Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2022

PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

 Đường lối đổi mới phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đưa nước ta vào dòng chảy của thời đại quá độ lên CNXH để phát triển đất nước là đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại và điều kiện của đất nước.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta phát triển là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vừa vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hợp tác và cạnh tranh bình đẳng theo pháp luật. Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, việc phân bổ các nguồn lực kinh tế của nhà nước được thực hiện theo cơ chế thị trường, phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của đất nước. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, hoạt động ở mọi ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Các quyền sở hữu tài sản, tự do kinh doanh, tự do lưu thông được bảo vệ; phát triển đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường, tạo cơ sở cho các quy luật của kinh tế thị trường hoạt động, phát huy vai trò của mình; hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, phát triển ngày càng sâu rộng. Nhà nước quản lý đất nước bằng luật pháp, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng các nguồn lực kinh tế nhà nước để giữ ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; điều tiết, định hướng phát triển nền kinh tế; cung cấp các dịch vụ công thiết yếu, bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường. Nhà nước không can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp bằng mệnh lệnh hành chính. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong quyết định giá cả, huy động, phân bổ các nguồn lực, điều tiết lưu thông hàng hóa, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội của nhân dân có chức năng phản biện, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước; phản ánh nhu cầu, nguyện vọng, bảo vệ quyền, lợi ích của các tầng lớp nhân dân, vận động nhân dân thực hiện các chính sách đúng đắn của nhà nước, tác động đến quan hệ cung - cầu lao động, hàng hóa trên thị trường... Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với cơ cấu và cơ chế vận hành như vậy là nền kinh tế thị trường hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, kế thừa những thành tựu phát triển của chủ nghĩa tư bản; đồng thời, phát triển, có những yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là vai trò quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vai trò nền tảng của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; thực hiện phân phối vừa theo kết quả lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, vừa theo mức đóng góp vốn, các yếu tố sản xuất khác, đồng thời phân phối qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; kết hợp phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; quyền lực nhà nước là do nhân dân ủy quyền, thay mặt nhân dân quản lý đất nước; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp theo. Giữa các cơ quan lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ), tư pháp (Tòa án) có sự kiểm soát lẫn nhau, nhưng không phải là sự kiểm soát của những lực lượng đối lập nhau, mà quyền lực của các cơ quan này đều do nhân dân ủy quyền, phân công để thực hiện các chức năng khác nhau, đều do cùng một đảng cầm quyền lãnh đạo, nên còn có trách nhiệm phối hợp với nhau để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Tổ chức bộ máy nhà nước, chức năng, quan hệ phối hợp, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đều thực hiện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; hoạt động của các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên của Đảng cầm quyền cũng phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; Nhà nước quản lý đất nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật. Cùng với sự kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực nhà nước, Nhà nước còn chịu sự giám sát của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội của nhân dân theo quy định của pháp luật. Tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước như vậy phù hợp với các chuẩn mực phổ biến của nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nhưng điểm khác biệt lớn của Nhà nước ta so với nhà nước pháp quyền ở các nước tư bản trên thế giới là pháp luật của Nhà nước ta là để phục vụ nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, phát triển đất nước nhanh, bền vững để nâng cao đời sống vật chất của nhân dân, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước được sự đồng tình ủng hộ, tích cực thực hiện của nhân dân đã tạo nên những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, tạo nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế của đất nước như ngày nay. Đại hội XIII của Đảng, trên cơ sở đánh giá đúng tình hình đất nước, khu vực và thế giới, sẽ tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối để đất nước đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa. Không có lý do gì để Đại hội XIII của Đảng phải làm theo lời khuyên của những người muốn kéo lùi lịch sử, đưa đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa./.

 

Trách nhiệm của cán bộ, công chức khi sử dụng mạng hội

Thời gian qua, tình trạng một số cán bộ, công chức đưa ra phát ngôn thiếu chuẩn mực, lan truyền thông tin sai sự thật, thiếu trách nhiệm,... trên mạng xã hội dường như có chiều hướng xảy ra ngày càng nhiều, tạo nguy cơ gây dư luận xấu, tác động tiêu cực đến suy nghĩ, nhận thức của một bộ phận nhân dân. Đây là tình trạng đáng báo động, đòi hỏi cần phải được kịp thời chấn chỉnh.

Cách đây không lâu, trên Facebook cá nhân, một chuyên viên văn phòng thuộc UBND thành phố Hồ Chí Minh đã đăng tải những bài viết tổng hợp từ internet liên quan đến một số vụ việc được dư luận quan tâm. Ðiều đáng nói là những nội dung người này đăng tải đã phản ánh không đúng bản chất vụ việc, nhằm mục đích nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của lãnh đạo Ðảng, Nhà nước. Cá nhân này sau đó đã bị khai trừ khỏi Ðảng vì “thiếu tu dưỡng rèn luyện, suy thoái tư tưởng chính trị rất nghiêm trọng”. Trước đó, tháng 5-2019, một người nguyên là phó bí thư chi bộ, trưởng một khoa của trường chính trị thuộc tỉnh Hà Tĩnh cũng bị kỷ luật cách chức vì sử dụng mạng xã hội đăng tin sai sự thật, bình luận xuyên tạc với từ ngữ thiếu văn hóa, xúc phạm lãnh đạo Ðảng, Nhà nước. Các sự việc trên đang gióng lên hồi chuông báo động về ý thức và thái độ trách nhiệm của một số cán bộ, công chức khi tham gia mạng xã hội.

Không thể phủ nhận là ngày nay, mạng xã hội (social network) như đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người trên toàn cầu, nhất là khi nhu cầu kết nối, chia sẻ trong cộng đồng ngày càng gia tăng. Hiện một số mạng xã hội lớn có số lượng người sử dụng lên đến hàng tỷ người như: Facebook (khoảng 2,2 tỷ người dùng), YouTube (1,9 tỷ), WhatsApp (1,5 tỷ), WeChat (1,04 tỷ), Instagram (1 tỷ)… Số lượng người sử dụng mạng xã hội ngày càng gia tăng trên toàn cầu cho thấy sự phổ biến cũng như tầm ảnh hưởng của nó đối với xã hội. Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng mạng xã hội vẫn liên tục tăng qua các năm. Theo báo cáo Digital 2020 trên trang vnetwork.vn, đến tháng 1-2020, Việt Nam có số người dùng internet là 68,17 triệu người (chiếm tỷ lệ 70% số dân); số thuê bao di động là 145,8 triệu thuê bao (chiếm tỷ lệ 150% so với tổng dân số cả nước); số người dùng mạng xã hội là 65 triệu người (chiếm tỷ lệ 67% số dân); trong đó có một lượng không nhỏ người dùng là cán bộ, công chức. Tận dụng các ưu thế của mạng xã hội, hiện nay nhiều cán bộ lãnh đạo cũng sử dụng mạng xã hội như một phương thức có hiệu quả, vừa để tương tác, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân, vừa để kịp thời giải quyết công việc. Tiêu biểu có thể kể như: Năm 2018, trên Facebook cá nhân, đồng chí Huỳnh Văn Ðiển, Chủ tịch UBND huyện Tuy Phong (tỉnh Bình Thuận), kêu gọi người dân tránh không để các đối tượng xấu xúi giục, kích động tụ tập, gây rối và đã nhận được sự hưởng ứng tích cực của người dân. Sau đó Thượng tá Trần Long Khánh, Trưởng Công an huyện Tuy Phong, đăng thư cảm ơn người dân vì việc tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trên trang Facebook cá nhân đã mang lại nhiều hiệu quả. Thực tế ngày càng có nhiều tổ chức, cơ quan nhà nước mở trang trên mạng xã hội để ghi nhận thắc mắc, khiếu nại của người dân, qua đó, xác minh, tìm hiểu và xử lý kịp thời được nhiều vụ việc, được dư luận đồng tình. Nhờ đó, mạng xã hội đã phát huy vai trò tích cực trong việc kết nối giữa chính quyền, các cơ quan, bộ phận chức năng cũng như cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ với người dân, đồng thời, góp phần thúc đẩy sự minh bạch trong hoạt động quản lý, điều hành của hệ thống chính quyền tại các địa phương.

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy vẫn còn hiện tượng một số cán bộ, công chức sử dụng mạng xã hội khá tùy tiện, gây ảnh hưởng không tốt, thậm chí xâm hại nghiêm trọng đến hình ảnh, lợi ích của cá nhân, tổ chức. Ðây là vấn đề rất đáng quan ngại. Không ít trường hợp cán bộ, công chức dùng mạng xã hội để nói xấu, xúc phạm, miệt thị người khác bằng loại ngôn từ thiếu văn hóa, đưa ra phát ngôn gây sốc,… hay vô tư chia sẻ thông tin độc hại, bịa đặt, xuyên tạc mà không kiểm chứng nguồn gốc, không bảo đảm tính chính xác. Như thời gian vừa qua, trong khi cả nước chung tay phòng, chống đại dịch Covid-19, có không ít trường hợp đưa tin hoặc chia sẻ thông tin bịa đặt gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý của người dân. Thậm chí, có tình trạng một số cán bộ, công chức sử dụng mạng xã hội để đăng tải, chia sẻ thông tin vi phạm các quy định về bảo mật của cơ quan, đơn vị. Cá biệt, có trường hợp còn nhân danh chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí bằng cách cắt xén ý kiến của người khác, nhất là ý kiến của các vị lãnh đạo, rồi suy diễn thành nhận định chủ quan, mang tính công kích, phản bác thiếu nghiêm túc.

Thực tế này cho thấy việc xử phạt các sai phạm trên không gian mạng nói chung, và việc truy cứu trách nhiệm của cán bộ, công chức để xảy ra sai phạm khi tham gia mạng xã hội nói riêng cần phải nghiêm khắc, kiên quyết hơn nữa, để mỗi người luôn ý thức rằng bản thân là cán bộ, công chức thì càng phải có trách nhiệm cao trong tự giác điều chỉnh nhận thức và hành xử đúng đắn trên môi trường mạng. Ðến nay Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định quyền tự do thông tin của công dân đồng thời quy định cả trách nhiệm của người dân khi sử dụng internet nói chung và mạng xã hội nói riêng như: Luật Báo chí năm 2016; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật An ninh mạng năm 2018; Nghị định số 72/2013/NÐ-CP Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, Nghị định 174/2013/NÐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện... Mới đây, Nghị định số 15/2020/NÐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử (thay thế Nghị định 174/2013/NÐ-CP) chính thức có hiệu lực từ ngày 15-4-2020. Theo đó, tại khoản 1, Ðiều 101 quy định cá nhân sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong những hành vi sau: Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ xúy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc; Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn; Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc; Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu; Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm; Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia; Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm. Khoản 2 của Ðiều này quy định phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật Nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Nghị định 15 được kỳ vọng sẽ là một “bài thuốc” mạnh được sử dụng để chữa trị “căn bệnh”, đặc biệt là lĩnh vực phòng, chống những thông tin giả, tin sai lệch, xấu độc đang tràn lan trên không gian mạng. Trước đó, Luật An ninh mạng (có hiệu lực năm 2019) cũng có nhiều điều khoản quy định về việc khi đăng tải lên mạng xã hội, người dân nói chung và cán bộ công chức nói riêng: không được đăng thông tin sai sự thật gây hoang mang dư luận; không được đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy; không được phát tán, đăng tải thông tin tuyên truyền chống Nhà nước; không được đăng tải thông tin gây rối trật tự công cộng; không được đăng tải, phát tán thông tin vu khống người khác; không được đăng tải bí mật công tác, bí mật Nhà nước… Cùng với đó là Ðiều 1 Ðề án Văn hóa công vụ được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt năm 2018 cũng yêu cầu cán bộ, công chức phải “tuân thủ kỷ luật phát ngôn, không sử dụng mạng xã hội để khai thác, tuyên truyền các thông tin chưa được kiểm chứng, phiến diện, một chiều ảnh hưởng đến hoạt động công vụ”. Không chỉ tại Việt Nam, theo số liệu thống kê của Liên hợp quốc, 138 quốc gia khác trên thế giới cũng ban hành Luật An ninh mạng với những quy định cụ thể với các hành vi, phát ngôn trên mạng xã hội.

Cần phải khẳng định rằng, khi tham gia mạng xã hội, mỗi cán bộ, công chức vừa phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, vừa phải chấp hành nghiêm các điều lệ, quy định của tổ chức mà mình là thành viên, trên cơ sở đó định hình thái độ và cách hành xử đúng đắn. Cụ thể, trước khi tự đăng tải thông tin hoặc chia sẻ từ người khác lên mạng xã hội, cần là người dẫn thông tin có trách nhiệm, suy nghĩ chín chắn, kiểm tra, kiểm chứng tính chính xác của nguồn thông tin, tránh tình trạng cảm tính, nóng vội có thể dẫn tới nguy cơ nhận định sai sự thật, ảnh hưởng đến các tổ chức, cá nhân. Ðối với các bình luận về một người hay một sự việc nào đó, cần khách quan, tế nhị, thể hiện sự tôn trọng người khác; không nên soi mói, quá tò mò chuyện cá nhân người khác; không nói xấu, kéo bè cánh nhằm hạ thấp danh dự, nhân phẩm của người khác. Với ngôn ngữ sử dụng khi tham gia mạng xã hội cũng vậy, cần có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, tránh sử dụng các từ ngữ miệt thị, gây sốc, phản cảm… Ngoài ra, mỗi cán bộ, công chức cần có thái độ tự giác để xây dựng quan điểm, lập trường vững vàng khi tiếp cận thông tin xấu độc, để có phản ứng, hành động phù hợp; đồng thời có trách nhiệm định hướng, tuyên truyền và làm gương giúp người dân nắm bắt vấn đề chính xác, cụ thể, không đưa hay chia sẻ thông tin có nội dung gây kích động, thù địch, đi ngược với quan điểm, chính sách của Ðảng và Nhà nước, cũng như lợi ích dân tộc, lợi ích đất nước. Về phía các cơ quan quản lý, cần tiến hành song song hai biện pháp là xử phạt nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định pháp luật; đồng thời kiên trì tuyên truyền, định hướng cho người dân về những nguyên tắc cần tuân thủ khi tham gia mạng xã hội.

Nhận diện những kẻ chống lại dân tộc, vụ lợi trên nỗi đau của đồng bào

 Luôn đi đầu trong các hoạt động chống phá có thể kể tới các thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân cùng số “cơ sở nội địa” ở trong nước, số đối tượng trong tôn giáo mang tư tưởng cực đoan, các “nhà dân chủ” giả hiệu, số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị... Các đối tượng này thường thông qua các tài khoản facebook như “Việt Tân”, “Nguyễn Văn Đài”, “Nguyễn Lân Thắng”, “Le Anh”, “Phạm Kenny”, “Thanh niên Công giáo”, “Nguyễn Ngọc Nam Phong”, “Hoài Thạch Sơn”... đăng tải trên mạng xã hội hàng trăm bài viết chứa đựng những thông tin sai sự thật, ngụy tạo hòng “phác họa” nên một thực trạng đen tối của tình hình mưa lũ gây biết bao thiệt hại to lớn cả về người và của các tỉnh miền Trung. Để phụ họa chiến dịch tuyên truyền trên theo dạng “té nước theo mưa”, các kênh truyền thông đại chúng thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, RFA; các trang mạng, blog chống đối như “tienbo.org”, “Dân làm báo VN”... cũng viết bài, chia sẻ hàng loạt các thông tin xấu độc để tô vẽ một bức “thảm cảnh” của đồng bào miền Trung. Các luận điệu được chúng đưa đẩy đều có chung một mục đích là đổ lỗi cho chính quyền trong việc chậm dự báo tình hình và thiếu trách nhiệm trong việc ứng cứu nhân dân... Hay như tổ chức Việt Tân chống phá Đại hội đảng bộ với luận điệu rằng: “lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên - Huế mở Đại hội đảng, dù dân chúng khốn khổ vì lũ lụt”...

Bản chất cơ hội chính trị, chống phá Đảng, Nhà nước của các đối tượng đó là, Từ đầu năm 2020 đến nay, ảnh hưởng tình hình đại dịch COVID-19 khiến đời sống của người dân thêm muôn vàn khó khăn vì tác động xấu của sự suy thoái kinh tế toàn cầu. Khó khăn này chưa qua thì thiên tai lại ập đến với đồng bào miền Trung ruột thịt. Và trong những khó khăn này, chúng ta thật xúc động khi chứng kiến vô vàn những hành động, nghĩa cử cao đẹp cùng sự hy sinh quên mình của các chiến sỹ Công an, quân đội và sự giúp đỡ tận tình của đồng bào cả nước theo truyền thống cao đẹp của người Việt Nam “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”. Thế nhưng, trên thực tế, một nghịch lý đang tồn tại như một thứ ung nhọt của xã hội khi số đối tượng xấu nêu trên giở giọng đạo đức giả của kẻ “ngụy quân tử”. Bề ngoài thì tỏ ra thương xót, lo lắng cho đồng bào, nhưng bản chất là lợi dụng tình hình dịch bệnh, sự vất vả của đồng bào trước thiên tai lũ lụt không chỉ để vụ lợi mà còn cố tình “bẻ lái” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước.

Theo dõi suốt quá trình vừa qua, có thể thấy từ khi dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát và được đẩy lùi cho đến nay là tình trạng mưa lũ kéo dài nhưng không hề thấy một đối tượng nào nêu trên thể hiện hành động có ý nghĩa thiết thực dù nhỏ nhất để giúp đỡ, hỗ trợ đồng bào vượt qua hoạn nạn, khó khăn. Ngược lại là những lời ngụy tạo, nói xấu, bôi nhọ chính quyền các cấp cùng các lực lượng phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn... Không chỉ vậy, trước những hy sinh mất mát to lớn của các chiến sỹ Công an, quân đội trong khi làm nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, những kẻ đạo đức giả nêu trên không một lời tiếc thương, không một sự chia sẻ, không một nén hương mà cố tình làm ngơ, chỉ xoáy vào những thiếu thốn, khó khăn của người dân, phủ nhận mọi nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trên cả nước đang chung tay góp sức cùng đồng bào miền Trung vượt qua đợt lũ lụt lịch sử. Thậm chí một số kẻ còn nhẫn tâm xúc phạm đến danh dự và sự hi sinh cao quý của những người lính đã ngã xuống để bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Và thật tiếc rằng, những luận điệu xuyên tạc, những thông tin sai trái đó khi chia sẻ trên các trang mạng xã hội, có những bài đạt tới hàng nghìn lượt like và bình luận bậy bạ khiến những người có lương tri và cán bộ, chiến sĩ Công an, quân đội rất bất bình. Chỉ những kẻ bất nhân mới đang tâm có những hành vi bịa đặt, bôi nhọ những người đã hy sinh cả tính mạng vì cuộc sống bình yên của cộng đồng, trong đó có cả bản thân họ.

Thủ đoạn của các đối tượng xấu đó là, Các đối tượng sử dụng các mạng xã hội để đăng tải thông tin một chiều, thổi phồng, xuyên tạc thông tin với mục đích đánh lạc hướng dư luận, làm cho người đọc dần có sự chuyển hóa về mặt tư tưởng theo hướng tiêu cực. Đặc biệt, với kỹ thuật cắt ghép, chỉnh sửa hình ảnh, kết hợp với lợi dụng lòng thương yêu trắc ẩn trong mỗi con người, qua đó tung lên mạng internet những hình ảnh đã được chỉnh sửa cùng các thông tin xấu độc nhằm tạo tâm lý bức xúc, bất bình trong nhân dân, dẫn dắt họ vào tư tưởng bất mãn, chống Đảng, chống Nhà nước, ủng hộ, cổ xúy cho các hành vi sai trái, coi cường kỷ cương, phép nước. Chẳng hạn như hình ảnh cậu bé bê bết bùn đất được tổ chức Việt Tân đưa lên mạng xã hội với chú thích một em bé Quảng Trị được cứu sống từ trong lòng đất, kèm theo đó là hàng loạt câu chữ xuyên tạc chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước. Thực tế đây là hình ảnh cậu bé bị ngã khi chơi đùa gần đồng ruộng, đã được báo chí đăng tải từ tháng 6-2020, 5 tháng trước khi lũ lụt xảy ra... Thâm độc hơn nữa là việc các đối tượng rất biết tận dụng những chủ đề nóng, thu hút được nhiều sự quan tâm của dư luận để dựng chuyện, đặt điều xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của các cơ quan, ban, ngành liên quan đến các hoạt động “thiện nguyện” giúp đỡ đồng bào miền Trung. Chẳng hạn như việc có đối tượng đã lập một kênh facebook giả mạo Ban Tuyên giáo Trung ương để đăng tải các bài viết thể hiện rõ sự miệt thị, xúc phạm đến những cá nhân, hội nhóm đang quyên góp ủng hộ đồng bào bị ảnh hưởng bởi lũ lụt ở miền Trung. Thậm chí, trang này còn lợi dụng việc một ca sĩ đang tích cực quyên góp hỗ trợ người dân để tung tin sai sự thật, nói xấu các cơ quan Nhà nước. Từ đó, các đối tượng khác sẽ giở trò “đâm bị thóc, chọc bị gạo” để lu loa vu vạ cho rằng chính quyền “cản trở” lòng tốt của nhân dân, thậm chí còn tung tin đồn thất thiệt cho rằng đây là thủ thuật của Nhà nước để “ăn chặn” tiền cứu trợ của đồng bào lũ lụt... Đây là những thông tin bịa đặt hết sức nguy hiểm, tấn công trực tiếp đến những chính sách đúng đắn của Nhà nước trong việc quản lý, hướng dẫn, hỗ trợ để các nguồn cứu trợ nhân đạo đến đúng những người gặp khó khăn và cũng là để phòng ngừa, ngăn chặn hành động vụ lợi của những “con sâu, con mọt”. Trước tình hình trên, Ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định đây hoàn toàn là những thông tin giả mạo, gây ảnh hưởng rất xấu, xúc phạm, ảnh hưởng đến uy tín của Ban Tuyên giáo Trung ương. Ông Vũ Thanh Mai - Chánh văn phòng Ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định, Ban Tuyên giáo Trung ương không có tài khoản mạng xã hội nào và sẽ đề nghị cơ quan chức năng điều tra xử lý nghiêm theo pháp luật các đối tượng cố tình lập ra tài khoản giả mạo hoặc chế ảnh mạo danh Ban Tuyên giáo Trung ương.

Trước những vấn đề như đã phân tích ở trên, mỗi người dân cần tỉnh táo nâng cao cảnh giác và ý thức công dân để trở thành một phần của lá chắn trước những luồng thông tin độc hại; nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc tố giác, đấu tranh với các tài khoản giả mạo, phản bác thông tin xấu, độc hại. Lên án những suy nghĩ lệch lạc, hành động “ăn cháo đá bát”, táng tận lương tâm, bôi nhọ những người xả thân, quên mình vì cuộc sống và sự bình yên của nhân dân. Đồng thời cũng đề nghị các cơ quan chức năng cần sớm xác minh, làm rõ, xử lý nghiêm minh những hành vi phạm pháp, vô đạo đức như vậy.

Nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo nhìn từ góc độ pháp luật quốc tế và Việt Nam

 Trong suốt thời gian vừa qua, một số tổ chức và cá nhân luôn tìm cách sử dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam về dân chủ, nhân quyền. Luận điệu mà họ đưa ra là vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm quyền “tự do tôn giáo” của người dân; đòi tách tôn giáo khỏi sự quản lý của Nhà nước, yêu cầu chính quyền không kiểm soát, kiểm duyệt các tôn giáo, cho phép tôn giáo được tự do hoạt động. Họ nêu ra các vấn đề rằng, “nhiều văn bản pháp luật Việt Nam về tôn giáo, dân tộc không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Thậm chí, họ còn trắng trợn phê phán, xuyên tạc “Luật tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”; “là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”. Đồng thời họ còn cho rằng, Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng không thực hiện. Trong các Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế hàng năm do Cục Dân chủ, nhân quyền và lao động, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố đều nêu nội dung: “Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”. Trong các báo cáo này còn nêu ra “các biện pháp hạn chế tự do tôn giáo”, “các trường hợp lạm dụng tự do tôn giáo…, một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu…”.

Các đối tượng còn tuyên truyền, chỉ trích, vu cáo “chính quyền Việt Nam cấm đoán nhiều tổ chức, hệ phái tôn giáo hoạt động” và “kiểm soát chặt chẽ” hoạt động của các tổ chức tôn giáo đã được Chính phủ công nhận, “cấm mục sư Tin lành đi lại truyền đạo, cấm con em những người theo đạo đến trường”, yêu cầu chính quyền “chấm dứt sự phủ quyết đối với việc bổ nhiệm các giám mục Công giáo” (thực tế, Vatican đã thỏa thuận với Chính phủ Việt Nam về việc bổ nhiệm giám mục ở Việt Nam phải được Nhà nước Việt Nam chấp thuận). Trong vấn đề đào tạo chức sắc tôn giáo, các đối tượng vu cáo “chính quyền hạn chế một cách “độc đoán” về số lượng sinh viên được phép đào tạo thành linh mục”. Một số tổ chức, cá nhân trên các danh nghĩa khác nhau đã gặp gỡ, tiếp xúc số chức sắc, tín đồ có tư tưởng cực đoan, quá khích trong các tôn giáo như: Thích Không Tánh (Phật giáo), Nguyễn Văn Lý (Công giáo), Nguyễn Hồng Quang (Tin lành), Hứa Phi (Cao Đài),... để hậu thuẫn, kích động, hỗ trợ cho số này tiến hành hoạt động vi phạm pháp luật. Khi những đối tượng này có hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý (bắt, giam giữ, truy tố, tù giam), họ thường có phản ứng quyết liệt để bênh vực, bảo vệ họ như: Phản đối, lên án ta đàn áp tôn giáo, yêu cầu ta phải trả tự do cho những người mà họ gọi là “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân lương tâm”.

Quản lý Nhà nước về tôn giáo là yêu cầu khách quan

Thực tế cho thấy, không thể có quyền tự do tôn giáo tuyệt đối. Xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo một đối tượng tôn thờ, được sắp xếp theo cơ cấu nhất định. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Do vậy, các tôn giáo phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật. Việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới. Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo vệ quyền và tự do cơ bản của người khác”. Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động tôn giáo cũng phải tuân thủ luật pháp như: Điều 26, Luật của Cộng hòa Pháp về tách Giáo hội khỏi Nhà nước quy định: “Việc tụ tập để thực hiện các nghi lễ tôn giáo phải báo cáo và chịu sự kiểm soát của các cơ quan chính quyền có chức năng gìn giữ trật tự công cộng. Ở những nơi chuyên vào việc thờ tự và thực hành nghi lễ tôn giáo cấm việc hội họp có tính chất chính trị”.

Điều 27 quy định: “Các nghi lễ, các cuộc rước tôn giáo tiến hành bên ngoài khu vực nhà thờ và việc kéo chuông phải tuân theo những quy định của chính quyền tỉnh, thành phố”. Luật pháp Cộng hòa Bỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với những giáo sĩ có hành vi và lời nói xúc phạm tới Chính phủ, luật pháp, sắc lệnh của nhà vua cũng như đối với các hoạt động của chính quyền. Ở Cộng hòa Liên bang Đức, giáo sĩ cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự như công dân khác trong trường hợp vi phạm hiến pháp, pháp luật. Cũng ở Đức, các giám mục Thiên chúa giáo khi nhậm chức phải tuyên thệ: “Tôi xin thề và hứa sẽ tôn trọng Chính phủ hợp hiến. Chiểu theo nghĩa vụ phải quan tâm tới lợi ích của Nhà nước Đức trước bất kỳ sự gì khả dĩ tác hại tới lợi ích đó”. Ở Mỹ, hoạt động của các tổ chức tôn giáo được quản lý theo luật pháp của các bang. Luật của các bang quy định về hoạt động tôn giáo có những điểm khác nhau về chi tiết, song nhìn chung đều dựa trên yêu cầu thống nhất trong toàn liên bang như: Việc đăng ký thủ tục bắt buộc đối với các tổ chức tôn giáo trong toàn liên bang, lệ phí phải nộp cho chính quyền về việc đăng ký là 15 đô la; các cơ quan chính quyền của bang trực tiếp thi hành việc giám sát các hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn hành chính của bang. Chỉ sau khi được chính quyền xem xét, đồng ý cho phép thành lập thì các tổ chức tôn giáo mới được phép hoạt động và có tư cách pháp nhân. Ở Nhật Bản, Luật về các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân quy định rõ: Các cấp chính quyền quản lý các tổ chức tôn giáo là Bộ Văn hóa, tỉnh, huyện. Các tổ chức tôn giáo đều phải đăng ký ở Bộ Văn hóa và chỉ sau khi đã được đăng ký mới được hoạt động tại nơi đặt văn phòng của tổ chức đó.

Tôn trọng tôn giáo, tín ngưỡng và bảo đảm trên thực tế

Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân được đảm bảo. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo, trong đó đều khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân”; “Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”; “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”... Thể chế hóa các quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo như Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016, Nghị định số 162/NĐ-CP ngày 31/12/2017 về biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng tôn giáo... Trong các văn bản pháp luật này đều khẳng định Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”.

Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, các tôn giáo ở Việt Nam ngày càng đa dạng, được Đảng, Nhà nước bảo đảm hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Cùng với sự mở cửa, phát triển của đất nước, tôn giáo ở Việt Nam có sự phục hồi, phát triển mạnh mẽ, đa dạng hơn. Năm 1990, Việt Nam có 6 tôn giáo, 3 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, cùng với một số loại hình tín ngưỡng dân gian gắn với các dân tộc. Từ năm 2003, thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, Nhà nước đã công nhận tư cách pháp nhân cho 15 tổ chức tôn giáo thuộc 6 tôn giáo với khoảng 19 triệu tín đồ (chiếm 23,5% dân số). Đến năm 2020, đã có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, khoảng 26,5 triệu tín đồ, sinh hoạt tôn giáo ở 29.660 cơ sở thờ tự. Về chức sắc, năm 1990, nước ta có khoảng 38 nghìn chức sắc, nhà tu hành, đến nay tăng lên 61,2 nghìn chức sắc, 147,1 nghìn chức việc (tổng số chức sắc, chức việc khoảng 208,3 nghìn), trong đó tăng nhanh và nhiều nhất là chức sắc Phật giáo và đạo Tin lành.

Trước năm 2003, trung bình hằng năm có khoảng 7 nghìn lượt người tốt nghiệp hoặc hoàn thành các khóa đào tạo chức sắc do các tôn giáo tổ chức, nhưng từ 2003 đến năm 2018, trung bình hằng năm có khoảng 15 nghìn lượt người (tăng 215%). Với 56 cơ sở đào tạo của các tôn giáo hiện có (gấp 3 lần so với năm 1990), cùng với nhiều hình thức đào tạo đa dạng, linh hoạt, tăng cường các hình thức đào tạo ngắn hạn, cả ở trong nước và ở nước ngoài (đối với các tôn giáo ngoại nhập, có quan hệ quốc tế như Công giáo, đạo Tin lành, Phật giáo, Hồi giáo) nên hàng ngũ chức sắc, chức việc tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được đào tạo bài bản, nâng cao trình độ và uy tín, vai trò, ảnh hưởng đối với quần chúng tín đồ, không chỉ trong đời sống tinh thần mà cả trong đời sống xã hội. Lợi dụng tôn giáo để chống phá Việt Nam về dân chủ, nhân quyền là hoạt động xuyên suốt của những tổ chức, cá nhân và quốc gia thiếu thiện chí với Việt Nam. Trong khi thực tiễn là Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

 

Lợi dụng dịch Covid-19 để xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam

 Trước diễn biến phức tạp và tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế và đời sống xã hội, Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các lực lượng và toàn dân đã sẻ chia, chung sức, đồng lòng, huy động mọi nguồn lực phòng, chống dịch bệnh, ổn định cuộc sống nhân dân. Thế nhưng, dưới vỏ bọc “dân chủ”, “nhân quyền”, các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ nhằm phủ nhận những thành quả phòng, chống dịch của đất nước. Đó là điều không thể chấp nhận.

Suốt thời gian vừa qua, lợi dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, tạo nhiều phát sinh mới, chưa có tiền lệ, gây nhiều khó khăn, xáo trộn nền kinh tế và đời sống nhân dân, các nhà “dân chủ” vin cớ “bảo vệ nhân quyền” đẩy mạnh dàn dựng các “kịch bản” tuyên truyền, xuyên tạc một cách công phu, tỉ mỉ, với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, nhằm đánh lạc hướng dư luận, nói xấu Đảng, Nhà nước, tạo tâm lý bi quan, hoài nghi, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ rêu rao: “Việt Nam đối diện khủng hoảng kinh tế, xã hội toàn diện, chỉ biết phong tỏa mặc dân sống chết ra sao”; “không hỗ trợ cứu đói cho dân mà còn tận thu vơ vét tiền của dân”; thâm hiểm hơn, họ còn tung ra những video phỏng vấn ý kiến của những người lao động nghèo chưa được nhận hỗ trợ từ chính quyền để vu khống rằng “người nghèo không được hỗ trợ”, “chỉ có dân giúp dân, không thấy chính quyền đâu”, v.v. Từ đó, họ quy chụp là “Việt Nam đang lợi dụng Covid-19 để vi phạm nhân quyền”.

Vậy sự thật ở đây là gì? Đằng sau sự xuyên tạc ấy nhắm vào ai; mưu đồ của họ ra sao,… thực tiễn sẽ là minh chứng xác thực nhất. Như mọi người thấy rõ, đại dịch Covid-19 đã không chừa một quốc gia nào, nó không chỉ gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực về kinh tế - xã hội trên khắp thế giới, mà còn khiến cho sự nỗ lực đảm bảo cuộc sống cũng như quyền con người ở các quốc gia, dù ở mức độ phát triển nào, đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là ba quyền cơ bản: quyền sống, quyền lao động và quyền tự do. Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với chủ trương sát đúng cùng các giải pháp phù hợp, với tinh thần đoàn kết của dân tộc, chúng ta đã cơ bản kiểm soát được tình hình dịch bệnh, đưa đất nước vào trạng thái bình thường mới; qua đó, đẩy mạnh thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch có hiệu quả, vừa phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh xã hội. Nhờ đó, các quyền cơ bản của con người luôn được coi trọng và đảm bảo.

Về quyền sống, trong khi nhiều quốc gia trên thế giới còn đang lúng túng trong việc lựa chọn chiến lược để đối phó với Covid-19 thì Việt Nam xác định: Bảo vệ sức khỏe, tính mạng nhân dân là trên hết, trước hết. Với quan điểm vì nhân dân phục vụ, “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Đảng và Nhà nước ta đã có những biện pháp mạnh mẽ, toàn diện, trước mắt có thể chịu thiệt hại về kinh tế, song bằng mọi giá phải bảo vệ tính mạng nhân dân. Thực hiện nhất quán quan điểm đó, Đảng và Nhà nước không để cho các nhóm người yếu thế bị thiệt thòi, chúng ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, mọi lực lượng, huy động mọi nguồn lực trong xã hội với phương châm “3 trước”, “4 tại chỗ”1. Một mặt, các gói an sinh xã hội, phúc lợi xã hội được nhanh chóng quyết định và triển khai một cách đồng bộ, thiết thực. Mặt khác, hưởng ứng sự chỉ đạo, lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, phong trào tương thân tương ái, sẻ chia, đùm bọc đã lan tỏa rộng khắp cả nước. Những thuật ngữ mới, mang tính nhân văn đã xuất hiện và đi thẳng vào truyền thông quốc tế, như: “ATM gạo”, “ATM ô xy”, “Cửa hàng 0 đồng”,… đã làm cho cả thế giới thán phục với tinh thần và tấm lòng người Việt Nam. Chính phủ luôn bám sát thực tiễn, nắm chắc diễn biến, bất kể ngày đêm và trong nhiều tình huống khẩn cấp, kịp thời ban hành chỉ thị, nghị quyết, công điện, “thực hiện quyết liệt, đồng bộ, linh hoạt các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống phù hợp với tình hình diễn biến dịch Covid-19. Đồng thời, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự tham gia tích cực của các tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân cả nước,... từng bước kiểm soát tình hình dịch bệnh Covid-19, sớm đưa cuộc sống trở lại trạng thái “bình thường mới”. Ban Chỉ đạo phòng, chống các cấp luôn tận tâm, tận lực, túc trực chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện liên tục 24/24 giờ cho đến khi mọi việc được kiểm soát an toàn. Tất cả các cấp, ngành, địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội đã vào cuộc đồng bộ, quyết tâm cao nhất, đoàn kết, đồng lòng và hành động quyết liệt vì mục tiêu tối thượng là bảo vệ tính mạng, sự bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Bất chấp mọi gian nguy, vất vả, hàng vạn y, bác sĩ, tình nguyện viên, cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an, Dân quân tự vệ luôn xung kích, có mặt trên tuyến đầu chống dịch, ở tâm điểm của những nơi khó khăn nhất cùng chính quyền cơ sở, trực tiếp tiến hành và hướng dẫn, động viên nhân dân phòng, chống dịch bệnh Covid-19, trở thành điểm tựa niềm tin, gắn kết chặt chẽ tình cảm quân - dân, khắc sâu hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, người chiến sĩ Công an nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ. Trong bất kỳ tình huống nào, Đảng, Nhà nước luôn hành động vì lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt dẫu có tinh vi đến đâu cũng đều bị chính những kết quả thực tiễn sinh động bác bỏ.

Về quyền lao động, trước những diễn biến vô cùng phức tạp của dịch bệnh Covid-19 với số lượng ca nhiễm, ca tử vong cao, Đảng, Chính phủ thực hiện nhất quán quan điểm “lấy tính mạng, sức khỏe của người dân là trên hết, trước hết”2, bằng mọi biện pháp không để đứt gãy chuỗi cung ứng lao động, lưu thông, vận chuyển hàng hóa, bảo đảm phân phối lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, ổn định đời sống của người dân, nhất là người dân ở những khu vực phong tỏa, cách ly, giãn cách. Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ, bảo đảm an sinh xã hội; thường xuyên rà soát, cập nhật, không bỏ sót đối tượng cần cứu trợ, không để ai bị thiếu đói, rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất” hoặc tính mạng bị đe dọa. Đặc biệt, luôn coi trọng chăm lo cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn, người mất việc làm do dịch bệnh Covid-19 và lực lượng trên tuyến đầu chống dịch. Ngày 01/7/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NĐ-CP, “về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19” với tổng số tiền hỗ trợ lên đến 26.000 tỉ đồng. Các gói hỗ trợ này đã nhanh chóng đến tận tay người lao động, người yếu thế trong xã hội, giúp họ vượt qua khó khăn trong dịch bệnh. Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hàng trăm nghìn túi hàng an sinh, gói thực phẩm cứu trợ được trao trực tiếp đến từng hộ gia đình; hàng chục nghìn tỉ đồng mà doanh nghiệp, người dân cả nước quyên góp đã được chuyển đến đúng người, đúng nơi. Sát cánh, đồng hành cùng chính quyền và cả hệ thống chính trị, đồng bào, chiến sĩ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài luôn hướng về các địa phương nơi tâm dịch với tất cả tình cảm chân thành, tinh thần tương thân, tương ái và sự góp sức, sẻ chia sâu sắc nhất để cùng chiến thắng dịch bệnh. Mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau” là xuyên suốt, nhất quán, được Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị thực hiện triệt để, hiệu quả ngay từ khi đại dịch Covid-19 xuất hiện. Hơn thế, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, “lấy người dân là trung tâm phục vụ, là chủ thể phòng, chống dịch”, “chiến thắng dịch bệnh là chiến thắng của Nhân dân”. Không chỉ trong thiên tai, thảm họa, dịch bệnh mà bất luận trong hoàn cảnh nào, người dân luôn được cấp ủy, chính quyền và các lực lượng chức năng bảo vệ, bảo đảm cả về tính mạng, tài sản và điều kiện sống.

Về quyền tự do, đại dịch Covid-19 đã gây ra sự rối loạn, hạn chế, và thậm chí là tê liệt các quyền: đi lại, học tập, hội họp, tín ngưỡng,… của người dân ở các quốc gia mà nó lan tới. Hầu hết các quốc gia, kể cả các quốc gia có độ mở cao, thậm chí ban đầu có sự lựa chọn thiên về miễn dịch cộng đồng, rút cuộc đều phải tạm đóng cửa biên giới. Ở các mức độ khác nhau và ở các thời điểm khác nhau, các nước buộc phải ban bố lệnh phong tỏa, hạn chế đi lại, yêu cầu giãn cách xã hội. Đây là thực trạng chưa từng có tiền lệ, nó tác động sâu sắc, tiêu cực đến tâm lý xã hội, con người trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng đã là xu thế lớn trong nhiều thập kỷ qua. Trong điều kiện như vậy nhưng đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài, Chính phủ đã chủ động liên hệ, sắp xếp và tổ chức hàng trăm chuyến bay trợ giúp kiều bào rời khỏi vùng dịch về nước an toàn. Ở trong nước các phương án giãn cách, cách ly, thể hiện sự quyết đoán, quyết tâm của nhà nước để dập dịch, đảm bảo an ninh xã hội và sức khỏe người dân. Tuy nhiên, có thời điểm, do dịch diễn biến nhanh, với nhiều biến thể phức tạp, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của cả cộng đồng và kèm theo nhiều vấn đề mới phát sinh, chưa có tiền lệ, v.v. Trước tình hình đó, Chính phủ chủ trương mạnh dạn áp dụng nhiều biện pháp phòng, chống dịch theo phương châm: không cầu toàn, làm đến đâu rút kinh nghiệm đến đó, lấy việc kịp thời cứu chữa, bảo vệ an toàn sức khỏe cho nhân dân là trên hết, trước hết. Đặc biệt, thời gian gần đây, để phù hợp với trạng thái bình thường mới, các phương án phòng, chống dịch đã thể hiện tính linh hoạt, vừa thực hiện phong tỏa, cách ly “diện hẹp” những nơi có yếu tố dịch tễ, vừa bảo đảm đi lại, sinh hoạt và sinh kế của doanh nghiệp, người dân, v.v. Song những nhà “dân chủ” lại xuyên tạc rằng: việc thực hiện siết chặt giãn cách ở một số địa phương là “biện pháp sai lầm, phi khoa học”, cho rằng quyết định này sẽ là thảm họa; không thể coi “chống dịch như chống giặc” để nhốt dân, “tra tấn dân”,… từ đó vu cáo cách làm này “chỉ làm dịch lan rộng, dân chưa chết vì dịch bệnh thì đã chết vì đói”. Đó còn là nạn tin giả, kẻ “nối giáo cho giặc” - với những đánh giá thiếu khách quan, đi ngược lại các tiêu chí bảo đảm quyền con người. Thực chất, việc áp dụng giãn cách xã hội là một trong những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng. Thực tế các đợt dịch trước ở Việt Nam đã chứng minh, thực hiện thông điệp 5K, áp dụng giãn cách xã hội vẫn là giải pháp chủ đạo để ngăn chặn sự lây lan bệnh, cùng với nỗ lực tiêm phòng vắc xin. Đây là cách thức khoa học, đúng đắn đã được các cấp chính quyền quyết liệt thực hiện, được nhân dân đồng tình ủng hộ, qua đó đã hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Nhiều nước trên thế giới cũng áp dụng quyết liệt phương pháp này và đã thành công ở từng mức độ cụ thể, cùng với việc tăng cường tiêm phòng vắc xin. Tại Việt Nam, với kết quả phòng, chống dịch hiệu quả, người dân Việt Nam vẫn được hưởng mọi quyền tự do một cách bình thường, đặc biệt là việc tự do đi lại và tự do thông tin. Người dân Việt Nam được tiếp nhận đầy đủ thông tin cập nhật từng ngày, từng giờ, thậm chí là từng phút về tình hình thế giới, nhất là tình hình dịch bệnh; Chính phủ luôn công khai, minh bạch mọi thông tin, mọi biện pháp phòng chống dịch để dân biết, dân hiểu và hưởng ứng, làm theo. Do đó, việc Việt Nam xử phạt các cá nhân, tổ chức phát tán thông tin sai lệch gây hoang mang cho nhân dân làm ảnh hưởng xấu đến công tác phòng, chống dịch Covid-19 là nhằm ngăn chặn, làm cho nạn tin giả không còn “đất dụng võ”, bảo đảm cho người dân hiểu và tin vào các giải pháp phòng, chống dịch của Chính phủ, chính quyền các cấp. Đó không phải là Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, vi phạm nhân quyền như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Trong bức tranh chung toàn cầu, Việt Nam, một quốc gia ở mức phát triển trung bình thấp đã phòng, chống dịch Covid-19 hiệu quả và hơn thế nữa, đảm bảo tốt quyền con người cho nhân dân. Là người Việt Nam chân chính, không ai là không hiểu được sự thâm hiểm và ý đồ phá hoại của những nhà “dân chủ” và các thế lực thù địch phản động. Cho dù cuộc chiến phòng, chống đại dịch Covid-19 còn nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, các cấp, ngành, cả hệ thống chính trị và toàn dân chúng ta nhất định thắng lợi, như niềm tin mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đưa ra trong Lời kêu gọi phòng, chống đại dịch Covid-19: “Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, cả nước góp sức, toàn Đảng, toàn dân đồng lòng, thống nhất ý chí và hành động, cùng với sự giúp đỡ chí tình của đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng đại dịch Covid-19 và phải chiến thắng cho bằng được, góp phần xứng đáng vào sự nỗ lực chung của toàn nhân loại vì một thế giới an toàn, lành mạnh, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng, xứng đáng với truyền thống anh hùng vẻ vang của Đất nước ta, Dân tộc ta”.

Chuyện tình đẹp về cây sáo tơm của người Khơ Mú

 

 Sáo tơm là nhạc cụ phổ biến của cộng đồng người Khơ Mú. Nhạc cụ này có thể độc tấu, hòa tấu và thường xuyên nhất là đệm cho các làn điệu hát tơm và còn gắn với một chuyện tình đẹp.

Cũng như nhiều bản làng người Khơ Mú khác ở  miền núi Nghệ An, cư dân ở Na Bè, xã Xá Lượng, huyện Tương Dương (Nghệ An) cũng rất coi trọng đời sống tinh thần, trong đó có các làn điệu dân ca Tơm và Re ré. Trong khi Re ré chỉ được hát tại các tang lễ thì hát Tơm lại là món ăn tinh thần phổ biến được truyền khẩu qua nhiều thế hệ.

Chuyện tình đẹp về cây sáo tơm của người Khơ Mú - 1

Sáo tơm có kết cấu đơn giản gồm 2 hoặc 3 khúc nứa nhỏ nối lại với nhau. Trên thân sáo có từ 2 đến 4 lỗ, tùy mục đích dùng mà chế tác (Ảnh: Thúy Quỳnh).

Hát Tơm là một thể loại dân ca gồm nhiều làn điệu như hát đón khách, hát xin dâu, trai gái giao duyên, hát ghẹo nhau giữa nam và nữ hay giữa những người bạn trong tiệc rượu, hát mừng lúa mới, nhà mới hay chào đón năm mới…

Cũng như các làn điệu của dân ca Thái, một bài Tơm của người Khơ Mú ở Nghệ An thường bắt đầu bằng câu "ơ hời". Độ dài của câu này thường từ 3 đến 5 nốt nhạc tùy người hát. Câu mở đầu này gần như lời dạo đầu trong các điệu hò của người Nghệ - Tĩnh, Huế hay vùng Nam Bộ. Sau lời dạo đầu này mới đến phần nội dung chính của bài hát. Lời ca của các làn điệu Tơm thường mộc mạc, ít xa xôi, hình tượng. Lời ca khỏe khoắn và gần gũi với không gian sống hoang sơ chốn rừng núi.

Nhưng có một thứ không thể thiếu khi hát Tơm là tiếng sáo. Người Khơ Mú và Thái ở Nghệ An gọi nhạc cụ này là "pí tơm" (sáo tơm). Sáo tơm có kết cấu đơn giản gồm 2 hoặc 3 khúc nứa nhỏ nối lại với nhau.

Trên thân sáo có từ 2 đến 4 lỗ, tùy mục đích dùng mà chế tác. Chính vì thế mà độ dài ngắn của các cây sáo cũng sẽ khác nhau. Một bộ phận quan trọng của sáo tơm là lưỡi gà ở đầu sáo. Lưỡi gà này chủ yếu làm bằng nứa. Để tiếng sáo được trong và vang hơn, người ta cũng có thể dùng lưỡi gà bằng đồng hoặc sắt. Sau khi cây sáo hỏng, người ta có thể cất riêng lưỡi gà ra để dùng cho những lần sau.

Chuyện tình đẹp về cây sáo tơm của người Khơ Mú - 2

Để tiếng sáo được trong, vang xa và giữ được lâu thì đòi hỏi thêm một số yếu tố đó là cây nứa phải nhỏ và già, có độ mỏng.

Theo một số người nghiên cứu âm nhạc dân tộc thiểu số thì sáo tơm chỉ có 2 nốt chính là la và rê. Khi chơi, người nhạc công chủ yếu dùng hai nốt này và những biến tấu quanh chúng để tạo các âm vực khác nhau. Chính vì thể, cây sáo tơm có thể dùng độc tấu, hòa tấu và thường xuyên để đệm cho các điệu hát.

Ông Moong Văn Cường, một người chơi sáo tơm giỏi ở bản Na Bẻ chia sẻ, để tạo ra một nhạc cụ chỉ cần một vài đoạn nứa, một con dao nhọn. Tuy nhiên, để tiếng sáo được trong, vang xa và giữ được lâu thì đòi hỏi thêm một số yếu tố đó là cây nứa phải nhỏ và già, có độ mỏng. Nếu thân nứa lớn sẽ khó thổi, tốn hơi sức và tiếng không trong. Nứa dày quá tiếng sáo sẽ nhỏ và không vang xa. Những ống sáo làm từ cây nứa già khi khô sẽ không méo mó và tiếng sáo luôn trong trẻo...

Có một câu chuyện dân gian liên quan đến cây sáo tơm của người Khơ Mú mà hầu như người chơi sáo nào cũng biết đó là chuyện tiếng sáo của Cụt Phò Ri. Vợ chồng Gưn Cung (trưởng bản) đã nhiều tuổi nhưng vẫn hiếm muộn. Lần nọ, vợ Gưn Cung đi vào rừng bỗng nhiên có một con nai nói vẳng vào tai: "Mẹ ơi! cho con về nhà với".

Sau đó không lâu bà vợ mang bầu và sinh hạ một bé gái. Họ đặt tên là nàng Nai. Nàng Nai càng lớn càng xinh đẹp. Nhiều trai bản đến xin Gưn Cung cho ở rể để cưới nàng về làm vợ. Thế mà nàng chẳng đồng ý lấy ai. Chẳng ai biết Nai đã phải lòng chàng trai nghèo tên là Cụt Phò Ri.

Ri mồ côi, nghèo khổ, cơm không đủ ăn, áo chẳng đủ mặc nhưng là người hiền lương khó ai sánh kịp. Ngày lên rừng, tối đến Cụt Phò Ri lại đem cây sáo tơm ra thổi. Tiếng sáo tơm khiến tâm can nàng Nai rung động. Một đêm, nàng lần theo tiếng sáo tìm đến gặp Cụt Phò Ri và hai người trở thành bạn tình.

Chuyện tình đẹp về cây sáo tơm của người Khơ Mú - 3

Làn điệu tơm là "món ăn" tinh thần phổ biến được truyền khẩu qua nhiều thế hệ.

Gưn Cung biết con gái yêu chàng trai nghèo nên gọi Cụt Phò Ri đến đánh mắng và đuổi ra khỏi bản. Nàng Nai bị ép phải hứa hôn với con trai một tù trưởng khác. Dù bị đuổi đi, nhưng tiếng sáo của Cụt Phò Ri vẫn luôn vang lên, trong trẻo đầy lạc quan. Một đêm, nàng Nai lại lần theo tiếng sáo và tìm thấy Cụt Phò Ri người chỉ quấn vỏ cây đang thổi sáo trong một hốc cây lớn, nàng liền xé vạt áo dài của mình cho chàng làm khố và hai người thành vợ chồng.

Gưn Cung ra điều kiện nếu muốn lấy con gái ông và ở lại bản thì trong ba ngày phải kiếm về 30 sọt măng đắng, 30 hũ mật ong và săn được 30 con lợn rừng. Nhờ tài thổi sáo, Cụt Phò Ri được các con thú trong rừng như: Nhím, gấu, hổ... giúp đỡ đã đem về đủ lễ vật. Sau này, Gưn Cung còn nhường ngôi vị cho anh lên thay mình khi về già.

Từ đó, người Khơ Mú càng thêm yêu tiếng sáo. Mỗi khi có đám cưới, làng bản lại ngân vang tiếng nhạc và những điệu tơm. Tuy nhiên, ngày nay, không còn nhiều người trẻ của cộng đồng Khơ Mú còn yêu thích sáo cũng như hát tơm. Cũng như nhiều loại hình dân ca khác, hát Tơm và sáo tơm đang đứng trước nguy cơ mai một, mặc dù chính quyền địa phương ở các địa bàn có người Khơ Mú cư trú đã ra sức bảo tồn loại hình dân ca độc đáo này.

Trâu hóa hổ cho ngày lễ Tịch điền năm Dần

 

Chuẩn bị cho ngày lễ Tịch điền Đọi Sơn 2022, những chú trâu được hóa trang thành linh vật năm Nhâm Dần hoặc "trang điểm" rực rỡ, đầy màu sắc dưới bàn tay của các họa sỹ.

Ngày 6/2 (tức mùng 6 Tết Nhâm Dần), tại cánh đồng xã Tiên Sơn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam diễn ra hội thi vẽ, trang trí trâu. Để đảm bảo công tác phòng, chống dịch Covid-19, năm nay, số lượng trâu tham gia giảm còn 10 con và địa phương cũng chỉ mời các họa sỹ trong tỉnh Hà Nam tham gia. Những chú trâu đạt giải sẽ tham gia nghi thức xuống đồng cày Tịch điền vào ngày mai.

Trâu hóa hổ cho ngày lễ Tịch điền năm Dần  - 1

Một nữ họa sỹ đang thỏa sức sáng tạo bức tranh trên mình trâu.

Tại hội thi, những họa sỹ tham gia thi tài có thể thỏa sức sáng tác trên mình trâu. Những chú trâu chỉ biết cày ruộng, kéo xe, gặm cỏ… bỗng chốc trở thành những "tác phẩm nghệ thuật", khoác lên mình tấm áo mới đầy màu sắc.

Hội thi vẽ trang trí trâu lễ hội Tịch điền Đọi Sơn được tổ chức từ năm 2009, năm bắt đầu phục dựng lễ hội này. "Trâu đi hội" được chọn từ các thôn, xóm trong vùng để làm mẫu trang trí tham gia. Đàn trâu được tập kết tại bãi riêng, gần sân khấu chính nơi làm lễ hội Tịch Điền.

Mỗi họa sĩ có một góc nhìn, một cách thể hiện khác nhau trên mình trâu. Những chú trâu được trang trí đẹp mắt, có tính sáng tạo sẽ đạt được các giải thưởng khác nhau.

Họa sỹ Phạm Văn Hòa (Trung tâm Nghệ thuật tỉnh Hà Nam) cho biết, mỗi năm, các họa sỹ đều sáng tác theo đề tài chủ đề của năm đấy, không năm nào giống nào. Năm nay anh Hòa "hô biến" trâu trong hình ảnh một chú hổ, đồng thời có nhiều họa tiết, hoa văn thể hiện không khí vui tươi, phấn khởi của ngày Xuân.

Trâu hóa hổ cho ngày lễ Tịch điền năm Dần  - 2

Mỗi họa sĩ có một góc nhìn, một cách thể hiện khác nhau trên mình trâu.

Theo sử sách, lễ Tịch điền đầu tiên được vua Lê Đại Hành tổ chức và đích thân xuống đồng cày ruộng vào đầu Xuân năm Đinh Hợi, niên hiệu Thiên Phúc thứ 7 (năm 987). Lần đầu vua cùng bá quan văn võ cày ruộng ở Đọi Sơn và bắt được chum vàng, năm sau cày ở Bàn Hải bắt được chum bạc.

Từ đó, những thửa ruộng này còn được gọi là "kim ngân điền". Người dân Hà Nam thì gọi là ruộng vàng, ruộng bạc. Hàng năm, cứ vào đầu xuân năm mới, các triều đại nối tiếp nhau đều long trọng cử hành nghi lễ Tịch điền để cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Sau một thời gian dài gián đoạn, từ năm 2009, lễ hội tốt đẹp này được phục dựng.

Trâu hóa hổ cho ngày lễ Tịch điền năm Dần  - 3

Rất nhiều chú trâu "sẵn sàng" hợp tác với họa sỹ

Trâu hóa hổ cho ngày lễ Tịch điền năm Dần  - 4

Nhưng cũng rất nhiều chú trâu tỏ ra "bất hợp tác" với họa sỹ.

Trâu hóa hổ cho ngày lễ Tịch điền năm Dần  - 5

Nam họa sỹ phải rất kiên nhẫn và chớp thời cơ rất nhanh để vẽ tranh trên mình trâu.

Trâu hóa hổ cho ngày lễ Tịch điền năm Dần  - 6

Mỗi chú trâu sẽ có chủ kèm, giữ để họa sỹ thỏa sức sáng tạo trên mình trâu.

Trâu hóa hổ cho ngày lễ Tịch điền năm Dần  - 7

Từ những chi tiết nhỏ nhất...

Trâu hóa hổ cho ngày lễ Tịch điền năm Dần  - 8

...Đến những chi tiết cầu kỳ nhất, người họa sỹ đều cẩn thận, tỉ mỉ từng nét bút.

Trâu hóa hổ cho ngày lễ Tịch điền năm Dần  - 9

Từ đầu tới thân, các chú trâu được vẽ những màu sắc rất sặc sỡ

Trâu hóa hổ cho ngày lễ Tịch điền năm Dần  - 10

Những nét vẽ cuối cùng để hoàn thành bức tranh trên mình trâu của người họa sỹ lớn tuổi.

Trâu hóa hổ cho ngày lễ Tịch điền năm Dần  - 11

Chú trâu khoác trên mình bức tranh "Hà Nam - Đổi mới - Phát triển" đã được hoàn thành.

Trâu hóa hổ cho ngày lễ Tịch điền năm Dần  - 12

Những chú trâu khác cũng được hoàn thành và chờ Ban giám khảo chấm điểm.

Phát động thi đua chào mừng Đại hội Đoàn các cấp và Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ”

 

Ngày 6-2, tại Thái Nguyên, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức Lễ phát động thi đua chào mừng Đại hội Đoàn các cấp nhiệm kỳ 2022-2027 và Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” - Xuân Nhâm Dần 2022.

Tham dự Lễ phát động có đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh khẳng định: Tổ chức đại hội Đoàn là một sự kiện đặc biệt quan trọng, vì vậy, công tác chuẩn bị Đại hội XII phải được thực hiện kỹ lưỡng, đồng bộ cùng với việc tập trung thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI trong năm cuối cùng của nhiệm kỳ; đồng thời phải tập trung thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của Đoàn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các Nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị mới ban hành. 

Phát động thi đua chào mừng Đại hội Đoàn các cấp và Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ”
Đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thực hiện nghi thức tiếp lửa truyền thống. Ảnh: Công Tuân

Cũng theo đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, các cấp bộ đoàn, các bạn đoàn viên, thanh niên cần tập trung chỉ đạo tổ chức thành công đại hội Đoàn các cấp trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 còn diễn biến phức tạp đòi hỏi các cấp bộ đoàn cần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện tốt phương châm "Tiên phong-Tương trợ-Thích ứng" với điều kiện dịch bệnh, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành. 

Bên cạnh đó, các cấp bộ đoàn cần xác định việc tổ chức đại hội là dịp để đổi mới nội dung, phương thức hoạt động do đó cần chú trọng đổi mới phương thức hoạt động, tận dụng chuyển đổi số trong tổ chức đại hội, phát huy vai trò chủ thể của đoàn viên, đại biểu trong tham gia các quyết sách lớn của đại hội...

Tại lễ phát động, đồng chí Nguyễn Anh Tuấn thực hiện nghi thức tiếp lửa truyền thống phát động thi đua chào mừng đại hội Đoàn các cấp tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII. Ngọn đuốc được đoàn vận động viên gồm 91 đoàn viên, thanh niên và vận động viên rước từ nơi tổ chức Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ nhất tới đài đuốc, tượng trưng cho sự nhiệt huyết, tươi mới và đoàn kết của tuổi trẻ. 

Phát động thi đua chào mừng Đại hội Đoàn các cấp và Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ”
Hơn 10.000 cây xanh được trồng mới trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Ảnh: Công Tuân

Trong khuôn khổ buổi lễ phát động, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã ra mắt “Phần mềm quản lý đoàn viên” sử dụng trợ lý ảo chatbot để tương tác với đoàn viên, thanh niên. Đây là công cụ giúp đoàn viên, thanh niên trong cả nước giải đáp toàn bộ các thắc mắc về công tác tổ chức Đại hội Đoàn các cấp mọi lúc, mọi nơi, đơn giản, dễ sử dụng và mang lại hiệu quả cao. 

Ngay sau lễ phát động, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đại biểu cùng đoàn viên, thanh niên và nhân dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cùng tham gia trồng hơn 10.000 cây xanh gồm các loại cây ăn quả, cây cảnh quan xanh nhằm mục tiêu phát triển kinh tế và cây cảnh quan bảo vệ môi trường; thăm mẹ Việt Nam anh hùng; trao 20 suất quà cho cựu thanh niên xung phong, gia đình chính sách; 30 suất học bổng cho sinh viên, học sinh; 20 xe đạp, 20 suất quà cho thanh thiếu nhi dân tộc thiểu số; 10 suất quà cho thanh niên công nhân; 10 suất quà cho già làng, trưởng bản; 200 suất quà cho thanh thiếu nhi; 500 túi an sinh và 200 áo ấm cho thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn huyện Đại Từ. 

Trong khuôn khổ chương trình, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh triển khai công trình thanh niên chào mừng Đại hội Đoàn các cấp tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027 gồm: Xây dựng nhà bia khu di tích Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ nhất; 1 nhân ái, 1 ngôi nhà 100 đồng, 1 ngôi nhà khăn quàng đỏ; 1 công trình thanh niên thắp sáng bằng năng lượng mặt trời; 1 nhà vệ sinh có sử dụng vật liệu từ chai nhựa; 1 sân chơi cho thanh thiếu nhi; 1 ti vi, tủ sách và bộ âm thanh; mô hình xã an toàn giao thông; triển khai tuyến đường nông thôn mới. Tổng giá trị hơn 1,5 tỷ đồng.

Chương trình có sự đồng hành của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) cùng với chương trình “Vì một một Việt Nam xanh” trên toàn quốc với mục tiêu mang lại một môi trường sống tốt hơn cho tất cả mọi người.

TRẦN YẾN

Vững tin vào con đường cách mạng

 

 Theo thông tin từ Ban Tuyên giáo Trung ương, ngay trong tuần đầu, sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật sẽ tổ chức Lễ ra mắt cuốn sách "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là mục tiêu, lý tưởng mà Đảng, Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn; là khát vọng muôn đời của dân tộc Việt Nam và là tiến trình phát triển tất yếu của nhân loại tiến bộ. Sau tiến trình cách mạng gian lao, nhưng cũng rất đỗi vẻ vang, với nhiều thành tựu vĩ đại đạt được, đến nay, con đường đi lên CNXH đã ngày càng sáng tỏ, nhưng vẫn còn đó không ít khó khăn, trăn trở, vướng mắc đặt ra; nhất là các vấn đề liên quan đến lý luận về CNXH.

Với lý luận sâu sắc và kinh nghiệm hoạt động cách mạng sôi động, trải qua các cương vị công tác, đồng chí Nguyễn Phú Trọng dành nhiều tâm sức, trí tuệ để tìm tòi, nghiên cứu về lý luận mác-xít nói chung, lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH nói riêng. Đặc biệt, kể từ khi chuẩn bị xây dựng văn kiện Đại hội XIII của Đảng đến nay, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có nhiều bài viết, bài phát biểu thể hiện tầm tư duy chiến lược, có tính hệ thống, toàn diện, nhưng cũng hết sức cơ bản, cụ thể về mục tiêu, con đường đi lên CNXH. Và một số trong những bài viết, bài phát biểu quan trọng ấy đã được tuyển chọn, xuất bản cuốn sách "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” sẽ ra mắt bạn đọc trong những ngày tới.

29 bài viết, bài phát biểu được tuyển chọn trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vốn từng được công bố trước đó và nhận được sự ủng hộ, đồng thuận rất cao của dư luận. Đặc biệt, trong bài viết được lấy tên làm tựa đề của cuốn sách thể hiện rõ nhận thức, tư duy, quan điểm, thái độ, quyết tâm chính trị của Tổng Bí thư đối với chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) và con đường đi lên CNXH.

Với dung lượng vừa đủ, nhưng nội dung bài viết thể hiện nhiều quan điểm, tư duy mới về công cuộc đổi mới, hướng tới làm rõ các đặc trưng của chế độ XHCN, những cách thức, hình thức, con đường tiếp cận mục tiêu xây dựng thành công chế độ XHCN trên cơ sở kế thừa và phát triển lý luận của các nhà mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng qua các nhiệm kỳ.

Vững tin vào con đường cách mạng
Đường phố rợp cờ hoa. Ảnh minh họa: TTXVN. 

Dù tiếp cận, giải quyết các vấn đề lớn của lý luận, nhưng với văn phong giản dị, kết hợp với chủ ý minh chứng, giải thích các vấn đề đặt ra bằng số liệu thực tiễn sinh động, thuyết phục, giúp các bài viết trong cuốn sách của Tổng Bí thư trở nên gần gũi, dễ đọc, dễ hiểu, được quần chúng đón nhận tích cực.

Cũng qua đó, đã có hàng nghìn ý kiến, bình luận của độc giả, cán bộ hưu trí, đảng viên ở cơ sở, nhân dân ở mọi vùng, miền của Tổ quốc, đồng bào các dân tộc thiểu số, tôn giáo, các nhà nghiên cứu, nhà ngoại giao, trí thức, văn nghệ sĩ, kiều bào ta ở nước ngoài về các bài viết, bài phát biểu... được đăng tải trên các phương tiện truyền thông, báo chí.

Đặc biệt, qua các bài viết, dư luận quốc tế đánh giá cao trước những luận điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nhiều ý kiến chính giới, học giả cho rằng, các bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đóng góp kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn cho CNXH trên thế giới, làm phong phú và hiện thực hóa thêm tư tưởng, mục tiêu, cách thức, con đường đi lên CNXH. 

Cuốn sách "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” dày hơn 460 trang, với 29 bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; thể hiện rõ tầm vóc, quan điểm, tư duy lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Đảng ta trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại...

Theo lãnh đạo Hội đồng Lý luận Trung ương, cuốn sách có giá trị đặc biệt cả về phương diện lý luận và thực tiễn; chắc chắn khi ra mắt sẽ nhận được sự quan tâm, đón nhận và đánh giá cao của đông đảo nhân dân, các chính khách, học giả trong nước và nước ngoài. Dư luận sẽ tiếp nhận bằng sự trân trọng bởi chính tâm và tầm của tác giả. Hay nói cách khác, cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đáp ứng đúng, trúng những vấn đề bức thiết của đất nước mà đội ngũ các nhà nghiên cứu, cán bộ, đảng viên và nhân dân đều quan tâm. Hơn thế, nội dung cuốn sách có sức thuyết phục vì Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một tác giả thuyết phục độc giả cả về trí tuệ và nhân cách. 

Đặc biệt, các bài viết, bài phát biểu trong cuốn sách đều bàn về một vấn đề lớn, phức tạp nhưng lại chọn cách trình bày rất dung dị, dễ hiểu, sâu sắc, thông qua thực tiễn sinh động của cuộc sống, từ đó củng cố và nâng cao niềm tin, tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, đảng viên, nhân dân kiên định con đường đi lên CNXH một cách sáng tạo, cách mạng và khoa học.

Việc cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được xuất bản và ra mắt bạn đọc vào dịp kỷ niệm lần thứ 92 Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đón năm mới 2022 không chỉ có giá trị tổng kết thực tiễn, định hướng lý luận mà còn là nguồn cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phát huy những thành tích đạt được, nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi mục tiêu phấn đấu đến năm 2045-kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

(còn nữa)

NGUYỄN SÔNG TRÀ