải pháp, trong đó nhấn mạnh việc nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước. Đồng chí cho biết, Hội nghị văn hóa quy mô toàn quốc dự định sẽ được tổ chức định kỳ 5 năm một lần. Phát biểu kết luận Hội nghị, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng: Chưa bao giờ câu nói “Văn hóa còn thì dân tộc còn” lại quan trọng và sâu sắc như lúc này. Các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về văn hóa bám sát thực tiễn và yêu cầu phát triển, nhưng khâu tổ chức thực hiện của chúng ta còn yếu kém, trong đó có vấn đề về nhận thức. Vì vậy chúng ta cần sớm có những giải pháp thiết thực để chấn hưng văn hóa mà nền tảng là hạnh phúc của nhân dân. Cần tạo ra môi trường văn hóa cổ vũ cho cái mới, cái sáng tạo, tôn trọng sự khác biệt để tất cả mọi tài năng được phát huy, bừng nở. Nói đến văn hóa còn là nói đến con người, nói đến con người là nói đến giáo dục, vì vậy việc đổi mới căn bản về giáo dục là công việc cấp bách. Phó Thủ tướng nhấn mạnh chúng ta cần phải dành cho văn hóa nhiều thời gian và nhiều nguồn lực hơn nữa và đề nghị tất cả các hội văn học, nghệ thuật cùng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sau hội nghị này có nhiều chương trình thiết thực, chắc chắn, lâu dài.

Bước phát triển mới trong quan hệ Việt Nam - Lào

Ngày mai (6-12), Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Saysomphone Phomvihane dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Phu nhân bắt đầu thăm chính thức nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ ngày 6 đến 8-12-2021, theo lời mời của Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Vương Đình Huệ. Đây là chuyến công tác nước ngoài đầu tiên của đồng chí Saysomphone Phomvihane trên cương vị Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và cũng là chuyến thăm trực tiếp đầu tiên của một lãnh đạo Quốc hội nước ngoài đến Việt Nam kể từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV. Theo chương trình, trong chuyến thăm, hai bên sẽ tiếp tục thúc đẩy thực hiện Thỏa thuận hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Lào, trao đổi về phương hướng và biện pháp tăng cường hợp tác giữa hai nước, hai Quốc hội trong thời gian tới; chia sẻ kinh nghiệm về việc thực hiện các chức năng của Quốc hội trong các lĩnh vực lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Lãnh đạo Quốc hội hai nước vẫn thường xuyên trao đổi, tiếp xúc dưới mọi hình thức linh hoạt. Năm 2021 là năm diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của cả hai nước. Tại Việt Nam, sau thành công của Đại hội Đảng lần thứ XIII đã diễn ra Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; sớm kiện toàn các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; xây dựng và tổ chức triển khai các Chương trình và Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII. Phía bạn Lào cũng tổ chức thành công Đại hội XI Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (1-2021) và bầu cử đại biểu Quốc hội Lào khóa IX (2-2021). Đối với mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lãnh đạo Đảng, Nhà nước của mỗi bên đều chọn nước còn lại làm nơi thực hiện chuyến thăm nước ngoài đầu tiên. Lần này, đồng chí Saysomphone Phomvihane cũng chọn Việt Nam là nơi đến thăm đầu tiên trên cương vị Chủ tịch Quốc hội Khóa IX của Lào đã khẳng định sự coi trọng và tin cậy chính trị đặc biệt của Đảng, Nhà nước và Quốc hội Lào cũng như tình cảm của cá nhân đồng chí Saysomphone Phomvihane với Việt Nam, trong đó có Quốc hội Việt Nam, và với quan hệ hai nước. Đồng thời khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là luôn dành ưu tiên cao nhất cho việc phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào. Chuyến thăm sẽ tạo ra bước phát triển mới trong quan hệ giữa hai nước, hai Quốc hội; đóng góp thiết thực vào mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào.

Tài sản chung vô giá của hai dân tộc Việt Nam - Lào

Sự ra đời của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào vào ngày 2-12-1975 không chỉ viết nên trang sử huy hoàng nhất, rực rỡ nhất của nhân dân các dân tộc Lào anh em, đưa đất nước Lào bước vào kỷ nguyên phát triển mới, tươi sáng mà còn có ý nghĩa thời đại sâu sắc, đánh dấu bước ngoặt mới trong cục diện địa chính trị khu vực, đồng thời cũng là mốc son chói lọi trong sự nghiệp cách mạng chung của hai nước Việt Nam và Lào. Trong 46 năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân Cách mạng (NDCM) Lào, nhân dân các dân tộc Lào anh em đã phát huy truyền thống anh hùng và tinh thần đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, tạo nên diện mạo mới cho nước CHDCND Lào: Chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, quốc phòng, an ninh được bảo đảm, chính trị-xã hội ổn định, khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, phát triển kinh tế-xã hội có những chuyển biến mạnh mẽ, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện, uy tín và vị thế của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Những thành tựu đó là minh chứng hùng hồn khẳng định tính đúng đắn của con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân các dân tộc Lào anh em đã lựa chọn. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn tự hào có người bạn Lào thủy chung son sắt, cùng chung chí hướng, kề vai sát cánh trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Sự gắn bó keo sơn này được tạo dựng nên từ máu xương của biết bao thế hệ, được tôi luyện qua gian lao, thử thách và đã trở thành mối tình hữu nghị vĩ đại, gắn kết không thể tách rời, “sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”, “vững bền hơn núi, hơn sông”, “sáng hơn trăng rằm, thơm hơn bông hoa nào thơm nhất”, trở thành quy luật phát triển, là nhân tố quan trọng bảo đảm sự tồn tại, phát triển của hai nước và là tài sản chung vô giá của hai dân tộc. Nhân dân Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc rằng, mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc ngày nay đều gắn liền với tình đoàn kết, sự ủng hộ, giúp đỡ chí tình của nhân dân các dân tộc Lào anh em. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nguyện làm hết sức mình cùng với Đảng, Nhà nước và nhân dân các dân tộc Lào anh em giữ gìn, vun đắp cho mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào ngày càng đơm hoa kết trái trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi, vì sự phồn vinh của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới. Là người bạn, người đồng chí anh em thân thiết cùng chung lý tưởng, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam hòa cùng niềm vui với Đảng, Nhà nước và nhân dân các dân tộc Lào anh em kỷ niệm 46 năm Quốc khánh nước CHDCND Lào, đồng thời nhiệt liệt chúc mừng những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử mà Lào đã đạt được trong 46 năm qua. Tin tưởng, với đường lối đổi mới toàn diện, dưới sự lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm của Đảng NDCM Lào, nhân dân các dân tộc Lào anh em nhất định sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tiếp tục giành được nhiều thành tựu mới to lớn hơn nữa trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng NDCM Lào, xây dựng thành công đất nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và phồn vinh theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Tình hữu nghị bền vững

Chiều 25/11, tại Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức khai mạc Triển lãm "Tình hữu nghị bền vững". Đây là hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện kỷ niệm 70 năm thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng Việt Nam - Liên Xô/Liên bang Nga (30/1/1950 - 30/1/2020). Triển lãm góp phần tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Liên Xô/Liên bang Nga; qua đó tiếp tục góp phần giữ gìn, củng cố, phát triển mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa nhân dân và quân đội hai nước lên một tầm cao mới. Ngày 30/1/1950, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết (nay là Liên bang Nga). Đây là dấu mốc quan trọng, tiền đề pháp lý, đặt nền móng cho tình hữu nghị bền chặt, thủy chung, hợp tác toàn diện giữa hai Nhà nước, hai dân tộc. Trong hơn 70 năm qua, mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Liên Xô/Liên bang Nga không ngừng được củng cố, phát triển, đáp ứng lợi ích của hai nước; góp phần vào hòa bình, hợp tác, phồn vinh và thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới. Triển lãm giới thiệu gần 200 hình ảnh, tài liệu, hiện vật tiêu biểu, chia thành hai phần. Phần 1 với chủ đề "Dấu ấn vượt thời gian" trưng bày những hình ảnh, tài liệu, hiện vật phản ánh về sự ủng hộ to lớn, kịp thời, hiệu quả của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phần 2 mang chủ đề "Hữu nghị, hợp tác và phát triển", trưng bày những hình ảnh, tài liệu, hiện vật về quan hệ hợp tác cùng có lợi giữa Việt Nam và Liên bang Nga trên tất cả các kênh và các lĩnh vực, từ kênh Đảng, Chính phủ, Quốc hội đến hợp tác giữa các tỉnh, thành và ngoại giao nhân dân; trong đó lĩnh vực quốc phòng là trụ cột, tập trung trên các mặt: Hợp tác kỹ thuật quân sự, thương mại quân sự, đào tạo cán bộ quân sự, cung cấp vũ khí và trang bị quân sự, Hội thao Quân sự quốc tế (Army Games)... Một số hiện vật tiêu biểu được giới thiệu như: Đơn tình nguyện của Trung tá Nikolai Petrovich, Quân đội Liên Xô gửi Bộ Quốc phòng Việt Nam mong muốn sang Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, ngày 3/12/1966; máy quay phim Konvas do Liên Xô sản xuất và viện trợ cho Việt Nam năm 1963, dùng quay phim tư liệu về cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta; máy đo phóng xạ DP-5A được Liên Xô sản xuất, viện trợ cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước…

CHỐNG BỆNH “ĐOÀN KẾT XUÔI CHIỀU”

Vừa qua, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 về những điều đảng viên không được làm (thay thế Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về những điều đảng viên không được làm). Trong Quy định số 37-QĐ/TW, với 19 điều đảng viên không được làm, có hai điều cấm mới hoàn toàn, là Điều 3 và Điều 13. Trong đó Điều 3 quy định đảng viên không được "phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng". Căn bệnh “đoàn kết xuôi chiều”, dân chủ hình thức làm suy yếu, tổn hại đến sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dẫn đến mất đoàn kết nội bộ, tiềm ẩn tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, làm xói mòn, giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người dân ở không ít địa phương thường bàn tán về một số cán bộ, công chức “làm công ăn lương”, nhưng có biểu hiện giàu lên nhanh chóng, xây nhà to, sắm xe hơi đắt tiền, tiện nghi sang trọng…Vậy những tài sản đó ở đâu ra? Thời gian qua, vẫn có những cán bộ tham ô, tham nhũng, vi phạm, nhưng chưa bị phát hiện, xử lý nghiêm minh, nhất là ở cấp xã, phường, quận, huyện…, bởi vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, nể nang, né tránh, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức… Thực tế, ở cấp huyện, xã, ngoài ngân sách trên cấp, còn có các nguồn thu, như: Tiền thuế, tiền thu từ đất công cho các cá nhân và cơ sở sản xuất kinh doanh thuê; tiền thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh và các công trình phúc lợi công cộng… Tuy nhiên, hội đồng nhân dân cùng cấp có giám sát được các dự án, có thực hiện đầy đủ các nội dung kiểm tra chi tiêu trước khi phê duyệt quyết toán ngân sách của ủy ban nhân dân cùng cấp hay không? có công khai để các đoàn thể và nhân dân giám sát? Thực tế những năm qua, đây vẫn còn là khâu yếu và những tồn tại, tiêu cực ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị… vẫn kéo dài. Những năm qua, nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, kiên quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thường xuyên trực tiếp là Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (nay là Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực), nhiều cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham ô tham nhũng, tiêu cực… đã bị xử lý nghiêm minh, không có ngoại lệ, không có “vùng cấm”. Tuy nhiên, gần đây, một số cán bộ có dấu hiệu “đổi màu”, lách luật bằng cách “tham nhũng vặt”, “ăn” từ từ để nếu bị phát hiện sẽ không bị xử lý với mức án nghiêm minh, hoặc kỷ luật nặng về đảng, chính quyền… Đại hội XIII của Đảng khẳng định, sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử… Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thành tựu đó càng khẳng định con đường cách mạng của Đảng và nhân dân ta lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, đoàn kết xuôi chiều, lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực… của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn tồn tại, là lực cản đối với sự phát triển, đi lên của đất nước.

NHỚ GHI LỜI BÁC VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT

Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập (ngày 3-2-1930) đến nay, trong các chỉ thị, nghị quyết, phương pháp cách mạng của Đảng…, vấn đề đoàn kết trong Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được xác định là một chiến lược của cách mạng, được tổ chức lãnh đạo phát triển đến đỉnh cao, tập trung sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết…” là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài, xuyên suốt tiến trình cách mạng, là nội dung quan trọng, chủ đạo hợp thành hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tinh thần yêu nước, trọng nhân nghĩa, khoan dung, sự cố kết, chia sẻ, đùm bọc yêu thương đã thấm sâu trong tư tưởng, tình cảm, tâm hồn, cốt cách của mỗi người dân, trở thành lẽ sống, chất kết dính, gắn bó bền vững các thành viên từ trong mỗi gia đình, làng quê, xóm phố và trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng huấn thị: “Mục đích của Đảng có thể bao gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Người nói: “Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”. Trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng, Bác căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đại hội XIII của Đảng khẳng định quan điểm: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Quán triệt tinh thần đó, cần xác định: Đoàn kết toàn dân nói chung, đoàn kết trong mỗi tổ chức của hệ thống chính trị, tổ chức xã hội nói riêng, phải nhằm thực hiện tốt đường lối quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Điều này hoàn toàn trái ngược với những cá nhân, những nhóm người nhân danh tổ chức, lợi dụng chức quyền, vị trí công tác để gây bè, kéo cánh để tham nhũng, tham ô tài sản của Nhà nước, của nhân dân. Nguy hiểm hơn, một số cá nhân lại sử dụng đồng tiền bất chính đó để chạy chọt, “mua quan bán chức”, nhằm chui sâu, leo cao để mưu danh, mưu lợi cho riêng mình. Cùng với đó, họ sử dụng những thủ đoạn hết sức tinh vi, như nhận tiền hối lộ, cài cắm người nhà, người thân, đồng hương, những kẻ cơ hội, bất tài… vào các vị trí công tác quan trọng thuộc các cơ quan công quyền, nhằm tạo cánh hẩu, ê kíp, chân rết.. bảo vệ lẫn nhau, cùng nhau trục lợi, tham ô, tham nhũng, tiêu cực…

HIỂM HỌA TỪ PHÒ TÁ, THAM MƯU "RỞM"

Những năm qua, đặc biệt trong thời gian cao điểm, cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, dư luận rất bức xúc trước việc một số địa phương, bộ, ngành thi thoảng lại ban hành các quy định “trên trời” vì không khoa học, kém hiệu quả, thiếu tính khả thi, thậm chí trái với văn bản của cấp trên... Tình trạng các văn bản “đá nhau”, “sáng ban hành, chiều bãi bỏ” không chỉ làm mất uy tín của người ký ban hành và cơ quan ban hành, mà còn ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của Đảng, Nhà nước; trở thành cái cớ, cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng thổi phồng, kích động nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống phá cách mạng nước ta. Bên cạnh đó là một số cán bộ lãnh đạo có lời phát biểu hoặc bài viết đăng trên sách, báo, tạp chí chưa thực sự “xứng tầm”, thậm chí có chỗ copy nguyên xi của người khác, nói hớ, viết sơ hở. Một vài cán bộ đã giải thích “lỗi từ nhân viên đánh máy”, nhưng càng khiến dư luận bức xúc vì cho rằng, cán bộ đổ lỗi cho nhân viên để trốn tránh trách nhiệm. Tuy nhiên, thực tế đúng là có tình trạng cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp thủ trưởng soạn văn bản, chuẩn bị dự thảo văn bản, bài viết, bài phát biểu thiếu chặt chẽ, không đủ tầm để chuẩn bị tốt nội dung; thủ trưởng thì không đủ thời gian hoặc không thể hiểu sâu về tất cả lĩnh vực nghiệp vụ để phát hiện, chỉnh sửa hết những chỗ sai sót. Đó là chưa kể còn có hiện tượng một số trợ lý được thủ trưởng giao góp ý dự thảo bài viết, bài phát biểu do cơ quan chuyên môn chuẩn bị nhưng lại không đọc kỹ, không hiểu sâu mà lại "thích chỉnh sửa để thể hiện mình giỏi", dẫn đến sửa không phù hợp, đúng thành sai, làm hỏng cả bài viết mà thủ trưởng cũng không thể kiểm soát hết được. Ngôn từ phát ra thì người ta chỉ khen-chê người đăng đàn phát biểu, người đứng tên tác giả, đâu cần biết ai là người giúp chuẩn bị, chỉnh sửa nội dung! Bên cạnh một số cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc do hạn chế về trình độ, năng lực dẫn đến sai sót khi soạn thảo văn bản, chuẩn bị bài viết, bài phát biểu cho thủ trưởng, thì còn có hiện tượng tham mưu nhưng “mưu ít, tham nhiều”, rỉ rả ngày này qua ngày khác hướng lái thủ trưởng nhận thức thiếu chuẩn mực về một số vấn đề xã hội hoặc ngay chính công việc, con người mình phụ trách. Người phò tá, tham mưu phẩm chất không trong sáng, vụ lợi thường dễ bị mua chuộc, lôi kéo, cố tình gài lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm vào các văn bản liên quan đến chế độ, chính sách, quyết định các vấn đề về tài chính, ngân sách như mua bán tài sản công, đấu thầu... Đây là vấn đề nhức nhối, rất đáng báo động. Bởi thực tế không nhiều thủ trưởng, người chủ tài khoản nắm chắc, hiểu sâu về quản lý kinh tế, ngân sách, nhất là các nguyên tắc, thủ tục, danh mục thu-chi tài chính (do không được đào tạo chuyên sâu). Ngay cả những thủ trưởng nắm chắc nội dung này thì cũng không đủ thời gian để nghiên cứu kỹ hàng chục, hàng trăm văn bản dày cộp mỗi ngày bởi còn phải làm rất nhiều việc khác. Nên có tình trạng cán bộ, cơ quan tham mưu, trợ lý trình gì thì thủ trưởng chỉ xem lướt rồi tin tưởng ký vào, trừ những văn bản quan trọng. Lại cũng có không ít trợ lý, người giúp việc mượn danh, núp bóng thủ trưởng để gạ gẫm cơ sở và cán bộ, nhân viên cấp dưới. Thường những người này trước thủ trưởng thì "đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên", tỏ ra ngoan ngoãn, lễ phép, nhưng sau lưng thủ trưởng thì ngược lại. Dù thủ trưởng không chỉ đạo gì nhưng có trợ lý, người giúp việc lại cố tình “gây khó để có phong bì”, mượn uy thủ trưởng để vụ lợi, sách nhiễu. Kiểu “cáo mượn oai hùm” này vô cùng nguy hại vì nó làm cho cấp cơ sở và quần chúng nhân dân mất niềm tin vào cán bộ lãnh đạo, sâu xa hơn là mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước vì nhiều người tưởng các thủ trưởng chỉ đạo làm như vậy! Theo từ điển tiếng Việt, tham mưu nghĩa là hiến kế, kiến nghị, đề xuất, đưa ra các ý tưởng độc đáo, sáng tạo, có cơ sở khoa học, các sáng kiến, các phương án tối ưu, những chiến lược, sách lược và các giải pháp hữu hiệu cho thủ trưởng trong việc đặt ra và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác của cơ quan, đơn vị nhằm đạt kết quả cao nhất; còn trợ lý là người giúp việc trực tiếp cho một người ở chức vụ cao hoặc trong một lĩnh vực chuyên môn nào đó. Như vậy, vai trò của cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, trợ lý giúp việc là vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong hoạt động lãnh đạo, quản lý và điều hành công việc của tất cả các tổ chức. Những người làm nhiệm vụ này rất gần gũi với thủ trưởng và được thủ trưởng tin cậy, giao cho các công việc quan trọng, liên quan tới cả tổ chức, nhiều người. Cổ nhân đã đúc rút “Thần thiêng nhờ bộ hạ”, nghĩa là đội ngũ làm công tác tham mưu, giúp việc vừa giỏi vừa tâm đức là nhân tố rất quan trọng, quyết định đến thành công của người lãnh đạo. Bất kể thủ trưởng nào, dù tài giỏi đến mấy cũng không thể hiểu sâu kỹ được tất cả lĩnh vực, không thể tự làm hết được mọi công việc. Do đó, mỗi cơ quan, đơn vị muốn thành công, ngoài tâm và tầm của người lãnh đạo thì phải có đội ngũ làm công tác tham mưu, giúp việc đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, giúp người lãnh đạo đưa ra những chủ trương, quyết định đúng đắn, hạn chế tối đa sai sót, khuyết điểm. Chính vì vậy, việc lựa chọn, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc là đặc biệt quan trọng. Song, đáng tiếc là vẫn có những thủ trưởng và cơ quan, đơn vị chưa thực sự coi trọng việc này, vẫn còn tình trạng ưu tiên người thân quen, chọn người cùng phe nhóm, “cánh hẩu”, biết chiều ý thủ trưởng theo kiểu tuyệt đối phục tùng, sẵn sàng cung phụng, phục vụ mọi nhu cầu cá nhân mà không cần biết đúng-sai. Chính vì thế mới dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại. "Thần suy cũng vì bộ hạ" và sử sách đã "bêu gương" không ít bậc vua chúa vì chọn dùng gian thần mà thân bại, danh liệt. Cần nhận thức đúng đắn rằng, cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc cũng là phục vụ thủ trưởng, nhưng là dùng tri thức, chất xám và toàn tâm toàn ý phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của thủ trưởng, hoàn toàn khác với việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường ngày; do đó, phải chú trọng lựa chọn những người có đủ tâm và tầm, nhất là người dám nói, dám phản biện như Đảng ta đang khuyến khích. Nhất là, trong thời đại công nghệ số, thế giới “phẳng” như hiện nay, chỉ cần một sai lầm, sơ hở nhỏ của tổ chức, của người lãnh đạo cũng sẽ lan nhanh khắp nơi, làm ảnh hưởng lớn tới uy tín của tổ chức, cá nhân mắc sai lầm, khuyết điểm. Thiết nghĩ, việc tuyển chọn và sử dụng người phò tá, tham mưu rất cần ghi nhớ bài học của người xưa "Quân tử chi giao đạm nhược thủy. Tiểu nhân chi giao cam như di", với ý nghĩa là: Người quân tử đối đãi với nhau như nước trắng, không mặn, không ngọt; rất thật lòng, không vì yêu mà nói thành tốt, không vì ghét mà nói thành xấu, không nói những lời bạn thích nghe mà phải nói những lời bạn cần nghe. Kẻ tiểu nhân đối xử lúc nào cũng ngọt ngào như rượu nồng. Nước tuy nhạt nhưng cần thiết để sống bền vững; còn rượu ngọt uống sẽ say, dễ lầm đường lạc lối, dẫn tới tuyệt giao, tai họa…

'Việt Nam tự tin, sẵn sàng gánh vác nhiều trọng trách quốc tế'

 Trong thông điệp, Chủ tịch nước nhấn mạnh "Chung tay với cộng đồng quốc tế ngày nay, là một Việt Nam mới tự tin, sẵn sàng gánh vác nhiều trọng trách quốc tế vì hòa bình và phát triển bền vững."

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã có Thông điệp nhân dịp Việt Nam hoàn thành thắng lợi nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc:

"Hòa trong niềm hân hoan của mọi người dân trên toàn cầu chào đón Năm mới 2022, mọi người dân Việt Nam chúng ta như càng thêm vui, thêm tự hào về việc đã hoàn thành thắng lợi trọng trách Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021.

Vào thời điểm này, cách đây tròn hai năm, được sự tín nhiệm cao của cộng đồng quốc tế với 192/193 phiếu ủng hộ, biển tên hai chữ “Việt Nam” đã được đặt trang trọng tại Phòng họp của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, cơ quan có tầm quan trọng hàng đầu trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Đây là niềm tự hào, song cũng là thách thức lớn của Việt Nam, trong bối cảnh tình hình thế giới, các khu vực diễn biến phức tạp, và chịu tác động nặng nề của đại dịch COVID-19.

Phát huy thế và lực mới của đất nước, với nỗ lực rất cao, cùng sự ủng hộ, hợp tác của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, Việt Nam đã tham gia chủ động và tích cực, đề xuất nhiều sáng kiến, đóng góp thực chất vào công việc của Hội đồng Bảo an, với thông điệp xuyên suốt là “Đối tác vì hòa bình bền vững” trong tìm kiếm giải pháp ngăn ngừa, xử lý xung đột, kết nối hợp tác Hội đồng Bảo an với ASEAN, ứng phó với các thách thức đối với hòa bình và an ninh quốc tế, trên cơ sở tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Tham gia Hội đồng Bảo an, Việt Nam đã thể hiện rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Từ nước nghèo, nhận viện trợ, Việt Nam đã vươn lên trở thành đối tác tích cực, chủ động đóng góp có trách nhiệm và tham gia cùng Liên hợp quốc giải quyết nhiều vấn đề toàn cầu về hòa bình, an ninh và phát triển trên thế giới.

Trong hành xử, Việt Nam tự tin mang tâm thế của một đất nước yêu chuộng hòa bình, hòa hiếu, khiêm nhường, nhân văn, nhân ái, trọng lẽ phải, với lịch sử hào hùng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khẳng định bản sắc ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Quá trình đó, cũng thể hiện hình ảnh của một Việt Nam năng động, đổi mới, với thông điệp mạnh mẽ về tầm nhìn, khát vọng phát triển đất nước hùng cường đến năm 2045 đã đề ra tại Đại hội Đảng lần thứ XIII.

Những nỗ lực của Việt Nam tại Hội đồng Bảo an, cùng tổng thể thành công của các công tác đối ngoại nói chung, đã góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển, hội nhập toàn diện của đất nước, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam, đưa quan hệ với các nước, các đối tác quan trọng đi vào chiều sâu, hiệu quả.

Việt Nam đã khép lại nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an với nhiều dư âm đánh giá tích cực, đồng điệu với nguyện vọng chung của cộng đồng quốc tế về một thế giới hòa bình bền vững, không có chiến tranh, xung đột; không còn đói nghèo, bất bình đẳng. Dư âm đó bồi đắp thêm niềm tin, tiếp thêm xung lực cho Việt Nam đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương phục vụ công cuộc phát triển đất nước.

Chung tay với cộng đồng quốc tế ngày nay, là một Việt Nam mới tự tin, sẵn sàng gánh vác nhiều trọng trách quốc tế vì hòa bình và phát triển bền vững."

Nêu cao nhận thức bầu cử, ngăn chặn các luận điệu sai trái

 Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, là ngày hội của toàn dân, là dịp để cử tri cả nước lựa chọn, bầu ra những đại biểu ưu tú, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong các cơ quan quyền lực Nhà nước ở Trung ương và địa phương nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thời gian qua, sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 20/6/2020 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu HĐND các cấp đến nay, các thế lực thù địch và số phần tử cơ hội, bất mãn, chống đối chính trị không ngừng gia tăng các hoạt động chống phá nhằm vào quy trình tổ chức cuộc bầu cử. Các đối tượng lan truyền, phát tán các quan điểm sai trái, thù địch, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quốc hội cũng như cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu HĐND.

Trong thời gian chuẩn bị diễn ra cuộc bầu cử, họ tung ra hàng loạt quan điểm sai trái, thù địch nhằm công kích vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác tổ chức bầu cử, lên án “Cuộc bầu cử do Đảng lãnh đạo là không chính danh, không đúng quy định của pháp luật, là ngăn cản quyền bầu cử của công dân”, “đã là cơ quan dân cử thì Đảng Cộng sản không nên can thiệp vào công việc của Quốc hội”, “bầu cử chỉ là màn kịch dân chủ do chính Đảng Cộng sản đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”, “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”, “sẽ không bao giờ có dân chủ, công khai, minh bạch khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử”…

Từ đó, các phần tử chống đối đòi hỏi “Đảng Cộng sản Việt Nam không được tham gia công tác bầu cử cũng như lãnh đạo công tác bầu cử”. Đồng thời kêu gọi “Đảng phải tự rút lui và từ bỏ quyền lãnh bầu cử, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự cạnh tranh với các đảng khác để đảm bảo dân chủ…”.

Qua việc tung ra những luận điệu trên cho thấy rõ ý đồ thâm độc của các tổ chức, cá nhân chống đối là nhằm chia rẽ Đảng Cộng sản Việt Nam với Quốc hội; hạ uy tín, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng với hoạt động của Quốc hội, quá trình tổ chức cuộc bầu cử cũng như đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.

Quan điểm sai trái, thù địch phê phán, bác bỏ vai trò, vị trí, chức năng của Quốc hội và HĐND các cấp, hướng đến xóa bỏ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Các thế lực thù địch, chống đối không ngừng gieo rắc những thông tin sai trái, lệch lạc như: “Sự tồn tại của Quốc hội trong hệ thống chính trị Việt Nam chỉ có ý nghĩa “tượng trưng”; đả kích, phủ nhận vai trò thực chất và hiệu quả hoạt động của Quốc hội và HĐND các cấp, đặc biệt là trong lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước. Các đối tượng loan tin bịa đặt, xuyên tạc “việc tổ chức các kỳ họp Quốc hội và HĐND là không cần thiết, lãng phí ngân sách của Nhà nước”, “hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, trao đổi, thảo luận trong phạm vi nghị trường của Quốc hội là hình thức, theo kiểu nói xong, kết luận xong, xếp vào ngăn bàn”.

Không chỉ vậy, các đối tượng còn đưa ra những quan điểm phủ định những thành tựu của Quốc hội và HĐND qua các thời kỳ cách mạng; hạ uy tín, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm và sự đóng góp của các đại biểu Quốc hội, nhất là đại biểu đang nắm giữ các vị trí chủ chốt, trọng yếu trong các cơ quan Đảng, Nhà nước.

Từ đó, các đối tượng đi đến kết luận “Quốc hội chưa xứng tầm là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân”, đòi phải tổ chức bầu cử Quốc hội theo mô hình của các nước phương Tây.

Họ tập trung tuyên truyền, bác bỏ quan điểm, chủ trương trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử của Đảng, Chính phủ và các cơ quan chức năng, khi cho rằng: “Nhân sự Quốc hội khóa XV đã “an bài” vì các phe nhóm của Đảng đã ngấm ngầm thỏa hiệp, phân chia; việc bầu cử chỉ là để hợp thức hóa việc “xếp ghế” cho nhân sự trong Quốc hội”.

Cùng với đó, các phần tử cơ hội, bất mãn, chống đối tích cực đưa ra những “kiến nghị”, “tuyên bố” vô căn cứ về số lượng, cơ cấu đại biểu Quốc hội. Các đối tượng rêu rao: “Việc quy định con số và tỷ lệ đại biểu do Đảng áp đặt là tùy tiện, trái Hiến pháp”, “cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia nửa số ghế cho những người ngoài Đảng” (tỷ lệ người ngoài Đảng phải đảm bảo 50% số ghế trong Quốc hội thay vì 5 đến 10% theo Nghị quyết 1185/NQ-UBTVQH14).

Các đối tượng phê phán quy chế bầu cử theo phương thức “đảng cử, dân bầu” là lỗi thời, tùy tiện, trái quy định của Hiến pháp, không bảo đảm dân chủ trong bầu cử, từ đó nêu ra yêu sách đòi xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, thay vào đó là mô hình bầu cử như đã từng diễn ra ở các nước phương Tây, cho rằng có như vậy mới là “ưu việt” và “dân chủ”.

Khi thời điểm diễn ra cuộc bầu cử đến gần, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không ngừng gia tăng tuyên truyền, phổ biến, tán phát các quan điểm sai trái, thù địch trên quy mô, phạm vi ngày càng lớn với tính chất, mức độ quyết liệt, nguy hiểm. Do vậy, cần nhận thức và thực hiện tốt một số vấn đề sau:

Một là, cần nhận thức rõ về vai trò, vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 -2026 trong toàn Đảng, toàn dân. Trong đó, trước hết, mỗi cấp, mỗi ngành, đoàn thể xã hội cần chủ động quán triệt sâu sắc, toàn diện, triệt để những nội dung có tính chính trị và pháp lý trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các cơ quan chức năng về cuộc bầu cử. Góp phần duy trì, phát huy sự đoàn kết, đồng thuận cao về tư tưởng và hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong quá trình tổ chức cuộc bầu cử.

Hai là, chủ động làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận trong toàn xã hội về cuộc bầu cử. Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến cuộc bầu cử; chú trọng tuyên truyền về quyền, nghĩa vụ, vai trò, trách nhiệm của mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân khi tham gia cuộc bầu cử, góp phần xây dựng Quốc hội nói riêng, bộ máy nhà nước nói chung ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả…

 Ba là, chủ động tổ chức đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch chống phá cuộc bầu cử. Công tác này cần gắn chặt với việc thực hiện nghiêm và hiệu quả Nghị quyết số 35 – NQ/TW, ngày 28/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Bốn là, trên cơ sở phương án, kế hoạch bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội trong suốt thời gian diễn ra cuộc bầu cử, các cơ quan chức năng cần chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm âm mưu, ý đồ, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị truyền bá quan điểm sai trái, thù địch chống phá cuộc bầu cử; có hướng ngăn chặn và xử lý kịp thời, không để cán bộ, đảng viên và người dân bị tiêm nhiễm, lôi kéo, dẫn đến có các hành vi sai lệch, đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, của Nhà nước và nhân dân.

Năm là, chủ động nắm chắc diễn biến, tình hình dư luận trong nội bộ và ngoài xã hội về công tác chuẩn bị tổ chức cũng như tại thời điểm diễn ra cuộc bầu cử. Trong đó, các cấp ủy Đảng, lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, chính quyền cơ sở có trách nhiệm đi sâu nắm diễn biến về tư tưởng, quan điểm và thái độ chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân đơn vị, địa phương công tác đối với quá trình tổ chức bầu cử. Kịp thời phát hiện những vướng mắc trong tư tưởng, biểu hiện lệch lạc trong nhận thức; những ý kiến, quan điểm khác với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan chức năng về cuộc bầu cử…

Sáu là, chủ động rà soát, phát hiện, xử lý những sơ hở, thiếu sót trong công tác tổ chức cuộc bầu cử, tránh để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng tuyên truyền, tán phát các quan điểm sai trái, thù địch chống phá bầu cử. Trong đó, duy trì và đề cao tính bình đẳng, dân chủ, công khai, minh bạch, chặt chẽ, đúng quy trình, đảm bảo tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trong tất cả các khâu của quá trình tổ chức bầu cử.