Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

Hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước.

 - Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ chủ trương về hội nhập quốc tế, nhất là chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong bối cảnh mới. Bài viết tập trung làm rõ cơ sở khoa học, giải pháp thúc đẩy thực hiện chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng của Việt Nam nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước

Việt Nam chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng - Ảnh: dangcongsan.vn

1. Chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”(1)

Đảng ta xác định chủ trương trên xuất phát từ những cơ sở khoa học, khách quan sau:

Một là, xuất phát từ nhận thức chung về thời đại, về tình hình thế giới và khu vực ngày càng rõ hơn và đầy đủ hơn. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH, Đảng ta nhận rõ tính chất phức tạp và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội, nên cần có nhận thức đúng, thấy rõ những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất thời đại trong giai đoạn hiện nay và tương lai.

Về môi trường quốc tế, Đảng ta đã nhận thức rõ việc các nước không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển, cùng tồn tại hòa bình, hợp tác và đấu tranh vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Đảng ta nhận định “cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm”(2) ngày càng rõ hơn. Các nước lớn thay đổi chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến tình hình thế giới và các khu vực. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt, chủ nghĩa thực dụng ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế. Các nước đang phát triển, nhất là những nước vừa và nhỏ đang đứng trước những cơ hội mới và cả những thách thức, khó khăn mới trên con đường phát triển.

Hai là, sau 35 năm đổi mới trong lĩnh vực đối ngoại và mở rộng hội nhập quốc tế, chúng ta đã giành được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”(3), cùng những bài học kinh nghiệm sâu sắc. Mở rộng quan hệ đối ngoại, chúng ta đã giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ XHCN, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; đã phá được thế bị bao vây, cấm vận; bình thường hóa, thiết lập quan hệ ổn định, lâu dài với các nước; tạo lập và giữ được môi trường hòa bình, tranh thủ yếu tố thuận lợi của môi trường quốc tế để phát triển.

Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu. Mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị; tiếp tục từng bước đưa quan hệ với các đối tác quan trọng đi vào chiều sâu, ổn định hơn. Cùng với việc tăng cường ngoại giao Nhà nước, quan hệ đối ngoại Đảng và đối ngoại nhân dân được mở rộng, đã nâng cao vị thế, uy tín của nước ta tại các diễn đàn đa phương.

Ba là, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Trong những năm tới, tình hình thế giới sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng “hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn”(4), quá trình “toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển”(5), hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng; “cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc”(6).

Tình hình chính trị, an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh mạng, chiến tranh cục bộ... tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực. Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới và các khu vực. Các nước đang phát triển, nhất là những nước vừa và nhỏ đang đứng trước những cơ hội và khó khăn, thách thức lớn trên con đường phát triển; “những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp”(7).

 2. Giải pháp thực hiện chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng

Để thực hiện thắng lợi chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(8), từ nay đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, cần tập trung quán triệt một số nguyên tắc và giải pháp sau: 

Về nguyên tắc: (i) Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; (ii) Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất; (iii) Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia(9). Độc lập, tự chủ là cơ sở, tạo ra sức mạnh nội sinh để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; (iv) Hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; (v) Hội nhập quốc tế là quá trình, vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu; không tham gia vào các tập hợp lực lượng, các liên minh của bên này chống bên kia; (vi) Tuân thủ nghiêm các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất các sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.  

Về giải pháp: 

Một là, đối với hội nhập chính trị.

Xây dựng quan hệ toàn diện, sâu rộng. Với tinh thần của Đại hội XIII về việc nâng tầm hội nhập chính trị lên một mức cao hơn, đó là toàn diện, đi vào chiều sâu, đối ngoại để phục vụ đối nội, mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, cải cách thể chế, luật pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho thúc đẩy hội nhập chính trị, thiết lập các thỏa thuận hợp tác về chính trị. Rà soát hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, chỉnh sửa, bổ sung, xây dựng và ban hành mới các văn bản nhằm bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, khả thi, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Tăng cường cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các kênh, các cấp và các cơ quan đối ngoại, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

- “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy”(10). Tiến hành rà soát việc thực hiện các khuôn khổ, đề án phát triển quan hệ với các nước láng giềng, khu vực tiểu vùng sông Mê Công, ASEAN, châu Á - Thái Bình Dương, các nước lớn và các đối tác quan trọng; nâng cấp và mở rộng quan hệ song phương phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế; đưa ra các phương án cụ thể, các nhiệm vụ ưu tiên để thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là các chương trình, dự án hợp tác lớn, đồng thời giải quyết sớm những vướng mắc, tồn tại, góp phần đưa các khuôn khổ quan hệ đã được xác lập với các nước đi vào thực chất, tạo sự đan xen, gắn kết lợi ích giữa nước ta với các đối tác(11)

Chú trọng chủ động, tích cực hợp tác về chính trị trong các vấn đề an ninh phi truyền thống theo định hướng của Đại hội XIII là “chủ động, tích cực chia sẻ thông tin, phối hợp nghiên cứu, quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên, bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng”(12). Xây dựng chương trình, đề án nhằm “mở rộng quan hệ và đẩy mạnh hợp tác với các lực lượng chính trị, xã hội và nhân dân các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội”(13)

- Chủ động, tích cực tham gia và phát huy vai trò định hình, “nòng cốt, dẫn dắt và hòa giải” trong các cơ chế đa phương; nghiên cứu tham gia xây dựng định hình các thể chế, định chế, luật lệ, chuẩn mực về chính trị; kết hợp chặt chẽ và hiệu quả với song phương.

- Tăng cường hoạt động tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu về các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, chính sách, chiến lược của Chính phủ về các cam kết về hội nhập chính trị; “Đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại, bảo hộ công dân, triển khai toàn diện và mạnh mẽ hơn công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; chủ động thích ứng trước chuyển biến của tình hình”(14).

Hai là, đối với hội nhập lĩnh vực kinh tế.

Các giải pháp chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện trên lĩnh vực kinh tế nhằm góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài”(15)

- Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, cải cách thể chế, luật pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho thúc đẩy hội nhập kinh tế theo hướng phù hợp với các cam kết quốc tế và điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước. Tập trung xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện các luật, dự án luật liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế. Tiến hành rà soát, đánh giá kết quả hợp tác, cập nhật và thực hiện các chiến lược, kế hoạch về hội nhập kinh tế quốc tế.

- Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả quan hệ hợp tác kinh tế, đầu tư và thương mại song phương với các đối tác, thiết lập các khuôn khổ hợp tác, nhất là những lĩnh vực mới như kinh tế số, kinh tế xanh; “thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn”(16)

- Thúc đẩy quan hệ kinh tế đa phương, phát huy vai trò định hình, xây dựng thể chế, cơ chế và luật lệ mới tại các cơ chế kinh tế đa phương; kết hợp chặt chẽ và hiệu quả với song phương. 

Trong đó, ở cấp khu vực/liên khu vực thực hiện rà soát, cập nhật các hiệp định đã ký kết, nghiên cứu tham gia các FTA giữa ASEAN và đối tác như EU, Anh; chú trọng tham gia xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN, tham gia tích cực hơn vào quá trình định hình cấu trúc, các thể chế đa phương khu vực trong ASEAN, hợp tác Mê Công; chủ động tham gia xây dựng các khuôn khổ, quy định quản trị kinh tế ở tầm khu vực, liên khu vực (như APEC), thúc đẩy các lĩnh vực mà Việt Nam có lợi ích; thực hiện các cam kết như EVFTA và EVIPA để đẩy mạnh xuất khẩu sang EU, thu hút làn sóng đầu tư mới từ EU, tận dụng nguồn tài trợ phát triển kinh tế bền vững, kinh tế miền núi, nông thôn.  

Ở cấp toàn cầu, tiếp tục phát huy hiệu quả hợp tác trong Liên hợp quốc nhằm huy động nguồn lực hỗ trợ về chính sách, tài chính và kỹ thuật cho các hoạt động phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực như cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, đổi mới sáng tạo, thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển xanh, chuyển đổi xanh, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn, duy trì chuỗi cung ứng toàn cầu, phát triển bền vững kinh tế biển, thúc đẩy ngoại giao vắcxin, công nghệ, vật tư y tế cho phòng, chống và điều trị Covid-19.

- Tổ chức đào tạo, thông tin tuyên truyền, phổ biến kiến thức, nâng cao năng lực nghiên cứu về tình hình hội nhập kinh tế quốc tế và các xu hướng mới trong phát triển (chuyển đổi số, sự chuyển dịch các chuỗi cung ứng, sản xuất và đầu tư; phát triển xanh, bền vững, bao trùm; kinh tế tuần hoàn ...) và tận dụng triển khai các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam; “tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ am hiểu sâu về luật pháp quốc tế, thương mại, đầu tư quốc tế, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, trước hết là cán bộ trực tiếp làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tế”(17).

Ba là, đối với hội nhập lĩnh vực quốc phòng, an ninh. 

Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh nhằm góp phần “giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương”(18), “chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”(19).

- Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, thể chế pháp luật, rà soát thực hiện các đề án, chiến lược, chương trình, kế hoạch nhằm thúc đẩy hội nhập quốc phòng, an ninh phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Rà soát, đánh giá, thúc đẩy triển khai thực hiện các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc phòng, an ninh theo tinh thần của Đại hội XIII; Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 08-8-2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Nghị quyết số 806-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”; đề án “Hội nhập quốc tế về quốc phòng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”(20).

- Chủ động, tích cực mở rộng toàn diện và đưa vào chiều sâu các nội dung hội nhập an ninh, quốc phòng song phương; thiết lập các thỏa thuận về quốc phòng - an ninh. Tiếp tục duy trì và giữ vững mối quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng, các nước lớn, ASEAN và các nước bạn bè truyền thống(21). Chú trọng mở rộng, đa dạng hóa phương thức thực hiện các nội dung hợp tác với các đối tác quan trọng chiến lược, trong đó ưu tiên các lĩnh vực như khắc phục hậu quả chiến tranh; tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, quân y, đào tạo, nghiên cứu chiến lược, an ninh biển, đối ngoại biên giới(22), phòng, chống dịch Covid-19, phối hợp bảo vệ biên giới, tăng cường hợp tác quân y, hỗ trợ trang thiết bị y tế(23), thông qua trao đổi các đoàn quân sự các cấp, tham vấn - đối thoại quốc phòng, nhằm tăng cường hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, xây dựng lòng tin và ngăn ngừa xung đột(24). Tăng cường hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, tiếp thu các công nghệ mới để tiến tới làm chủ công nghệ hiện đại, sản xuất được các loại vũ khí thiết bị công nghệ cao, mang tính răn đe, đồng thời quảng bá, tiêu thụ sản phẩm quốc phòng(25)

- Chủ động, tích tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, nghiên cứu tham gia xây dựng định hình các thể chế, định chế, chuẩn mực luật lệ về quốc phòng, an ninh; “chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng đoàn kết, vững mạnh, giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực”(26). Đa dạng hóa các hình thức, phương pháp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, đào tạo đội ngũ giáo viên, giảng viên, phổ biến kiến thức quốc phòng, nhất là về hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh, làm thay đổi, chuyển biến nhận thức của người dân cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên(27).

Bốn là, đối với hội nhập lĩnh vực văn hóa.

Hội nhập quốc tế về văn hóa nhằm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế”(28), “phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”(29)

- Đẩy mạnh quan hệ song phương về văn hóa, phát huy hiệu quả tích cực yếu tố văn hóa để thúc đẩy quan hệ chính trị và kinh tế. Đẩy mạnh hợp tác với các đối tác truyền thống như Lào, Nga và các đối tác tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, EU, Hoa Kỳ. Đa dạng hóa về hình thức và nội dung giao lưu văn hóa, phim ảnh, thời trang, đẩy mạnh kết hợp văn hóa du lịch, cập nhật các vấn đề mới như chuyển giao trí thức, công nghệ quản lý, hỗ trợ kỹ thuật về hoạch định chính sách, xây dựng văn bản pháp luật trong các lĩnh vực lao động, việc làm, phát triển nguồn nhân lực, an sinh xã hội. Đổi mới tư duy, sáng tạo trong hội nhập văn hóa, nhất là đa dạng hình thức như trực tuyến, chú trọng tới văn hóa số, xã hội số... đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số đang được đẩy nhanh trong và sau Covid-19. 

- “Mở rộng và nâng cao hiệu quả ngoại giao văn hóa, đóng góp thiết thực vào quảng bá hình ảnh, thương hiệu quốc gia và tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước”(30). Công tác quảng bá lịch sử, phát huy văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam gắn liền với phát triển kinh tế du lịch, xuất bản các ấn phẩm, thực hiện các hoạt động giao lưu văn hóa như các sự kiện văn hóa Festival, xuất bản các ấn phẩm, tác phẩm nghệ thuật có giá trị của Việt Nam, các làng nghề truyền thống, danh lam thắng cảnh, các tác phẩm văn học nghệ thuật, âm nhạc, hội họa, điện ảnh, nhiếp ảnh, kiến trúc...; tích cực tham gia các hoạt động sáng tạo các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, khoa học... trên thế giới.  

Năm là, đối với hội nhập lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo.

Hội nhập trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo nhằm “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững”(31). Theo đó, một số biện pháp được đề xuất như sau:

- Xây dựng, củng cố, hoàn thiện hệ thống luật pháp, thể chế thúc đẩy đổi mới hệ thống khoa học, công nghệ quốc gia, đổi mới sáng tạo, giáo dục - đào tạo, hỗ trợ cho Việt Nam thực hiện các điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Thúc đẩy phát triển nền tảng đổi mới sáng tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế(32), đồng thời “đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”(33). Tích cực triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến năm 2030 để mở rộng hợp tác quốc tế và hội nhập về khoa học và công nghệ, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ ưu tiên. Xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển khoa học công nghệ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Xây dựng và triển khai Đề án hội nhập quốc tế về giáo dục và dạy nghề đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

- Tăng cường các chương trình hợp tác song phương, ký kết các thỏa thuận với các đối tác đi đầu về khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo. Đa dạng hóa hợp tác quốc tế, ký kết và thực hiện có hiệu quả các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, hiệp định hợp tác song phương trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học và công nghệ, nhất là ưu tiên hợp tác với các đối tác chiến lược. 

- Phát huy vai trò chủ động và tích cực trong các thể chế/diễn đàn đa phương về khoa học, công nghệ; tham gia định hình, xây dựng các thể chế, cơ chế, quản trị, luật lệ, chuẩn mực toàn cầu về khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo. Tiếp tục tăng cường tham gia các khuôn khổ đa phương về khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo để tranh thủ nguồn lực tri thức, công nghệ, trang thiết bị, tài liệu và đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ Việt Nam. Chú trọng đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực y tế, phòng chống dịch, nghiên cứu và sản xuất vắcxin, tham gia chủ động và tích cực vào các thiết chế toàn cầu về quản trị y tế, an ninh y tế và hỗ trợ nhân đạo.

Xây dựng tòa án điện tử, một nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp trong tòa án nhân dân.

 - Hiện nay, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin đã mang lại nhiều cơ hội cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị quốc gia và thực thi công lý trên thế giới. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển không ngừng của công nghệ số đã và đang làm thay đổi sâu sắc hoạt động của tòa án. Trong bối cảnh đó, tòa án Việt Nam chủ trương đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác tối đa các cơ hội mà cuộc cách mạng công nghệ mang lại để xây dựng tòa án điện tử - một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp trong tòa án nhân dân nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và xây dựng tòa án hiện đại như yêu cầu tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Xây dựng tòa án điện tử, một nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp trong tòa án nhân dân

Ký kết Chương trình phối hợp giữa Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Thông tin và Truyền thông trong công tác chuyển đổi số và xây dựng tòa án điện tử - Ảnh: toaan.gov.vn

1. Nhận thức về tòa án điện tử

Bản chất của tòa án điện tử là chuyển một phần hoạt động của tòa án từ không gian thực lên không gian số, trong đó, cốt lõi là việc tiến hành, tối ưu và phát triển trên nền tảng số một số hoạt động: quản trị nội bộ tòa án; công khai hoạt động của tòa án; cung ứng cho người dân các dịch vụ tư pháp công; hỗ trợ các tiện ích nâng cao hiệu quả hoạt động của các chức danh tư pháp; kết nối và khai thác cơ sở dữ liệu của các nền tảng số quốc gia; đặc biệt là tiến hành các hoạt động tố tụng điện tử. 

Tòa án điện tử mang đến nhiều lợi ích to lớn cho tòa án, người dân và xã hội, cụ thể là:

Thứ nhất, giúp tăng năng suất lao động của tòa án. Nhiều hoạt động tố tụng đang được thực hiện theo phương thức truyền thống vốn tốn kém về thời gian và nhân lực, khi thực hiện thông qua nền tảng số sẽ được tự động hóa hoặc tiến hành trực tuyến (từ khâu thụ lý đơn khởi kiện, tiếp nhận hồ sơ vụ án cho đến kết thúc vụ án). Qua đó, vừa tăng năng suất lao động của tòa án, vừa tiết kiệm nhân lực và thời gian. Đây cũng chính là giải pháp để khắc phục một phần khó khăn, áp lực khi số lượng các vụ án gia tăng không ngừng nhưng phải giảm biên chế theo yêu cầu chung.

Thứ hai, hỗ trợ thẩm phán ra phán quyết chính xác. Thay vì phải lập hồ sơ vụ án, tra cứu văn bản pháp luật và tiến hành các tác nghiệp một cách thủ công, tòa án điện tử với ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) sẽ giúp thẩm phán và thư ký tòa án xử lý hồ sơ nhanh hơn, thuận tiện hơn trong việc tra cứu văn bản pháp luật và án lệ liên quan, tìm kiếm các vụ án có tình huống pháp lý tương tự. Thậm chí, công nghệ trí tuệ nhân tạo còn cho phép thiết lập “Trợ lý ảo” hỗ trợ đắc lực cho thẩm phán trong quá trình nghiên cứu để tham khảo và đưa ra phán quyết đúng pháp luật, nhanh chóng, chính xác.

Thứ ba, tiết kiệm công sức, thời gian và chi phí của người dân. Thay vì phải trực tiếp đến trụ sở tòa án trong giờ làm việc, tòa án điện tử tạo điều kiện cho người dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng ở mọi nơi, mọi thời điểm thông qua nền tảng số (nộp đơn khởi kiện, cung cấp chứng cứ trực tuyến...). Người dân còn có thể sử dụng các dịch vụ tra cứu các bản án, hỗ trợ phân tích và dự đoán kết quả tố tụng... từ đó quyết định khởi kiện hoặc không khởi kiện, tránh lãng phí thời gian, công sức và chi phí khi có các khiếu kiện, tranh chấp cần tòa án giải quyết.

Thứ tư, xử lý một cách nhân văn các tình huống đặc biệt của tố tụng. Tòa án điện tử tạo điều kiện cho các đương sự, nhân chứng, luật sư vì nhiều lý do khác nhau như dịch bệnh, bệnh tật, ở xa, khó khăn về kinh tế... không có điều kiện trực tiếp có mặt tại trụ sở tòa án vẫn có thể tham gia phiên tòa. Đặc biệt, với những vụ án xâm hại tình dục trẻ em, sẽ không triệu tập các em đến phòng xử án, toàn bộ việc khai báo của các em sẽ được tiến hành trực tuyến nhằm tránh phải tiếp xúc trực tiếp với bị cáo, bảo đảm bí mật đời tư, tránh cho trẻ em những tổn thương tiếp theo về tâm lý, nhân cách, danh dự.

Thứ năm, công khai, minh bạch hoạt động của tòa án. Công khai, minh bạch là một trong những thuộc tính của xét xử. Tòa án điện tử sẽ hỗ trợ đắc lực việc công khai, minh bạch toàn bộ hoạt động, tiến độ và kết quả xét xử, tạo điều kiện để người dân theo dõi, giám sát quá trình giải quyết vụ án của tòa án. Khẳng định uy tín của tòa án với nhân dân.

Thứ sáu, tăng năng lực quản lý và giám sát trong hệ thống tòa án. Tòa án điện tử sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, chỉ đạo của tòa án nhân dân (TAND) tối cao với toàn hệ thống tòa án, của tòa án cấp trên với tòa án cấp dưới. Đặc biệt góp phần hữu hiệu tăng năng lực giám sát tiến độ thụ lý án trong nội bộ hệ thống tòa án, giúp tăng tính minh bạch, góp phần phòng ngừa tiêu cực. 

Thứ bảy, tiết kiệm cho ngân sách. Tòa án điện tử với việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin (CNTT) sẽ giúp tiết kiệm đáng kể ngân sách. Theo tính toán của các chuyên gia, việc triển khai tòa án điện tử sẽ tiết kiệm từ 10% đến 15% chi phí hoạt động của tòa án. Việc tổ chức trực tuyến đến nhiều điểm cầu các hội nghị, hội thảo, tập huấn chuyên môn sẽ tạo điều kiện mở rộng thành phần tham dự tới thẩm phán, cán bộ tòa án toàn quốc để trao đổi nghiệp vụ, nâng cao trình độ mà không làm phát sinh chí phí đi lại, công tác phí, tiết kiệm thời gian...

2. Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng tòa án điện tử

Xây dựng tòa án điện tử đã trở thành xu thế toàn cầu. Thực tiễn quốc tế cho thấy, nhiều nước chú trọng ứng dụng CNTT vào hoạt động tư pháp từ sớm và đã đạt được những thành tựu lớn trong xây dựng tòa án điện tử (như Mỹ, Ôxtrâylia, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Xinhgapo, Trung Quốc...). Từ cung cấp dịch vụ hành chính tư pháp trực tuyến, tống đạt điện tử, cung cấp và tiếp nhận chứng cứ trực tuyến đến xét xử trực tuyến... đều được các quốc gia này thực hiện một cách thường xuyên và đang dần thay thế hoạt động tố tụng truyền thống. 

Tòa án các nước đã triển khai nhiều phần mềm tố tụng điện tử với tính năng hiện đại để hỗ trợ người dân thực hiện các hoạt động tố tụng trên nền tảng số (từ khâu nộp đơn khởi kiện, cung cấp chứng cứ trực tuyến cho đến khi xét xử xong). Các phần mềm này cũng cho phép người dân giám sát tiến độ giải quyết án của tòa án, qua đó, tăng sự thuận lợi, niềm tin và hài lòng của người dân. Cùng với đó, tòa án các nước triển khai nhiều phần mềm tố tụng thông minh để hỗ trợ tối đa cho Thẩm phán trong quá trình nghiên cứu, xử lý vụ án (như: tự động lập hồ sơ vụ án; tìm kiếm, tra cứu các văn bản pháp luật; tự tạo các văn bản pháp lý; tống đạt các quyết định tố tụng; hỗ trợ xác minh thông tin; hỗ trợ viết bản án...). Ở những nước xây dựng được tòa án điện tử hiện đại đã giúp giảm khoảng 50% thời gian xử lý vụ án. Tòa án các nước cũng tận dụng tối đa thành tựu của CNTT vào phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành; hàng loạt phần mềm quản lý đã được thiết lập và triển khai, qua đó giúp cho công tác quản lý trong toàn hệ thống tòa án được thông suốt, kịp thời và khoa học. Tính năng hiện đại của tòa án điện tử đã được các nước ứng dụng mạnh mẽ vào công tác quản lý nhân sự, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho thẩm phán. Theo đó, toàn bộ thông tin của thẩm phán, cán bộ tòa án từ khi được tuyển dụng, bổ nhiệm, nâng ngạch và trong suốt quá trình công tác được lưu trữ, cập nhật thường xuyên để phục vụ công tác quản lý và đánh giá cán bộ. 

Rõ ràng, ứng dụng CNTT, xây dựng tòa án điện tử đã trở thành nhu cầu và xu thế không thể đảo ngược của tòa án tất cả các nước trên thế giới. Đây cũng là đòi hỏi khách quan của tiến trình phát triển nền tư pháp ở mọi quốc gia trong bối cảnh hiện nay.

3. Định hướng xây dựng tòa án điện tử ở Việt Nam

- Xây dựng tòa án điện tử hướng tới thực thi và nâng cao năng lực quản trị tòa án trên nền tảng số 

Xây dựng tòa án điện tử để thực thi quản trị tòa án trên nền tảng số (hệ thống), qua đó nâng cao hiệu quả quản trị nội bộ tòa án. Ứng dụng công nghệ số, tòa án quản lý những lĩnh vực sau:

Thứ nhất, quản lý hoạt động tố tụng. Mọi hoạt động tố tụng từ khi tiếp nhận đơn khởi kiện, thụ lý hồ sơ vụ án, phân công giải quyết án cho đến khi giải quyết, xét xử xong sẽ được tự động cập nhật trên hệ thống. Hệ thống này không chỉ có tính năng lưu trữ, theo dõi, mà còn kịp thời đưa ra những cảnh báo, nhắc việc giúp thẩm phán và người quản lý tránh nguy cơ vi phạm, sai sót (thí dụ: chưa tống đạt văn bản tố tụng hoặc sắp hết thời hạn tố tụng, vi phạm thời hạn tố tụng...).

Thứ hai, quản lý nhân sự. Mọi thông tin về nhân sự từ khâu tuyển dụng, bổ nhiệm và trong suốt quá trình công tác sẽ được tự động cập nhật trên hệ thống. Xây dựng và ứng dụng các phần mềm giám sát, đánh giá thẩm phán (dựa trên bộ tiêu chí đánh giá chất lượng thẩm phán). Định kỳ 6 tháng hoặc hằng năm, nền tảng giám sát tự động này sẽ đánh giá thẩm phán và gửi thông báo đến lãnh đạo để phục vụ công tác quản lý, điều hành; đồng thời gửi đến từng thẩm phán để biết mình đang được xếp hạng ở mức nào, bị hạ điểm ở những tiêu chí nào và có phương án khắc phục.

Thứ ba, quản lý và lưu trữ hồ sơ. Toàn bộ hồ sơ gốc sẽ được quản lý và lưu trữ trên cơ sở dữ liệu lớn của nền tảng số, trước mắt ưu tiên số hóa hồ sơ tố tụng. Việc cập nhật thường xuyên hồ sơ lưu trữ trên nền tảng số sẽ giúp lưu giữ hồ sơ nguyên vẹn, lâu dài, tiết kiệm nhân lực, vật lực, đóng vai trò quyết định trong công tác quản lý, sử dụng, phân tích và dự báo sử dụng công nghệ AI.

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. CNTT cho phép tổ chức trực tuyến các hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo, bồi dưỡng trong hệ thống tòa án, vừa giúp mở rộng thành phần tham dự, vừa tiết kiệm thời gian, chi phí. Khối lượng tri thức đồ sộ lưu trữ trong tòa án điện tử cũng là nguồn tư liệu quý giá cho việc tự đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý của cán bộ tòa án. Công tác đào tạo có thể được thực hiện trên nền tảng đào tạo số, bảo đảm các tiêu chí năng suất - chất lượng - hiệu quả trên quy mô toàn quốc cho toàn bộ cán bộ và sinh viên hệ thống tòa án.

Thứ năm, phục vụ công tác thống kê. Ứng dụng công nghệ số để phục vụ báo cáo định kỳ và đột xuất, phân tích và xử lý dữ liệu thống kê nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý. Quá trình chuyển đổi số sẽ hình thành các kho dữ liệu lớn của TAND, phục vụ cho việc tổng kết thực tiễn xét xử, phát hiện những lỗ hổng pháp lý, các vi phạm phổ biến, quy luật hoạt động của tội phạm, đánh giá hiệu quả công tác phòng chống vi phạm và tội phạm, vừa giúp tiết kiệm thời gian, nhân lực và đem lại hiệu quả rất lớn.

Thứ sáu, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính trong hệ thống tòa án, nhằm quản lý chặt chẽ, đúng quy định pháp luật, phát huy hiệu quả sử dụng, tránh lãng phí hoặc thất thoát.

- Xây dựng tòa án điện tử, cung cấp các dịch vụ tư pháp công để phục vụ người dân tốt hơn

Một trong những mục tiêu quan trọng của tòa án điện tử là hướng tới phục vụ người dân, cung ứng cho nhân dân các dịch vụ tư pháp công hiện đại, thuận lợi và tiết kiệm; đặc biệt là các loại dịch vụ công sau:

Thứ nhất, gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và thực hiện cấp, tống đạt, thông báo văn bản của tòa án thông qua phương tiện điện tử. Sau khi hoàn thành việc nộp hồ sơ, hệ thống sẽ cung cấp mã số tiếp nhận để người dân, doanh nghiệp dễ dàng theo dõi quá trình thụ lý, giải quyết của tòa án. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản của tòa án có thể thực hiện thông qua thiết bị điện tử cá nhân như điện thoại, máy tính... một cách nhanh chóng và tiện lợi.

Thứ hai, đăng ký trực tuyến cấp sao bản án và tài liệu trong hồ sơ vụ án. Theo đó, các cơ quan, tổ chức, người dân không cần phải đến trụ sở tòa án mà có thể đăng ký đề nghị cấp sao bản án và tài liệu trong hồ sơ vụ án ở bất kỳ thời gian, địa điểm nào. 

Thứ ba, nộp án phí, lệ phí, tiền phạt trực tuyến. Thông qua hệ thống này, người tham gia tố tụng có thể nộp án phí, lệ phí, tiền phạt trực tuyến theo quy định của pháp luật hoặc quyết định trong các bản án mà không cần đến kho bạc nhà nước.

Thứ tư, tra cứu các thông tin về vụ án như thông báo thụ lý vụ án, vụ việc; quyết định phân công thẩm phán thụ lý; lịch mở phiên tòa, phiên họp; tiến trình tố tụng và các thông tin khác.

Thứ năm, cung cấp các bản án đã được xét xử để người dân tham khảo, phân tích các tình huống pháp lý tương tự từ đó đưa ra các quyết định tư pháp, đoán định tư pháp sáng suốt, đúng pháp luật. Trên cơ sở đó, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân như quyền khởi kiện, kháng cáo, tố cáo... tham gia hữu hiệu vào hoạt động giám sát tư pháp.

Thứ sáu, cung ứng dịch vụ tư vấn pháp lý. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo để xây dựng “Nhà tư vấn ảo” giúp nhân dân tra cứu hệ thống pháp luật, giải đáp các câu hỏi về quy trình, thủ tục giải quyết án. Tiếp tục phát triển các dịch vụ công trực truyến khác của tòa án và triển khai mở rộng các kênh tương tác trực tuyến để người dân tham gia, giám sát hoạt động giải quyết, xét xử của tòa án và gửi ý kiến phản hồi cho tòa án.

- Xây dựng tòa án điện tử hỗ trợ thẩm phán nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động

Xây dựng tòa án điện tử ứng dụng mạnh mẽ CNTT, trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ thẩm phán giải quyết án chính xác và giảm bớt áp lực công việc. Xét cho cùng, chất lượng của tòa án do chính các thẩm phán quyết định, nên yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động của thẩm phán là nhiệm vụ rất quan trọng. Hiện nay, TAND tối cao đã đưa vào sử dụng “trợ lý ảo” cung cấp các dịch vụ thông minh hỗ trợ thẩm phán. Trợ lý ảo đóng vai trò như một thư ký riêng, được lập trình am hiểu pháp luật và chuyên môn nghiệp vụ của tòa án, làm việc 24/7 và luôn bên cạnh thẩm phán, giao tiếp với thẩm phán bằng ngôn ngữ nói hoặc chữ viết thông qua điện thoại di động, máy tính cá nhân nên nhanh chóng, tiện ích. Trợ lý ảo được kỳ vọng là điểm sáng của nền tư pháp trong thời đại 4.0 và là công cụ giúp việc đắc lực cho thẩm phán. Trợ lý ảo hỗ trợ thẩm phán thông qua các tính năng:

Thứ nhất, giới thiệu hệ thống pháp luật có liên quan để giải quyết vụ án. Theo đó, trợ lý ảo giới thiệu các luật, pháp lệnh, thông tư, nghị định... chính xác đến từng điều, khoản của văn bản pháp quy và thời điểm có hiệu lực của văn bản phù hợp với thời gian xảy ra vụ án.

Thứ hai, giới thiệu các tình huống pháp lý tương tự đã được hội đồng thẩm phán TAND tối cao tổng kết thực tiễn xét xử và đưa ra câu trả lời.

Thứ ba, giới thiệu các án lệ liên quan.

Thứ tư, giới thiệu các bản án tương tự đã có hiệu lực pháp luật. Các bản án được giới thiệu để tham khảo theo thứ tự ưu tiên: án giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, án giám đốc thẩm của 3 TAND cấp cao, các bản án khác.

Thứ năm, hỗ trợ lập kế hoạch giải quyết án, tạo lập và quản lý hồ sơ án điện tử, số hóa và sắp xếp hồ sơ theo từng loại tài liệu của vụ án để thuận tiện nghiên cứu; hỗ trợ quản lý công việc, đưa ra các cảnh báo, thông báo, nhắc việc.

Thứ sáu, tự động tạo các tài liệu pháp lý mẫu theo quy định của pháp luật tố tụng (như giấy triệu tập, quyết định tạm giam, quyết định đưa vụ án ra xét xử...), hỗ trợ viết một phần nội dung bản án, qua đó giúp giảm 30% khối lượng công việc so với thao tác truyền thống.

Thứ bảy, hỗ trợ phân tích dữ liệu, xác minh thông tin và phát hiện các sai sót trong các bản án, quyết định của tòa án. Hệ thống này phân tích sâu thông tin vụ án, tham chiếu chéo và kiểm tra các thông tin vụ án, hỗ trợ kiểm tra chứng cứ; phát hiện các yêu cầu tố tụng bị bỏ sót; phát hiện các lỗi trích dẫn điều luật; phân tích bản án và sửa lỗi kỹ thuật; phát hiện các lỗi về mặt logic trong văn bản mà bằng trực quan khó phát hiện được.

Thứ tám, ở giai đoạn phát triển tiếp theo, trợ lý ảo có khả năng phân tích, suy luận và đưa ra các gợi ý đoán định pháp luật tương đối chính xác, hỗ trợ thẩm phán ra quyết định nhanh chóng và thống nhất trên toàn quốc.

Thứ chín, mã hóa, đăng tải bản án, quyết định lên cổng thông tin điện tử của tòa án và nhiều tính năng khác.

- Xây dựng tòa án điện tử để triển khai các hoạt động tố tụng trực tuyến

Cốt lõi của việc xây dựng tòa án điện tử chính là chuyển đổi số các hoạt động tố tụng để hình thành một phương thức tố tụng mới trên nền tảng số. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho thấy, một số nước có nền tư pháp phát triển và công nghệ hiện đại đã ban hành đạo luật về tố tụng điện tử (Pháp, Đức, Mỹ...) và triển khai nhiều hoạt động tố tụng trên nền tảng số (từ khi thụ lý vụ án đến khi hoàn thành xét xử). 

Ở nước ta, các luật về tố tụng đã có một số quy định về tố tụng điện tử, tố tụng trực tuyến trong giai đoạn xét xử. Đặc biệt, tại Kỳ họp thứ hai vừa qua, trên cơ sở đề xuất của TAND tối cao, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết cho phép xét xử theo hình thức trực tuyến. Tuy vậy, chừng đó những quy định là chưa đủ và chưa khai thác hết tiềm năng của CNTT trong hoạt động tư pháp. Những hoạt động tố tụng có thể tiến hành trực tuyến là:

- Nộp đơn khởi kiện, cung cấp chứng cứ, khai báo trực tuyến.

- Nộp án phí, lệ phí, tiền phạt vi phạm trực tuyến.

- Tổ chức trực tuyến các phiên hòa giải trong vụ án dân sự và đối thoại trong vụ án hành chính.

- Xét xử trực tuyến sơ thẩm và phúc thẩm các vụ án hình sự, dân sự, hành chính.

- Tổ chức trực tuyến các phiên họp để giải quyết các việc dân sự (như các yêu cầu về công nhận cha mẹ cho con, hạn chế quyền của cha mẹ với con cái, chấm dứt việc nuôi con nuôi...).

- Sao chụp hồ sơ, tài liệu tố tụng và tống đạt, thông báo trực tuyến các văn bản tố tụng.

- Tiến hành trực tuyến các hoạt động tố tụng khác.

- Xây dựng tòa án điện tử góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của tòa án

Công khai là thuộc tính của hoạt động xét xử, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, là phương thức hữu hiệu để kiểm soát quyền lực, đồng thời là cơ chế đề cao trách nhiệm của thẩm phán trong thực thi quyền tư pháp. Với ý nghĩa như vậy, công khai trong hoạt động của tòa án là nguyên tắc căn cốt đã được quy định trong Hiến pháp. Theo đó, pháp luật quy định mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa; Thông tư của Chánh án TAND tối cao về phòng xử án còn có các quy định cụ thể tạo điều kiện cho cơ quan truyền thông tham dự và đưa tin về phiên tòa, đây là quy định không phải nước nào cũng có. Tòa án điện tử cho phép tăng cường hơn nữa tính công khai, minh bạch của hoạt động tòa án. Trên nền tảng số, tòa án phải phấn đấu thực hiện tốt 7 nội dung công khai sau:

Thứ nhất, công khai hệ thống pháp luật, các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao, các án lệ, các văn bản hướng dẫn, các giải đáp pháp luật. Qua đó, giúp người dân, các giảng viên, sinh viên luật, các nhà nghiên cứu... nhanh chóng và thuận lợi tra cứu, tìm kiếm văn bản. 

Thứ hai, công khai việc phân công cán bộ thụ lý án. Qua đó, vừa tạo cơ chế giám sát bên trong việc phân công án trong nội bộ hệ thống tòa án; vừa giúp các đương sự và những người tham gia tố tụng giám sát từ bên ngoài, đồng thời thuận tiện khi thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ (như đề nghị, kiến nghị, cung cấp bổ sung chứng cứ...).

Thứ ba, công khai tiến độ thụ lý và giải quyết án. Qua đó, tạo điều kiện để người dân và lãnh đạo tòa án giám sát, buộc mỗi thẩm phán nỗ lực để hoàn thành việc giải quyết án đúng thời hạn luật định.

Thứ tư, công khai quá trình xét xử tại phiên tòa (trừ những trường hợp pháp luật quy định cấm công khai), qua đó để người dân theo dõi và góp phần phổ biến, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật.

Thứ năm, công khai kết quả xét xử. Theo đó, công khai các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để người dân giám sát, tham khảo. Việc công khai bản án, quyết định của tòa án đã đề cao trách nhiệm của mỗi thẩm phán từ đó phải nâng cao chất lượng xét xử và chất lượng xây dựng bản án.

Thứ sáu, công khai quá trình và kết quả thi hành án. Qua đó, tạo điều kiện để người dân và xã hội giám sát quá trình thi hành án, bảo đảm công lý được thực thi đến cùng.

Thứ bảy, công khai quá trình và kết quả xét miễn, giảm án. Theo đó, toàn bộ quá trình và kết quả xét miễn, giảm án, tạm đình chỉ thi hành án, hoãn thi hành án, tha tù trước thời hạn có điều kiện đều được công khai trên nền tảng số để người dân giám sát.

- Xây dựng tòa án điện tử để kết nối với các nền tảng số khác

Xây dựng tòa án điện tử còn hướng đến kết nối với các nền tảng số của quốc gia và các bộ ngành khác như Cổng dịch vụ công quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thống kê, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao... Việc kết nối giữa các nền tảng số cho phép tòa án khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ tốt hơn nhiệm vụ của mình, đồng thời chia sẻ, phát huy tối đa hữu ích cơ sở dữ liệu của TAND phục vụ cho tiến trình xây dựng xã hội số, kinh tế số, nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành, quản trị quốc gia.

4. Một số nhiệm vụ cần triển khai thời gian tới

Để xây dựng thành công tòa án điện tử cần có nhận thức đúng, quyết tâm cao, giải pháp đồng bộ, nguồn lực cần thiết, điều hành quyết liệt. Trước mắt, phải thực hiện 05 nhiệm vụ chính sau đây:

- Xây dựng Chiến lược tổng thể về chuyển đổi số trong hệ thống tòa án 

Đảng, Nhà nước ta chủ trương tăng cường, phát triển khoa học công nghệ và xem đây là một động lực tăng trưởng quan trọng. Trong Chiến lược phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số(1). Đây là cơ sở chính trị quan trọng để xây dựng tòa án điện tử. Trong tiến trình hội nhập quốc tế, TAND tối cao Việt Nam cũng đã cam kết hoàn tất việc xây dựng và vận hành tòa án điện tử vào năm 2025. Vì vậy, TAND tối cao phải khẩn trương xây dựng và triển khai Chiến lược tổng thể về chuyển đổi số trong hệ thống tòa án đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

 Chiến lược phải đặt ra các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể, phải tạo ra nhận thức đầy đủ trong hệ thống tòa án về tầm quan trọng của chuyển đổi số và xây dựng tòa án điện tử. Đây vừa là xu thế tất yếu của dòng chảy số quốc gia, vừa là cơ hội để phát triển tòa án. Chiến lược này phải xác định rõ những định hướng chính để xây dựng tòa án điện tử và những nhiệm vụ cần tập trung triển khai trong thời gian tới; xác định lộ trình và bước đi phù hợp với từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện kinh tế, trình độ công nghệ... Do công nghệ phát triển, thay đổi nhanh chóng hằng ngày, nên việc xây dựng Chiến lược tổng thể về chuyển đổi số phải có tầm nhìn dài hạn, linh hoạt thích ứng để đi tắt, đón đầu, vượt lên về công nghệ, tiết kiệm chi phí và thời gian.

- Hoàn thiện các quy định pháp luật

Vận hành tòa án điện tử phải có hệ thống pháp luật hoàn thiện, đồng bộ, thích ứng với công nghệ số. Hạ tầng pháp lý chính yếu của tòa án điện tử bao gồm: (1) Pháp luật về tố tụng điện tử; (2) Pháp luật về công nghệ thông tin, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo; (3) Pháp luật về tổ chức bộ máy của TAND và các cơ quan tiến hành tố tụng. Ngoài ra còn những đạo luật liên quan khác.

Hệ thống pháp luật nêu trên được hoàn thiện theo hướng cho phép tiến hành các hoạt động tố tụng trực tuyến; quy định về chứng cứ điện tử; cơ sở khoa học và tính pháp lý của các phần mềm phục hồi chứng cứ điện tử; an ninh an toàn mạng; tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tiến hành tố tụng điện tử; vai trò, quyền tham gia tố tụng của các kỹ sư công nghệ thông tin...

- Phát triển hạ tầng số hiện đại

Hạ tầng CNTT, công nghệ số đóng vai trò quan trọng trong phát triển tòa án điện tử. TAND tối cao cần xây dựng đề án trang bị cơ sở vật chất cho tòa án điện tử. Nội dung chủ yếu của đề án nhằm trang bị: (1) Hạ tầng kỹ thuật số, bao gồm các thiết bị số đầu cuối, đường truyền tốc độ cao ổn định, trung tâm lưu trữ dữ liệu lớn và trung tâm điều hành; (2) Các nền tảng số vận hành tòa án và trợ lý ảo ứng dụng  trí tuệ nhân tạo tương ứng với từng nhiệm vụ hoạt động của tòa án; (3) Chương trình đào tạo cho quản lý, vận hành và ứng dụng tòa án điện tử.

Đây là một đề án cần đầu tư thỏa đáng về kinh phí nên (1) Cần phải có lộ trình thích hợp cho cả trước mắt, cả trung hạn và dài hạn, tùy thuộc vào tiềm năng của nền kinh tế và trình độ phát triển của công nghệ; (2) Huy động đa dạng các nguồn lực, từ ngân sách nhà nước, từ hợp tác quốc tế và cả từ xã hội hóa; (3) Đầu tư thiết bị công nghệ phải bảo đảm các yêu cầu: hiện đại, an ninh an toàn, tiện lợi và cân nhắc đi tắt đón đầu.

- Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin

Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của chuyển đổi số và xây dựng tòa án điện tử. Phát triển nguồn nhân lực để tòa án điện tử thực thi trong thực tiễn phải đồng bộ cả nhân lực quản lý, vận hành và ứng dụng công nghệ số. Theo đó, bao gồm: (1) Đội ngũ kỹ sư CNTT, công nghệ số; (2) Đội ngũ thẩm phán, các chức danh tư pháp và nhân viên tòa án các cấp; (3) Người dân khi có việc cần tòa án giải quyết.

Các kỹ sư CNTT phải vừa có kiến thức cập nhật về công nghệ số, vừa hiểu biết pháp luật và hoạt động của tòa án. Cần phải hình thành tổ chức bộ máy từ TAND tối cao đến các TAND cấp tỉnh để vận hành hệ thống công nghệ số. Chế độ đãi ngộ hiện tại đang là điểm nghẽn để thu hút nguồn nhân lực này. Tuy vậy, rất cần thiết phải đổi mới và có cơ chế phù hợp. Thẩm phán, cán bộ tòa án phải được đào tạo lại để nhận thức đầy đủ về tòa án điện tử và thay đổi thói quen làm việc từ môi trường truyền thống chuyển sang làm việc trên không gian mạng. Nền tảng số của tòa án điện tử phải trở thành nền tảng làm việc chung của toàn hệ thống gần 800 tòa án; cán bộ tòa án không vào nền tảng này sẽ không làm việc được. Chỉ có như vậy tòa án điện tử mới thực sự thành công.

- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế

Đến nay, nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đã có những bước tiến dài trong xây dựng tòa án điện tử. Thời gian qua, tòa án Việt Nam đã tích cực triển khai nhiệm vụ xây dựng tòa án điện tử và đã đạt được một số kết quả bước đầu, song vẫn còn khiêm tốn. Hợp tác quốc tế là con đường ngắn nhất để xây dựng tòa án điện tử, cho phép tiếp cận ngay với các thành tựu tiên tiến của công nghệ số trên thế giới cũng như việc ứng dụng trong tòa án. Qua đó, không tốn kém về thời gian, công sức, kinh phí để tìm tòi, nghiên cứu, đồng thời khắc phục được những bất cập, hạn chế khi thực hiện. Hợp tác quốc tế còn tranh thủ được các nguồn lực tài chính cho xây dựng tòa án điện tử. Hợp tác với những nước đã xây dựng được tòa án điện tử hiện đại sẽ chia sẻ được kinh nghiệm, đồng thời tiến tới kết nối hạ tầng số để “thu hẹp khoảng cách số” giữa các nền tư pháp, sớm về đích nhiệm vụ xây dựng tòa án điện tử và chuyển đổi số trong hệ thống tòa án. 

Đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số và hoàn thành việc xây dựng tòa án điện tử phải trở thành khát vọng của toàn hệ thống tòa án và của từng cán bộ, thẩm phán. Đây là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay cần cụ thể hóa để quyết liệt hoàn thành sớm. Đây là cơ hội để tòa án tiếp tục nâng cao niềm tin công lý của người dân, nâng cao hiệu quả hoạt động của tòa án và xây dựng tòa án hiện đại như yêu cầu tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Nhất định công cuộc chuyển đổi số và xây dựng tòa án điện tử sẽ tạo ra những giá trị lớn lao, đóng góp quan trọng vào thành công của sự nghiệp cải cách tư pháp nước nhà, bắt kịp với xu hướng của tư pháp tiến bộ trên thế giới.

_________________

(1) Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27-9-2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.


Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm Đại hội XIII về đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

  - Đại hội XIII của Đảng đã đề ra quan điểm và các chủ trương, nhiệm vụ về nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới. Với trách nhiệm của mình, các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên có nhiệm vụ nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, hiệu quả các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp đã nêu trong các văn kiện của Đại hội. Bài viết đề cập một số nhiệm vụ nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng theo yêu cầu của Đại hội XIII của Đảng.

Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm Đại hội XIII về đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng - Ảnh: vnanet.vn

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu các phương thức lãnh đạo chủ yếu của Đảng: “Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu”(1). Trong các văn kiện Đại hội và Hội nghị Trung ương trước Đại hội XIII, Đảng ta đã nêu nhiều quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó đã đề cập đến việc đổi mới phương pháp ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng; đổi mới công tác tư tưởng; đổi mới công tác tổ chức; đổi mới công tác cán bộ; đổi mới công tác dân vận; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; v.v.. 

Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã nêu hệ thống các quan điểm khá toàn diện, cụ thể và sâu sắc, trong đó có nhiều quan điểm mới, có tính đột phá về công tác xây dựng Đảng nói chung, trong đó có những chủ trương về nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nói riêng, trong đó nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền là cơ sở, điều kiện để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Có thể khái quát những nội dung và yêu cầu chủ yếu về nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng như sau:

1. Nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng

Đây là điểm mới rất quan trọng thể hiện sự phát triển, đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng. Khác với cách tư duy lãnh đạo cụ thể, nhất là ảnh hưởng của tư duy nhiệm kỳ, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Đảng phải thể hiện tư duy vượt trội, tầm nhìn chiến lược trong nhìn nhận bối cảnh thế giới, trong nước và định hướng phát triển đất nước, trong đó trước hết phải nâng cao năng lực dự báo các nhân tố tác động, xu hướng phát triển để hoạch định đường lối, chủ trương phù hợp, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trước mắt, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ lâu dài, khắc phục tình trạng ban hành nghị quyết chưa sát thực tiễn, tầm nhìn ngắn hạn, thiếu tính khả thi. Để đáp ứng yêu cầu này, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, xây dựng, ban hành nghị quyết của Đảng. Ban hành nghị quyết khi thật sự cần thiết, hợp lý, thiết thực, ngắn gọn, khả thi”(2). Để nghị quyết của Đảng vừa ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ và khả thi, các nội dung cơ bản về quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp trong nghị quyết phải ở tầm chiến lược, đó là các vấn đề đã được nghiên cứu, tổng kết, đáp ứng những yêu cầu từ thực tiễn trong nước và thế giới. Mỗi nghị quyết mới của Đảng phải có những chủ trương, giải pháp có tính đột phá, sáng tạo. Đương nhiên, nghị quyết của đại hội đảng bộ, cấp ủy các cấp có những yêu cầu, đòi hỏi về cấp độ cụ thể riêng: các nghị quyết của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị phải thể hiện quan điểm, tầm nhìn chiến lược; nghị quyết của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới cần có những nội dung, nhiệm vụ cụ thể hơn, rõ ràng, sát thực tiễn địa phương, cơ sở hơn.

2. Nâng cao năng lực lãnh đạo việc thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả

Đây là quan điểm và cũng là nhiệm vụ, giải pháp hết sức quan trọng, có tính quyết định năng lực, hiệu lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Bởi, lãnh đạo việc thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước là một trong những cách thức lãnh đạo, cầm quyền cơ bản, trọng yếu, trực tiếp, có hiệu quả nhất đối với việc hiện thực hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, nhất là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay. Chức năng, nhiệm vụ, vai trò và trách nhiệm của Đảng là lãnh đạo, Nhà nước có chức năng quản lý mọi lĩnh vực và hoạt động của xã hội bằng pháp luật. Vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng chính là những nội dung cơ bản, cốt lõi, có tính quyết định trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Chính vì vậy, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng”(3) và “kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, triển khai đúng đắn, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện”(4)

3. Đổi mới công tác tư tưởng, tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tạo sự thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong nhân dân để thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới công tác tư tưởng, tuyên truyền, thuyết phục, vận động các tầng lớp nhân dân trong phạm trù đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Đây cũng là sự bổ sung, phát triển về nhận thức và tư duy lãnh đạo của Đảng nói chung và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nói riêng. Phương châm, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng là định hướng, dẫn dắt, gợi mở, tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tạo niềm tin và truyền cảm hứng để các đối tượng lãnh đạo giác ngộ, tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Để đáp ứng được mục đích, yêu cầu đó, các cấp ủy, tổ chức đảng phải đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền, thuyết phục, vận động các tổ chức và các tầng lớp nhân dân. Với tinh thần đó, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(5), trong đó tiếp tục “đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại”(6)

Cùng với việc đề cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, Đại hội Đảng lần này cũng nhấn mạnh cần phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan thông tấn, báo chí trong tuyên truyền, vận động, tập hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: “Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động, sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo hướng thiết thực, tăng cường đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh”(7).

4. Nâng cao năng lực lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ

Lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua công tác tổ chức, cán bộ và đội ngũ cán bộ, đảng viên công tác trong cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là một phương thức lãnh đạo, cầm quyền đặc biệt quan trọng, không thể thay thế của Đảng. Vì vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng không thể không đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức. Năng lực lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy của Đảng thể hiện trên nhiều phương diện, trước hết là ở tư duy và tầm nhìn chiến lược trong thiết kế mô hình tổ chức bộ máy của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Mô hình tổ chức đó phải vừa bảo đảm vai trò lãnh đạo, cầm quyền thống nhất, toàn diện, hiệu lực, hiệu quả của Đảng, vừa bảo đảm bộ máy tinh gọn, không chồng chéo, song trùng quyền lực, phát huy vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm, sự chủ động của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị. Trên tinh thần đó, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội, con người... đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và nền dân chủ XHCN ở nước ta. Đại hội yêu cầu: “Tổng kết các mô hình thí điểm về tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị, khắc phục sự chồng chéo và những bất hợp lý trong tổ chức của Đảng và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Đẩy mạnh thực hiện tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm”(8).

Đi liền với yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy là nâng cao năng lực lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Đảng lãnh đạo Nhà nước, hệ thống chính trị và xã hội thông qua đội ngũ cán bộ, công chức, nhất đội ngũ đảng viên là những cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên, nhất là tổ chức, đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước vừa phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối, các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(9); phải xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

5. Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở; xây dựng và thực hiện phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm

Đây là quan điểm và cũng là nhiệm vụ, giải pháp có nội dung yêu cầu mới, có sự bổ sung, phát triển hơn so với các quan điểm, giải pháp đã được nêu trong các văn kiện trước đây của Đảng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: phải đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo từ Trung ương tới cơ sở, tức là đổi mới phương pháp, phong cách làm việc trong phạm vi toàn Đảng, từ trên xuống dưới, đồng bộ, thống nhất, trong đó bao gồm cả đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo (cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng) và các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy đảng các cấp. Toàn Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị phải xây dựng được phương thức, phong cách làm việc bài bản, hợp lý, khoa học, theo tinh thần “trên dưới đồng lòng”, “tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng” và “dọc ngang thông suốt” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh. Đặc biệt, trong mỗi cấp ủy, tổ chức đảng phải xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, bảo đảm thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Toàn Đảng phải xây dựng phong cách làm việc theo quan điểm trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân, bám sát thực tiễn, chịu khó học hỏi, nói đi đôi với làm. 

6. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Đảng; tập trung rà soát hệ thống các văn bản của Đảng bảo đảm thống nhất, đồng bộ, liên thông trong hệ thống chính trị

Đây là chủ trương, giải pháp đã được Đảng nêu trong các văn kiện trước đây. Tuy nhiên, trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã có sự bổ sung nội dung và gắn cải cách hành chính với yêu cầu rà soát hệ thống văn bản, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định, quy trình công tác. Bởi vì, một trong những đặc trưng hoạt động lãnh đạo cũng như hoạt động xây dựng nội bộ của Đảng là hoạt động hành chính, sinh hoạt hành chính (hội họp) và ban hành văn bản. Văn bản hóa nghị quyết, quyết định, chủ trương lãnh đạo của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước là một yêu cầu tất yếu trong hoạt động của Đảng và Nhà nước pháp quyền. Cũng như hoạt động của các cơ quan hành chính, các văn bản của Đảng sẽ ngày càng nhiều hơn, đa thể loại hơn. Do yêu cầu nhiệm vụ, tần suất, mật độ các cuộc họp của các cơ quan lãnh đạo, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy ở các cấp cũng ngày càng nhiều và dày hơn, trong khi vẫn phải thực hiện sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế. Nếu không cải cách hành chính, không ứng dụng công nghệ thông tin, không rà soát hệ thống văn bản và thực hiện sự chuyển đổi số thì hoạt động của Đảng sẽ kém hiệu quả, các hệ thống văn bản của Đảng chồng chéo, thậm chí xung đột lẫn nhau. Do đó, Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi hoạt động của Đảng”(10). Văn kiện Đại hội cũng đã nêu các giải pháp về vấn đề này với những nội dung, yêu cầu mới, gắn với một số giải pháp khác, tạo sự đồng bộ, liên thông, hiệu quả hơn trong hoạt động lãnh đạo cũng như hoạt động xây dựng nội bộ đảng.

7. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết gắn với coi trọng việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm

Để nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng phải có sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, làm đến nơi, đến chốn. Nếu không có sự tập trung tư tưởng, trí tuệ, nguồn lực, không có quan điểm, thái độ kiên quyết, hành động quyết liệt, chắc chắn hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng sẽ không cao. Điều này đã được thực tiễn hoạt động lãnh đạo cách mạng của Đảng trong nhiều nhiệm kỳ kiểm nghiệm và minh chứng. Ở đâu buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng, ở đó mọi việc dễ chệch choạc, nghị quyết, chủ trương của Đảng không đi sâu vào cuộc sống và đem lại hiệu quả thiết thực.

Công tác kiểm tra, giám sát là một nhiệm vụ và giải pháp xây dựng Đảng, góp phần nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Điều đó được thể hiện đậm nét trong Báo cáo chính trị cũng như Báo cáo xây dựng Đảng và tổng kết thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội XIII của Đảng. Các văn kiện này đều nhấn mạnh yêu cầu thực hiện quyết liệt, thường xuyên, toàn diện, đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, phục vụ thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm: phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, giám sát chặt chẽ từ việc quán triệt, thể chế hóa, cụ thể hóa đến tổ chức thực hiện nghị quyết. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những nơi dễ xảy ra vi phạm, nơi có nhiều bức xúc nổi cộm, dư luận quan tâm; xử lý kịp thời, kiên quyết, triệt để, đồng bộ, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, để kịp thời phát hiện, ngăn chặn từ xa, từ đầu, giải quyết từ sớm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên đối với cấp dưới. Kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với giám sát, thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Tăng cường phối hợp giữa giám sát, kiểm tra của Đảng với giám sát, thanh tra của Nhà nước và giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả. Cùng với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát phải coi trọng việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực.

8. Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể

Đây cũng là giải pháp đã được Đảng ta nêu từ Đại hội XII. Tuy nhiên, qua nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, việc cụ thể hóa các phương thức lãnh đạo của Đảng thành những quy chế, quy định, quy trình chưa được thực hiện đồng bộ, đầy đủ ở tất cả các cấp, nhất là cấp cơ sở. Chẳng hạn, đến nay Đảng chưa có các quy định cụ thể về quy trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị và các định hướng lớn của Đảng; một số phương thức lãnh đạo khác của Đảng như: Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động; Đảng lãnh đạo bằng công tác tổ chức, thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân; v.v. đến nay cũng chưa có những quy định đầy đủ, cụ thể về quy trình thực hiện hoặc chế độ công tác. Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ năng lực cụ thể hóa nghị quyết, chủ trương của một số cấp ủy, tổ chức đảng còn hạn chế, năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, làm cho nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước chậm được thực hiện và hiệu quả thấp. Vì vậy, Đại hội nhấn mạnh: “Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể và công khai để cán bộ, đảng viên và nhân dân biết, giám sát việc thực hiện”(11). Đại hội yêu cầu cần có các quy định cụ thể về cơ chế Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; về quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu và mối quan hệ giữa tập thể cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu, bảo đảm thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; phát huy vai trò, trách nhiệm, tính chủ động của người đứng đầu và có cơ chế xử lý đối với người đứng đầu khi vi phạm. 

Đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đòi hỏi phải quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân trong cấp ủy, tổ chức đảng cũng như trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức thành viên khác của hệ thống chính trị một cách đầy đủ, đồng bộ, cụ thể. Vì vậy, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phải tiếp tục thực hiện phương châm cụ thể hóa, cá thế hóa “quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu và mối quan hệ giữa tập thể cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu, bảo đảm thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”(12).

9. Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức, cơ quan, đơn vị

Nêu gương là một nội dung phương thức lãnh đạo quan trọng, là một thuộc tính bản chất của đảng cộng sản được Đảng ta, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ ra từ rất sớm. Tuy nhiên, trong nhiều năm, phương thức lãnh đạo này chưa được các cấp ủy, tổ chức đảng coi trọng và thực hiện đồng bộ, thống nhất và quyết liệt. Những năm gần đây, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã liên tiếp ban hành các quy định về nêu gương đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ, đảng viên giữ chức vụ chủ chốt, các đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng. Cùng với đó, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, kết quả thực hiện chưa được như mong muốn, ý thức tự giác, tính tiên phong, gương mẫu trong nêu gương của nhiều cán bộ, đảng viên không cao. Chính vì vậy, Đại hội XIII của Đảng đặc biệt nhấn mạnh: “Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”(13), coi phát huy vai trò nêu gương để thúc đẩy đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng. Coi trọng kiểm tra, giám sát trong Đảng kết hợp với phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhân dân đốì với cán bộ, đảng viên thực hiện các quy định về nêu gương. 

10. Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền, phát huy quyền chủ động, sáng tạo gắn với đề cao trách nhiệm của địa phương, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý thống nhất của Trung ương, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, chống tha hóa quyền lực

Đây cũng là quan điểm, chủ trương và tư duy mới của Đảng ta về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Đảng cần đổi mới cách thức tác động, định hướng, dẫn dắt của Đảng theo hướng tạo cơ chế, cơ sở, hành lang pháp lý cho các cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới phát huy vai trò, trách nhiệm, sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Theo đó, thay vì các lãnh đạo “cầm tay chỉ việc”, trực tiếp chỉ đạo các công việc cụ thể thuộc trách nhiệm của cấp ủy cấp dưới, Đảng phải đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện phân cấp, phân quyền, chống tha hóa quyền lực. Đảng xác định rõ: cần có cơ chế để các địa phương phát huy quyền chủ động, sáng tạo, gắn với đề cao trách nhiệm, đồng thời bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý thống nhất của Trung ương. Để thực hiện được chủ trương, giải pháp này, Đảng cần có quy định khung về thẩm quyền, trách nhiệm đối với các cấp ủy, tổ chức đảng từng cấp, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, ủy quyền gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm cá nhân và nâng cao trách nhiệm phối hợp công tác giữa các cấp, các ngành.

__________________

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.88-89.

(2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.199, 42, 180-181, 181, 182-183, 191, 185, 197, 199, 197-198, 198, 183-184.