Thứ Tư, 12 tháng 1, 2022

Mỹ công bố tài liệu bác bỏ các yêu sách phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông


Mỹ công bố tài liệu bác bỏ các yêu sách phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông

Hôm 12/1, trên trang web của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết, nghiên cứu gần đây nhất, lần thứ 150 trong loạt bài Giới hạn trên biển, kết luận rằng CHND Trung Hoa khẳng định các yêu sách hàng hải trái pháp luật ở hầu hết Biển Đông, bao gồm cả yêu sách quyền lịch sử trái pháp luật.

Nghiên cứu này dựa trên phân tích năm 2014 của Bộ về tuyên bố chủ quyền "đường 9 đoạn" không rõ ràng của CHND Trung Hoa ở Biển Đông. Kể từ năm 2014, CHND Trung Hoa tiếp tục khẳng định các tuyên bố chủ quyền đối với một vùng Biển Đông cũng như những gì mà CHND Trung Hoa gọi là “vùng nội thủy” và “các quần đảo xa”, tất cả đều không phù hợp với luật pháp quốc tế như được phản ánh trong Công ước Luật Biển năm 1982.

"Với việc công bố nghiên cứu mới nhất này, Hoa Kỳ một lần nữa kêu gọi CHND Trung Hoa tuân thủ các yêu sách hàng hải của mình với luật pháp quốc tế như được phản ánh trong Công ước Luật Biển, tuân thủ quyết định của Tòa trọng tài trong phán quyết ngày 12 tháng 7, 2016, tại Trọng tài Biển Đông, và chấm dứt các hoạt động cưỡng chế và trái pháp luật của mình ở Biển Đông", Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết, nghiên cứu đưa ra trường hợp chi tiết nhất của họ chống lại các yêu sách "trái pháp luật" của Bắc Kinh ở Biển Đông, từ chối cả cơ sở địa lý và lịch sử cho bản đồ rộng lớn, gây chia rẽ của họ.

Trong tài liệu nghiên cứu dài 47 trang, Cục Đại dương và Môi trường Quốc tế và Khoa học của Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết Trung Quốc không có cơ sở theo luật pháp quốc tế đối với những tuyên bố khiến Bắc Kinh tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông với Philippines, Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác.

“Ảnh hưởng tổng thể của những yêu sách hàng hải này là việc CHND Trung Hoa tuyên bố chủ quyền một cách bất hợp pháp hoặc một số hình thức độc quyền tài phán đối với hầu hết Biển Đông", tài liệu nêu.

"Những tuyên bố này làm suy yếu nghiêm trọng chế độ pháp quyền trên các đại dương và nhiều quy định được công nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế được phản ánh trong Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982".

Công bố nghiên cứu, một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ một lần nữa kêu gọi Bắc Kinh "ngừng các hoạt động trái pháp luật và cưỡng chế ở Biển Đông".

Bài báo là bản cập nhật của một nghiên cứu năm 2014 tranh chấp tương tự về cái gọi là "đường chín đoạn" tạo cơ sở cho phần lớn lập trường của Bắc Kinh.

Năm 2016, một tòa án quốc tế đã đứng về phía Philippines trong các khiếu nại về các tuyên bố của Trung Quốc. Bắc Kinh đáp lại bằng cách đưa ra những lý lẽ mới, bao gồm cả việc nói rằng Trung Quốc có "quyền lịch sử" đối với khu vực này.

Tài liệu của Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng những tuyên bố dựa trên lịch sử như vậy là "không có cơ sở pháp lý" và Trung Quốc đã không đưa ra chi tiết cụ thể.

Nó cũng đưa ra các lý do địa lý cho các tuyên bố của Trung Quốc, nói rằng hơn 100 địa điểm mà Bắc Kinh nêu bật ở Biển Đông bị nhấn chìm bởi nước khi thủy triều lên và do đó "vượt quá giới hạn hợp pháp của lãnh hải của bất kỳ quốc gia nào".

Bắc Kinh viện dẫn các đặc điểm địa lý như vậy để tuyên bố chủ quyền đối với bốn "nhóm đảo", mà nghiên cứu của Bộ Ngoại giao cho rằng không đáp ứng các tiêu chí về đường cơ sở theo công ước của Liên Hợp Quốc.

Vào năm 2020, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo khi đó đã rõ ràng ủng hộ các tuyên bố chủ quyền của các quốc gia Đông Nam Á ở Biển Đông. Biển Đông là nơi có các mỏ dầu khí có giá trị và các tuyến đường vận chuyển, và các nước láng giềng của Bắc Kinh thường xuyên lên tiếng lo ngại rằng người hàng xóm khổng lồ của họ đang tìm cách mở rộng phạm vi hoạt động.

 

Thu hút, trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực công nghệ

 Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nêu rõ các định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, trong đó nhấn mạnh việc tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Thực tế cho thấy, nguồn nhân lực chất lượng cao và thiếu cơ chế thu hút người tài luôn là “điểm nghẽn”, là “nút thắt” cần được khắc phục, khơi thông để có thể thực hiện thành công yêu cầu phát triển nhanh, bền vững.

Điểm nghẽn nguồn nhân lực chất lượng cao

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nêu rõ các định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, trong đó nhấn mạnh việc tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài.

Trao đổi về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Mai Hoa, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cho biết, thực tiễn cho thấy vấn đề thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và thiếu cơ chế thu hút người tài luôn là “điểm nghẽn”, là “nút thắt” cần được khắc phục, khơi thông để có thể thực hiện thành công yêu cầu phát triển nhanh, bền vững.

Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, khi nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức thì nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định. Điều này càng có ý nghĩa hơn khi được định hướng bởi tầm nhìn xa đến giữa thế kỷ XXI, phấn đấu đưa nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở đặt ra mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể phải hoàn thành cho giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Theo bà Hoa, về cơ chế, cần tiếp tục tháo gỡ các “nút thắt” trong thể chế, chính sách; tập trung hoàn thiện hệ thống luật pháp, đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực. Xây dựng chiến lược “dài hơi” cho việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà trọng tâm là đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, đảm bảo liên thông giữa các bậc học, cấp học, trình độ đào tạo; nhanh chóng hoàn thiện, đồng bộ thể chế về tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình đối với các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; xây dựng một xã hội học tập để tạo điều kiện cho người lao động tự học suốt đời.

Đặc biệt, bà Hoa nhấn mạnh việc đã thu hút được nhưng phải giữ được nhân tài để trọng dụng họ. Do đó, cần có sự nghiên cứu để có chính sách thu hút nhân tài, bao gồm chính sách hỗ trợ về lương bổng, phụ cấp, chỗ ở, tạo môi trường và điều kiện làm việc tốt nhất cho người tài thỏa sức sáng tạo, nuôi dưỡng khát vọng cống hiến vì mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh.

Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao là kiều bào

Đối với việc thu hút nhân tài trong lĩnh vực công nghệ, bà Hoa cho biết, với người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài khi thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ tại Việt Nam cần được hưởng mức lương theo thỏa thuận.

Mức lương thỏa thuận được xác định bằng tính chất, quy mô và tầm ảnh hưởng của nhiệm vụ khoa học công nghệ. Thông qua trình độ, năng lực và hiệu quả đóng góp của cá nhân để có chế độ đãi ngộ phù hợp. Mức lương của các vị trí tương đương trong các tổ chức nước ngoài hoặc doanh nghiệp.

Bà Hoa cho rằng, với lĩnh vực công nghệ, con người là nhân tố quan trọng nhất. Trong thời gian tới, nước ta cần tập trung vào hoạt động huấn luyện - đào tạo, nhất là đào tạo thêm về các công nghệ, kỹ thuật mới, cũng như tạo điều kiện tốt nhất cho nhân viên phát triển nghề nghiệp lâu dài. Cần xây dựng và duy trì môi trường làm việc chuyên nghiệp, có văn hóa riêng, khuyến khích cải tiến, sâu sát, cởi mở. Có thể trao quyền tự chủ phù hợp để thu hút nhân tài và giúp các tài năng có thể tự do sáng tạo, thể hiện bản thân.

Trao đổi với Lao Động, đại biểu Nguyễn Thanh Xuân - Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Cần Thơ - cho biết, Đảng và Nhà nước luôn xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng cho việc chuyển đổi số, kinh tế số cần có chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài ở lĩnh vực công nghệ. Các doanh nghiệp mới hiện đang có sự cạnh tranh rất lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó có đội ngũ kỹ sư. Chính sự cạnh tranh nguồn nhân lực giữa các doanh nghiệp tạo ra một môi trường tốt cho đổi mới sáng tạo.

Theo ông Xuân, để việc triển khai thực hiện tốt chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời gian tới, cần tiếp tục chiến lược quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao. Bắt đầu từ việc quy hoạch, sắp xếp lại mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, gắn với công tác kiểm định, đánh giá chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên theo quy định. Kế đến là xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ; thu hút và đãi ngộ nhân tài ở cả trong và ngoài nước.

Đánh giá cao tiềm năng của đội ngũ trí thức, chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài, đại biểu Xuân cho rằng cần có cơ chế, chính sách, cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ xứng đáng để thu hút kiều bào về nước đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Chính sách thu hút, đãi ngộ này cần đảm bảo sự ổn định, bền vững để tạo sự tin tưởng và gắn bó của kiều bào với đất nước./.

Thu hút, đào tạo, trọng dụng nhân tài lĩnh vực quân sự trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

 Nhân tài nói chung, nhân tài lĩnh vực quân sự nói riêng là “tài nguyên quý” của đất nước. Trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc thu hút, đào tạo, trọng dụng nhân tài lĩnh vực quân sự là đòi hỏi khách quan và là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cấp thiết, nhằm xây dựng và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao trong Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong tình hình mới.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, ông cha ta có nhiều kinh nghiệm về phát hiện, tuyển chọn và trọng dụng nhân tài, coi hiền tài là “nguyên khí quốc gia”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ, trọng dụng nhân tài. Người chỉ rõ: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”(1). Trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta luôn kế thừa, phát huy những kinh nghiệm của ông cha, thường xuyên quan tâm chăm lo, xây dựng và thực hiện tốt việc thu hút, đào tạo, trọng dụng nhân tài, coi đây là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Những năm qua, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, Nhà nước về thu hút, đào tạo, trọng dụng nhân tài, như Kết luận số 86-KL/TW, ngày 24-1-2014, của Bộ Chính trị, “Về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ”; Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”,... Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, đề ra những chủ trương, giải pháp để thu hút, tuyển chọn, đào tạo, trọng dụng nhân tài và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Những đồng chí được tuyển chọn, đào tạo hoặc bồi dưỡng nâng cao kiến thức quân sự, quốc phòng tại các nhà trường quân đội đều có ý chí quyết tâm cao, đạt được thành tích tốt trong học tập và sau khi tốt nghiệp ra trường, được bố trí, sử dụng theo sở trường, nhiều đồng chí đã có những cống hiến quan trọng trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Trải qua thực tiễn, tuyệt đại đa số họ đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng tốt; trình độ học vấn, tư duy khoa học nhạy bén, sắc sảo và năng lực lãnh đạo, tổ chức, quản lý, hoàn thành tốt nhiệm vụ, tích cực đóng góp sức lực, tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thu hút, trọng dụng nhân tài trong xã hội vào phục vụ Quân đội còn có những bất cập, như về nội dung, biện pháp, hình thức, cơ chế, chính sách tuyển chọn, đào tạo, sử dụng, đãi ngộ nhân tài phục vụ ở một số lĩnh vực...

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu tác động trực tiếp, toàn diện tới mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Đặc biệt, việc phát triển lý luận về quân sự, quốc phòng; nghệ thuật quân sự; khoa học và công nghệ quân sự; khoa học xã hội và nhân văn quân sự; ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ,... đòi hỏi phải có sự đổi mới về tư duy, trình độ quản lý, chỉ huy, điều hành phù hợp với các hình thái chiến tranh mới, nghệ thuật tác chiến và cách đánh phù hợp với vũ khí, trang bị hiện đại trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao. Điều này đặt ra những yêu cầu cao hơn, đòi hỏi phải chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu tác chiến trên không gian mạng và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Để thích ứng với yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng ta chủ trương: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ người tài”(2). Đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội, Đảng ta xác định: Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, xây dựng Quân đội cơ bản tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, đến năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Quán triệt và thực hiện chủ trương của Đảng, trước hết, phải thực hiện tốt quan điểm “người trước, súng sau”; ưu tiên xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và coi đây là việc làm có ý nghĩa quyết định. Việc thu hút, đào tạo, trọng dụng nhân tài lĩnh vực quân sự hiện nay là một tất yếu khách quan, mang tính chiến lược và cấp thiết để đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Theo đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy các cấp; nâng cao nhận thức về thu hút, đào tạo, trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực quân sự trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội là một nguyên tắc bất biến trong quá trình xây dựng, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta; đồng thời, là biện pháp quan trọng hàng đầu, đưa đến sự thành công của việc thu hút, đào tạo, trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực quân sự. Nguyên tắc này phải được nhận thức đúng và tuân thủ nghiêm ngặt. Các cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường trong Quân đội cần lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, tập trung làm tốt công tác giáo dục để cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trước sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thấy rõ thời cơ và thách thức; nhận rõ những yêu cầu về đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo theo mô hình “Nhà trường thông minh”, phương châm “chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị” và trách nhiệm trong thu hút, nâng cao chất lượng tuyển chọn nguồn đào tạo, sử dụng nhân tài lĩnh vực quân sự.

Triển khai thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về giáo dục và đào tạo(3) để xây dựng và triển khai thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Đề án đổi mới quy trình, chương trình đào tạo cán bộ các cấp trong Quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; Đề án xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2021 - 2030. Chăm lo xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đạt chuẩn theo quy định. Thực hiện tốt công tác bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ nhà khoa học qua thực tiễn. Có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài vào công tác trong Quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Hai là, thực hiện tốt công tác tuyển sinh quân sự, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Công tác tuyển sinh quân sự phải thu hút được đông đảo các đối tượng ở trong và ngoài Quân đội có đủ điều kiện, tiêu chuẩn, nhất là những học sinh có học lực giỏi, xuất sắc, học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia, quốc tế; những học sinh, sinh viên tài năng, có năng khiếu. Các cơ quan, đơn vị cần nghiên cứu, nắm chắc các chỉ thị, thông tư, hướng dẫn về công tác tuyển sinh quân sự của Bộ Quốc phòng; thực hiện thống nhất, đồng bộ các khâu, các bước trong tuyển sinh quân sự; chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức tạo nguồn, xét duyệt các đối tượng tuyển sinh quân sự theo đúng quy trình, điều kiện, tiêu chí. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, các địa phương trong công tác tuyên truyền để nhiều học sinh, sinh viên, thanh niên và hạ sĩ quan, binh sĩ hiểu rõ ngành, nghề, cuộc sống tương lai khi tham gia tuyển sinh quân sự, thu hút đông đảo các đối tượng thi tuyển vào các nhà trường quân đội. Muốn vậy, các cấp, các ngành, các địa phương phải thực sự quan tâm đến công tác tuyển sinh quân sự; tạo môi trường, điều kiện đăng ký và tổ chức thi tuyển thuận lợi, chặt chẽ; bảo đảm tốt cơ sở vật chất và môi trường sư phạm quân sự khoa học, lành mạnh để học viên tốt nghiệp có trình độ tương xứng với mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Qua đó, xây dựng, củng cố niềm tin của họ về tương lai phát triển khi lựa chọn tham gia tuyển sinh quân sự và phục vụ lâu dài trong Quân đội.

Cơ quan tham mưu chiến lược của Bộ Quốc phòng cần thường xuyên bám sát thực tiễn, chủ động nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng những chủ trương, định hướng về tuyển chọn, đào tạo nhân tài cho Quân đội; xây dựng chuẩn đầu vào và đầu ra của các đối tượng đào tạo; làm tốt công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch tạo nguồn đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật ở trong nước và nước ngoài. Bảo đảm đủ số lượng, chỉ tiêu, tiêu chuẩn, nhất là tiêu chuẩn về ngoại ngữ, nghiên cứu khoa học trong xét tuyển đầu vào sau đại học. Với cán bộ được lựa chọn cử đi đào tạo theo chức vụ hoặc theo học vấn, các đơn vị cần thực hiện đúng chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về đối tượng, mục tiêu, yêu cầu đào tạo, nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội. Đối với công tác đào tạo cán bộ ở nước ngoài, cần tập trung đào tạo theo định hướng của Nghị quyết số 618-NQ/ĐU, ngày 28-10-2010, của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), “Về đào tạo cán bộ Quân đội ở nước ngoài đến năm 2020 và những năm tiếp theo”; chú trọng đào tạo cơ bản, dài hạn, đào tạo chuyên sâu, đồng bộ với vũ khí, trang bị của Quân đội; ưu tiên đào tạo cán bộ nghiên cứu, thiết kế chế tạo, quản lý, khai thác làm chủ vũ khí, trang bị thế hệ mới, tiên tiến đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại. Các đơn vị cần coi trọng khâu tuyển chọn đầu vào theo hướng vừa bảo đảm về số lượng, chất lượng, vừa đúng với quy hoạch sử dụng cán bộ. Đối với những tài năng trẻ, cần xây dựng quy trình tạo nguồn hợp lý để sớm đưa đi đào tạo; gắn đào tạo với sử dụng, đáp ứng quy hoạch cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội.

Ba là, có cơ chế, chính sách đãi ngộ và môi trường làm việc tốt để thu hút, trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực quân sự đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Lao động của Quân đội là lao động đặc thù, các hoạt động của bộ đội thường diễn ra trong môi trường khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, thậm chí phải hy sinh cả tính mạng khi làm nhiệm vụ. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra những yêu cầu mới, cao hơn đối với công tác huấn luyện, đào tạo, sử dụng các loạ#i vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại. Tác chiến công nghệ cao đòi hỏi trình độ, năng lực, sức khỏe của bộ đội cao hơn nên nếu môi trường làm việc và chính sách đãi ngộ không tốt, sẽ không thu hút được nhân tài vào học tập, công tác và cống hiến trong Quân đội. Do đó, phải xây dựng môi trường làm việc thuận lợi, bố trí sử dụng đúng người, đúng việc và có chế độ, chính sách đãi ngộ hợp lý, thỏa đáng để thu hút nhân tài phục vụ lâu dài trong Quân đội. Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, tham mưu, báo cáo Bộ Quốc phòng, đề xuất với Đảng, Nhà nước ban hành đồng bộ cơ chế, chính sách tuyển chọn, đào tạo, sử dụng, đãi ngộ và có những cơ chế đặc thù với nhân tài. Xây dựng các điều kiện, tiêu chí cụ thể và theo dõi, quản lý nhân tài trong lĩnh vực quân sự một cách khoa học, xứng đáng với sự cống hiến của họ và phù hợp với sự phát triển của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới.

Bốn là, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, kết hợp chặt chẽ đào tạo với trọng dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, kết hợp chặt chẽ đào tạo với trọng dụng nhân tài có ý nghĩa rất quan trọng, trong đó, cần có cơ chế và thực hiện có hiệu quả việc bố trí, sử dụng nhân tài sau đào tạo và coi đây là mắt xích quan trọng, không thể thiếu trong thu hút, đào tạo, trọng dụng nhân tài lĩnh vực quân sự. Để làm được điều này, cần tập trung đầu tư xây dựng một số học viện, nhà trường đủ điều kiện trở thành trường trọng điểm quốc gia và Quân đội theo mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Thường xuyên cập nhật chương trình đào tạo của quốc gia, khu vực và triển khai đào tạo một số chuyên ngành chất lượng cao, trọng điểm, chuyên sâu; tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo. Việc nâng cao chất lượng đào tạo nhân tài lĩnh vực quân sự phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó, giáo dục đạo đức, xây dựng bản lĩnh và truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm, bồi dưỡng năng lực, rèn luyện kỹ năng ở các nhà trường quân đội, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học,... có ý nghĩa quyết định. Theo đó, ngoài đầu tư, nâng cấp về cơ sở vật chất, trang, thiết bị dạy và học, các nhà trường quân đội cần chú trọng xây dựng, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, trọng tâm là nâng cao tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học, phấn đấu đạt quy chuẩn của Nhà nước. Đồng thời, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế để thực hiện có hiệu quả việc bố trí, sử dụng cán bộ sau đào tạo; gắn đào tạo với bố trí, sử dụng cán bộ, tạo điều kiện tốt nhất để cán bộ luôn tâm huyết với nhiệm vụ, phát triển đúng hướng; đề bạt, bổ nhiệm những cán bộ thực sự có tài năng, nhất là tài năng trẻ, có phẩm chất tốt. Thực hiện tốt việc luân chuyển, điều động cán bộ theo quy hoạch, kết hợp giữa lý thuyết với thực hành, giữa kiến thức được trang bị ở nhà trường với kiến thức, kỹ năng được bồi dưỡng, rèn luyện qua hoạt động thực tiễn; tạo điều kiện để cán bộ được thử thách, trưởng thành vững chắc.

Năm là, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng với nghiên cứu, ứng dụng khoa học quân sự vào thực tiễn.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng phải gắn kết chặt chẽ với nghiên cứu phát triển khoa học quân sự nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong điều kiện mới. Đặc trưng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là rút ngắn khoảng cách thời gian giữa nghiên cứu và ứng dụng, do đó, sự kết hợp này giúp phát huy tốt nhất năng lực của đội ngũ cán bộ trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nội dung nghiên cứu lý luận về nghệ thuật quân sự, khoa học xã hội và nhân văn quân sự cần tập trung vào đặc điểm của chiến tranh công nghệ cao; phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân ứng phó với các hình thái chiến tranh xâm lược mới; hình thức, phương pháp lãnh đạo, chỉ huy, điều hành tác chiến; về xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới,... Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, bổ sung, phát triển hoàn thiện tư duy lý luận về quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nghiên cứu, đề xuất ban hành và thực hiện có hiệu quả Đề án xây dựng Quân đội nhân dân hiện đại trong giai đoạn mới. Chú trọng nghiên cứu lý luận về tổ chức, xây dựng lực lượng tác chiến, nhất là về cơ cấu, tổ chức các đơn vị thích ứng với điều kiện đất nước và trang bị vũ khí, phương tiện mới cho các lực lượng. Nghiên cứu làm chủ khoa học và công nghệ hiện đại, tiếp cận trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, huấn luyện, đào tạo theo phương thức đưa ngay các sản phẩm khoa học vào ứng dụng trong thực tiễn huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu./.

Thủ tướng Phạm Minh Chính điện đàm với Thủ tướng Trung Quốc, thúc đẩy quan hệ toàn diện, giải quyết vấn đề ách tắc hàng hóa tại cửa khẩu

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính điện đàm với Thủ tướng Trung Quốc, thúc đẩy quan hệ toàn diện, giải quyết vấn đề ách tắc hàng hóa tại cửa khẩu

Ngày 13/01/2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã điện đàm với Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Lý Khắc Cường nhân dịp kỷ niệm 72 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc (18/01/1950 - 18/01/2022).


Tại cuộc điện đàm, trong không khí tình cảm, cởi mở, tin cậy và thực chất, hai Thủ tướng đã cùng nhìn lại những thành quả của quan hệ Việt - Trung trong năm qua; đi sâu trao đổi các biện pháp thiết thực nhằm củng cố tình hữu nghị, tăng cường tin cậy chính trị và mở rộng hợp tác toàn diện.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chúc mừng Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc về những thành tựu quan trọng trong phòng chống dịch bệnh và phát triển kinh tế - xã hội. Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh, việc củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam xác định là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam; quan hệ song phương phát triển lành mạnh, hiệu quả có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của mỗi nước, có lợi cho duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Thủ tướng Chính phủ cũng đã thông báo, sau 35 năm Đổi mới, dưới sự lãnh đạo của nhiều thế hệ lãnh đạo và hiện nay là chỉ đạo trực tiếp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam tiếp tục xây dựng, bổ sung và ngày càng hoàn thiện lý luận về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.

Thủ tướng Lý Khắc Cường thể hiện đồng tình với các ý kiến của Thủ tướng Phạm Minh Chính, chúc mừng những thành tựu quan trọng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong phòng chống dịch bệnh COVID-19 và phục hồi phát triển kinh tế - xã hội; nhấn mạnh Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc hết sức coi trọng quan hệ với Việt Nam; mong muốn củng cố tình hữu nghị truyền thống, đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung - Việt không ngừng phát triển và đi vào chiều sâu. Thủ tướng Lý Khắc Cường khẳng định Trung Quốc đánh giá cao và kiên định ủng hộ Việt Nam đi theo con đường Chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình Việt Nam.

Hai Thủ tướng bày tỏ vui mừng và nhất trí cho rằng, năm 2021, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tiếp tục phát triển và đạt nhiều thành quả tích cực. Giao lưu tiếp xúc cấp cao diễn ra thường xuyên, đặc biệt là hai đồng chí Tổng Bí thư đã tiến hành điện đàm hai lần trong năm. Mặc dù bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, kim ngạch thương mại song phương đạt kỷ lục mới, ước đạt trên 160 tỷ USD năm 2021; tuyến đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông đi vào vận hành thuận lợi; đặc biệt, hai bên tích cực phối hợp tháo gỡ tình trạng ùn tắc nông sản ở khu vực cửa khẩu biên giới. Hợp tác phòng chống dịch bệnh là điểm sáng trong quan hệ hai nước, nhất là hợp tác về vaccine ngừa COVID-19. Hợp tác ASEAN - Trung Quốc đạt kết quả tích cực.

Về vấn đề ách tắc hàng hóa tại cửa khẩu biên giới, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, hai bên cần phối hợp chặt chẽ và áp dụng các biện pháp hiệu quả, quyết liệt để tiếp tục giải quyết tình trạng này, bảo đảm giao thương thông suốt nhằm duy trì ổn định chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất giữa hai nước cũng như trong khu vực, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán, để nhân dân và doanh nghiệp hai nước đón Tết ấm no, hạnh phúc; đề nghị Trung Quốc tiếp tục mở rộng nhập khẩu hàng hóa và đẩy nhanh mở cửa thị trường đối với một số loại nông sản, hoa quả của Việt Nam; nhấn mạnh Việt Nam đang quyết liệt thực hiện phương châm “an toàn để xuất khẩu, xuất khẩu phải an toàn”.

Thủ tướng Lý Khắc Cường nhấn mạnh coi trọng và quan tâm những đề nghị của Việt Nam về hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, coi đây là lĩnh vực quan trọng trong hợp tác hai bên. Sau khi Thủ tướng Phạm Minh Chính có thư gửi Thủ tướng Lý Khắc Cường và gặp Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, Thủ tướng Lý Khắc Cường đã chỉ đạo các bộ ngành, địa phương Trung Quốc phối hợp giải quyết, đến nay tình hình giao thương hàng hóa tại cửa khẩu đã có cải thiện; đề nghị hai bên lập Nhóm công tác chung để tiếp tục phối hợp giải quyết vấn đề này, tạo điều kiện thuận lợi để các mặt hàng nông sản, hoa quả của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc và duy trì thương mại thông suốt giữa hai nước.

Về vấn đề biên giới lãnh thổ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị hai bên tiếp tục thực hiện tốt 03 văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc, nhất là vấn đề nảy sinh; tiếp tục phát huy tốt các cơ chế đàm phán nhằm duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông; tôn trọng lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhau phù hợp với luật pháp quốc tế, xử lý ổn thỏa vấn đề trên biển theo tinh thần nhận thức chung cấp cao và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982; tích cực thúc đẩy đàm phán xây dựng, sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất, hiệu quả, phù hợp luật pháp quốc tế.

Thủ tướng Lý Khắc Cường bày tỏ mong muốn thúc đẩy các cơ chế đàm phán trên biển giữa hai nước sớm đạt tiến triển thực chất, sẵn sàng cùng Việt Nam và các nước ASEAN tiếp tục nỗ lực sớm đạt COC.

Hai bên nhất trí tiếp tục duy trì hiệu quả các kênh trao đổi về biên giới trên đất liền và vấn đề trên biển, thúc đẩy điểm đồng, xử lý các khác biệt, giữ gìn hòa bình, ổn định chung./.

 

Khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm

 

Khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm

Sáng 13/1, tại Hội trường Bộ Quốc phòng, Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022, trực tuyến tại 65 điểm cầu trên cả nước.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai và các đồng chí lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương chủ trì hội nghị.

Tham dự Hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương; Trần Thanh Mẫn, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; Đại tướng Lương Cường, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; Đinh Tiến Dũng, Bí thư Thành ủy Hà Nội và đồng chí Bí thư Trung ương Đảng Nguyễn Trọng Nghĩa, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.

Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng

Báo cáo kết quả công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2021; triển khai nhiệm vụ năm 2022, Phó trưởng Ban thường trực Ban Tổ chức Trung ương Mai Văn Chính cho biết: Năm 2021, năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, trách nhiệm, toàn ngành Tổ chức xây dựng Đảng vừa chung tay phòng, chống dịch COVID-19 vừa tham mưu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

Ngành đã tham mưu xây dựng báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng, thi hành Điều lệ Đảng, Quy chế bầu cử, Quy chế làm việc và tham mưu công tác nhân sự Đại hội XIII của Đảng, nhân sự bầu cử Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp; kiện toàn các chức danh lãnh đạo Nhà nước nhiệm kỳ 2016-2021 và 2021-2026 đảm bảo thận trọng, kỹ lưỡng, khách quan. Triển khai toàn diện, đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác tổ chức xây dựng Đảng; trong đó, đã hoàn thành cơ bản các đề án, nhiệm vụ trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp theo chương trình, kế hoạch công tác năm 2021. 

Ngành tham mưu Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định số 24-QĐ/TW, ngày 30-7-2021 về thi hành Điều lệ Đảng; Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 28-9-2021 của Ban Bí thư về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng; tham mưu đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ với mức độ cao hơn, yêu cầu nghiêm khắc hơn, trong đó Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) thể hiện quyết tâm chính trị cao nhằm góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng.

Việc kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, xây dựng vị trí việc làm gắn với nâng cao chất lượng, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đạt nhiều kết quả quan trọng. Kết quả tinh giản biên chế của toàn hệ thống chính trị đã đạt và vượt mục tiêu đề ra, khắc phục được tình trạng tăng biên chế trong nhiều nhiệm kỳ.

Sau hơn 05 năm thực hiện Nghị quyết 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, về cơ bản, đã đạt được mục tiêu tinh giản biên chế. Tính đến thời điểm 30/6/2021, cả hệ thống chính trị có hơn 2.887.500 biên chế, giảm hơn 762.800 biên chế (tương đương 20,9%) so với thời điểm 30/4/2015.

Một số nội dung mới, khó trong công tác cán bộ đã được toàn ngành nỗ lực tham mưu, hoàn thành như: Quy định về công tác quy hoạch cán bộ; kết luận về tuổi bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; khen thưởng cống hiến; rà soát chức danh tương đương... qua đó góp phần từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ.

Năm 2021, toàn ngành đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về tổ chức xây dựng Đảng, chú trọng khảo sát thực tiễn, đúc kết kinh nghiệm, nhất là từ những mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; nâng cao hiệu quả tuyên truyền về xây dựng Đảng, Ban Tổ chức trung ương ban hành Kế hoạch số 04-KH/BTCTW ngày 22/3/2021 thông tin, tuyên truyền về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị năm 2021; tích cực triển khai Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng mang tên Búa Liềm vàng lần thứ VI-năm 2021 với số lượng tác phẩm nhiều nhất trong 6 mùa giải.

Hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị

Năm 2022 - năm có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp, toàn ngành Tổ chức xây dựng Đảng tiếp tục nỗ lực, quyết tâm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp, tập trung triển khai thực hiện Chương trình công tác năm 2022 đảm bảo tiến độ, chất lượng, tập trung tham mưu và tổ chức thực hiện 19 đề án về tổ chức xây dựng Đảng trong Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2022; trong đó, có 2 đề án trình Ban Chấp hành Trung ương; 10 đề án trình Bộ Chính trị và 7 đề án trình Ban Bí thư; phát huy trí tuệ, kinh nghiệm của toàn ngành để hoàn thiện mức cao nhất các Đề án trình Hội nghị Trung ương 5, Trung ương 6 (khóa XIII).

Ngành tiếp tục tham mưu, triển khai, thực hiện tốt các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác cán bộ: Triển khai xây dựng quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2025-2030, 2026-2031 theo Quy định số 50-QĐ/TW của Bộ Chính trị. Khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung theo Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị. Tham mưu sơ kết, tổng kết, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản của Đảng liên quan đến công tác cán bộ. Triển khai nghiên cứu, xây dựng một số cơ chế, chính sách về công tác cán bộ. Kịp thời tham mưu bố trí, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử bảo đảm tiêu chuẩn, quy trình, quy định của Đảng. Triển khai các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp trong quy hoạch và theo tiêu chuẩn chức danh.

Ngành tiếp tục tham mưu đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tổng kết Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; tổng kết việc thực hiện quản lý biên chế giai đoạn 2016-2021; đề xuất biên chế của hệ thống chính trị giai đoạn 2022-2026; sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện một số mô hình thí điểm và nhân rộng những mô hình mới có hiệu quả theo Nghị quyết số 18-NQ/TW; tham mưu xây dựng Kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị.

Toàn ngành kiên quyết, kiên trì tham mưu thực hiện đồng bộ các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trong Kết luận 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Triển khai thực hiện đồng bộ 11 nhóm nhiệm vụ trọng tâm nêu tại Kế hoạch số 03-KH/TW thực hiện Kết luận 21-KL/TW; trong đó, toàn Ngành tập trung tham mưu thực hiện 7 nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch của Bộ Chính trị.

Năm 2022, ngành tiếp tục tham mưu hoàn thiện các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác bảo vệ cương lĩnh, đường lối, nền tảng tư tưởng của Đảng, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; kiện toàn tổ chức cơ sở đảng phù hợp với việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở; rà soát, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của một số loại hình tổ chức cơ sở đảng; tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng và thực hiện nghiêm quy chế làm việc của cấp ủy cơ sở; đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền về xây dựng Đảng gắn với tổ chức Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng mang tên “Búa liềm vàng” lần thứ VII-năm 2022 ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả.

Ngành tiếp tục tăng cường kiểm tra, giám sát về công tác tổ chức xây dựng Đảng, tổ chức các đoàn kiểm tra, giám sát về công tác cán bộ và bảo vệ chính trị nội bộ; hướng dẫn, kiểm tra ban tổ chức cấp ủy các cấp trong việc thực hiện chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ theo Quy định số 179-QĐ/TW, ngày 25/2/2019 của Bộ Chính trị; hoàn thành đúng tiến độ kế hoạch khảo sát của các ban chỉ đạo xây dựng đề án trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp, góp phần củng cố cơ sở thực tiễn, nâng cao chất lượng xây dựng đề án.

Ngành tiếp tục đổi mới phương pháp, lề lối, tác phong làm việc gắn với cải cách hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành; triển khai hiệu quả phong trào thi đua “Ngành Tổ chức xây dựng Đảng đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua vừa phòng, chống đại dịch COVID-19 vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.