Thứ Tư, 12 tháng 1, 2022

TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA TƯ TƯỞNG DÂN TỘC HẸP HÒI VÀ TÔN GIÁO CỰC ĐOAN

 


Tư tưởng dân tộc hẹp hòi và tôn giáo cực đoan là một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước”. Đây là những biểu hiện hết sức nguy hiểm mà các thế lực thù địch lợi dụng để tăng cường xây dựng, phát triển những phần tử phản động ở trong nước để chống phá cách mạng từ bên trong là chủ yếu.

Tư tưởng này thường hay nhấn mạnh đặc điểm riêng biệt của dân tộc, không thấy rõ lợi ích của quốc gia và tương lai của đất nước mình. Thực chất của “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”: là tư tưởng khép kín, biệt lập, bảo thủ, bài ngoại, ngờ vực dân tộc khác. Mục đích của “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi” là chia cắt đất nước ta thành nhiều vùng miền, khu vực tự trị của đồng bào dân tộc thiểu số và không phụ thuộc vào Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thay vào đó sẽ là lực lượng chính trị phản động nắm giữ…

Tư tưởng cực đoan tôn giáo thường xuất hiện ở những chức sắc, những tín đồ có những biểu hiện cực đoan, đối lập với chính quyền cơ sở hoặc những nhà hoạt động xã hội nhân danh là vì dân, cùng với sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch từ bên ngoài nhằm xây dựng những “cốt cán” trong tôn giáo. Thực chất tư tưởng tôn giáo cực đoan: là tuyệt đối hóa tính biệt lập, đặc thù của mỗi tôn giáo, đề cao tôn giáo mình, phủ nhận hoặc xem thường với thái độ miệt thị các tôn giáo khác và những người không theo tôn giáo; chỉ thấy quyền lợi của tôn giáo mình, chà đạp lên quyền lợi của tôn giáo khác và nuôi dưỡng ngày càng sâu mối hận thù với các dân tộc, tôn giáo khác.

Tập trung tạo dựng các ngọn cờ là những người có tư tưởng cực đoan trong dân tộc với cực đoan trong tôn giáo; mục đích kích động “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và cực đoan tôn giáo” của các thế lực thù địch: là nhằm gieo rắc, phát triển ở các vùng, miền của đất nước, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Tạo dựng được những lực lượng phản động bên trong đối lập với Đảng, Nhà nước và chính quyền cơ sở để dụ dỗ và lôi kéo dân lành xúi giục, kích động mọi người tham gia biểu tình, gây rối, vi phạm pháp luật theo kịch bản đã định trước của chúng. Nhằm phá hoại an ninh, gây mất trật tự, mất ổn định xã hội cùng với sự hỗ trợ từ bên ngoài sẽ từng bước làm cho Việt Nam “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và tự sụp đổ.

Vì vậy, cần chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoanlàm thất bại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Để công việc ấy tiến hành có hiệu quả, trước hết cần tuyên truyền cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa và đồng bào tôn giáo có nhận thức sâu sắc về “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo”, sự nguy hại của nó để chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh. Đồng thời qua tuyên truyền, làm cho nhân dân thấy rõ ý đồ đen tối của các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài kích động “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chú trọng tuyên truyền về truyền thống quý báu trong lịch sử dân tộc ta; mỗi dân tộc, mỗi loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có nguồn gốc, đặc điểm và thời điểm hình thành, sự phát triển khác nhau, nhưng đều có điểm chung đó là tinh thần bao dung, đoàn kết giữa các thành phần dân tộc, đoàn kết lương giáo trong đại gia đình dân tộc Việt Nam./.

NHẬN DIỆN RÕ THỦ ĐOẠN CHIẾN LƯỢC DIỄN BIẾN HÒA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đứng đầu là đế quốc Mỹ luôn coi Việt Nam là một trọng điểm cần tập trung chống phá, nhằm xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Về mục tiêu chiến lược “diễn biến hoà bình” là: Xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;  Chúng đang ráo riết tập trung thúc đẩy tự do hóa chính trị, bằng cách đòi chúng ta phải thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập, dân chủ không hạn độ, thúc đẩy tư nhân hóa nền kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa và đòi “phi chính trị hóa” quân đội, nhằm tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Tư tưởng chỉ đạo thủ đoạn là: Chủ động tiếp cận, chọn lọc hành động, êm thấm, chú trọng kết hợp diễn biến hoà bình và bạo loạn lật đổ. Thủ đoạn của chúng rất tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm và thâm độc, vừa công khai, vừa ngấm ngầm, vừa điên cuồng gây sức ép và thực hiện chiến thuật “đánh mềm” “đánh hiểm” thông qua nhiều kênh, nhiều đường, nhiều hướng, nhiều phương diện và lực lượng, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chúng tiến công phá hoại ta một cách toàn diện và có trọng điểm.

Về phương thức hoạt động là tăng cường tiến hành chiến lược phức hợp bao gồm diễn biến hoà bình với bạo loạn lật đổ, diễn biến hoà bình với răn đe quân sự, khi có điều kiện, thời cơ thì tiến hành chiến tranh xâm lược. Chúng tận dụng điều kiện khách quan thông qua mở cửa, giao lưu hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực để tiến công mạnh mẽ quyết liệt toàn diện.

Biện pháp cụ thể là thực hiện toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, tập trung vào: lĩnh vực chính trị tư tưởng; chúng xuyên tạc, phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đồng thời, ra sức bôi nhọ xuyên tạc chủ nghĩa xã hội, đả kích nói xấu làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước ta, làm mất uy tín của các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Chúng thư­ờng sử dụng các phư­ơng tiện thông tin hiện đại kết hợp với sử dụng các thủ đoạn chiến tranh tâm lý để thực hiện ý đồ chống phá ta về chính trị tư­ tư­ởng.

Trên lĩnh vực kinh tế, bằng các hoạt động “diễn biến hoà bình” địch vừa phá ta về kinh tế, phá hoại làm suy yếu nền kinh tế của ta, thông qua kinh tế để chống phá ta về chính trị. Chúng thể hiện rõ bằng, tìm cách thúc đẩy nhanh quá trình tư­ nhân hoá, hỗ trợ cho kinh tế tư­ nhân phát triển, hạn chế vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nư­ớc xã hội chủ nghĩa, từ đó thúc đẩy khả năng chệch hư­ớng xã hội chủ nghĩa về nền kinh tế trên đất nư­ớc ta.

Trên lĩnh vực văn hoá- xã hội. Mục tiêu chống phá ta trên lĩnh vực văn hoá - xã hội của chúng thúc đẩy sự phát triển văn hoá ngoại lai, lấn át, làm suy yếu văn hoá truyền thống- thực chất đó cũng là sự xâm lăng về văn hoá, nhằm tấn công phá hoại nền tảng đạo đức- văn hoá của chủ nghĩa xã hội .

Trên lĩnh vực an ninh, quốc phòng chúng tìm cách làm suy yếu tiềm lực của đất nư­ớc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với lực lư­ợng vũ trang, với âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội nhằm vô hiệu hoá quân đội và công an hỗ trợ cho các hoạt động bạo loạn lật đổ. Như vậy, cuộc đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” diễn ra hết sức gay go quyết liệt, phức tạp, do đó đòi hỏi mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải nâng cao cảnh giác cách mạng, tỉnh táo, nhất là trên lĩnh vực chính trị tư tưởng để góp phần đánh bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch./.

 

NHÂN DÂN VIỆT NAM MỘT LÒNG TIN VỚI ĐẢNG

 

    Trên trang mạng xã hội những tháng gần đây, có một số bài viết thổi phồng một số tiêu cực trong xã hội, cổ súy cho những hành vi chống phá Nhà nước, phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước từ đó hòng kích động chia rẽ truyền thống đoàn kết máu thịt giữa Đảng với nhân dân, gây nên thái độ ngộ nhận, tâm trạng hoang mang, hoài nghi, dao động, mất lòng tin ở một bộ phận nhân dân. Nhưng những âm mưu, thủ doạn của địch không thực hiện được mà niềm tin của nhân dân đối với Đảng không hề bị lung lạc.

Thực tiễn đã chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong đó khởi xướng và lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân tiến hành thành công hai cuộc kháng chiến, đất nước thu về một mối, cả nước độc lập thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Là một nước nghèo, vừa thoát khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc nên gặp phải những khó khăn gay gắt. Song, với bản lĩnh của một đảng cách mạng, chân chính, đổi mới đất nước.

Đến nay, đất nước đã thu được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử; phát triển cả quy mô, trình độ; nền kinh tế được nâng lên vượt bậc. Từ một nước nghèo, kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên, được xếp trong nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp. Việt Nam là một trong số ít quốc gia có hệ thống y tế hoàn chỉnh, tổ chức rộng khắp tới tận thôn, bản; làm chủ được nhiều kỹ thuật công nghệ cao mang tầm thế giới; kiểm soát được nhiều dịch bệnh nguy hiểm.

Những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước làm cho đời sống của người dân ở mọi miền không ngừng được cải thiện theo thời gian, là một thực tế không thể phủ nhận. Kết quả của Chương trình xây dựng nông thôn mới đã đem lại cho bộ mặt nhiều miền quê trên đất nước, có những thay đổi một trời một vực, khiến lòng dân phấn khởi. Những xử lý có hiệu quả của nước ta trong việc kiểm soát và dập dịch COVID-19 khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ. Những việc làm thiết thực của cả hệ thống chính trị, của các tổ chức xã hội và các nhà hảo tâm, trong việc hỗ trợ người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa vượt qua khó khăn để “không ai bị bỏ lại phía sau” đang làm cho mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, quan hệ giữa con người với con người nổi lên như một dấu son tươi màu. Thực tiễn thành quả cách mạng, đã chứng minh chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ta luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi bằng hai chữ “Đảng ta”. Đây là niềm vinh dự, tự hào lớn của Đảng mà không phải đảng chính trị nào trên thế giới cũng có được. Và cũng chính điều đó đã tạo nên sức mạnh để Đảng ta không ngừng lớn mạnh, trưởng thành và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc giành những thắng lợi to lớn.

Niềm tin của nhân dân ta đối với Đảng, với sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay là niềm tin đã được tôi luyện trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhân dân nguyện một lòng theo Đảng, Đảng một lòng, một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân thì Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác, chân lý đó đã được thực tiễn kiểm nghiệm và minh chứng hết sức hùng hồn, nhân dân không thể bị lung lạc bởi những luận điệu xuyên tạc, thổi phồng thiếu căn cứ của các thế lực thù địch, phản động.

 

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỐNG BỆNH GIÁO ĐIỀU CỦA CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


Tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong cán bộ, đảng viên; trong đó cần đấu tranh khắc phục bệnh giáo điều theo cách phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để việc học tập, rèn luyện theo phong cách thực tiễn của Người có hiệu quả cần thực hiện một số giải pháp sau:

Cần thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận nhằm nâng cao trình độ tư duy lý luận, chống giáo điều về lý luận, tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận. 

Tăng tính thực tiễn là gắn các tri thức lý luận với thực tiễn công tác, thực tiễn đất nước, làm cho thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác của mình. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận, nghĩa là học lý luận để phục vụ thực tiễn làm việc, từ đó khắc phục được bệnh giáo điều lý luận. Người cán bộ, đảng viên phải có thái độ đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập lý luận. Như vậy, thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận là quán triệt quan điểm thực tiễn để chống bệnh giáo điều trong học tập lý luận.

Cần vận dụng lý luận một cách sáng tạo và hiệu quả vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác.

Học tập lý luận cốt là vận dụng vào thực tiễn, phục vụ cải tạo thực tiễn, nếu không sẽ trở nên giáo điều về lý luận. Vận dụng ở đây không đơn giản là dùng những kiến thức lý luận đã học để áp dụng vào thực tế mà để phân tích, mổ xẻ thực tiễn. Phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác của bản thân mình và của Đảng, như vậy thì việc nghiên cứu, học tập, vận dụng lý luận mới có hiệu quả. Khi đem những kiến thức lý luận áp dụng vào thực tiễn phải phân tích những điều kiện cụ thể của thực tiễn để lựa chọn lý luận nào và kinh nghiệm thực tiễn nào vào cải tạo thực tiễn.

Thường xuyên tổng kết kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận, làm giàu tri thức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác “… công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”. Người nhấn mạnh: “… cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm”. Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy có nghĩa là làm cho lý luận được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”. Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới.

Phong cách thực tiễn là một trong những nét nổi bật trong hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong cách thực tiễn của Bác luôn dựa trên thực tiễn và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn Việt Nam để tiếp thu chọn lọc những gì hợp lý, đúng đắn và định hướng cho quá trình tìm ra hệ thống lý luận cũng như phương pháp cách mạng để giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đó là một phong cách hành động khoa học, lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó nghiên cứu và học tập phong cách thực tiễn của Người là rất cần thiết đối với mỗi người, bởi đó là phương thức góp phần loại bỏ căn bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên hiện nay./.

 

Ông Thanh mắng cháu

 

Ngày cuối tuần, ông Thanh đang chăm sóc cây cảnh thì người cháu họ đưa cậu con trai đến, nhờ ông xin cho cháu hoãn nghĩa vụ quân sự (NVQS) vì... nó sợ đi bộ đội vất vả!

 

    NHÌN RÕ NHỮNG THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG DỊCH BỆNH COVID- 19 ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

Lợi dụng chính những đau thương, mất mát không chỉ riêng Việt Nam mà cả thế giới đang phải gánh chịu trong cuộc chiến phòng, chống đại địch Covid-19, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục xuyên tạc, chống phá. Đó là những thủ đoạn dơ bẩn không thể chấp nhận được xét cả về phương diện chính trị, kinh tế và đạo đức, cần vạch trần, bác bỏ:

Thứ nhất, lợi dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhất là đợt bùng phát lần thứ tư đã gây nhiều thiệt hại về người và của, các thế lực thù địch vu khống rằng, nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do thể chế chính trị của Việt Nam. Theo họ, nếu nước ta sớm liên minh, liên kết với các nước tư bản giàu có, mạnh về tiềm lực y tế thì đã không xảy ra thảm họa đó; từ đây, họ quy kết rằng, đó là hệ lụy của chính thể độc đảng cai trị ở Việt Nam. Đây là cái nhìn phiến diện của những kẻ cố tình không hiểu tình hình Việt Nam, đi ngược lại quyền và lợi ích dân tộc; cố tình bóp méo, xuyên tạc sự thật, phủ nhận những thành quả phòng, chống dịch bệnh của Đảng, Nhà nước, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước, chính quyền với nhân dân, biện hộ cho những ý đồ đen tối của họ. Thực tiễn cho thấy, từ cuối năm 2019 đến nay, khi đại dịch Covid-19 bùng phát, hoành hành, khiến nhiều quốc gia trên thế giới và ngay cả những nước có tiềm lực kinh tế và hệ thống y tế được coi là hiện đại nhất cũng lâm vào cảnh lao đao. Đối với nước ta, ngay từ đầu, do đánh giá đúng tình hình và nhận thức rõ sự nguy hiểm của đại dịch, Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã đề ra chiến lược nhằm kiểm soát và tránh sự lây lan trên diện rộng. Với khẩu hiệu “chống dịch như chống giặc”, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của các lực lượng, sự ưu việt của hệ thống y tế từ Trung ương đến cơ sở, chúng ta đã kiểm soát tốt dịch bệnh, trở thành điểm sáng được bạn bè quốc tế và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá cao. Tuy nhiên, do Covid-19 là loại virus mới, với nhiều biến thể phức tạp, mức độ lây nhiễm trong cộng đồng nhanh, tỷ lệ tử vong ở người nhiễm rất cao… tạo nhiều phát sinh, hệ lụy mới, chưa hề có trong tiền lệ. Trước thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương phòng, chống dịch với tinh thần cao nhất, kịp thời và quyết liệt nhất theo phương châm: vừa làm vừa rút kinh nghiệm, không cầu toàn, lấy bảo vệ tính mạng nhân dân là trên hết, trước hết. Mặc dù còn nhiều khó khăn, song với nỗ lực cao, Việt Nam đã tạo nguồn vaccine tiêm miễn phí cho toàn dân. Theo số liệu trên Cổng thông tin tiêm chủng COVID-19 đến 15h chiều ngày 11/1, cả nước tiêm hơn 162,2 triệu liều vaccine phòng COVID-19; Đã tiêm hơn 11,8 triệu mũi 3 vaccine phòng COVID-19. Đến ngày 10/1, số liều vaccine phòng COVID-19 tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên là 147.346.994 liều, trong đó có 70.338.486 mũi 1; 65.183.660 mũi 2; 1.295.563 mũi 3 (vaccine Abdala); 3.008.655 liều bổ sung và 7.520.630 liều nhắc lại. Tỷ lệ bao phủ ít nhất 01 liều vaccine là 100% và tỷ lệ tiêm đủ liều cơ bản là 92,6% dân số từ 18 tuổi trở lên. Về triển khai tiêm vaccine phòng COVID-19 cho đối tượng từ 12-17 tuổi, báo cáo của Bộ Y tế cho biết, các tỉnh, thành phố đã triển khai tiêm 13.930.813 liều, trong đó có 7.953.138 mũi 1 và 5.977.675 mũi 2. Tỷ lệ bao phủ ít nhất 01 liều vaccine là 89,2% và tỷ lệ bao phủ đủ liều cơ bản là 67,0% dân số từ 12 -17 tuổi. Cùng với đó, Việt Nam sẵn sàng hỗ trợ trang thiết bị, vật tư y tế cho các nước, đóng góp kinh phí vào quỹ phòng, chống dịch Covid-19 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO); thể hiện trách nhiệm, tinh thần nhân văn cao cả của Đảng và Nhà nước ta đối với quốc tế.

Với mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”, trong các đợt phòng, chống đại dịch Covid-19, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết với các gói hỗ trợ lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng để giúp đỡ những người bị ảnh hưởng bởi đại dịch. Đặc biệt, đợt bùng phát dịch lần thứ tư, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 68/NĐ-CP “Về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19” và Quyết định 23 hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động (gói hỗ trợ lần 2) của Chính phủ trị giá 26 nghìn tỷ đồng đã được triển khai nhanh chóng; các thủ tục được thực hiện thông thoáng, nhằm góp phần ổn định đời sống nhân dân. Điều đó, khẳng định tính ưu việt của chế độ chính trị ở Việt Nam, mà không thế lực nào có thể xuyên tạc.

Thứ hai, vu cáo việc thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội, tổ chức các khu cách ly tập trung (F0, F1) là vi phạm nhân quyền. Có thể khẳng định rằng, việc tổ chức tốt các khu cách ly tập trung đã góp phần quan trọng kiểm soát nguồn lây, kịp thời phát hiện và huy động tối đa mọi nguồn lực cứu chữa bệnh nhân nặng, giảm thiểu đến mức thấp nhất các trường hợp tử vong. Đây là một nỗ lực rất lớn, thể hiện trách nhiệm chính trị cao của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị trước nhân dân. Thế nhưng, các thế lực thù địch trong và ngoài nước lại cố tình phủ nhận mục đích nhân đạo, nhân văn của biện pháp này để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Đặc biệt, trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, Chính phủ đã quyết định thực hiện giãn cách ở mức độ cao hơn tại các địa phương này. Nhân đó, một số báo, đài, như: RFA, RFI, BBC đã có bài viết chỉ trích cách thức, biện pháp phòng, chống dịch của Việt Nam. Họ cho rằng, việc thực hiện siết chặt giãn cách ở Thành phố Hồ Chí Minh là “biện pháp sai lầm, phi khoa học”, quyết định này sẽ là thảm họa; rằng, không thể coi “chống dịch như chống giặc” bởi virus lan truyền trong không khí, do vậy việc chốt chặt, lập hàng rào thép gai là để “tra tấn dân”, v.v. Từ đó, kêu gọi, kích động người dân, nhất là những người trẻ tuổi có nhận thức chính trị hạn chế, người có hoàn cảnh khó khăn chống đối, không tin vào những biện pháp phòng, chống dịch bệnh của chính quyền.

Thực tế đã chứng minh, trong khi chưa có đủ nguồn vaccine để tiêm phủ diện rộng cho người dân, việc áp dụng giãn cách xã hội trong phòng, chống dịch bệnh vừa qua của Việt Nam là một trong những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, được nhiều nước trên thế giới đánh giá cao và áp dụng quyết liệt vào tình hình cụ thể, mang lại hiệu quả thiết thực ở từng cấp độ dịch nhất định. Đó hoàn toàn là các giải pháp vì sức khỏe, sự an toàn của nhân dân, chứ không phải là biện pháp “hành dân”, “tra tấn nhân dân” như các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc.

Thứ ba, xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhân viên y tế, cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an tham gia phòng, chống dịch. Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành thống nhất của Chính phủ, cùng với các cấp, ngành và toàn dân, các lực lượng: Y tế, Quân đội, Công an,… đã không quản ngại gian khổ hy sinh, xung kích, đi đầu trong phòng, chống dịch, vì sức khỏe và hạnh phúc của nhân dân, để lại biết bao hình ảnh cao đẹp, làm lay động lòng người cả nước. Vậy mà, trên không gian mạng, vẫn có người cố tình bôi nhọ, xuyên tạc những hình ảnh đẹp đẽ ấy, đáng buồn hơn họ còn cho rằng đưa hình ảnh những người lính, những y, bác sĩ cầm từng bao gạo, túi thực phẩm, phương tiện, vật tư y tế, thuốc thang thăm khám phục vụ điều trị tại nhà lên các phương tiện thông tin đại chúng chẳng qua chỉ để làm “màu”, để “quảng cáo”. Nguy hại hơn, sau khi Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị tăng cường các lực lượng tham gia phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố phía Nam. Ngay lập tức trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện những bài viết xuyên tạc cho rằng, nhiệm vụ của Quân đội là bảo vệ biên giới, chủ quyền lãnh thổ, chứ không phải ở sâu trong nội địa để trấn áp dân? Tráo trở hơn, tổ chức khủng bố Việt Tân còn cắt ghép nhiều hình ảnh xe bọc thép cùng với những người lính cầm súng tung lên mạng để vu cáo “Hà Nội huy động lực lượng Quân đội vào Sài Gòn để dẹp loạn nếu dân đói khổ làm loạn; rằng, Quân đội hiện diện khắp đường phố Sài Gòn là để răn đe dân chứ không phải chống dịch…”. Đây là những luận điệu không thể chấp nhận được của những người đang cố tình hiểu sai chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, cố tình đổi trắng thay đen, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, qua đó phá hoại công cuộc phòng, chống dịch của đất nước, phục vụ cho những mưu đồ đen tối của chúng. Cần thấy rằng, trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch vừa qua, hình ảnh đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế, đội ngũ tình nguyện viên trong bộ Blu trắng một lần nữa cho thấy, đó không chỉ hình ảnh cao đẹp của biểu tượng “Lương y kiêm từ mẫu”, mà đó còn là truyền thống nhân ái, nhân văn, thương người như thể thương thân của dân tộc Việt Nam. Họ cũng là con người, trong số họ phần lớn đã có gia đình, nhưng vượt qua tất cả, đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế, những người tình nguyện đã không khoanh tay ngồi nhìn sự hoành hành của dịch bệnh, không thể bỏ mặc sức khỏe, tính mạng của cộng đồng đang bị đe dọa và cận kề bên lưỡi hái tử thần; họ đã tình nguyện cùng các lực lượng lao vào tâm dịch, nỗ lực ngày đêm không quản khó khăn vất vả, hiểm nguy với tâm niệm nhanh chóng đẩy lùi dịch bệnh, đưa lại cuộc sống bình yên cho người dân. Trong đó, đã có người mãi mãi nằm xuống khi chưa nhìn thấy những nỗ lực phi thường với những thành quả của mình và cộng đồng để lại. Đáng lý họ phải được tôn vinh, được trân trọng về nhân cách và phẩm giá cao đẹp, nhưng đáng buồn thay, một số kẻ cả ở trong nước, ngoài nước và các tổ chức phản động như Việt Tân,... lại cố tình xuyên tạc về những hình ảnh cao đẹp đó bằng những giọng điệu hết sức vô cảm; rằng là bất tài, là lợi dụng dịch bệnh để trục lợi, v.v.

Cùng với hình ảnh các chiến sĩ mặc Blu trắng, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an có mặt trên khắp mọi miền Tổ quốc từ biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, đến các ngõ phố trong vùng tâm dịch cùng với ngành y tế và cấp ủy, chính quyền các cấp tham gia phòng, chống dịch bệnh, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Đặc biệt, trong đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư, lực lượng Quân đội, Công an đã cùng với lực lượng y bác sĩ và cả hệ thống chính trị phải gồng mình, nỗ lực để giúp các địa phương đẩy lùi dịch bệnh, đảm bảo cho người dân “không ai bị đói, bị rét”, “không ai bị bỏ lại phía sau”. Trong lúc nguy nan nhất, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ không quản khó khăn, gian khổ, sẵn sàng hy sinh tính mạng trên tuyến đầu phòng, chống dịch bệnh, vừa đảm nhiệm mua lương thực, thực phẩm mang đến cho từng hộ dân; chuyển tro cốt những người xấu số vì dịch bệnh đến tận tay gia đình người quá cố, thật hiếm có một quân đội nào trên thế giới có được những hình ảnh đẹp đẽ đó.

Hơn thế nữa, sự có mặt của Quân đội, Công an, trên thực tế đã góp phần nâng cao hiệu quả của các biện pháp giãn cách xã hội, bảo đảm cho người dân tuân thủ và chấp hành tốt hơn các quy định phòng, chống dịch; đồng thời, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, điều tiết và cung cấp lương thực, thực phẩm để người dân an tâm chống dịch, sớm đưa cuộc sống trở về trạng thái bình thường mới. Đó là sự thật hiển nhiên không ai có thể vu khống, bịa đặt.

Thứ tư, vu cáo Việt Nam không đủ nguồn lực dập dịch, phải kêu gọi sự đóng góp của nhân dân, mà về thực chất là “bòn rút của nhân dân”. Nhận thấy ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, đã làm cho bức tranh kinh tế - xã hội kém khởi sắc, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình không hiểu, tìm mọi cách để xuyên tạc, bôi đen bức tranh kinh tế - xã hội của đất nước ta dưới các chiêu bài “thật giả lẫn lộn” nhằm lừa gạt dư luận, lôi kéo, kích động những người nhẹ dạ cả tin, các phần tử chống đối phủ nhận những nỗ lực của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong phòng, chống dịch bệnh, phục hồi, phát triển kinh tế. Đặc biệt, lợi dụng cuộc vận động ủng hộ xây dựng quỹ phòng, chống Covid-19 do Chính phủ phát động, các tổ chức phản động, như: Việt Tân, báo Tiếng dân,… ra sức nhào nặn, bóp méo cuộc vận động đó, cho rằng: nền kinh tế Việt Nam kém phát triển, lại bị ảnh hưởng của đại dịch nên không đủ nguồn lực chống dịch phải vận động, quyên góp của nhân dân. Nguy hại hơn khi họ cho rằng, cuộc vận động chỉ là hình thức, còn về thực chất là “bòn rút” của nhân dân, vắt kiệt sức dân, v.v. Đây hoàn toàn là những điều bịa đặt. Vì, vaccine phòng Covid-19 thuộc Chương trình tiêm chủng mở rộng, tiêm chủng chống dịch được ngân sách nhà nước đảm bảo nên người dân không phải trả chi phí. Theo Nghị quyết số 21/NQ-CP, kinh phí tiêm vaccine được lấy từ các nguồn: ngân sách nhà nước; nguồn viện trợ, tài trợ, hỗ trợ của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước; nguồn do các tổ chức, cá nhân sử dụng vaccine xin tự nguyện chi trả. Việc Chính phủ xây dựng “Quỹ vaccine” là nhằm huy động sự đóng góp tự nguyện của người dân, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội chia sẻ gánh nặng với Nhà nước, chứ không phải “bòn rút” như các luận điệu xuyên tạc trên. Hiện nay, quỹ vaccine được Chính phủ quản lý, sử dụng hiệu quả, minh bạch, được nhân dân tin tưởng.

Nhìn lại kết quả công tác phòng, chống dịch Covid-19 thời gian qua ở Việt Nam cho thấy, điểm mấu chốt tạo thành sức mạnh đẩy lùi dịch bệnh chính là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ và chính quyền các cấp; được nhân dân chung sức đồng lòng. Việt Nam đã áp dụng biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 và phát triển kinh tế thực hiện “mục tiêu kép”, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, khôi phục và ổn định thị trường lao động... được nhân dân và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Thực tế đó, hoàn toàn bác bỏ những luận điệu bịa đặt, xuyên tạc, phủ nhận thành quả phòng, chống dịch bệnh Covid-19 của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta./.

 

Đừng vội mừng chỉ với vài chuyến hàng, sản phẩm tới châu Âu

Tại hội nghị tổng kết công tác năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022 ngành công thương ngày 9-1. Chia sẻ được ông Lê Minh Hoan, bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đưa ra khuyến nghị: Đừng vội mừng chỉ với vài chuyến hàng, sản phẩm tới châu Âu... vì chủ yếu là tự phát. Theo ông Hoan, để có ngành nông nghiệp sinh thái, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, rất cần hai bộ phối hợp để ban hành cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp sản xuất phân bón vô cơ chuyển dần sang sản xuất vật tư nông nghiệp sinh học. Đồng thời tận dụng hiệu quả các FTA, xây dựng đề án xuất khẩu các thị trường có tiềm năng, chuẩn hóa vùng nguyên liệu theo kỹ thuật từng thị trường; lập các liên minh xuất khẩu giữa doanh nghiệp và địa phương có vùng nguyên liệu. Chỉ ra những bất cập trong xuất khẩu nông sản vừa qua, ông Hoan chia sẻ nỗi day dứt, khi các đại sứ nói đừng vội mừng khi vài chuyến hàng, vài sản phẩm tới thị trường châu Âu được truyền thông rộng rãi. Bởi thực tế, những chuyến hàng này vẫn mang tính chất tự phát, chủ yếu nằm ở gian hàng người gốc Á, chứ chưa được chuẩn hóa, chưa vào hệ thống phân phối lớn nước ngoài. "Các doanh nghiệp đối tác, đại sứ ở châu Âu nói rằng, cần chuyên nghiệp hóa, có đề án hẳn hoi từ xúc tiến thị trường, văn hóa thị trường. Bởi thị trường 27 nước châu Âu không có sự đồng nhất về văn hóa tiêu dùng… Do đó, nếu tiếp tục thế này, dù năm nay nông nghiệp đạt gần 49 tỉ USD nhưng chưa nói lên điều gì về bền vững trong xuất khẩu, nếu không thành lập các liên minh xuất khẩu cho từng thị trường" - ông Hoan bày tỏ. Ngoài ra, ông cũng đề nghị hai bộ cùng phối hợp xây dựng phát triển thị trường nông sản trong nước, bởi xuất khẩu được đẩy mạnh nhưng lại chưa được chú trọng thị trường 100 triệu dân. Theo ông Hoan, làm sao thị trường trong nước không bị thả nổi, mà phải chuẩn hóa, minh bạch hóa, chuyên nghiệp hóa, vừa mở rộng tổng cầu, vừa giảm rủi ro khi thị trường xuất khẩu bị ách tắc vì lý do bất khả kháng. Thông tin về hoạt động của ngành công thương năm 2021, Thứ trưởng Bộ Công thương Trần Quốc Khánh cho hay sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn duy trì và giữ được nhịp độ tăng trưởng tích cực. Quy mô sản xuất công nghiệp tiếp tục được mở rộng, tăng 4,82%, công nghiệp chế biến chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ chốt, chỉ số tồn kho thấp. Tuy vậy, hoạt động sản xuất công nghiệp gặp khó khăn hơn nhiều so với năm 2020 do dịch COVID-19 xâm nhập các khu công nghiệp, khu chế xuất. Một số địa phương không duy trì được tăng trưởng công nghiệp, công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu. Hoạt động xuất nhập khẩu đã có sự tăng trưởng ngoạn mục với tổng kim ngạch là 668,5 tỉ USD, quy mô các mặt hàng xuất khẩu tiếp tục được mở rộng, thị trường xuất khẩu gia tăng. Cán cân thương mại tiếp tục ghi nhận xuất siêu khoảng 4 tỉ USD. Song điều đáng chú ý là xuất khẩu tăng mạnh nhưng mức độ phụ thuộc vào khu vực FDI, ngành chủ yếu cạnh tranh về giá. Nhận diện những khó khăn, thách thức của ngành năm 2022, ông Khánh cho biết sẽ bám sát nghị quyết liên quan đến phát triển công nghiệp, thương mại; rà soát sửa đổi các chính sách còn bất cập, cơ cấu lại ngành công thương dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khai thác hiệu quả các FTA và thúc đẩy phát triển thương mại nội địa...

Thứ Ba, 11 tháng 1, 2022

Chủ động phòng ngừa suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống và tiêu cực của cán bộ, đảng viên tại chi bộ, cơ quan, đơn vị

Tình trạng suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ được Đảng ta chỉ ra và trở thành một trong những nguy cơ lớn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Và, nguy hiểm hơn, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh là: “Sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, ... nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ hoạ theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc ... có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”. Nguyên nhân chủ quan chủ yếu của tình hình trên được Tổng Bí thư Đảng ta chỉ rõ: Trước hết, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân. Nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm. Việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước không nghiêm. Quản lý cán bộ, đảng viên còn lỏng lẻo. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi không nghiêm túc; chưa phát huy đầy đủ, hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong việc giám sát, phản biện, góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Để khắc phục tình hình trên cũng như chủ động phòng ngừa, xử lý kịp thời những biểu hiện tiêu cực của cán bộ, đảng viên thì không nơi nào tốt hơn chính là chi bộ và cơ quan, đơn vị. Muốn vậy, các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị cần quyết liệt thực hiện đồng bộ các giái pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, Đại hội khóa XIII của Đảng và kết luận số 21-KL/TW, ngày 25 tháng 10 năm 2021 của Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đề ra, trong đó tập trung tạo chuyển biến mạnh mẽ trên thực tế các nội dung, giải pháp chủ yếu sau: - Thứ nhất, các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cách mạng “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, thông qua tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị và thực hiện Chuyên đề toàn khóa “về Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, trong đó coi trọng làm theo, nói đi đôi với hành động. - Thứ hai, thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình gắn với xử lý kịp thời cán bộ, đảng viên vi phạm đạo đức, lối sống, phong cách làm việc. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải có ý thức tự giác “tự soi”, “tự sửa” để uốn nắn những lệch lạc trong nhận thức và hành động; kịp thời phát hiện, ngăn chặn các biểu hiện không chuẩn mực của cán bộ, đảng viên trong quan hệ với công việc, với những người xung quanh và với chính mình. - Thứ ba, cấp ủy, chi bộ, lãnh đạo cơ quan, đơn vị phải quản lý chặt chẽ tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên thuộc quyền quản lý. Đây là một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, được thực hiện trước hết ở các tổ chức cơ sở đảng. Quản lý đảng viên có nội dung toàn diện, bao gồm nội dung chủ yếu sau: Về tư tưởng chính trị của đảng viên, thể hiện ở lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị, ý thức, thái độ học tập lý luận chính trị, nghị quyết của Đảng; nói và làm theo nghị quyết của Đảng, pháp luật Nhà nước; có ý thức cảnh giác, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Về phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên, thể hiện ở ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống theo tư tưởng Hồ Chí Minh; về thực hiện quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm; về nêu gương thực hiện phương châm “nói đi đôi với làm”, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, vụ lợi. Về tổ chức, kỷ luật, thể hiện ở việc chấp hành quy định về sinh hoạt đảng; về ý thức tự giác, thẳng thắn, trung thực, khách quan, công tâm trong tự phê bình và phê bình cũng như trong thực thi công vụ. Về mối quan hệ với nhân dân, thể hiện ở khả năng tập hợp nhân dân thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của địa phương, cơ quan, đơn vị; giữ mối liên hệ thường xuyên với cấp ủy địa phương nơi cư trú. Về kết quả, chất lượng thực hiện chức trách, nhiệm vụ do tổ chức đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị phân công. - Thứ Bốn, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, kiểm soát việc thực thi nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là người có chức, có quyền. Quyền lực được xem là khả năng của cá nhân hay tổ chức có thể buộc các cá nhân hay tổ chức khác phải phục tùng ý chí của mình thông qua các phương tiện, phương thức nào đó như: uy tín, quyền hành, cơ chế, chính sách, quy định, thậm chí bắt buộc thực hiện. Ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mọi quyền lực đều thuộc nhân dân và được Việc sử dụng quyền lực, dù là quyền lực của tổ chức hay là của cá nhân, đều phải được kiểm soát. Ở đâu có quyền lực thì ở đó có yêu cầu kiểm soát quyền lực (tức thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc vượt quá quyền lực được trao trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình). Vì vậy, việc kiểm soát quyền lực là đòi hỏi khách quan, được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ theo một cơ chế nhất định. Kiểm soát quyền lực không có “vùng cấm”, không loại trừ bất cứ đối tượng nào, ở cấp nào, cương vị nào. Nếu lạm quyền, lộng quyền hay lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm” đều phải được kiểm tra, thanh tra, điều tra, xem xét, kết luận và xử lý nghiêm minh theo kỷ luật của Đảng và xử lý hoặc truy tố theo pháp luật của Nhà nước, thực thi thông qua hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên, dưới sự kiểm soát của nhân dân nhằm bảo đảm quyền lực đó hoàn toàn phục vụ lợi ích của nhân dân.

GIỮ GÌN THANH DANH VÀ LUẬT NHÂN QUẢ.!

 

Gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhiều đến việc giữ gìn thanh danh, danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất. Điều này rất gần với luật “nhân - quả”. 

Luật “nhân - quả trở thành lý thuyết căn bản, là chính kiến quan trọng trong văn hóa phương Đông. Nghĩ rộng ra, đó là chân lý hiển nhiên, luôn đúng trong cả quá khứ, hiện tại tương lai. 

Trong dân gian cũng thường có câu “gieo nhân nào gặt quả nấy” hoặc “ác giả ác báo”, “ở hiền thì gặp lành” và “gieo gió ắt sẽ gặt bão” hay “nếu muốn biết quá khứ hãy nhìn hiện tại. Nếu muốn biết tương lai ra sao thì hiện tại sẽ trả lời” là nói tới luật “nhân - quả”.

Trước kia người ta thường nghĩ “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, hay “đời trước gieo nhân nào đời sau gặt quả nấy”, nhưng nhiều khi cũng không phải đợi lâu đến thế mà nó có tác động ngay trong cuộc sống hiện tại, không cần đợi đến đời sau. 

Đã nói “nhân - quả” là quy luật phổ biến của vũ trụ thì có lúc nhanh, lúc chậm, lúc nổ ra tức thì.

Các vụ án mà gần đây mà Tổng Bí thư là người “nhóm lò” càng thấy rõ điều đó.

Nhìn vào những vụ án mà cựu Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung và một loạt các vụ án khác đã, đang xảy ra càng rõ luật “của vũ trụ đất trời” này luôn đúng.

Quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực phải được sử dụng đúng nơi đúng chỗ và đúng người. Trao quyền lực cho những kẻ chỉ biết mình mà không biết người thì trở thành kẻ phá hoại. Quyền lực trong tay không thể tùy tiện ban phát cho phe cánh, cho người thân.

“Lò” của Tổng Bí thư bắt đầu bằng đường dây sử dụng người thân của ông Vũ Huy Hoàng. Đây là vấn đề bổ nhiệm cán bộ, bổ nhiệm “tay chân”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

Trường hợp Trịnh Xuân Thanh cũng chỉ là mở đầu cho hàng loạt những sai phạm mà thời gian qua các cơ quan tố tụng đã đem ra xét xử. Ông Vũ Huy Hoàng lợi dụng quyền lực đến mức như Viện kiểm sát nhân dân nêu: “trong 10 ngày cuối cùng làm bộ trưởng đã duyệt giá cổ phần Sabeco thấp hơn thực tế, ép thoái vốn cho tư nhân”…Họ lợi dụng tối đa quyền lực trong tay để phục vụ cái tôi, phục vụ “cánh hẩu”, phục vụ người thân.

Trong nhiều vụ án liên quan đến ông Đinh La Thăng cũng cho thấy rõ luật nhân quả lập tức được thực thi. Những sai phạm của ông Đinh La Thăng tòa án tuyên đã rõ, ai cũng thấy. Nhưng có một việc mà tòa không tuyên, không ai nói chính là trù dập những người đã vạch ra cái sai của mình. Nếu như ông Đinh La Thăng biết nhận ra những người tố cáo mình, những người “có tiếng nói khác mình” thì không có những việc làm sai tiếp theo dẫn đến tù tội.

Chỉ đơn cử những vụ việc trên để thấy cái quy luật nó vô tư và khắc nghiệt đến nhường nào, không từ một ai. Cái sai có thể phát hiện sớm, cũng có cái sai chưa phát hiện ra hay dẫu không phát hiện ra thì quy luật nhân – quả vẫn có tác dụng. Nó làm cho bản thân người gây ra “nhân” không bao giờ bình yên, không bao giờ được sống thanh thản, nó bào mòn tình cảm lý trí, tác động đến tinh thần… và thực tế nhiều người sinh ra bệnh tật hiểm nghèo hoặc ít nhất cũng tổn hao đến sức khỏe. 

Đừng nghĩ mọi việc mình làm sai đều sẽ trôi qua. Ông bà ta thường nói “trời có mắt” chính là ở đó. Lưới trời lồng lồng không ai có thể trốn thoát những điều làm ác, làm sai, hại dân, hại nước..!

CHIẾN TRANH TÂM LÝ TRÊN MẠNG - VŨ KHÍ HỦY DIỆT THỜI ĐẠI INTERNET

 

Chiến tranh tâm lý từ xa xưa đã được sử dụng như một phương thức tác chiến hiệu quả. Lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, hiện nay, nhiều quốc gia coi chiến tranh tâm lý là mũi nhọn chiến lược có thể chọc thủng bất cứ “bức tường thép” phòng thủ nào của đối phương mà không phải sử dụng đến quân đội, vũ khí. Do đó, Quân đội ta cần tăng cường những giải pháp chủ động ngăn chặn những tác động của chiến tranh tâm lý.

Nguy hại từ “viên đạn” vô hình

Theo nghĩa rộng, chiến tranh tâm lý là sự kế tục của chính trị và là phương tiện của chính trị; là cách thức, phương pháp đấu tranh tư tưởng của các bên có mâu thuẫn về tư tưởng. Theo nghĩa hẹp, chiến tranh tâm lý là các thủ đoạn của đấu tranh tư tưởng, hay còn được gọi là tâm lý chiến thông qua sử dụng các biện pháp, cách thức tác động vào tâm lý con người, xã hội của đối phương; nhằm tạo ra những xung đột tư tưởng, từ đó gây mất đoàn kết, khủng hoảng và xung đột nội bộ, suy giảm tinh thần chiến đấu, dẫn đến phe cánh, bè phái, nội chiến, rồi tự tan rã. 

Với gần 5 tỷ thiết bị thông tin liên lạc có kết nối internet trên toàn thế giới hiện nay, cuộc chiến trên không gian mạng đã được định nghĩa là “chiến trường thứ năm”. Lý do để các nước sử dụng triệt để chiến tranh tâm lý là vì sau khi nghiên cứu các biểu hiện tâm lý con người và xã hội, các chuyên gia quân sự cho rằng, nơi dễ bị tổn thương nhất là tâm lý con người và xã hội nên đánh vào đây chẳng khác nào đánh vào “tiền duyên phòng ngự” trong trận địa tư tưởng. Một lý do khiến nhiều nước trên thế giới luôn coi chiến tranh tâm lý là mũi nhọn khi thực hiện mục đích hạ bệ, lật đổ chế độ chính trị, chính phủ của một nước khác là bởi phương thức này khiến đối phương khó “điểm mặt, chỉ tên” kẻ thù một cách chính xác; tốn kém không nhiều về kinh tế, không đổ máu binh sĩ trên chiến trường và không có sự tàn phá của bom đạn như chiến tranh xâm lược truyền thống. 

Chiến tranh tâm lý diễn ra ở nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quân sự, ngoại giao, khoa học-công nghệ, truyền thông, giáo dục, thể thao... Trong thời bình, chiến tranh tâm lý trở thành phương tiện quan trọng để tiêu diệt chính phủ của quốc gia có chủ quyền hoặc chế độ chính trị có xu hướng đi ngược lại mục tiêu “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”.

 “Đạn” của chiến tranh tâm lý là thông tin, với nhiều loại “đạn” được sử dụng ở từng thời điểm khác nhau. Nếu là tuyên truyền công khai thì sẽ có “thông tin trắng”. Còn tuyên truyền bí mật lại có “thông tin đen”, “thông tin xám”, “thông tin hồng”... Nhằm thực hiện triệt để 3 chức năng chính: Một là, đánh lạc phương hướng chính trị của đối phương thông qua việc cung cấp nhiều thông tin sai lệch cho cá nhân và cộng đồng, làm biến dạng chân lý, mang lại cho con người “bán chân lý” (thực thực hư hư), tạo nên những ảo tưởng xa lạ. Hai là, phá hoại đạo đức, lối sống của quân đội và nhân dân phía đối lập, khêu gợi sự thất vọng. Ba là, gieo cấy vào nhận thức của quần chúng các quan điểm và giá trị tinh thần theo mục đích của bên tham chiến. Vì là cuộc chiến vô hình, không giới tuyến, không bộc lộ trực diện ý đồ, khó xác định đối tượng và thông qua việc sử dụng thông tin ở các thời điểm khác nhau nên chiến tranh tâm lý trở thành cuộc chiến khó nhận diện và phòng, chống.         

Cần có lực lượng chuẩn bị tâm lý cho quân nhân

Trên thực tế, nhiều quốc gia đã xây dựng lực lượng tâm lý chiến trên internet và sử dụng hiệu quả đội quân này phục vụ mục tiêu chiến lược của mỗi nước. NATO đã thành lập Trung tâm Nghiên cứu hợp tác quốc phòng trên mạng (CCDCE), đặt trụ sở tại Tallinn (thủ đô của Estonia) và thiết lập các kết nối giữa hệ thống mạng quân đội với hệ thống mạng dân dụng. Thành viên gồm những kỹ sư và hacker giỏi về thông tin mạng.

Quân đội nhân dân Việt Nam ngay từ trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã nhận thấy tầm quan trọng và dành sự quan tâm đặc biệt cho tâm lý học quân sự. Cuối năm 1969, Ban Nghiên cứu tâm lý học quân sự được thành lập. Để chuẩn bị tốt hơn nữa nhân tố con người trong hoạt động quân sự, ngày 23-12-1976, theo Quyết định số 310/QĐTM của Bộ Tổng Tham mưu, Khoa Tâm lý-Giáo dục học quân sự, Học viện Chính trị được thành lập. Đến tháng 2-1979, đồng chí Trung tá Hoàng Linh, Trưởng phòng Nghiên cứu tâm lý của Tổng cục Chính trị được điều động về giữ chức Chủ nhiệm khoa và toàn bộ bộ phận nghiên cứu của Tổng cục Chính trị được tăng cường về cho khoa. Trải qua hơn 45 năm xây dựng và phát triển, Khoa Tâm lý học quân sự đã có sự phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Tâm lý học quân sự cung cấp cơ sở khoa học cho xây dựng, phát huy nhân tố con người, trực tiếp góp phần xây dựng tiềm lực chính trị-tinh thần cho quân đội, nhất là chuẩn bị tâm lý vững vàng cho quân nhân, hạn chế những tác hại từ các thông tin xấu độc.

Chiến tranh tâm lý thời nào cũng có, nhưng trong thời đại internet phát triển, chiến trường chiến tranh tâm lý mang một diện mạo mới, được mở rộng về quy mô và phát huy tối đa uy lực của nó. Để bộ đội có sức đề kháng tốt, tạo ra sự miễn dịch tâm lý, đòi hỏi rất cần có lực lượng chuẩn bị tâm lý cho quân nhân trước tác động của chiến tranh tâm lý hiện nay.

HỌP BẤT THƯỜNG – SỰ ĐỔI MỚI ĐẶC BIỆT CỦA QUỐC HỘI KHÓA XV


Chiều 11/1, kỳ họp bất thường đầu tiên của Quốc hội đã bế mạc sau hơn 4 ngày làm việc. Đây là lần đầu tiên Quốc hội tổ chức kỳ họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Nhiều đại biểu Quốc hội thể hiện sự đồng tình với đánh giá của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, đó là những kỳ họp “bất thường” trở thành hoạt động “bình thường” của Quốc hội nhằm đáp ứng kịp thời đòi hỏi cấp bách của thực tiễn.

Đại biểu Nguyễn Anh Trí (Hà Nội) cho biết, đây là một sự đổi mới đặc biệt nhất của Quốc hội khóa XV. Quốc hội họp bản chất là giải quyết những vấn đề của thực tiễn đề ra, càng gần với dân, càng sát với nguyện vọng của cử tri và càng cụ thể thì càng hiệu quả, ích lợi.

“Tại kỳ họp này, đại biểu Quốc hội được tham gia một cách hữu hiệu, kịp thời với những vấn đề của xã hội, hơi thở của cuộc sống. Nội dung chương trình thực sự cấp thiết nên cần phải có kỳ họp khẩn cấp này. Đây là một nhìn nhận rất đúng, rất trúng, rất kịp thời và khẳng định sự quyết liệt, quyết tâm và đồng hành cùng với nhân dân, cùng với cử tri để giải quyết vấn đề cấp bách của đất nước” - đại biểu  Nguyễn Anh Trí chia sẻ.

Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) đánh giá những nội dung được đưa ra bàn tại kỳ họp bất thường lần này là cần thiết, quan trọng, mang ý nghĩa nhân văn được đông đảo người dân và cử tri cả nước đồng tình ủng hộ.

Đại biểu Hòa nhận thấy, mặc dù thời gian diễn ra chỉ có 4,5 ngày làm việc chính thức nhưng Quốc hội đã làm việc rất nghiêm túc, khẩn trương. Trong thời gian diễn ra kỳ họp bất thường này, đặc biệt là thời gian thảo luận trực tuyến, các đại biểu Quốc hội rất tích cực tham gia, thể hiện thái độ và tinh thần trách nhiệm rất cao của người đại biểu đại diện cho tiếng nói của đông đảo cử tri.  

Đại biểu Bùi Hoài Sơn, Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa - Giáo dục của Quốc hội cho rằng, mặc dù là kỳ họp bất thường, diễn ra trong thời gian rất ngắn nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng để đáp ứng được những nhu cầu cấp thiết của cuộc sống, nhất là trong bối cảnh đất nước đang trong giai đoạn hết sức đặc biệt.

Vì vậy, cách thức tổ chức phiên họp đặc biệt nhưng chúng ta cũng đã xử lý các vấn đề đặc biệt và điều quan trọng là bắt kịp, giải quyết được những vấn đề thực tiễn cuộc sống; Đồng thời đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng của cử tri cả nước, giúp chúng ta xử lý được những vấn đề để thúc đẩy sự phát triển của đất nước nhanh chóng trong thời gian sắp tới.

“Chúng ta kỳ vọng rằng là những quyết sách đưa ra tại kỳ họp này đáp ứng kịp thời trong thực tiễn cuộc sống, để thích ứng linh hoạt và an toàn trong cuộc sống sau một giai đoạn dịch bệnh hết sức nguy hiểm, chúng ta có được những giải pháp phù hợp; Từ đó giúp chúng ta có được niềm tin vững chắc vào những chính sách của Đảng và Nhà nước nước và có những kế hoạch hết sức cụ thể và phù hợp, giúp nhanh chóng vượt qua đại dịch này và phát triển đất nước”- đại biểu Bùi Hoài Sơn cho biết.

Theo đại biểu Bùi Hoài Sơn, đây là cuộc họp bất thường đầu tiên trong năm, là kỳ họp bất thường đầu tiên trong lịch sử. Chính tinh thần đổi mới của Quốc hội, sự quyết tâm và quyết liệt của các cơ quan Quốc hội đó cho thấy rằng Quốc hội của chúng ta thực sự đã đáp ứng sự đổi mới, thực sự đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng của nhân dân và theo sát những diễn biến của xã hội, Quốc hội thực sự là Quốc hội của dân do dân vì dân.

Nhấn mạnh việc Quốc hội xem xét để thảo luận thông qua một dự án luật sửa nhiều luật lần này có ý nghĩa rất lớn, đại biểu Phan Đức Hiếu (Thái Bình) cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, do tác động của dịch Covid-19, công tác quản trị quốc gia buộc phải thay đổi và phải theo một đòi hỏi mới. Đó là chúng ta phải quyết định nhanh hơn, quyết định các vấn đề khó hơn và quyết định các vấn đề tổng thể hơn, đòi hỏi kịp thời hơn nên việc Quốc hội lần này xem xét để thông qua tại một kỳ họp một luật sửa nhiều luật là một phản ứng phù hợp và đáp ứng yêu cầu đòi hỏi trong bối cảnh mới về cải cách thể chế.

Đại biểu Phan Đức Hiếu cũng đánh giá cao ý nghĩa của Dự án luật sửa nhiều luật lần này ở chỗ đã thể hiện hành động quyết liệt để tháo gỡ những khó khăn, những vướng mắc, những rào cản cho sản xuất kinh doanh để thúc đẩy phát triển kinh tế và nó là điều bắt buộc, cần thiết để đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là cải cách thể chế và điều hành kinh tế trong bối cảnh hiện nay. Đại biểu tin tưởng chúng ta sẽ thành công với tiền lệ lần này.

“Trong bối cảnh chúng ta đang trong quá trình hoàn thiện thể chế, tiền lệ này theo tôi là rất tốt và có thể sẽ phải phát huy. Với cách làm này của Quốc hội, đã thể hiện sự năng động quyết liệt, thậm chí một sự chủ động của Quốc hội”, đại biểu Phan Đức Hiếu bày tỏ./.

XUÂN SỚM TRÊN TUYẾN ĐẢO ĐÔNG BẮC


 Từ ngày 6 đến 9/1 đoàn công tác Quân chủng Hải quân và Vùng 1 đã đi thăm, chúc tết cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các đảo phía Đông Bắc của Tổ quốc. Chuẩn Đô đốc Phan Tuấn Hùng, Phó Tư lệnh Hải quân làm trưởng đoàn.


Đoàn xuất phát từ cảng Lữ đoàn 170, Vùng 1, mang theo quà của Quân chủng Hải quân, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Vùng 1 và các cơ quan dân chính đảng tặng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các đảo nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 và kiểm tra công tác huấn luyện, SSCĐ của các trạm ra đa thuộc Tiểu đoàn 151, Vùng 1 Hải quân.


Đến thăm các đơn vị đóng quân trên các đảo, đoàn công tác đã thăm, động viên cán bộ, chiến sĩ tiếp tục khắc phục khó khăn, SSCĐ cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đoàn công tác đề nghị các đơn vị tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ đón Tết cổ truyền vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm; phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương làm tốt công tác dân vận, giúp nhân dân phát triển kinh tế, xây dựng địa bàn đóng quân an toàn và bảo đảm công tác phòng chống dịch Covid-19.

Hoạt động báo chí cần chủ động, linh hoạt, kịp thời trong đấu tranh, phản bác luận điệu sai trái trên mạng xã hội

Hiện nay trong kỷ nguyên thông tin, các thế lực thù địch không từ bất cứ thủ đoạn nào, triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội để tuyên truyền chống phá Việt Nam trên nhiều mặt trận, nhiều lĩnh vực, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hội. Dự báo trong thời gian tới hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng ngày càng tinh vi, phức tạp, khó lường, vì thế, hoạt động báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng cần: - Thường xuyên cập nhật và nắm vững quan điểm thông tin tuyên truyền của Đảng và Nhà nước mà trước hết và quan trọng nhất là hiểu rõ các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bám sát sự chỉ đạo và định hướng thông tin của cấp trên. Cần linh hoạt, chủ động định hướng thông tin trong nội bộ để phản bác, hoặc đề xuất xin ý kiến với cấp có thẩm quyền để kịp thời đưa thông tin phản hồi, chỉnh hướng hoặc bác bỏ thông tin sai lệch. Nhất là Chỉ thị số 12/CT-TTg, ngày 12/5/2021, của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền trên các nền tảng mạng xã hội, hệ thống thông tin cơ sở và các phương tiện truyền thông mới; có biện pháp đấu tranh hiệu quả trên mạng xã hội xuyên biên giới vào Việt Nam. Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội Nhà báo Việt Nam cùng các bộ, ngành liên quan chủ động cung cấp thông tin nhằm định hướng dư luận, đẩy lùi thông tin, văn hóa xấu độc, nâng cao ý thức cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. - Cần phải chủ động, kịp thời; tổ chức thông tin tốt: Trong cuộc đấu tranh về mặt tư tưởng, các tòa soạn phải chủ động khắc phục được tình trạng “điểm trắng”, “vùng trắng” về thông tin; triệt tiêu khả năng, cơ hội chiếm lĩnh cạnh tranh của các thông tin độc hại ngoài luồng đối với các thông tin chính thống của báo chí trong nước. Đây là phương thức hữu hiệu nhất ngăn chặn, đẩy lùi một cách chủ động các thông tin sai trái của kẻ thù. Đặc biệt, các tòa soạn báo điện tử phải tổ chức thông tin tốt, thực hiện vai trò “nhạc trưởng” chỉ đạo, gợi ý, hướng dẫn, lên kế hoạch, tổ chức tuyến thông tin sao cho hiệu quả, phù hợp nhất trong điều kiện cụ thể về nhân lực, vật lực và yêu cầu đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của việc thực hiện nhiệm vụ ở mỗi tòa soạn. Việc tổ chức thông tin cũng giúp cho dòng chảy thông tin của các cơ quan báo chí được liên tục, không đi chệch “đường ray”, không bỏ sót, bỏ lọt sự kiện và cũng hạn chế được tình trạng “đánh với, đuổi theo” sự kiện, làm ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng thông tin. - Phải linh hoạt, đảm bảo cho hệ thống báo chí điện tử khắc phục tính máy móc, kém hiệu quả trong việc sử dụng sức mạnh của công luận đấu tranh chống các luận điệu sai trái; đồng thời, ứng phó thành công với các thủ đoạn của các thế lực thù địch. Sự linh hoạt thể hiện cụ thể ở việc sử dụng, phát huy có hiệu quả nhất ưu thế nhanh nhạy và tính đa phương tiện của báo điện tử; xác định rõ, khi nào cần huy động cả hệ thống, khi nào chỉ huy động một bộ phận; khi nào cần sự tham gia của báo chí Trung ương, khi nào chỉ cần sự tham gia của báo chí địa phương; khi nào cần báo chí trong nước, khi nào cần và bằng cách nào để có thể khai thác, tranh thủ báo chí hải ngoại, báo nước ngoài để đưa thông tin có lợi cho ta, tăng cường khả năng thuyết phục với công chúng ngoài nước và các quốc gia trên thế giới. - Quan tâm đến liều lượng, tính toán thời điểm một cách hợp lý: Kinh nghiệm cho thấy, nhiều trường hợp, hiệu quả đấu tranh của báo chí phụ thuộc vào việc phân tích, đánh giá từng tình huống cụ thể cũng như khả năng chuyển hoá của đối tượng trong các thời điểm cụ thể, trên cơ sở đó điều chỉnh liều lượng thông tin một cách hợp lý. Mọi sự máy móc, cực đoan, thiếu nhạy cảm, thiếu sự nhìn nhận biện chứng trong đấu tranh sẽ không mang lại hiệu quả, thiếu tính thuyết phục, mà còn bỏ lỡ cơ hội thuyết phục, tranh thủ, lôi kéo, thức tỉnh đối tượng, nhất là những người vốn chỉ bị kích động, lừa gạt, lợi dụng, nhận thức được lẽ phải, từ đó từ bỏ những hoạt động sai trái của mình. - Chủ động trong việc phân tích và dự báo tình hình: Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả, nâng cao tính chiến đấu và sức thuyết phục của thông tin, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và cơ quan chức năng cần chủ động hơn trong việc phân tích, dự báo tình hình, chỉ đạo nhạy bén, kịp thời để cơ quan báo chí phản ứng nhanh nhạy, làm chủ thông tin trên mặt trận đấu tranh với thông tin, quan điểm sai trái, mang tính vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch. - Thường xuyên rèn luyện nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị cho phóng viên, biên tập viên: Để nâng cao chất lượng và số lượng của tuyến tin phản hồi, chỉnh hướng, bác bỏ thông tin sai lệch, điều trước tiên là phải rèn luyện, nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, sự nhạy bén nghề nghiệp cho mỗi phóng viên, biên tập viên. - Xây dựng hệ thống cộng tác viên tin cậy: Để có thể nâng cao số lượng và chất lượng của tuyến tin phản hồi, chỉnh hướng, bác bỏ thông tin sai lệch, mỗi tòa soạn cần xây dựng được hệ thống cộng tác viên tin cậy, gắn bó, am hiểu tình hình, tạo được mối quan hệ mật thiết với cơ sở, với các đầu mối cung cấp thông tin ngay tại chỗ. Để tăng tính chuyên sâu, mỗi cơ quan báo chí cũng cần thường xuyên tăng cường phối hợp với các nhà quản lý, lãnh đạo, các chuyên gia, nhà khoa học ở các viện nghiên cứu để tổ chức tuyến bài đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái. - Hiểu rõ phương thức hoạt động của các phương tiện truyền thông, các đối tượng, các nguồn thường tung ra các thông tin thù địch, thông tin phiến diện, sai sự thật, hoặc không chính xác, hoặc sai định hướng để xây dựng phương thức đấu tranh thông tin phù hợp. Khi hiểu rõ phương thức hoạt động của các đối tượng này, sẽ giành được thế chủ động trong đấu tranh thông tin. - Tăng cường trao đổi, xây dựng cơ chế phối hợp thông tin với các cơ quan báo chí của Đảng và Nhà nước và các lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, báo Quân đội Nhân dân, báo Công an Nhân dân, báo Điện tử Chính phủ, báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam… Cơ chế hợp tác cần được thể chế hóa thông qua các thỏa thuận được ký kết giữa các bên có liên quan. Việc triển khai thực hiện các thỏa thuận đã ký cũng cần được đôn đốc, kiểm tra, bàn bạc, trao đổi để bảo đảm hợp tác có hiệu quả thực sự, tránh hình thức. Như trong cuộc chiến chống tin giả về COVID-19, cũng không thể không nói tới vai trò hợp tác của các tập đoàn công nghệ như Microsoft Corp, Facebook, Google và Twitter, từ gỡ bỏ những thông tin giả mạo tới chia sẻ những thông tin chính thống. - Tổ chức rút kinh nghiệm từng đợt thông tin hoặc từng giai đoạn. Việc rút kinh nghiệm phải thực hiện sâu sát đến từng sản phẩm, có so sánh, đối chiếu với những tác phẩm hoặc vấn đề đã rút kinh nghiệm lần trước để tránh lặp lại các sai sót. Việc tổ chức rút kinh nghiệm cần được thực hiện nghiêm túc, tránh làm hình thức và phải tổ chức lưu trữ hồ sơ về các đợt rút kinh nghiệm này. Khâu tổ chức rút kinh nghiệm, nếu được làm tốt, không chỉ có tác dụng nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyến thông tin phản hồi, chỉnh hướng và bác bỏ thông tin sai lệch mà quan trọng hơn, giúp nâng cao tay nghề của các nhà báo được giao thực hiện tuyến tin này./.

NGUYỄN THỊ BÌNH-NGƯỜI PHỤ NỮ LÀM RẠNG DANH DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ XX!

KỶ NIỆM 49 NĂM NGÀY KÝ HIỆP ĐỊNH PA RI (27/01/1973-27/01/2022)

🌺🌺🌺🇻🇳🇻🇳🇻🇳❤️❤️❤️

Bà Nguyễn Thị Bình tên thật là Nguyễn Châu Sa, sinh năm 1927 ở tỉnh Sa Đéc, Nam Bộ, là cháu ngoại chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Năm 1948, hoạt động chống Pháp ở Sài Gòn, lấy bí danh là Yến Sa. Năm 1961, làm công tác đối ngoại của Ủy ban thống nhất tại Hà Nội, đổi tên là Nguyễn Thị Bình để bảo đảm bí mật.

Thân sinh làm trắc địa ở Campuchia, đưa cả gia đình sang sống ở Phnompenh. Vì vậy, Nguyễn Châu Sa học trường Lycée Sisowath, trường trung học lớn nhất của Campuchia nên rất thông thạo tiếng Pháp, lại có khuôn mặt xinh tươi, vóc dáng thon thả, hợp với nghề ngoại giao. Suốt 14 năm làm công tác ngoại giao, Bà đã tham dự nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng ở các nước châu Âu, trong đó có 5 năm là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris.

49 năm trước, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết sau 4 năm đàm phán. Trong khoảng thời gian đó, một nhân vật được báo chí phương Tây trân trọng ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ là bà Nguyễn Thị Bình, được gọi thân mật là "Madam Bình".


2 giờ chiều ngày 2-11-1968, bầu trời Paris u ám và giá lạnh, bà Nguyễn Thị Bình trong bộ áo dài màu hồng sậm, khoác măng tô xám với chiếc khăn quàng đen điểm hoa, cùng đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam bước xuống sân bay Bourget giữa đám đông người chào đón, trong đó có nhiều nhà báo. Máy ảnh chớp lia lịa.


 Bước vào phòng khách danh dự, bà cố gắng nói to, dõng dạc 5 điểm giải pháp của Mặt trận, bà Bình Thanh (Thanh Vân, chị gái bà Bình), dịch rõ ràng mạch lạc.

Đám nhà báo ngạc nhiên, im lặng, rồi xung quanh vang tiếng bàn ghế gãy, kính vỡ loảng xoảng và cãi cọ om xòm vì ai cũng muốn đứng gần bà Bình để ghi hình, ghi tiếng tốt hơn.


Ông Xuân Thủy (Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) cùng bà Bình đi trên đoàn xe bóng loáng, phấp phới lá cờ nửa đỏ nửa xanh, có ô tô, mô tô của cảnh sát Pháp dẫn đường và hộ tống, bà con Việt kiều và người dân Paris đứng chật hai bên đường sững sờ, xúc động. Hôm sau tất cả các báo Pháp và báo của các nước phát hành ở Paris đều chạy tít lớn: “Đại diện của Việt cộng đã đến Paris” và những lời bình rất kêu: “Việt cộng đã thắng lớn qua cuộc đón tiếp Madam Bình ở Paris”; “Madam Bình như một bà hoàng được đón như một quốc trưởng với đủ nghi thức chính quy, lại được hoan nghênh nhiệt liệt”; “Madam Bình đã làm chấn động dư luận Paris và thế giới. Cờ Mặt trận đã tung bay ở Paris! Rất tuyệt! Thật hiếm có!”.

Nhiều nhà báo đeo bám đến nơi ở, có nhà báo leo qua tường, có người đặt máy ảnh giữa kẽ hở cánh cửa để bất chợt chụp được những tấm ảnh đặc biệt của “đoàn Việt cộng”, nhất là ảnh Madam Bình ở biệt thự Thévent.

Trong 4 năm đàm phán, bà Bình đi thăm nhiều nước để tranh thủ sự ủng hộ của họ. Tháng 4-1969, thăm Anh, một nước luôn ủng hộ Mỹ. Chuyến thăm tốt đẹp hơn cả mong đợi. Kết thúc buổi đón tiếp long trọng, Madam Bình từ trên đài cao bước xuống, đi diễu hành giữa hai hàng cảnh binh bảo vệ. Giữa quãng trường Trafalgar lớn, rừng người hô vang khẩu hiệu “Đoàn kết với Việt Nam!”, “Chấm dứt chiến tranh!”.

Chuyến thăm Thụy Điển năm 1970, được đích thân Thủ tướng Olof Palme (1927-1986) tiếp và cùng Madam Bình dẫn đầu cuộc biểu tình ủng hộ Việt Nam. Nữ nhà văn Sara Lidman (1923-1976) nổi tiếng ở Bắc Âu, tiếp và nói: “Chị Bình ơi, Việt Nam đang có một nền văn hóa dân tộc vô cùng quý giá…”.

Trong buổi trả lời phỏng vấn. Có nhà báo hỏi: “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?”. Bà Bình trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”.

Nhà báo hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?” . Bà Bình dứt khoát: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?”.

Giữa năm 1971, truyền hình Pháp tổ chức cuộc họp báo ở hai đầu Paris và Washington, có 20 nhà báo tham gia, 10 người phần lớn là Mỹ bảo vệ lập trường của Mỹ, 10 người, phần lớn là Pháp trung lập. Bà Bình một mình giữa các nhà báo sừng sỏ, dưới ánh đèn sáng chói đã bình tĩnh đối đáp đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí muốn tìm giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh. Ông Xuân Thủy gọi điện khen: “Cô rất dũng cảm”.

Khi Mỹ huy động máy bay B52 ném bom Hà Nội, ai cũng hồi hộp, lo lắng. Bà Bình được gọi về. Giữa đêm 30-12, về đến Hà Nội, bà đi thăm phố Khâm Thiên bị B52 tàn phá tối 26-12 với nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo. Thăm hai đứa con nhỏ thương yêu, sống xa mẹ nhiều năm, sơ tán ở thị xã Hưng Yên.

Ngày 21-1-1973, trở lại Paris, bà Bình mở ngay cuộc họp báo, tuyên bố: “Chỉ có một nước Việt Nam, chỉ có một dân tộc Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời là đại diện của nhân dân miền Nam!”. Hãng AFP mô tả: “Madam Bình mặc áo dài truyền thống của Việt Nam bằng lụa vân màu xanh lá cây, trông rất thoải mái. Đôi lúc Madam Bình nở nụ cười làm khuôn mặt càng rạng rỡ, trả lời các nhà báo rõ ràng khúc chiết, làm cho người ta có cảm giác đứng trước một quý bà đầy bản lĩnh, đầy tự tin”.

Ngày 27-1-1973, họp phiên chính thức ký kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh Việt Nam”. Phóng viên hãng AP của Mỹ mô tả Trung tâm hội nghị Kléber tràn ngập biển người và cờ Việt Nam, cờ Mặt trận. Họ tung hô Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh và Nguyễn Thị Bình: “Hoan hô Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ! Hoan hô Chính phủ Cách mạng lâm thời!”. Mỗi vị ký vào 32 văn bản của Hiệp định. Phóng viên UPI của Mỹ viết: “Buổi lễ ký kết hòa bình ở Việt Nam diễn ra trong khung cảnh huy hoàng tráng lệ của thế kỷ 19 và những biện pháp an ninh nghiêm ngặt nhất mà thế kỷ 20 có thể tạo ra. Bốn Ngoại trưởng, 2.000 cảnh sát và an ninh bảo vệ nghiêm cẩn”.

Bà Bình nhớ rõ, với 174 phiên họp chính thức, hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tổ chức hơn 500 cuộc họp báo và 1000 lần trả lời phỏng vấn báo chí. Ngày 29-1-1973, hai đoàn Việt Nam tổ chức chiêu đãi các nhà báo. Ông Lê Đức Thọ hoan nghênh và cảm ơn các nhà báo. Cả phòng họp với hơn 400 nhà báo quốc tế đứng dậy vỗ tay hồi lâu. Đó là một ngoại lệ chưa từng có trong các cuộc họp báo trước đó./.

Yêu nước ST.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nhiệm vụ chính trị trọng yếu hiện nay

Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam và đó cũng là nền tảng tư tưởng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Do đó, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nhiệm vụ chính trị trọng yếu hiện nay, nhằm phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, “phi chính trị hóa” Quân đội, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; xác định tốt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, không bị tác động bởi sự chống phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhiệm vụ này càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả từ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong Quân đội. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là học thuyết khoa học và cách mạng, vũ khí sắc bén của giai cấp vô sản và nhân loại để đấu tranh chống giai cấp bóc lột, giải phóng mình, thực hiện sứ mệnh lịch sử đánh đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân lao động. Vì vậy, từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác - Lê-nin luôn bị chủ nghĩa đế quốc, các phần tử phản động ra sức chống phá, phủ nhận, hòng xóa bỏ lý tưởng cao đẹp và nhân văn của Học thuyết này. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, sự chống phá của các thế lực thù địch cũng không nằm ngoài mưu đồ của chúng đối với cách mạng Việt Nam, nhằm thực thiện “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho cán bộ, chiến sĩ phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, phân rã về tư tưởng, rệu rạo về tổ chức, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, dẫn tới hủy hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Nhận thức rõ mưu đồ đó, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động, triển khai đồng bộ các giải pháp, cả về tổ chức, lực lượng, nội dung, hình thức, phương tiện trong đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, quân sự, quốc phòng của Đảng; những kiến thức cơ bản về văn hóa - xã hội, nhiệm vụ của Quân đội, đơn vị. Các cơ quan, viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, có nhiều chương trình, đề tài, chuyên đề bài giảng, phát hành ấn phẩm có giá trị khoa học, lý luận và thực tiễn. Trong quá trình đấu tranh đã có nhiều bài viết vạch trần quan điểm sai trái, thù địch, còn có bài viết nói lên những thành tựu của đất nước, Quân đội ta trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế dưới sự lãnh đạo của Đảng; coi đó là câu trả lời thiết thực nhất để khẳng định tính đúng đắn của đường lối, chủ trương của Đảng, dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước yêu cầu cao của hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trước hết là đổi mới tư duy quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; về kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ hợp tác, hội nhập quốc tế. Trọng tâm vào tuyên truyền các chủ trương, định hướng công tác lớn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và các tổng cục; trao đổi, tổng kết kinh nghiệm về các mặt hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân, của cấp ủy, chính quyền các địa phương và các ban, ngành, đoàn thể Trung ương,… trong xây dựng nền Quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân; xây dựng lực lượng, thế trận Quốc phòng toàn dân, kết hợp với lực lượng, thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố; kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế; kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh và đối ngoại; nghiên cứu một số vấn đề về nghệ thuật quân sự, phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Đáng chú ý là luôn tích cực đấu tranh và đấu tranh có hiệu quả trên mặt trận chính trị - tư tưởng, chống quan điểm sai trái, chống chiến lược “Diễn biến hoà bình”, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch; chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, đấu tranh trực diện phê phán các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, thông qua những bài viết đăng trên các ấn phẩm của Tạp chí. Đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, các cấp, các ngành. Nhận thức rõ điều đó, thời gian tới, chúng ta tiếp tục chú trọng tuyên truyền trên lĩnh vực này, bảo đảm tính chiến đấu cao, kịp thời, hiệu quả, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch./.

HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ CHỦ YẾU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

             Với âm mưu loại bỏ dần hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch tập trung phủ định lý luận chủ nghĩa Mác, nhất là các vấn đề cơ bản, như: giai cấp, đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản. Viện dẫn sự đổ vỡ mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, họ rêu rao rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, tội lỗi, đã và đang đi vào diệt vong; chủ nghĩa đó chỉ phù hợp nhất thời đối với nước Nga vào thế kỷ XX, không phù hợp với Việt Nam. Học thuyết của C.Mác chỉ là giả thuyết không tưởng. Sứ mệnh của giai cấp công nhân “đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn vạn lần xã hội cũ” là viển vông. Theo họ, giai cấp công nhân, trong đó có cả lãnh tụ của giai cấp đó là những người có học vấn thấp, giỏi lắm chỉ có thể lật đổ được chế độ xã hội cũ, chứ không thể lãnh đạo cải tạo và xây dựng thành công một xã hội tốt đẹp hơn, nhất là trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển. Họ rêu rao rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã sụp đổ hoàn toàn; đó làthứ lý luận lỗi thời, đang cản trở con đường đi lên của dân tộc Việt Nam. Với kiểu 1ý lẽ đó, họ đòi Đảng ta phải từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin với tư cách là nền tảng tư tưởng, có như vậy con đường phát triển của cách mạng Việt Nam mới đi theo đúng quỹ đạo của thế giới. Hùa theo luận điệu trên, các đối tượng cơ hội chính trị trong nướccũng cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin là sai lầm, ảo tưởng, kêu gọi chia tay ý thức hệ.

Về hệ thống quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh, họ cho rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng của phương đông, tư tưởng Hồ Chí Minh là đúng đắn. Song các thế hệ lãnh đạo sau Hồ Chí Minh đã phản bội và làm sai tư tưởng này” và Bác vạch ra con đường dân chủ nhân dân, chứ không nói đến cách mạng xã hội chủ nghĩa”, hòng chống phá sự lãnh đạo đất nước của bộ máy hiện tại. Mặt khác, chúng lại xuyên tạc rằng: Hồ ChíMinh là người theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương tiện để thực hiện tư tưởng của mình nên đã tạo ra những sai lầm lịch sử. Đồng thời, họ cũng phủ định nhiều quan điểm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát động chiến dịch “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh” trong thời gian dài bằng việc xuyên tạc, vu khống thấp hèn..., bất chấp việc Người là hiện thân của nhân văn, biểu tượng về nhân cách, luôn ở trong con tim, khối óc của nhân dân Việt Nam và thế giới vì những đóng góp xứng đáng của Người vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người là danh nhân văn hóa thế giới.

Chúng còn ngang nhiên phủ nhận vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện ráo riết, điên cuồng với những đòi hỏi phi lý về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; thực hiện “tam quyền phân lập”, dân chủ, nhân quyền theo kiểu phương Tây; thiết lập nền kinh tế tư nhân hóa tuyệt đối; “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Sự chống phá đó ngày càng phát triển, biến đổi về thủ đoạn; đặc biệt là lợi dụng sự bùng nổ về công nghệ thông tin, truyền thông xã hội, mạng xã hội để chống phá thường xuyên, liên tục bằng các chiêu trò thâm độc, đả kích trực diện vào những vấn đề cơ bản, cốt lõi về nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, như: vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; nguyên tắc tập trung dân chủ... Họ tuyên truyền, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là đội tiên phong, không trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động... nên không còn đủ tư cách lãnh đạo đất nước.

Các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, chúng đều hiểu: giai cấp côngnhân và nhân dân lao động nước ta đã thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện vai trò lãnh đạo đối với đất nước. Do vậy mưu đồ “diễn biến hòa bình” của chúng là làm cho Đảng ta mất quyền lãnh đạo hoặc trong Đảng có sự thoái hóa, biến chất. Bởi vậy, bấy lâu nay các thế lực thù địch trong, ngoài nước dùng trăm phương, nghìn kế thông qua truyền thông, đặc biệt là truyên thông trên nền tảng Internet để đả kích hòng hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng, hoặc làm hỏng đội ngũ đảng viên của Đảng.

Song song với chống phá các vấn đề cơ bản, cốt lõi về nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, họ còn kích động phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, kêu gọi quân đội từ bỏ hệ tư tưởng vô sản, đứng về phía “nhân dân”, phục vụ Tổ quốc; lợi dụng những vấn đề phức tạp trên biển Đông, những tranh chấp chủ quyền biển, đảo để nói xấu Đảng, Nhà nước và hạ thấp vai trò của quân đội trong giải quyết các vấn đề trên biển Đông; chia rẽ đoàn kết nội bộ quân đội, đoàn kêt quân dân; cổ vũ lối sống thực dụng, từ đó làm phai nhạt lý tưởng, tha hóa về phẩm chất chính trị, đạo đức, lôi sống của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. 

Vì vậy, Đảng ta luôn kiên trì lãnh đạo đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ, phát triển và làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, xã hội Việt Nam; đồng thời vô hiệu hóa các luận điệu và hoạt động phá hoại tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, bảo vệ thành công các quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng.