Đường lối đổi mới phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đưa nước ta vào dòng chảy của thời đại quá độ lên CNXH để phát triển đất nước là đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại và điều kiện của đất nước.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
mà nước ta phát triển là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vừa
vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời có
sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo, bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất
nước. Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế,
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hợp tác và cạnh tranh bình đẳng theo
pháp luật. Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, việc phân bổ các nguồn lực
kinh tế của nhà nước được thực hiện theo cơ chế thị trường, phù hợp với chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của đất nước. Kinh tế tư nhân là một động
lực quan trọng của nền kinh tế, hoạt động ở mọi ngành, lĩnh vực mà pháp luật
không cấm. Các quyền sở hữu tài sản, tự do kinh doanh, tự do lưu thông được bảo
vệ; phát triển đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường, tạo cơ sở cho các quy luật
của kinh tế thị trường hoạt động, phát huy vai trò của mình; hội nhập kinh tế
quốc tế được đẩy mạnh, phát triển ngày càng sâu rộng. Nhà nước quản lý đất nước
bằng luật pháp, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng các nguồn lực kinh
tế nhà nước để giữ ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định xã hội, tạo môi trường thuận
lợi cho sản xuất kinh doanh; điều tiết, định hướng phát triển nền kinh tế; cung
cấp các dịch vụ công thiết yếu, bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo vệ
môi trường. Nhà nước không can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp bằng mệnh
lệnh hành chính. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong quyết định giá cả, huy
động, phân bổ các nguồn lực, điều tiết lưu thông hàng hóa, điều tiết hoạt động
của doanh nghiệp, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém. Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội của nhân dân có chức năng phản
biện, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước;
phản ánh nhu cầu, nguyện vọng, bảo vệ quyền, lợi ích của các tầng lớp nhân dân,
vận động nhân dân thực hiện các chính sách đúng đắn của nhà nước, tác động đến
quan hệ cung - cầu lao động, hàng hóa trên thị trường... Nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN với cơ cấu và cơ chế vận hành như vậy là nền kinh tế thị trường
hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, kế thừa những thành tựu phát triển của
chủ nghĩa tư bản; đồng thời, phát triển, có những yếu tố bảo đảm định hướng xã
hội chủ nghĩa. Đó là vai trò quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
do Đảng Cộng sản lãnh đạo, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vai trò nền
tảng của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; thực hiện phân phối vừa theo kết
quả lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, vừa theo mức đóng góp vốn, các yếu
tố sản xuất khác, đồng thời phân phối qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã
hội; kết hợp phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường;
không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, thực hiện mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; quyền lực nhà nước là do nhân dân ủy
quyền, thay mặt nhân dân quản lý đất nước; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát
lẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp theo.
Giữa các cơ quan lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ), tư pháp (Tòa án)
có sự kiểm soát lẫn nhau, nhưng không phải là sự kiểm soát của những lực lượng
đối lập nhau, mà quyền lực của các cơ quan này đều do nhân dân ủy quyền, phân
công để thực hiện các chức năng khác nhau, đều do cùng một đảng cầm quyền lãnh
đạo, nên còn có trách nhiệm phối hợp với nhau để nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý của Nhà nước. Tổ chức bộ máy nhà nước, chức năng, quan hệ phối hợp,
kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đều thực hiện
theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; hoạt động của các tổ chức đảng, cán
bộ, đảng viên của Đảng cầm quyền cũng phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật; Nhà nước quản lý đất nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật.
Cùng với sự kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực nhà nước, Nhà nước còn
chịu sự giám sát của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã
hội, các tổ chức xã hội của nhân dân theo quy định của pháp luật. Tổ chức và
phương thức hoạt động của Nhà nước như vậy phù hợp với các chuẩn mực phổ biến
của nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nhưng điểm khác biệt lớn của Nhà nước ta
so với nhà nước pháp quyền ở các nước tư bản trên thế giới là pháp luật của Nhà
nước ta là để phục vụ nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, phát
triển đất nước nhanh, bền vững để nâng cao đời sống vật chất của nhân dân, là
nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Đường lối, chính sách đúng đắn của
Đảng, Nhà nước được sự đồng tình ủng hộ, tích cực thực hiện của nhân dân đã tạo
nên những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, tạo nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế
của đất nước như ngày nay. Đại hội XIII của Đảng, trên cơ sở đánh giá đúng tình
hình đất nước, khu vực và thế giới, sẽ tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối
để đất nước đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa. Không có lý do gì để Đại
hội XIII của Đảng phải làm theo lời khuyên của những người muốn kéo lùi lịch
sử, đưa đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa./.
Trách nhiệm của cán bộ, công chức khi sử dụng mạng hội
Thời gian qua, tình trạng một số cán
bộ, công chức đưa ra phát ngôn thiếu chuẩn mực, lan truyền thông tin sai sự
thật, thiếu trách nhiệm,... trên mạng xã hội dường như có chiều hướng xảy ra
ngày càng nhiều, tạo nguy cơ gây dư luận xấu, tác động tiêu cực đến suy nghĩ,
nhận thức của một bộ phận nhân dân. Đây là tình trạng đáng báo động, đòi hỏi
cần phải được kịp thời chấn chỉnh.
Cách đây không lâu, trên Facebook cá
nhân, một chuyên viên văn phòng thuộc UBND thành phố Hồ Chí Minh đã đăng tải
những bài viết tổng hợp từ internet liên quan đến một số vụ việc được dư luận
quan tâm. Ðiều đáng nói là những nội dung người này đăng tải đã phản ánh không
đúng bản chất vụ việc, nhằm mục đích nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của lãnh
đạo Ðảng, Nhà nước. Cá nhân này sau đó đã bị khai trừ khỏi Ðảng vì “thiếu tu
dưỡng rèn luyện, suy thoái tư tưởng chính trị rất nghiêm trọng”. Trước đó,
tháng 5-2019, một người nguyên là phó bí thư chi bộ, trưởng một khoa của trường
chính trị thuộc tỉnh Hà Tĩnh cũng bị kỷ luật cách chức vì sử dụng mạng xã hội
đăng tin sai sự thật, bình luận xuyên tạc với từ ngữ thiếu văn hóa, xúc phạm
lãnh đạo Ðảng, Nhà nước. Các sự việc trên đang gióng lên hồi chuông báo động về
ý thức và thái độ trách nhiệm của một số cán bộ, công chức khi tham gia mạng xã
hội.
Không thể phủ nhận là ngày nay, mạng
xã hội (social network) như đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc
sống của con người trên toàn cầu, nhất là khi nhu cầu kết nối, chia sẻ trong
cộng đồng ngày càng gia tăng. Hiện một số mạng xã hội lớn có số lượng người sử
dụng lên đến hàng tỷ người như: Facebook (khoảng 2,2 tỷ người dùng), YouTube
(1,9 tỷ), WhatsApp (1,5 tỷ), WeChat (1,04 tỷ), Instagram (1 tỷ)… Số lượng người
sử dụng mạng xã hội ngày càng gia tăng trên toàn cầu cho thấy sự phổ biến cũng
như tầm ảnh hưởng của nó đối với xã hội. Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng mạng xã
hội vẫn liên tục tăng qua các năm. Theo báo cáo Digital 2020 trên trang
vnetwork.vn, đến tháng 1-2020, Việt Nam có số người dùng internet là 68,17
triệu người (chiếm tỷ lệ 70% số dân); số thuê bao di động là 145,8 triệu thuê
bao (chiếm tỷ lệ 150% so với tổng dân số cả nước); số người dùng mạng xã hội là
65 triệu người (chiếm tỷ lệ 67% số dân); trong đó có một lượng không nhỏ người
dùng là cán bộ, công chức. Tận dụng các ưu thế của mạng xã hội, hiện nay nhiều
cán bộ lãnh đạo cũng sử dụng mạng xã hội như một phương thức có hiệu quả, vừa
để tương tác, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân, vừa để kịp thời giải
quyết công việc. Tiêu biểu có thể kể như: Năm 2018, trên Facebook cá nhân, đồng
chí Huỳnh Văn Ðiển, Chủ tịch UBND huyện Tuy Phong (tỉnh Bình Thuận), kêu gọi
người dân tránh không để các đối tượng xấu xúi giục, kích động tụ tập, gây rối
và đã nhận được sự hưởng ứng tích cực của người dân. Sau đó Thượng tá Trần Long
Khánh, Trưởng Công an huyện Tuy Phong, đăng thư cảm ơn người dân vì việc tích
cực hợp tác với cơ quan chức năng trên trang Facebook cá nhân đã mang lại nhiều
hiệu quả. Thực tế ngày càng có nhiều tổ chức, cơ quan nhà nước mở trang trên
mạng xã hội để ghi nhận thắc mắc, khiếu nại của người dân, qua đó, xác minh,
tìm hiểu và xử lý kịp thời được nhiều vụ việc, được dư luận đồng tình. Nhờ đó,
mạng xã hội đã phát huy vai trò tích cực trong việc kết nối giữa chính quyền,
các cơ quan, bộ phận chức năng cũng như cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ với
người dân, đồng thời, góp phần thúc đẩy sự minh bạch trong hoạt động quản lý,
điều hành của hệ thống chính quyền tại các địa phương.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy vẫn
còn hiện tượng một số cán bộ, công chức sử dụng mạng xã hội khá tùy tiện, gây
ảnh hưởng không tốt, thậm chí xâm hại nghiêm trọng đến hình ảnh, lợi ích của cá
nhân, tổ chức. Ðây là vấn đề rất đáng quan ngại. Không ít trường hợp cán bộ,
công chức dùng mạng xã hội để nói xấu, xúc phạm, miệt thị người khác bằng loại
ngôn từ thiếu văn hóa, đưa ra phát ngôn gây sốc,… hay vô tư chia sẻ thông tin
độc hại, bịa đặt, xuyên tạc mà không kiểm chứng nguồn gốc, không bảo đảm tính
chính xác. Như thời gian vừa qua, trong khi cả nước chung tay phòng, chống đại
dịch Covid-19, có không ít trường hợp đưa tin hoặc chia sẻ thông tin bịa đặt
gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý của người dân. Thậm
chí, có tình trạng một số cán bộ, công chức sử dụng mạng xã hội để đăng tải,
chia sẻ thông tin vi phạm các quy định về bảo mật của cơ quan, đơn vị. Cá biệt,
có trường hợp còn nhân danh chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí bằng cách cắt
xén ý kiến của người khác, nhất là ý kiến của các vị lãnh đạo, rồi suy diễn
thành nhận định chủ quan, mang tính công kích, phản bác thiếu nghiêm túc.
Thực tế này cho thấy việc xử phạt các
sai phạm trên không gian mạng nói chung, và việc truy cứu trách nhiệm của cán
bộ, công chức để xảy ra sai phạm khi tham gia mạng xã hội nói riêng cần phải
nghiêm khắc, kiên quyết hơn nữa, để mỗi người luôn ý thức rằng bản thân là cán
bộ, công chức thì càng phải có trách nhiệm cao trong tự giác điều chỉnh nhận
thức và hành xử đúng đắn trên môi trường mạng. Ðến nay Việt Nam đã ban hành
nhiều văn bản pháp luật quy định quyền tự do thông tin của công dân đồng thời
quy định cả trách nhiệm của người dân khi sử dụng internet nói chung và mạng xã
hội nói riêng như: Luật Báo chí năm 2016; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016;
Luật An ninh mạng năm 2018; Nghị định số 72/2013/NÐ-CP Quản lý, cung cấp, sử
dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, Nghị định 174/2013/NÐ-CP Quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ
thông tin và tần số vô tuyến điện... Mới đây, Nghị định số 15/2020/NÐ-CP Quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô
tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử (thay thế Nghị định
174/2013/NÐ-CP) chính thức có hiệu lực từ ngày 15-4-2020. Theo đó, tại khoản 1,
Ðiều 101 quy định cá nhân sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng
nếu lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong những hành vi sau: Cung cấp,
chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm
uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; Cung cấp, chia sẻ
thông tin cổ xúy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp
với thuần phong, mỹ tục của dân tộc; Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ
hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn; Cung cấp, chia sẻ thông tin
bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã
hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc; Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí,
văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở
hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành
hoặc tịch thu; Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ
bị cấm; Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc
thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia; Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông
tin trên mạng có nội dung bị cấm. Khoản 2 của Ðiều này quy định phạt tiền từ 10
triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục
bí mật Nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy
cứu trách nhiệm hình sự. Nghị định 15 được kỳ vọng sẽ là một “bài thuốc” mạnh
được sử dụng để chữa trị “căn bệnh”, đặc biệt là lĩnh vực phòng, chống những
thông tin giả, tin sai lệch, xấu độc đang tràn lan trên không gian mạng. Trước
đó, Luật An ninh mạng (có hiệu lực năm 2019) cũng có nhiều điều khoản quy định
về việc khi đăng tải lên mạng xã hội, người dân nói chung và cán bộ công chức
nói riêng: không được đăng thông tin sai sự thật gây hoang mang dư luận; không
được đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy; không được phát tán, đăng tải thông
tin tuyên truyền chống Nhà nước; không được đăng tải thông tin gây rối trật tự
công cộng; không được đăng tải, phát tán thông tin vu khống người khác; không
được đăng tải bí mật công tác, bí mật Nhà nước… Cùng với đó là Ðiều 1 Ðề án Văn
hóa công vụ được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt năm 2018 cũng yêu cầu cán
bộ, công chức phải “tuân thủ kỷ luật phát ngôn, không sử dụng mạng xã hội để
khai thác, tuyên truyền các thông tin chưa được kiểm chứng, phiến diện, một
chiều ảnh hưởng đến hoạt động công vụ”. Không chỉ tại Việt Nam, theo số liệu
thống kê của Liên hợp quốc, 138 quốc gia khác trên thế giới cũng ban hành Luật
An ninh mạng với những quy định cụ thể với các hành vi, phát ngôn trên mạng xã
hội.
Cần phải khẳng định rằng, khi tham
gia mạng xã hội, mỗi cán bộ, công chức vừa phải tuân thủ đúng các quy định của
pháp luật, vừa phải chấp hành nghiêm các điều lệ, quy định của tổ chức mà mình
là thành viên, trên cơ sở đó định hình thái độ và cách hành xử đúng đắn. Cụ
thể, trước khi tự đăng tải thông tin hoặc chia sẻ từ người khác lên mạng xã
hội, cần là người dẫn thông tin có trách nhiệm, suy nghĩ chín chắn, kiểm tra,
kiểm chứng tính chính xác của nguồn thông tin, tránh tình trạng cảm tính, nóng
vội có thể dẫn tới nguy cơ nhận định sai sự thật, ảnh hưởng đến các tổ chức, cá
nhân. Ðối với các bình luận về một người hay một sự việc nào đó, cần khách
quan, tế nhị, thể hiện sự tôn trọng người khác; không nên soi mói, quá tò mò
chuyện cá nhân người khác; không nói xấu, kéo bè cánh nhằm hạ thấp danh dự,
nhân phẩm của người khác. Với ngôn ngữ sử dụng khi tham gia mạng xã hội cũng
vậy, cần có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, tránh sử dụng các từ
ngữ miệt thị, gây sốc, phản cảm… Ngoài ra, mỗi cán bộ, công chức cần có thái độ
tự giác để xây dựng quan điểm, lập trường vững vàng khi tiếp cận thông tin xấu
độc, để có phản ứng, hành động phù hợp; đồng thời có trách nhiệm định hướng,
tuyên truyền và làm gương giúp người dân nắm bắt vấn đề chính xác, cụ thể,
không đưa hay chia sẻ thông tin có nội dung gây kích động, thù địch, đi ngược
với quan điểm, chính sách của Ðảng và Nhà nước, cũng như lợi ích dân tộc, lợi
ích đất nước. Về phía các cơ quan quản lý, cần tiến hành song song hai biện
pháp là xử phạt nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định pháp luật; đồng thời
kiên trì tuyên truyền, định hướng cho người dân về những nguyên tắc cần tuân
thủ khi tham gia mạng xã hội.

















