Thứ Tư, 12 tháng 1, 2022

Phòng và chống các biểu hiện tiêu cực theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Tiêu cực là để chỉ những hiện tượng không lành mạnh, có tác dụng phủ định, cản trở, không tốt đối với quá trình phát triển của xã hội; tiêu cực là trái với tích cực.

Tiêu cực thường được sử dụng dưới dạng: Hiện tượng tiêu cực, không lành mạnh; nảy sinh tiêu cực; đấu tranh chống tiêu cực... Tiêu cực có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa cá nhân, là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân. Để thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng "là đạo đức, là văn minh", xứng đáng với vai trò tiền phong, thì phòng và chống các biểu hiện tiêu cực là một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên của Đảng cầm quyền.

Những lời cảnh báo của Bác Hồ

 Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập không lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những biểu hiện tiêu cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên tại các cơ quan công quyền, như: “Óc bè phái. Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe. Đó là một khuyết điểm rất có hại. Nó làm cho đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí, thường hỏng việc. Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm”; “Óc hẹp hòi-Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng”; "Óc quân phiệt quan liêu. Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp"; "Ích kỷ, hủ hóa...".

Phòng và chống các biểu hiện tiêu cực theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng về lối sống cần, kiệm, liêm, chính. Ảnh tư liệu

Đó còn là những biểu hiện thể hiện rõ tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, như: "Bệnh tị nạnh-Cái gì cũng muốn “bình đẳng”... Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng; “Bệnh kiêu ngạo-Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”; “Bệnh hiếu danh-Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay... Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”; "Bệnh cận thị-Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ... chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn"; "Bệnh "cá nhân"... Không theo nguyên tắc sinh hoạt của Đảng... Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình..." Bên cạnh đó, "Bệnh xu nịnh, a dua-Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái"; “Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng”... Những cán bộ, đảng viên mang trong mình các biểu hiện tiêu cực, các tật bệnh xấu này chính là những người suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, “hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”.

Có thể nói, những biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra ở trên đều là "con đẻ" của chủ nghĩa cá nhân; không chỉ phản ánh sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt của người cán bộ, đảng viên mà còn là "kẻ địch nội xâm", kẻ thù của người cách mạng. Những cán bộ, đảng viên có suy nghĩ và hành động tiêu cực này là những người không chỉ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, độc đoán, chuyên quyền, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật mà còn coi thường công tác dân vận (không lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, ngày càng rời xa quần chúng, làm trái ngược nguyên tắc phải gắn bó mật thiết với nhân dân...).

Tiến hành đồng bộ, kết hợp chặt chẽ trong phòng, chống tham nhũng và tiêu cực

Theo Từ điển tiếng Việt, tham nhũng là "lợi dụng quyền hành để hạch sách nhũng nhiễu dân", cho nên, tham nhũng là sản phẩm của sự tha hóa, lạm dụng, lợi dụng quyền lực để mưu lợi cho cá nhân và người thân. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, tham nhũng là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn khi họ lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được trao, được đảm nhiệm nhằm mục đích vụ lợi cho cá nhân, người thân, nhóm lợi ích... Đó là các hành vi: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi... và đó cũng chính là các biểu hiện của sự suy thoái.

Vì tham nhũng là một loại hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện; là một loại biểu hiện cụ thể của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cho nên phòng và đấu tranh chống tham nhũng luôn là một nhiệm vụ quan trọng, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm; được đẩy mạnh trong những nhiệm kỳ gần đây.

Đặc biệt, những biểu hiện tiêu cực mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra lúc sinh thời về cơ bản cũng nằm trong số 27 biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nêu; trong đó, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chính là biểu hiện rõ nét nhất của sự tiêu cực đang diễn ra trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thuộc các cơ quan công quyền.

Thực tiễn chỉ ra rằng, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực đều là "kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta... Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính". Do đó, không phải ngẫu nhiên lần đầu tiên vấn đề phòng, chống tham nhũng lại được ghi rõ tại khoản 2, Điều 8 Hiến pháp năm 2013: "Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải... kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền".

Do đó, phòng và đấu tranh chống tham nhũng, chống các biểu hiện tiêu cực không chỉ cần phải được tiến hành đồng thời, đồng bộ mà còn phải có sự kết hợp, gắn bó chặt chẽ với nhau, để phát huy hiệu quả của từng bộ phận và bảo đảm tính toàn diện của nhiệm vụ quan trọng này. 

Hiện thực hóa Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị

Để thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống; đồng thời, nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, phòng và chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, ngày 16-9-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ký ban hành Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị về "Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực"; trong đó, nêu rõ việc gắn công tác phòng, chống tham nhũng đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Tiếp đó, ngày 25-10-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về "Những điều đảng viên không được làm" thay thế cho Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 về "Những điều đảng viên không được làm".

Gắn đấu tranh phòng, chống tham nhũng với phòng, chống những biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên chính là hiểu đúng, hiểu một cách sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”; “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân” và “vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”. Hiểu đúng để hành động đúng trên tinh thần "phải làm liên tục, bền bỉ, không ngừng, không nghỉ, không ngại ngần khó khăn; càng khó, càng phải quyết tâm cao, phải phối hợp tốt hơn nữa", chính là góp phần ngăn chặn từ gốc, phát hiện từ sớm và xử lý ngay từ đầu để ngăn chặn những vi phạm nhỏ, không để chúng tích tụ thành những sai phạm lớn, vụ án lớn; không để những cành cây làm hỏng một thân cây, không để một thân cây bệnh lây lan cả rừng cây như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh.

Vì thế, mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên trong cả hệ thống chính trị đều phải:

Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phải học tập, quán triệt và thực hiện tốt hơn nữa các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng nói chung, về học tập lý luận chính trị nói riêng trên tinh thần gắn lý luận với thực tiễn. Thông qua quá trình đó, mỗi người tự soi, tự sửa, tự rèn luyện mình theo 3 chuẩn mực và nêu gương về đạo đức cách mạng: “Tự mình phải”, “Đối với người phải”, “làm việc phải” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong tác phẩm Đường Kách mệnh, năm 1927. Trong triển khai thực hiện, chú trọng nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, "trong trước, ngoài sau"; coi đó là việc làm thường xuyên, liên tục, nền nếp, là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên gắn liền với tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát.

Hai là, trong công cuộc phòng, đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" này, cần phải tăng cường vai trò nêu gương trong rèn luyện bản lĩnh chính trị gắn với việc phát huy tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu nói riêng về mọi mặt. Trong đó, chú trọng yêu cầu sự gương mẫu trong học tập nâng cao trình độ, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý; trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác... trên tinh thần thấm nhuần cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước... Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”.

Ba là, cùng với việc các cơ quan chức năng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng hiệu quả; cùng với việc bổ sung, thay thế Quy định số 47-QĐ/TW bằng Quy định số 37-QĐ/TW về "Những điều đảng viên không được làm" và sự phối hợp công tác giữa các cơ quan, ban, ngành chức năng để kịp thời nhận diện rõ hơn, cụ thể hơn các hành vi tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp có liên quan đến tham nhũng của cán bộ, đảng viên (biến quyết tâm chính trị thành hành động thực tiễn trong phòng, chống tham nhũng và mở rộng thêm nội hàm đấu tranh gắn với chống tiêu cực bằng văn bản cụ thể), thì mỗi cấp ủy cũng cần phải chú trọng làm tốt công tác tư tưởng, phát huy dân chủ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong từng tổ chức cơ sở đảng để làm hạt nhân cho khối đoàn kết của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Hạnh phúc khi được phục vụ nhân dân

 

Thời gian qua, cán bộ, đoàn viên, thanh niên LLVT Quân khu 4 luôn phát huy tốt tinh thần “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”, xung kích thực hiện nhiệm vụ trên tuyến đầu, góp phần cùng cả nước ngăn chặn, đẩy lùi đại dịch Covid-19.

Nhiều tháng liền, Binh nhất Lữ Văn Tuấn, Tiểu đoàn Hỗn hợp đảo Hòn Mê, Bộ CHQS tỉnh Thanh Hóa thường xuyên có mặt ở điểm chốt 328. Tuấn là một trong những đoàn viên của Bộ CHQS tỉnh Thanh Hóa xung phong tăng cường lên các chốt biên giới phòng, chống dịch (PCD) Covid-19.

Điểm chốt 328 nơi Tuấn tăng cường ở trong rừng sâu, không có điện, sóng điện thoại lúc có, lúc không. Hằng ngày, Tuấn cùng đồng đội men theo các con suối, vượt qua những cánh rừng sâu, theo lối mòn xuyên rừng trong đêm để tuần tra kiểm soát, ngăn chặn người vượt biên trái phép. Ban ngày trời nắng nóng, oi bức, ban đêm thì nhiệt độ xuống rất thấp, khiến công tác tuần tra gặp nhiều khó khăn. Lữ Văn Tuấn chia sẻ: “Thực hiện nhiệm vụ tuần tra biên giới, chúng tôi phải đối mặt với nhiều hiểm nguy.

Cách đây ít hôm, tôi phát hiện một con rắn cạp nong chui vào trong ba lô. Những lúc trời mưa, đi tuần tra trong rừng sâu thì vắt đói vây quanh. Rồi những mối hiểm nguy rình rập từ tội phạm. Ban đầu tôi cũng sợ, nhưng với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, vì cuộc sống bình yên của nhân dân, tôi cùng đồng đội đã nỗ lực vượt qua”.

Hạnh phúc khi được phục vụ nhân dân
Tuổi trẻ Trung đoàn 996, Bộ CHQS tỉnh Quảng Bình chuẩn bị bữa ăn phục vụ công dân trong khu cách ly. 

Trung sĩ Phạm Văn Nhã, Tiểu đội trưởng, Đại đội 1, Tiểu đoàn 40, Trung đoàn 762, Bộ CHQS tỉnh Thanh Hóa cũng đã nhiều tháng miệt mài thực hiện nhiệm vụ ở khu cách ly tập trung PCD Covid-19 tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng, Trường Đại học Hồng Đức (Thanh Hóa).

Công việc hằng ngày của Nhã là cùng với các lực lượng nấu ăn và đưa cơm phục vụ công dân trong khu cách ly. Dù mưa hay nắng, bất kể thời gian nào, Nhã luôn tiên phong thực hiện nhiệm vụ với trách nhiệm cao nhất. Trao đổi với chúng tôi, Nhã cho biết: “Tôi tâm niệm rằng, nhiệm vụ PCD là đánh giặc thời bình, giữ vững bình yên cho nhân dân. Do vậy, tôi luôn cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ, chung tay đẩy lùi dịch bệnh”.

Trong dịp đến khu cách ly tập trung tại Trung đoàn 996, Bộ CHQS tỉnh Quảng Bình, chúng tôi chứng kiến cán bộ, nhân viên, chiến sĩ nơi đây miệt mài chuẩn bị những suất cơm ngon, canh ngọt phục vụ bà con. Trong số cán bộ, nhân viên thực hiện nhiệm vụ thì có gần một nửa là cán bộ, đoàn viên, thanh niên.

Trao đổi với chỉ huy đơn vị, chúng tôi được biết, từ khi dịch Covid-19 xuất hiện ở nước ta, Trung đoàn 996 tiếp nhận, cách ly hàng nghìn công dân. Trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, đoàn viên, thanh niên đơn vị luôn phát huy tinh thần trách nhiệm, tiên phong lên tuyến đầu chống dịch.

Binh nhất Hoàng Văn Nam, Trung đội ĐKZ, Tiểu đoàn 42, Trung đoàn 996, bộc bạch: “Là quân nhân, tôi nghĩ chống dịch là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, tất cả vì sự an toàn, sức khỏe và tính mạng của nhân dân. Tôi luôn cố gắng hết sức mình mong góp một phần nhỏ vào công cuộc PCD để mọi người nhanh chóng về với gia đình. Đó là niềm vui của tôi”.

Trong đợt dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát, số lượng công dân từ các tỉnh, thành phố phía Nam về cách ly tập trung trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế tăng đột biến, khiến công tác tiếp nhận, quản lý, tổ chức cách ly PCD gặp nhiều khó khăn.

Trung tá Lê Văn Lĩnh, Phó chủ nhiệm Chính trị Bộ CHQS tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết: "Với tinh thần “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”, hàng trăm cán bộ, đoàn viên, thanh niên Bộ CHQS tỉnh Thừa Thiên Huế đã xung phong thực hiện nhiệm vụ tại các khu cách ly tập trung trên địa bàn. Cùng với đó, cán bộ, đoàn viên đơn vị còn tình nguyện lên tuyến đầu tăng cường cho Bộ đội Biên phòng kiểm soát biên giới; tổ chức làm kính chống giọt bắn, tuyên truyền người dân thực hiện nghiêm quy định "5K" của Bộ Y tế và nhiều hoạt động chung tay đẩy lùi đại dịch".

Trao đổi với chúng tôi, Thiếu tá Nguyễn Văn Hùng, trợ lý thanh niên Quân khu 4 cho biết: "Thực hiện Phong trào “Thanh niên Quân khu 4 chung tay đánh bay đại dịch Covid-19”, cán bộ, đoàn viên, thanh niên LLVT quân khu luôn sát cánh cùng bà con, xung kích tình nguyện trên tuyến đầu chống dịch bằng nhiều việc làm cụ thể, thiết thực.

Tuổi trẻ LLVT quân khu cũng tích cực quyên góp ủng hộ tiền, vật chất, nhu yếu phẩm hỗ trợ các khu cách ly, khu phong tỏa PCD trên địa bàn và các tỉnh, thành phố phía Nam, góp phần tô thắm thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Lực lượng quân y nỗ lực hỗ trợ miền Tây Nam Bộ chống dịch

 

Vừa qua, Bộ Quốc phòng tiếp tục điều động lực lượng quân y tăng cường hỗ trợ các tỉnh, thành phố phía Nam phòng, chống dịch (PCD) Covid-19.

Phóng viên Báo Quân đội nhân dân gặp và chứng kiến các thầy thuốc quân đội phối hợp với lực lượng y tế địa phương và các bệnh viện nỗ lực "chiến đấu" với dịch Covid-19, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân...

Hết mình phục vụ nhân dân

Sau nhiều lần hẹn, chúng tôi mới chốt được cuộc gặp vào lúc 5 giờ sáng với Thượng úy, bác sĩ Nguyễn Mạnh Tuấn, Lớp chuyên khoa 1, Hệ 1, Học viện Quân y (HVQY). Cùng đồng đội vào hỗ trợ tỉnh Trà Vinh PCD Covid-19, Thượng úy Nguyễn Mạnh Tuấn trực tiếp làm việc tại Tổ y tế lưu động huyện Trà Cú. Đến trước 15 phút nhưng chúng tôi chưa kịp trao đổi gì thì chuông điện thoại của anh reo liên hồi. Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tuấn vừa nhẹ nhàng hỏi chuyện, vừa động viên và hướng dẫn tỉ mỉ cách xử trí, chăm sóc người bệnh. Cứ hết người này rồi lại đến người khác, anh không chỉ hướng dẫn mà còn nhận các cuộc điện thoại báo lại kết quả...

Lực lượng quân y nỗ lực hỗ trợ miền Tây Nam Bộ chống dịch
Thầy thuốc quân y tham gia chữa trị cho bệnh nhân Covid-19 nặng tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi TP Cần Thơ.

“Có người thân nhiễm bệnh ai mà không lo. Cứ nghe người thân là F0 nói khó thở, sờ đầu thấy ấm nóng là vội gọi điện cho tổ y tế đề nghị cấp cứu. Vì vậy, việc đầu tiên chúng tôi phải trấn an và hướng dẫn bà con đo lượng oxy, đo nhiệt độ để biết chính xác các chỉ số của bệnh nhân, làm cơ sở xử trí phù hợp”, anh Tuấn mở đầu câu chuyện với chúng tôi.

Thấy đôi mắt bác sĩ Tuấn thâm quầng, tôi tỏ ý chia sẻ thì anh cho biết, đêm nào cũng phải nói chuyện điện thoại, nhắn tin phản hồi với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, bất kể giờ giấc. Có hôm, liên tục vài ca F0 đang điều trị tại nhà thì trở nặng; nhận được điện thoại là tổ y tế lại cấp tốc lên đường.

“Đây là lần thứ hai tôi được tăng cường hỗ trợ miền Nam chống dịch. Đợt trước, tôi vào TP Hồ Chí Minh thì vợ sinh con đầu lòng. Nay con hơn 2 tháng tuổi, tôi chưa được gặp thì lại tiếp tục vào Trà Vinh. Dù thương nhớ vợ con nhưng trong lúc nhân dân rất cần sự hỗ trợ của y tế, mình phải tạm gác lại, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ”, anh Tuấn bộc bạch.

Cũng như anh Tuấn, vừa hết thời gian cách ly y tế sau chuyến đi chống dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh, Thượng úy, bác sĩ Tạ Vũ Tòng (Lớp chuyên khoa 1, Hệ 1, HVQY) lại tình nguyện vào “điểm nóng” TP Cần Thơ. Được phân công làm nhiệm vụ tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi TP Cần Thơ-một trong những cơ sở tuyến cuối điều trị bệnh nhân vừa và nặng của thành phố-bác sĩ Tòng cùng đồng nghiệp luôn nỗ lực cứu chữa người bệnh. Anh chia sẻ: “Bệnh nhân Covid-19 vào đây phần nhiều là những ca nặng, phải thở máy nên mọi sinh hoạt cá nhân đều do nhân viên y tế đảm nhiệm. Đây cũng là trải nghiệm đáng nhớ và tôi cũng học hỏi, có thêm nhiều kinh nghiệm”.

“Chia lửa” ở tuyến đầu

Bước vào Trung tâm Hồi sức tích cực bệnh nhân Covid-19 của Bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ, chúng tôi nghe thấy nhiều tiếng ho khan. Nơi đây, các thầy thuốc luôn phải căng mình "chiến đấu" để giành giật sự sống cho mỗi bệnh nhân. Chúng tôi được tận mắt chứng kiến các thầy thuốc mặc bộ đồ phòng dịch kín mít thay nhau ép tim ngoài lồng ngực cho một bệnh nhân, mồ hôi rớt nhòe phía trong kính bảo hộ. Đầu giường, chiếc máy thở nháy đèn đỏ liên tục, tiếng bíp bíp dồn dập... căng thẳng đến nghẹt thở.

Lực lượng quân y nỗ lực hỗ trợ miền Tây Nam Bộ chống dịch
 Bác sĩ quân y thăm khám cho bệnh nhân Covid-19 nặng điều trị tại Bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ.

Hết ca trực, Đại úy, bác sĩ Phùng Tiến Giang từ Bệnh viện Quân y 354 ở Hà Nội vào hỗ trợ điều trị bệnh nhân Covid-19 nặng tại Bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ chia sẻ với chúng tôi: “Mỗi lần cứu được bệnh nhân nặng qua cơn nguy kịch, chúng tôi rất vui. Đó là hạnh phúc lớn nhất của những người làm nghề y”.

Vừa thoát khỏi “cửa tử” sau 10 ngày "chiến đấu" với Covid-19, ông Nguyễn Hồng Dân trú ở quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ bộc bạch: “Do có bệnh nền nên diễn biến bệnh của tôi nhanh trở nặng. Tôi đã nghĩ có thể mình sẽ không còn cơ hội ngồi dậy nữa... Tôi vô cùng cảm ơn sự tận tình chữa trị, chăm sóc chu đáo của các thầy thuốc ở đây”.

Bác sĩ chuyên khoa II Trần Quốc Luận, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ cho biết: "Là một trong những cơ sở điều trị tuyến cuối cho bệnh nhân Covid-19 nặng và vừa, bệnh viện đã triển khai thực hiện tất cả biện pháp bảo hộ an toàn, nhưng đội ngũ thầy thuốc vẫn luôn phải đối diện với nguy cơ lây nhiễm, đặc biệt là không tránh khỏi căng thẳng, mệt mỏi vì phải làm việc liên tục với cường độ cao.

Sự chi viện, hỗ trợ kịp thời của các thầy thuốc quân y không chỉ giúp chia sẻ sự vất vả mà còn tạo niềm tin, tiếp thêm động lực rất lớn để cán bộ, nhân viên toàn bệnh viện vượt qua thử thách. Gần một tháng nay, 8 bác sĩ và 16 điều dưỡng được Bộ Quốc phòng điều động về đây đã cùng chúng tôi nỗ lực ngày đêm giành giật sự sống cho người bệnh".

Được gặp và chứng kiến các thầy thuốc quân y đang tham gia hỗ trợ các địa phương miền Tây Nam Bộ PCD Covid-19, chúng tôi cảm nhận rõ tinh thần trách nhiệm của mỗi người. Thượng tá Đinh Xuân Nam, Trưởng đoàn quân y tăng cường tại TP Cần Thơ cho biết: “Mỗi y sĩ, bác sĩ được tăng cường vào tuyến đầu chống dịch đều xác định tốt nhiệm vụ. Chúng tôi tự hào vì được góp một phần công sức bảo vệ sức khỏe cho đồng bào miền Nam”.

Covid hôm nay sáng 13-1: F0 Hà Nội vẫn tăng mạnh; Hải Phòng trở về vùng cam

 

Hà Nội tiếp tục ghi nhận số ca mắc gia tăng, gần chạm mốc 3.000 F0; trong khi đó tại Hải Phòng sau 4 ngày ở mức vùng đỏ, số mắc cao, Hải Phòng đã chuyển cấp độ dịch về vùng cam.

Phòng và chống các biểu hiện tiêu cực theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Tiêu cực là để chỉ những hiện tượng không lành mạnh, có tác dụng phủ định, cản trở, không tốt đối với quá trình phát triển của xã hội; tiêu cực là trái với tích cực.

CẦN CÓ NHÌN NHẬN ĐÚNG VỀ VẤN NẠN THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM!

        Qua những vụ xử lý tham nhũng ở nước ta, đặc biệt là sự suy thoái đạo đức, lối sống của một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những cán bộ cao cấp giữ vị trí lãnh đạo ở các cơ quan Đảng, chính quyền, cơ quan kinh tế..., những kẻ chống lại đường lối, quan điểm của Đảng ta, đã đưa ra luận điểm xuyên tạc, chúng cho rằng: “Nguyên nhân thực sự của tham nhũng là do cái hệ thống chính trị độc tài, độc quyền và độc trị, thành ra muốn giải quyết triệt để nạn tham nhũng thì nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải cải tổ hệ thống chính trị thành hệ thống chính trị đa đảng, đa nguyên”. Đây là một luận điểm vô cùng nguy hiểm, bóp méo, xuyên tạc sự thật mà bản chất là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, xóa bỏ hệ thống chính trị ở nước ta, cũng có nghĩa là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam để Việt Nam đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Tham nhũng là một vấn nạn nan giải của mọi quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, Cả lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng tham nhũng là một hiện tượng phổ biến trên thế giới. Thực tế Đảng và Nhà nước ta chưa bao giờ và không bao giờ bao che, dung túng cho tội tham nhũng, tất cả những ai phạm tội tham nhũng, kể cả những người có chức, có quyền cao cấp, là ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng... đều bị pháp luật trừng phạt nghiêm khắc... Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Công tác phòng chống tham nhũng cũng đã được chỉ đạo chặt chẽ, thực hiện ráo riết, quyết liệt, đạt được nhiều kết quả toàn diện, tích cực, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt đẹp, được nhân dân rất hoan nghênh, ủng hộ, đồng tình cao, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vượt qua mọi khó khăn, phức tạp Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng cả trong quá khứ lịch sử dân tộc, đặc biệt từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Đảng đã đề xướng và tổ chức thực hiện cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi nạn tham nhũng rất kiên quyết, triệt để, đã đóng góp quan trọng cho sự nghiệp đổi mới, Việt Nam là một trong các nước có chế độ chính trị và sự ổn định chính trị nhất thế giới, được cả thế giới công nhận. Đó là một thực tế không ai có thể phủ nhận được, bác bỏ mọi luận điểm xuyên tạc của bọn phản động “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, chỉ có chế độ đa đảng, thì nạn tham nhũng mới được dẹp bỏ”./.

Yêu nước ST.

Hành vi cần nghiêm trị

Gần đây, trên mạng xã hội Facebook, YouTube xuất hiện các lớp học online có tên Năng lượng gốc Trống đồng (NLG), do Lê Văn Phúc, tự xưng là “chú Phúc” đứng đầu thực hiện. Theo quảng cáo của nhóm này, nếu ai tham gia các lớp học online về cách truyền NLG thì sẽ chữa được bách bệnh, kể cả ung thư hay Covid-19.

Không thể xuyên tạc

Lợi dụng vụ việc Công ty Việt Á nâng giá bộ kít xét nghiệm để thu lợi bất chính trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đã và đang tác động không nhỏ tới đời sống mọi mặt của nhân dân ta trong gần 2 năm qua, các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động chống phá hòng bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng ta.

Cần gieo mầm văn hóa xin lỗi và nhận lỗi trong đời sống xã hội đất nước ta hiện nay

Chúng ta đều biết, văn hóa xin lỗi và nhận lỗi là một yếu tố quan trọng, góp phần làm nên văn hóa ứng xử của mỗi con người. Lời xin lỗi không đơn giản là biết lỗi và nhận lỗi mà nó còn thể hiện ý thức trách nhiệm của con người với cuộc sống, biết nhận trách nhiệm của mình đối với hậu quả do mình gây ra. Người Việt Nam từ xưa đến nay đều răn dạy con trẻ phải biết “cảm ơn” khi được ai đó quan tâm, giúp đỡ và phải biết “xin lỗi” khi mắc phải những lỗi lầm, khuyết điểm. Đây là nét văn hóa trong phong cách ứng xử của con người. Biết nói lời xin lỗi là tự nhắc nhở mình trước những sai phạm, đồng thời hứa với người khác hành động này không còn tái diễn nữa. Tuy nhiên, trong đời sống hiện nay, không phải ai cũng biết nói lời “xin lỗi” và nhận lỗi. Một nghệ sĩ có tiếng đăng tải những lời lẽ phản cảm, công kích người khác trên mạng xã hội. Nghệ sĩ khác đi làm từ thiện, nhưng chậm chuyển tiền đến người dân gặp khó khăn. Thay vì đưa ra lời xin lỗi để lấy lại niềm tin của dư luận, những nghệ sĩ này lại giải thích quanh co, đổ lỗi, gây bức xúc trong xã hội. Rồi một số cán bộ thực hiện sai các quy định của Nhà nước, vi phạm pháp luật, làm những việc có hại cho dân, khi bị phát hiện thì bao biện, lấp liếm khuyết điểm, hay tìm mọi cách chạy chọt để được giảm tội. Trong cuộc sống đời thường, nhiều người mắc lỗi lại không chịu nói lời “xin lỗi”, mà còn gây sự, thách thức, làm mất đoàn kết nội bộ, bất ổn trong khu dân cư. Còn nhớ, tại Hội nghị lần thứ X, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II (tháng 11-1956), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn nhận khuyết điểm trước Quốc hội về những sai sót trong cải cách ruộng đất. Các kỳ đại hội sau này, Đảng ta cũng dũng cảm nhận một số khuyết điểm trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Thời gian qua, nhiều tổ chức đảng, chính quyền đã có phong trào xây dựng nếp sống văn hóa công sở, sẵn sàng xin lỗi dân khi giải quyết các thủ tục hành chính chậm trễ, thái độ ứng xử chưa đúng mực hoặc có những sai lầm, khuyết điểm. Những việc làm này đã củng cố niềm tin trong nhân dân, góp phần xây dựng lề lối làm việc văn hóa, văn minh nơi công sở. Trên thực tế, biết nói lời cảm ơn và xin lỗi là một nét văn hóa ứng xử, là hành động cần thiết trong cuộc sống. Những người biết nói lời “xin lỗi” và biết nhận lỗi chân thành là những người có hiểu biết, có nhân cách và có trách nhiệm đối với xã hội. Còn người không biết xin lỗi, không dám nhận lỗi thường là những người kiêu ngạo, nhận thức kém, bảo thủ, ích kỷ, cố chấp và ý thức cộng đồng thấp. Những người này rất dễ dẫn đến suy thoái về đạo đức lối sống, phai nhạt lý tưởng, tham ô tham nhũng, tiêu cực… Chúng ta đều hiểu, một lời xin lỗi vụng về vẫn tốt hơn im lặng. Nhận ra lỗi lầm để sửa chữa, mong được tha thứ sẽ làm dịu cơn giận dữ hoặc nỗi đau của người khác. Lời xin lỗi chân thành có thể cứu vãn được sự việc đáng tiếc có thể đã xảy ra, nó giúp cho cuộc sống của chúng ta được an lành, hạnh phúc hơn. Vừa qua, Hội nghị Văn hóa toàn quốc đã thành công tốt đẹp, là điều kiện rất tốt nhằm phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Vì thế, xây dựng văn hóa xin lỗi, nhận lỗi chính là góp phần xây dựng con người mới- con người có tri thức, đạo đức, tinh thần trách nhiệm cao với xã hội, phục vụ tốt cho công cuộc phát triển và hội nhập của đất nước.

Cần kiên quyết đấu tranh phòng chống “tiêu cực” trong cán bộ, đảng viên thời gian tới

“Tiêu cực” trong cán bộ, đảng viên là nhận thức, thái độ, hành vi không lành mạnh; những thói hư, tật xấu, những biểu hiện, hành vi trái với các quan điểm, chủ trương, quy định của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân, cản trở quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Việc nhận diện các biểu hiện cụ thể của “tiêu cực” là không đơn giản, nhưng có thể khái quát lại, biểu hiện rõ nét nhất của “tiêu cực” là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những “tiêu cực” trong cán bộ, đảng viên được dư luận xã hội quan tâm, bức xúc thời gian qua đó là : - Thứ nhất, “Lợi ích nhóm” chi phối chính sách, quyết định quản lý dẫn đến đầu tư sai gây lãng phí lớn và thiệt hại tài sản. Có thể thống kê về thiệt hại tài sản do tham nhũng gây ra nhưng khó có thể thống kê hết được thiệt hại tài sản do lãng phí gây ra vì lãng phí xảy ra trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, dưới nhiều hình thái khác nhau. “Lợi ích nhóm” sẽ làm tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức, đảo lộn những chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội. - Thứ hai, "Tiêu cực” trong công tác cán bộ là tình trạng đưa vào quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm chức vụ, quyền hạn cho những cán bộ chưa hoặc không đủ tiêu chuẩn, điều kiện được giấu dưới vỏ bọc “đúng quy trình”, “đúng quy định”. Không ít người đứng đầu đã bất chấp nguyên tắc, quy trình, quy định để lạm quyền thực hiện công tác cán bộ theo ý của riêng mình. Trên thực tế, ở một số địa phương, đã có tình trạng cán bộ được bổ nhiệm thần tốc, bổ nhiệm tràn lan… lâu ngày trở nên “ung nhọt”, phổ biến, gây bức xúc trong dư luận xã hội. - Thứ ba, tình trạng tham nhũng “vặt” có tác động tiêu cực, lâu dài đến chất lượng quản trị nhà nước và môi trường pháp lý, phá mất kỷ cương, phép tắc của địa phương, đơn vị. “Ăn quen bén mùi” - cũng từ đây mà tệ nạn “cò” ký sinh vào từng loại dịch vụ, từng cơ quan, đơn vị, vừa hành dân, vừa làm hư hỏng đội ngũ cán bộ công chức. Hậu quả lớn nhất, nặng nề nhất, nguy hại nhất, chua xót nhất của tệ tham nhũng “vặt” là Nhân dân mất niềm tin với Đảng, Nhà nước, vào chế độ. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã bị làm méo mó đi dưới nhiều phương diện. - Thứ tư, tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm, tình trạng hối lộ, đề cao đồng tiền, thực dụng chủ nghĩa. Các biểu hiện suy thoái liên quan đến thực thi quyền lực nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của cán bộ, đảng viên rất đa dạng, như nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo; tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi; lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực; sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi... - Thứ năm, tình trạng tha hóa đạo đức, lối sống, sống buông thả, hưởng lạc... là vấn đề nổi cộm trong đời sống xã hội, còn biểu hiện ở nhiều mức độ khác, như: Công chức, viên chức bớt xén giờ làm việc để xử lý việc cá nhân; nhậu nhẹt say xỉn; phát ngôn bừa bãi… Sự tha hóa về lối sống sẽ làm ảnh hưởng đến thanh danh của Đảng, làm sụt giảm uy tín của Đảng và đội ngũ đảng viên trước quần chúng nhân dân. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên trong nhiệm kỳ là: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong thời gian tới, để phòng, chống những biểu hiện “tiêu cực” trong cán bộ đảng viên, cần thực hiện đồng bộ những nhóm giải pháp như sau: + Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về nội dung, giá trị và ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. + Hai là, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Kết luận 01-KL/TW về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Bộ Chính trị khóa XIII. + Ba là, đổi mới, tăng cường công tác quản lý phát triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên theo yêu cầu của Điều lệ Đảng. Phát huy vai trò của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên. Trong kiểm tra, giám sát, cần chú ý lắng nghe dư luận quần chúng, tiếp nhận ý kiến của mặt trận, đoàn thể nhận xét, phê bình cán bộ, đảng viên theo định kỳ hoặc đột xuất để phát hiện, khắc phục những khuyết điểm khi mới “chớm nở”. + Bốn là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đủ về số lượng và đạt về chất lượng để tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều được điều chỉnh bằng các bộ luật và luật. + Năm là, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Nhân dân đối với cán bộ, đảng viên thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. + Sáu là, hạn chế tối đa những tác động bên ngoài đến tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về tình hình, nhiệm vụ cách mạng hiện nay và hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị đối với cách mạng nước ta hiện nay để nâng cao sức đề kháng, “miễn dịch” với các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Đề ra các biện pháp để khắc phục chủ nghĩa thực dụng kinh tế, lối sống cá nhân, hưởng thụ, chủ nghĩa cá nhân cực đoan. + Bảy là, phát huy vai trò tự giác, tích cực của cán bộ, đảng viên trong phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống. Mỗi cán bộ, đảng viên cần xác định nhiệm vụ, trách nhiệm của mình ở từng lĩnh vực, vị trí công tác, phấn đấu hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao xứng đánh với niềm tin của Nhân dân./.

Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng trong vụ tịnh thất Bồng Lai

Ngày 11/1, Cục Trẻ em đã có công văn gửi Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) đề nghị bảo vệ trẻ em trên không gian mạng liên quan vụ vi phạm tại Tịnh thất Bồng Lai, tỉnh Long An.

Người xưa, chuyện xưa về phòng, chống tham nhũng, những bài học lịch sử và hành động của chúng ta hôm nay

Cách đây hơn một ngàn năm, nhà nước phong kiến triều Lý (1009-1225) đã đề ra những quy định khắt khe và rất cụ thể để ngăn ngừa và trừng trị hành vi tham ô, ăn trộm của công của quan lại. Đối với việc thu thuế, các quan nha, thư lại ở lĩnh vực này cùng với mười phần phải đóng vào kho triều đình, họ được thu riêng một phần gọi là “hoành đầu”. Kẻ nào thu quá số ấy thì bị khép vào tội ăn trộm. Đối với Khố ty thu thuế lụa, nếu “ăn lụa” của dân thì cứ mỗi thước lụa bị phạt 100 trượng; “ăn” một tấm lụa đến trên 10 tấm thì theo số tấm, thêm phối dịch 10 năm. Triều Lý cũng là nhà nước quân chủ đầu tiên ban hành bộ luật thành văn với tên gọi Hình Thư (năm 1042, dưới thời vua Lý Thái Tông). Bộ luật này hiện không lưu giữ được, tuy nhiên, qua những chiếu chỉ còn lưu lại cho thấy, cùng với các tội về “thập ác”, thì tội tham nhũng được luật pháp đặc biệt quan tâm và có những chế tài nghiêm khắc. Năm 1042, vua Lý Thái Tông ban chiếu: “Những người thu quá số thuế quy định sẽ bị ghép vào tội ăn trộm. Người dân tố cáo việc đó được miễn dịch 3 năm. Người ở kinh thành mà cáo giác nạn nhũng nhiễu, tham ô thì nhận thưởng bằng hiện vật thu được”. Ngoài hình phạt chính, các quan ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì bị phạt 50 quan tiền; từ 10 quan đến 19 quan, bị phạt từ 60 đến 100 quan; của hối lộ một phần trả lại chủ, một phần sung vào kho quỹ triều đình. Đến triều Lê sơ, Lê Thánh Tông - một vị vua anh minh, tài giỏi, đã xây dựng và thực thi bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình luật), bao quát nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau mà ngày nay ta gọi là Luật hình sự, Luật dân sự, Luật tố tụng, Luật hôn nhân và gia đình, Luật hành chính... Bộ luật Hồng Đức có 722 điều, trong đó có trên 40 điều liên quan việc phòng, chống tham nhũng. Ở Điều 1, chương “Vi chế”, ghi rằng: các chức quan lại có số lượng nhất định, nếu tự ý bổ dụng hay tuyển chọn quá hạn định thì cứ thừa 1 người, phạt người đứng đầu cho 60 trượng, “biếm” 2 tư (hạ chức 2 bậc), hoặc bãi chức, thừa 2 người thì xử tội “đồ” (hình phạt lao dịch khổ sai ở nhiều mức độ). Điều 42, chương “Vi chế” ghi rõ: “Làm trái pháp luật, ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan, xử tội “biếm” hoặc bãi chức; từ 10 đến 19 quan, xử tội “đồ”-“lưu” (“lưu” là hình phạt lao dịch khổ sai, bị đầy đi các châu xa…); từ 20 quan trở lên xử “lưu”; từ 50 quan trở lên xử “tử” (là hình phạt nặng nhất, phạt bằng cách chết thắt cổ, chém cổ, xử trảm bêu đầu…)”. “Các quan địa phương sách nhiễu lương dân, mua bán rẻ, đòi biếu xén thì hạ chức hoặc bãi chức… và phải bồi thường gấp đôi trả dân”. Điều 138 của bộ luật này quy định: Ăn lễ từ 1 đến 9 quan phải phạt 50 quan; từ 10 đến 19 quan phạt từ 60 đến 100 quan; từ 20 quan trở lên phạt tội làm phu. Của hối lộ bỏ vào kho một phần, một phần trả lại chủ”. Để ngăn chặn việc tư thù, ân oán, lợi dụng chức quyền, thu vén cá nhân, các điều 101, 128, 129, 130 của chương “Vi chế” quy định rõ: “Các quan liêm phóng, xét việc phải đúng sự thật, nếu sơ suất mà sai thì xử “biếm”; nếu vì tư thù ân oán, hoặc ăn hối lộ mà đổi trắng thay đen thì không kể việc lớn hay nhỏ, ăn nhiều hay ăn ít đều xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai), tội “tử” (chết) không thể nương tay. Các quan đi sứ nước ngoài mà chỉ lo việc mua bán thì xử tội “biếm” hay “đồ”, mang vật cấm xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai)”. Bộ luật nghiêm khắc này quy định: “Những người quyền quý thế gia và các hoạn quan nội thần không được cầu cạnh nhờ cậy việc quân với các quan tướng hiệu, nếu trái thì quan nhất phẩm, nhị phẩm bị phạt hay biếm, quan tam phẩm, tứ phẩm thì bị cách chức hay bị đồ; quan ngũ phẩm, lục phẩm thì bị đồ hoặc lưu, quan thất phẩm trở xuống thì bị lưu hoặc tử hình. Quan tướng hiệu nhận lời thì bị tội đồ hoặc lưu, nếu không thiệt hại đến việc quân thì được giảm…” Dưới triều Lê, việc chống tham nhũng được coi trọng, mặt khác, việc chiêu mộ, sử dụng bậc hiền tài, trong sạch được đề cao. Khi quan lại đã tham ô, thì việc định tội không phân biệt giàu nghèo, chức to hay chức nhỏ. Nhờ đó, người tốt có chỗ dựa, được tin dùng; bọn tham quan, kẻ xấu xa khó tìm đất sống; nạn tham nhũng bị đẩy lùi, muôn việc đều hanh thông, tươi tốt. Luật này còn có một số quy định cần thiết và khá cụ thể như quan lại không được lấy vợ, kết làm thông gia với người ở nơi mình cai quản; không đưa quan lại về quê hương bản quán trị nhậm; không được tậu ruộng vườn, đất đai, nhà cửa tại nơi cai quản; không được đưa người cùng quê làm giúp việc; không cho những người có quan hệ thầy trò, bạn bè làm việc cùng một nơi. Đến triều Nguyễn, bên cạnh những hạn chế nhất định do hoàn cảnh lịch sử, nhà Nguyễn cũng đạt được những thành tựu khá quan trọng về xây dựng bộ máy và tăng cường kỷ cương phép nước. Nổi bật là việc xây dựng và thực thi bộ luật Gia Long (ban hành năm 1815). Luật Gia Long có 17 quyển quy định riêng về Luật hình đối với tội nhận hối lộ (đút lót) và gần 20 điều khoản quy định cụ thể về vấn đề này. Trong số 400 điều của bộ luật này, có 79 điều quy định về các tội liên quan đến tham nhũng, và có những điều rất hà khắc. Điều 31 quy định: quan lại nhận hối lộ phải chịu hình phạt thấp nhất 70 trượng, cao nhất là treo cổ. Điều 111 quy định: “Quan lại dùng chức vụ vô cớ bắt trói người và tra khảo họ nơi tư gia (không kể có thương tích hay không thương tích) thì tăng hơn người thường hai bậc tội. Nếu nạn nhân chết, người ấy bị xử treo cổ”. Điều 392 quy định: “Người nào dùng các thủ đoạn biển thủ, lấy trộm tiền lương, vật tư ở kho, cũng như mạo phá vật liệu đem về nhà. Nếu tang vật lên đến 40 lượng thì bị chém”. Người phụ trách việc xây dựng, không được lợi dụng quyền để mượn vật tư, tiền công dù rất nhỏ, nếu bị phát giác sẽ bị quy tội nặng. Các quan cậy thế hoặc dùng sức ép để buộc người khác cho mình mượn hàng hoá, vật tư, tiền công thì tuỳ theo giá trị hiện vật để xử phạt, nhẹ thì mỗi thứ hàng hoá phạt 100 trượng, bị lưu 3.000 dặm, thu hồi hết tang vật, nếu nặng thì tử hình. Trong số các vua triều Nguyễn, vua Minh Mạng (1820 - 1840) nổi tiếng nghiêm khắc và kiên quyết trừng trị nạm tham nhũng, bất kể là ai, giữ chức vụ gì, có quan hệ thế nào với nhà vua. Sách Đại Nam thực lục chép lại câu chuyện, năm 1823, viên lại Phủ Nội vụ tên là Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng, bị phát giác. Theo luật quy định thì tội này sẽ bị chém đầu, nhưng xét thấy trước đây Diệm có một số công trạng nên Bộ Hình giảm xuống, bắt đi đày viễn xứ. Tuy nhiên, Minh Mạng không chấp nhận đề nghị của Bộ Hình, Vua ra lệnh chém đầu Diệm trước chợ Đông Ba, cho mọi người thấy mà khiếp hãi để sửa mình. Một câu chuyện khác, cuối năm 1831, Tư vụ Nội vụ phủ Nguyễn Đức Tuyên ăn bớt nhựa thơm, rồi trộn mật thường vào, hòng che đậy hành vi gian dối. Sự việc bị phát hiện, theo luật hình, người này đương nhiên bị khép tội chết và bị chặt tay treo ở kho. Tuy nhiên, để răn đe nghiêm khắc, vua Minh Mạng ra chỉ dụ “chặt một bàn tay thủ phạm Nguyễn Đức Tuyên đem treo, xóa tên trong sổ làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận”. Cũng theo Đại Nam thực lục, năm 1822, vùng Quảng Đức và Quảng Trị bị thiên tai bão lụt, nhà cửa điêu linh, thóc gạo đắt đỏ và khan hiếm. Trước tình cảnh đó, triều đình cho phát 25.000 hộc thóc để bán và cấp cho dân. Người lính quản lý kho thóc ở Kinh thành là Đặng Văn Khuê phụ trách việc này, nhưng khi trợ cấp đến dân, mỗi hộc thóc lại thiếu một ít. Vụ việc bị phát giác, vua Minh Mạng giao bộ Hình tra xét. Án xong tâu lên, nhà vua liền ra lệnh chém đầu. Năm 1821, Phó Tổng trấn Gia Định là Huỳnh Công Lý, là nhạc phụ của nhà vua, tham nhũng 30.000 quan tiền, nhà vua gạt tình thâm, ban chỉ dụ tử hình bố vợ. Cùng với các bản án và hình phạt rất nghiêm khắc, các quan tham nhũng ở thời vua này đều bị tịch thu tài sản, đem chặt tay hoặc chém đầu nơi đông người để thị uy, đe nẹt. Nhìn lại các bộ luật cũng như các văn bản pháp luật của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam trước đây, có thể thấy rõ những quy định khắt khe, thống nhất đối với giới quan lại, nghiêm cấm các hành vi mà quan lại không được làm. Đó là không được tham lam, vơ vét của cải của dân; không được nhận hối lộ, nếu nhận thì tuỳ theo số lượng tiền mà trị tội; không được ẩn lậu khi thu thuế; không được phép lợi dụng việc công để mưu lợi việc riêng; nghiêm cấm vì tình riêng, vì nhận hối lộ mà tiến cử người kém tài, kém đức; các quan xét xử phải giữ lẽ công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Một trong những biện pháp rất được các triều đại tin dùng đó là luật (hoặc lệ) hồi ty. Theo đó, một viên quan đứng đầu một địa hạt không được phép nhậm chức tại quê hương mình, không được lấy vợ là người sở tại, không được phép có nhà cửa, ruộng vườn, ao đầm trên địa hạt mình cai quản, không được có người cấp phó là đồng hương, và điều quan trọng là các quan lại này đều được dịch chuyển địa hạt cai quản theo một chu trình nhất định. Năm 1831, vua Minh Mạng cho ban hành Luật hồi tỵ, quy định các việc phải kiêng kỵ, tránh né, buộc bộ các chức sắc trong bộ máy từ triều đình đến nơi thôn dã phải triệt để chấp hành. Luật này quy định, khi sắp xếp, bố trí bộ máy quan lại, phải triệt để tránh (không bố trí) những nơi quê gốc (quê nội), vì ở đó có quan hệ họ tộc gần gũi từng sinh sống nhiều đời sinh sống…; không bố trí ở quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ và cả những nơi trước đây đã từng theo học), dù chỉ ngắn ngày. Đến đời vua Thiệu Trị, nhà vua bổ sung thêm một số điều của luật xử án trong đó có các quy định ngăn ngừa, loại bỏ các mối quan hệ thân tộc, gia đình, đồng hương, bè cánh, tránh tình trạng bao che, thông đồng để thực hiện những hành vi tham nhũng, hối lộ, trù dập, ức hiếp người tố cáo, làm sai lệch cán cân công lý. Khi pháp luật được thực thi nghiêm minh, chính tắc, ắt xuất hiện những con người thẳng ngay, khí khái, dù máu chảy đầu rơi cũng kiên quyết gìn giữ cương thường xã tắc. Đó là nhà nho, người thầy mẫu mực “vạn thế sư biểu” Chu Văn An (1292 - 1370) thời Trần. Vì căm giận bọn nịnh thần, tham nhũng, ông đã dâng “Thất trảm sớ” xin Vua chém đầu 7 tên gian thần. Đó là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) thời Mạc, đã dâng sớ xin Vua chém đầu 18 tên gian thần, lộng thần. Đó là Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1272 - 1346) với tri thức uyên thâm, luôn giữ khí tiết thanh liêm, chính trực; ông đã nhiều lần vạch mặt bọn tham quan trước Triều đình, can gián Nhà vua trước những việc làm chưa đúng. Đó là Tiến sỹ Đặng Huy Trứ (1825 - 1874), một vị quan luôn lo lắng đến nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trước triều đình và trước muôn dân. Để phòng tham nhũng, ông viết cuốn “Từ thụ yếu quy” (những nguyên tắc chủ yếu của việc không nhận và có thể nhận), tổng kết từ những việc thật xảy ra trong cuộc sống, chỉ ra những thói hư tật xấu, cám dỗ, lợi dụng trong chốn quan trường. Ông từng nói “Mình thiệt, lợi dân, dân gắn bó/Đẽo dân, mình béo, dân căm hờn/Hờn căm, gắn bó tùy ta cả/Duy chữ “thanh thanh” đối thế nhân”. Đến thời đại Hồ Chí Minh. Ngay từ thời dựng Đảng, mở lời cho cuốn “Đường Kách mệnh” (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đề cao “Tư cách một người cách mạng”. Người nhấn mạnh “phải cần, kiệm, nói thì phải làm, phải biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất”. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” (tỉnh Nghệ An, ngày 17/9/1945), Bác viết: “Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư…” . Bác Hồ coi tham ô, lãng phí là tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội. Người chỉ rõ bản chất của hành vi tham ô là lấy của công làm của tư, là gian lận tham lam, là trộm cướp. Trong bài nói chuyện năm 1952 về “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu”, Hồ Chủ tịch nói rõ: “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là ăn cắp của công làm của tư; đục khoét của nhân dân; ăn bớt của bộ đội; tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình…”… “Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”. Theo Người, đặc trưng của hành vi tham ô là biến "của công" thành "của tư". Bất cứ hành vi lấy "của công" làm "của tư" nào cũng đều bị Hồ Chí Minh coi là hành vi tham ô. Hơn một tháng sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, Báo Cứu quốc (ngày 17/10/1945) đăng bức thư của Người gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng. Trong thư, Người nhắc nhở các cấp chính quyền ở một số nơi “cậy thế, tham ô, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo”... Người căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”. Ngày 17/3/1952, Người viết bài về chống quan liêu, tham ô, lãng phí. Bài báo có đoạn: “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần, kiệm, liêm, chính để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc”. Chúng ta từng biết, năm 1950, vào ngày 5/9, tại Chiến khu Việt Bắc diễn ra một phiên tòa đặc biệt gây chấn động dư luận xã hội lúc bấy giờ. Đó là vụ án Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ và làm nhiều điều bỉ ổi. Kết thúc phiên tòa, Trần Dụ Châu bị tuyên phạt với mức án cao nhất - tử hình. Sự việc được báo cáo lên Hồ Chủ tịch. Người đã cân nhắc kỹ và quyết định bác đơn xin giảm tội của Trần Dụ Châu. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng”. Tác hại do tham nhũng gây ra cực kỳ to lớn về mọi mặt. Nó không những làm thiệt hại về kinh tế mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với chế độ; làm rối loạn kỷ cương pháp luật, hư hỏng cán bộ... Trong khi “chiến sỹ thì hy sinh xương máu, đồng bào thì hy sinh mồ hôi nước mắt để đóng góp, mà những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội Việt gian mật thám”. Người nhắc nhở, chống loại kẻ địch này (tức nạn tham ô) khó khăn, phức tạp hơn ngay cả so với đánh giặc ngoại xâm. Điều này phải được xem là một đặc thù, chi phối toàn bộ cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Người căn dặn: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”. Nói chuyện với cán bộ và nhân dân Hà Bắc ngày 17/10/1963, Người kêu gọi: "... Phải chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Phải chấm dứt những tệ nạn xấu xa do xã hội cũ để lại, như lười biếng, cờ bạc, buôn gian bán lậu, tiêu sài xa xỉ, gả bán, cưỡng ép... Để sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, đồng bào các dân tộc phải nâng cao ý thức làm chủ và tinh thần cần kiệm xây dựng nước nhà. Nhân kỷ niệm Ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/1969), Bác viết bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Bác chỉ rõ: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Bác căn dặn: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”… “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”. Ngày nay, Đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật; khắc phục những sơ hở trong quản lý kinh tế - xã hội và PCTN, nhất là các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng như quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; thu, chi ngân sách; đầu tư xây dựng (bao gồm cả đầu tư công và đầu tư theo hình thức BT, BOT); tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan; các chế độ, định mức, tiêu chuẩn...; các giải pháp về PCTN còn hình thức, hiệu quả thấp. Có cơ chế để kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng chính sách, pháp luật để hạn chế sự tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích”, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ”, ngăn chặn nguy cơ nảy sinh tham nhũng ngay từ khi xây dựng chính sách. Hệ thống thể chế của Đảng và Nhà nước phải tạo ra được “một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để không dám tham nhũng; một cơ chế đảm bảo để không cần tham nhũng”. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, công chức, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước; hoàn thiện, thực hiện nghiêm các quy định về công tác tổ chức, cán bộ để PCTN; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới Rà soát, hoàn thiện quy định của Đảng và Nhà nước về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai, làm nghiêm từ trên xuống dưới. Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát quyền lực để PCTN. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn thực sự có hiệu lực, hiệu quả để ngăn ngừa tham nhũng theo nguyên tắc: Mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền lực càng cao, trách nhiệm càng lớn; lạm dụng, lợi dụng quyền lực phảỉ truy cứu trách nhiệm và xử lý vỉ phạm. Phải tăng cường giám sát, kiểm soát quyền lực để đảm bảo quyền lực được vận hành công khai, minh bạch, đúng đắn, để quyền lực không bị “tha hóa”. Cùng với hoàn thiện hệ thống thể chế về kinh tế - xã hội và PCTN để “nhốt quyền lực vào trong lồng thể chế”, phải tăng cường giám sát việc thực thi thể chế thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; thanh tra, kiểm toán của Nhà nước; giám sát của các cơ quan và đại biểu dân cử; giám sát của các cơ quan tư pháp; giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, của nhân dân và của toàn xã hội. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý tham nhũng của các cơ quan, đơn vị chức năng và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong PCTN, nhằm ngăn ngừa tham nhũng chính ngay trong các cơ quan chống tham nhũng. Đưa công tác kiểm tra, giám sát về PCTN nói chung, công tác kiểm tra, giám sát việc thanh tra, xử lý vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án kinh tế, tham nhũng vào chương trình công tác hàng năm của cấp uỷ và Ủy ban kiểm tra các cấp. Phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong PCTN. Kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Hoàn thiện quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, nhất là phạm vi đối tượng phải kê khai; các nội dung về công khai, quản lý, kiểm tra, giám sát, xác minh bản kê khai; trách nhiệm giải trình, chế tài xử lý vi phạm trong kê khai và xử lý tài sản, thu nhập kê khai không trung thực, không kê khai, biến động tăng thêm mà không giải trình được một cách hợp lý. Hoàn thiện quy định và hệ thống cơ sở hạ tầng để chuyển mạnh và tiến tới thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát hiện sớm, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng. Khi đã xảy ra tham nhũng thì phải xử lý kiên quyết, nghiêm minh, kịp thời, đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng PCTN; từng bước mở rộng hoạt động PCTN ra ngoài khu vực nhà nước, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về PCTN./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA


“ Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân”
Là lời trong bài "Đạo đức công dân" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng Báo Nhân dân, số 320 ngày 15-1-1955; trong lúc đại đa số nhân dân ta hăng hái đóng góp sức của, sức người, tự giác, tự động làm trọn nghĩa vụ của người chủ nước nhà để khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, tích cực tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà; nhưng vẫn còn một số người chỉ muốn hưởng quyền lợi mà không làm nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc, thậm chí có người còn làm trái pháp luật (như tham ô, buôn gian, lậu thuế, trộm cắp, lưu manh...).
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những biểu hiện tiêu cực, việc làm thiếu trách nhiệm của một số công dân đối với Tổ quốc, với cộng đồng; Người nhắc nhở các địa phương, các ngành phải quan tâm và sử dụng phương pháp giáo dục phù hợp, giải thích cho quần chúng hiểu rõ địa vị cao quý của người làm chủ nước nhà, nhất trí lợi ích chung của Nhà nước và lợi ích riêng của mỗi người, qua đó nêu cao ý thức, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Tổ quốc, với cộng đồng.
Lời của Người nhanh chóng được cấp ủy, chính quyền các địa phương trên toàn miền Bắc quán triệt, hiện thực hóa thành các chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể; tuyên truyền, giáo dục đạo đức công dân, vận động mọi người làm tròn bổn phận của người dân làm chủ; thi đua với bộ đội và nhân dân miền Nam anh dũng đang chiến đấu hy sinh xương máu để giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà; hàng ngàn khẩu hiệu hành động ở các địa phương được nhân dân đồng thuận, hưởng ứng tích cực; nhân dân bảo nhau, cùng nhau thực hiện nghiêm pháp luật Nhà nước; tuân theo kỷ luật lao động; tự giác đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ hạn, tích cực tham gia xây dựng lợi ích chung; hăng hái trong thực hiện công việc tập thể; quan tâm bảo vệ tài sản của công, góp phần xây dựng hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện cho chiến trường miền Nam giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hiện nghĩa vụ và giữ vững đạo đức công dân, tiếp tục được Đảng và Nhà nước ta nghiên cứu, vận dụng sáng tạo phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, làm cho mọi người Việt Nam hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc; nêu cao ý thức công dân tích cực đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến quá trình xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người.
Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và sự nghiệp xây dựng Quân đội có bước phát triển, đòi hỏi nghĩa vụ, trách nhiệm và đạo đức của người quân nhân cách mạng phải tiếp tục được củng cố, tu dưỡng, rèn luyện; tập trung nâng cao nhận thức và sự nhạy bén chính trị của cán bộ, chiến sĩ, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội; bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và nhân cách quân nhân, giữ vững, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Theo báo QĐND

CUỘC "CHUYỂN GIAO QUYỀN LỰC" ĐẰNG SAU KHỦNG HOẢNG KAZAKHSTAN!

     Bất ổn nhiều ngày qua phơi bày phần nào căng thẳng chính trị âm ỉ trong lòng Kazakhstan: Làm sụp đổ di sản của ông Nazarbayev và tạo cơ hội nắm thực quyền cho Tổng thống Tokayev.

   Khi còn cầm quyền, cựu Tổng thống Nursultan Nazarbayev đã mạnh mẽ dẹp bỏ mọi thách thức đe dọa tới vai trò cai trị của ông. Lãnh đạo đất nước Trung Á suốt 3 thập niên, ông được coi là biểu tượng tôn thờ của người dân Kazakhstan, theo Guardian.
Khi từ chức tổng thống vào năm 2019, ông đã chọn một đồng minh thân cận làm người kế nhiệm, Kassym-Jomart Tokayev, và tiếp tục nắm quyền phía sau. Ông vẫn giữ danh hiệu chính thức là Elbasy - nghĩa là "người lãnh đạo của quốc gia".
Thủ đô Astana thậm chí còn được đổi tên thành Nursultan để vinh danh ông.
Vậy nhưng, cơn thịnh nộ trên đường phố Kazakhstan - một trong những quốc gia ổn định nhất thời hậu Xô Viết - đã cho thấy một tình huống khác. Những bức tượng của ông Nazarbayev vốn được coi là di sản nay bị nhiều người biểu tình phá bỏ. Thay vì hô “Elbasy”, mọi người giận dữ hét lên “Shal ket” (Lão già, cút đi).
Bất bình trước đói nghèo, bất bình đẳng và tham nhũng, phần lớn sự tức giận nhắm tới Nazarbayev, người bấy lâu nay không ai có thể “chạm vào”.
Trong khi đó, Tổng thống Tokayev - người chưa bao giờ có được thực quyền - đang cố gắng tạo khoảng cách với ông Nazarbayev. Washington Post cho rằng có một số dấu hiệu thể hiện sự chia rẽ giữa hai nhân vật quyền lực nhất Kazakhstan 

Từ nhà lãnh đạo đáng kính tới "cột thu" sự bất bình

Sinh năm 1940, ông Nazarbayev trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên sau khi Kazakhstan độc lập. Chính ông đã định hình hệ thống chính trị của Kazakhstan, tập trung quyền lực vào tay một tầng lớp nhỏ và giàu có.
Trong suốt những năm 1990, ông đã điều hành đất nước và tránh bạo lực đàn áp theo kiểu cực đoan giống như Uzbekistan và Turkmenistan, cũng như tinh thần phản cách mạng của Kyrgyzstan.
Ông thu hút sự ủng hộ bằng những lời hứa về sự ổn định và phúc lợi, ở một khu vực Trung Á đầy biến động và giáp với Afghanistan - khu vực rung chuyển bởi Hồi giáo cực đoan, căng thẳng sắc tộc và buôn bán ma túy.
Khi Liên Xô tan rã, ông đã vạch ra một lộ trình địa chính trị tinh tế cho Kazakhstan: Thân thiện với Nga, nhưng vẫn qua lại với giới lãnh đạo phương Tây.
Cựu tổng thống sẵn sàng từ bỏ vũ khí hạt nhân mà Kazakhstan thừa hưởng từ Liên Xô để lấy lòng phương Tây. Sau đó, ông củng cố mối quan hệ bằng những hợp đồng kinh tế béo bở, cho phép các công ty dầu mỏ khổng lồ của Mỹ khai thác nguồn dự trữ dầu.
Ông Nazarbayev nhấn mạnh với người dân rằng vốn nước ngoài là điều cần thiết để giải cứu ngành công nghiệp ốm yếu thời kỳ hậu Xô Viết. Nhiều người ghi công ông vì sự tăng trưởng kinh tế và tránh được những ảnh hưởng tiêu cực từ các nước láng giềng, ít nhất là trong hai thập niên đầu cầm quyền.
Năm 2010, ông nhận danh hiệu "Nhà lãnh đạo của quốc gia" sau khi quốc hội trao ông quyền miễn trừ truy tố và quyền hoạch định chính sách ngay cả khi đã nghỉ hưu.
“Theo nhiều cách, ông ấy đã có một sự khởi đầu tốt và phong cách không quá độc đoán”, William Courtney - cựu đại sứ Mỹ tại Kazakhstan - cho biết. “Tuy nhiên, theo thời gian, ông ấy ngày càng ít cải cách hơn, chuyên quyền hơn trong khi bất bình đẳng thu nhập trở thành một vấn đề quan trọng với người Kazakhstan”.
Qua nhiều cuộc bầu cử, ông Nazarbayev luôn giành được hơn 80% số phiếu bầu, ngay cả khi bất đồng chính kiến trong nước ngày càng tăng.
Năm 2001, cựu Bộ trưởng Năng lượng, Công nghiệp và Thương mại Mukhtar Ablyazov đã thành lập một đảng nhằm phá bỏ hệ thống chính trị tập trung duy nhất vào ông Nazarbayev.
Một năm sau đó, ông Ablyazov bị kết tội lạm dụng quyền lực khi còn là bộ trưởng và nhận án 6 năm tù. Áp lực quốc tế buộc cựu tổng thống trả tự do cho ông Ablyazov vào năm 2003.
Sau khi giá dầu giảm vào năm 2008, người dân bất bình trước túi tiền ngày càng phình to của ông Nazarbayev và gia đình. Nhiều cuộc biểu tình diễn ra ở những năm tiếp theo, một vài trong số đó bị đàn áp dữ dội.
Luật sư, kế toán và cố vấn phương Tây đã giúp tầng lớp thượng lưu mới nổi ở Kazakhstan đầu tư tài sản vào các dinh thự ở London và biệt thự Thụy Sĩ. Con gái và cháu trai của ông được cho là sở hữu khối tài sản trị giá 80 triệu bảng Anh ở London. Ông Nazarbayev cũng mời một lượng lớn các kiến trúc sư phương Tây và nhà quy hoạch đô thị để xây dựng thủ đô mới.
Con gái lớn, Dariga, được bổ nhiệm làm Chủ tịch Thượng viện Kazakhstan - vị trí quyền lực thứ hai trong nước - cho đến năm 2020. Một người con gái khác là Dinara cùng chồng đã tạo ra một trong những đế chế doanh nghiệp hùng mạnh nhất cả nước.
Sau khi chính thức trao quyền cho Tổng thống Tokayev vào năm 2019, ông Nazarbayev tiếp tục kiểm soát nền chính trị của Kazakhstan. Ông đã đảm nhận một loạt chức danh mang lại địa vị đặc quyền so với phần còn lại của tầng lớp chính trị.
Dưới thời của ông Tokayev, các chính sách của chính phủ vẫn giữ nguyên và mức sống của người Kazakhstan tiếp tục giảm.
Giờ đây, hình ảnh của cựu tổng thống trở thành “cột thu” sự bất bình. Một vài tin đồn cho rằng ông có thể rời đất nước để “điều trị y tế”.

"Tokayev đã kết thúc kỷ nguyên Nazarbayev"

Guardian nhận định hiện vẫn chưa rõ tình hình bất ổn tại Kazakhstan sẽ diễn biến ra sao, và ông Nazarbayev sẽ đóng vai trò gì. Tuy nhiên, những cuộc biểu tình vừa qua chắc chắn làm sụp đổ di sản lịch sử mà ông tưởng đã êm ấm sau khi từ chức.
Trong lúc đó, ông Tokayev - người được coi là sự thay thế “tạm thời” cho ông Nazarbayev khi quyền lực chủ yếu nằm trong tay cựu lãnh đạo 81 tuổi - đã có nhiều động thái khác lạ. Tờ Welt của Đức nhận định Kazakhstan trước đó về cơ bản luôn có hai trung tâm quyền lực. Ông Tokayev vốn được biết đến là người hay trì hoãn cải cách quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu từ người bảo trợ chính trị phía sau.
Thế nhưng, từ người vốn điềm tĩnh, tổng thống hôm 7/1 đã cho phép quân đội “bắn mà không cần báo” vào bất cứ ai có biểu hiện bạo lực. Ông cũng đảo ngược chính sách đối ngoại độc lập - một trong những thành tựu được đánh giá cao của ông Nazarbayev - khi nhờ liên minh quân sự do Nga dẫn đầu đổ bộ vào Kazakhstan.
Tình trạng bất ổn chưa từng có hiện tạo ra hệ thống mới với Tổng thống Tokayev là trung tâm. Nhà cựu ngoại giao về cơ bản đã tiến hành một “cuộc cách mạng” cùng lúc với cuộc biểu tình bằng cách phá hủy phần lớn cơ sở quyền lực của ông Nazarbayev.
Ngày 5/1, Tổng thống Tokayev gạch tên ông Nazarbayev khỏi ghế chủ tịch hội đồng an ninh quốc gia. Financial Times cho rằng dù lên nắm quyền từ năm 2019, ông Tokayev mới chỉ thực sự làm tổng thống khi ngồi vào chức vụ này.
Tổng thống Tokayev cũng loại bỏ các đồng minh quan trọng của ông Nazarbayev ra khỏi chính quyền, bao gồm bắt giữ Karim Massimov - giám đốc cơ quan an ninh nội địa (KNB) kiêm cựu thủ tướng dưới thời ông Nazarbayev - vì tình nghi phản quốc.
Trước đó, ông cũng thẳng tay cách chức các bộ trưởng trong nội các - do chính ông Nazarbayev lựa chọn - và cho rằng họ là nguồn cơn của tình trạng bất ổn.
Financial Times cho rằng Tổng thống Tokayev chưa bao giờ là một người đơn giản.
“Chúng tôi chưa bao giờ hình dung ông ấy là thủ tướng, chứ chưa nói gì đến tổng thống”, Victor Khrapunov - cựu thị trưởng Almaty, người từng làm việc với ông Tokayev - nói.
Hình ảnh bóng bẩy của ông - kỹ trị tài ba, giáo dục tốt, không xuất thân từ tầng lớp lao động - không thu hút công chúng một cách hiệu quả như Nazarbayev - người từng là công nhân nhà máy.
Tuy nhiên, ông Tokayev lại trái ngược với người tiền nhiệm theo một cách khác, và thuận lợi hơn nhiều: Ông không tham gia vào lĩnh vực kinh doanh.
Điều đó có thể giúp ông giành được niềm tin của công chúng khi người dân ngày càng thất vọng bởi chất lượng cuộc sống đi xuống, nhưng gia đình ông Nazarbayev lại trở thành tỷ phú.
“Tất cả chính trị gia cấp cao đều có lợi ích trong kinh doanh, nhưng ông ấy thì không. Ông ấy không dính líu tới vụ bê bối tham nhũng nào”, Livia Paggi - người nghiên cứu về rủi ro chính trị tại London - cho biết.
Điều này hiện trở nên đặc biệt quan trọng khi nền kinh tế Kazakhstan vẫn nằm trong tay những người trung thành với ông Nazarbayev. Những người con rể của cựu lãnh đạo đều có tầm ảnh hưởng trong ngành dầu khí. Nếu như ông Tokayev có thể thay đổi nền chính trị hiện tại, tổng thống sẽ cần dành cả thập niên để chiến đấu với nhóm người này bằng cách trừng phạt hoặc thương lượng để họ rời bỏ vị trí.
Trong suốt nhiệm kỳ tổng thống, ông Tokayev không thực hiện cải cách cơ cấu lớn mà tập trung vào những vấn đề như luật cạnh tranh và ràng buộc chuỗi cung ứng trong lĩnh vực nông nghiệp. Đây là những lĩnh vực mà ông cho rằng sẽ giải quyết lạm phát và giá lương thực cao - điều mà người dân đang bất bình.
“Những người hoài nghi sẽ nói rằng ông ấy tập trung vào các biện pháp về khoa học kỹ thuật do không được phép làm điều gì khác. Tuy nhiên, ông ấy tin rằng điều này sẽ hợp pháp hóa khả năng lãnh đạo của mình nếu như Tokayev có thể cải thiện điều kiện kinh tế của người dân”, Ben Godwin, Phó giám đốc công ty tư vấn Prism, cho biết.
Theo phân tích từ tổ chức nghiên cứu chính sách Carnegie Moskva Centre, chỉ trong vài ngày, ông Tokayev đã kết thúc kỷ nguyên Nazarbayev. Có lẽ, Tổng thống Tokayev là người giành được nhiều lợi ích nhất từ cuộc khủng hoảng này./.


Môi Trường ST.