Tháng 3-1972, bộ đội ta tấn công Quảng Trị. Trung đoàn pháo binh Bông Lau (Trung đoàn 38) được giao nhiệm vụ chi viện cho Sư đoàn 304, tấn công ở hướng chủ yếu, theo đường số 9 từ hướng Tây xuống Đông Hà.
Mục tiêu đầu tiên là đánh cụm cứ điểm kiên cố do Trung đoàn 56, Sư đoàn 3 (ngụy) chốt giữ. Cụm cứ điểm này gồm căn cứ Ca-rôn (cao điểm 241) là nơi đóng sở chỉ huy của Trung đoàn 56 ngụy và là căn cứ hỏa lực của pháo binh, vòng ngoài còn có các căn cứ như Đầu Mầu, Ba Hồ, Động Toàn...
Cao điểm 241 là căn cứ pháo binh ngụy có hỏa lực mạnh án ngữ phía Tây Quảng Trị, gồm 18 khẩu 155 ly, mỗi đầu đạn nặng gần 50kg. Đặc biệt, ở đây còn có 4 khẩu 175 ly tự hành hiện đại trong số 8 khẩu Mỹ vừa mới trang bị cho quân đội ngụy để "Việt Nam hóa chiến tranh".
Pháo này dùng loại đạn tăng tầm có thể bắn xa trên 40km, được mệnh danh "Vua chiến trường".
Trung đoàn Pháo binh 38 trực thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh, do đồng chí Cao Sơn làm Trung đoàn trưởng và đồng chí Trần Thông làm Trung đoàn phó, được trang bị loại pháo nòng dài 130mm và 122mm, đã được bộ đội ta đưa vào chiến trường Quảng Trị từ đầu năm 1971. Và trong chiến dịch Quảng Trị là cụm pháo binh chiến dịch trực tiếp chi viện cho Sư đoàn 304 tác chiến trên hướng chủ yếu của chiến dịch.
Nhớ lại một kỷ niệm cũ, Đại tá Phan Đăng Thìn, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Khoa học Quân sự, lúc đó là trinh sát pháo binh của Trung đoàn kể: "4 giờ sáng 30-3-1972, tôi cùng Chủ nhiệm Trinh sát Hồ Văn Duyệt, sĩ quan Trường Pháo binh tăng cường và Trần Thông bí mật tiến sát căn cứ 241, dùng khí tài quang học theo dõi. Chúng tôi bị thám báo phát hiện, chúng nã pháo 2 tiếng đồng hồ lên lưng chúng tôi. Hút chết, may mà không sao".
10 giờ 55 phút, ngày 30-3-1972, từ Sở chỉ huy Bộ Chỉ huy chiến dịch, Tư lệnh mặt trận Lê Trọng Tấn phát lệnh "Bão táp", mở màn chiến dịch tấn công giải phóng Quảng Trị. Sau tiếng gầm rít của đạn pháo ta, đài quan sát "Sao Mai" báo về: "Căn cứ 241, đạn trúng mục tiêu, kho đạn nổ...". Pháo ta cấp tập nổ rền đến 18 giờ, ngày 30-3. Những ngày tiếp sau đó, ta tiếp tục bắn gấp, bắn cầm canh. Với cách bắn đó, pháo địch gần như hoàn toàn im bặt. Lần lượt các cứ điểm Đầu Mầu, Ba Hồ, Đông Toàn bị tiêu diệt.
Lúc 14 giờ, ngày 1-4, trinh sát viên ở đài quan sát pháo binh phát hiện trên cứ điểm 241, địch có hiện tượng rút chạy. Không chậm trễ, ông Trần Thông trao đổi với ông Hồ Văn Duyệt và đề nghị với Trung đoàn trưởng cho tập trung hỏa lực toàn trung đoàn và sử dụng cả hai giàn hỏa tiễn của Sư đoàn 304 đồng loạt bắn vào 241.
Năm phút bắn cấp tập tạo thành một đòn sấm sét giáng xuống căn cứ 241 buộc địch phải từ bỏ ý định rút chạy và cũng chính đòn hỏa lực mãnh liệt này đã đập tan ý chí chống cự của chúng.
Bước sang ngày 2-4, một ngày đen tối nhất của Trung đoàn 56 và Lữ thủy quân lục chiến 147 ngụy. Bị triệt đường tiếp tế cả đường không lẫn đường bộ, binh lính thương vong không chuyển đi được, lương thực cạn kiệt, tinh thần quân địch hoang mang cực độ. Pháo binh của ta vẫn không ngớt bắn phá.
Trung đoàn Bộ binh 24 đã tiến vào vị trí xuất phát tấn công và được lệnh tấn công vào căn cứ 241 của địch sớm hơn dự định. Như vậy là số phận của quân ngụy ở căn cứ 241 đã được định đoạt.
Và Trung tá ngụy Phạm Văn Đính đã quyết định đầu hàng để cứu sinh mạng của sĩ quan, binh lính thuộc quyền. Đó là quyết định khôn ngoan.
Ngay sau đó, bất ngờ ta nhận được điện xin gặp "Sao Mai".
"Sao Mai" là mật danh đài quan sát chỉ huy. Theo cách xưng hô có lẽ là một viên sĩ quan. Đồng chí chỉ huy Trung đoàn cầm máy: "A lô! Tôi là "Sao Mai" đây! Các anh gặp có việc gì?". Phía bên kia trả lời: "Tôi, Trung tá Phạm Văn Đính, Chỉ huy trưởng Trung đoàn 56 xin được gặp cấp chỉ huy cao nhất. Chúng tôi muốn thương lượng".
Chỉ huy Trung đoàn nói với Đính: "Vậy thì chúng tôi đồng ý ngừng hỏa lực trong 1 giờ như yêu cầu để các ông ra hàng. Còn yêu cầu của chúng tôi là ông cho kéo cờ trắng lên cột cờ trung tâm căn cứ trước khi ngừng hỏa lực. Sau khi ngừng hỏa lực được 30 phút, một nửa số quân của ông phải ra khỏi công sự, lên mặt đất, không mang vũ khí".
Đính nói: "Tôi thỏa thuận và đề nghị các ông dừng hỏa lực".
Qua ống nhòm, quân ta quan sát thấy có một lính ngụy trèo lên nóc lô cốt phía Tây phủ lên đó một tấm vải trắng rồi vội vàng tụt xuống hầm. Binh sĩ căn cứ 241 lần lượt lên khỏi công sự. Ban đầu còn lẻ tẻ dè dặt một vài tên nhưng rồi mỗi lúc một nhiều và không còn vẻ sợ như ban đầu nữa.
Đồng chí Trung đoàn phó Trần Thông nhớ lại: "13 giờ 10 phút, rồi 13 giờ 20 phút, chúng tôi quan sát thấy binh lính địch xuất hiện, đi lại trên mặt đất và mấy phút sau đã xếp hàng đi ra cổng phía Tây. Đội hình trải dài, khi đầu đội hình ra khỏi cổng một quãng ngắn thì bỗng nhiên xuất hiện 2 trực thăng loại nhỏ, chúng bay rất thấp dọc theo đường số 9 và đột ngột nâng độ cao lên bay thẳng vào khu vực căn cứ 241.
Hai thang dây từ 2 trực thăng được thả xuống, 2 tên Mỹ bám leo lên. Một tình huống xảy ra quá bất ngờ và chỉ xuất hiện trong mấy giây. Ở đài quan sát có ai đó nói gấp gáp: "Nó bốc mất 2 thằng Mỹ, đề nghị cho bắn".
Tôi đưa tay ra hiệu giữ trật tự và ra lệnh: "Không được bắn". Quay về phía Sư đoàn phó Duy Sơn, lúc này cũng đang có mặt ở đài quan sát pháo binh, tôi thấy anh gật đầu đồng tình với cách xử trí của tôi".
Sau khi bảo đảm cho đám hàng binh về nơi an toàn, các chiến sĩ quân giải phóng và những người tìm đường hoàn lương có phút giây trao đổi chuyện trò.
Trao đổi với quân giải phóng, Phạm Văn Đính cho biết: "Tôi định cho binh lính ra hàng xong thì mình tôi trở lại với căn cứ tự vẫn, song anh em thấy tôi không ra nên cũng không đi, buộc lòng tôi phải đi".
Phạm Văn Đính còn tự giới thiệu là đã từng du học nhiều năm ở nước ngoài...
Trung tá Đôn Thanh, phái viên của Bộ Tư lệnh Pháo binh ngụy có mặt lúc đó cũng nhẹ nhàng cho biết: "Tôi là học sinh Quốc học Huế, còn anh em chiến sĩ đây phần lớn đều là sinh viên đại học năm thứ 2, thứ 3 cả...".
Ông Trần Thông kể tiếp: "Đêm hôm đó, khi tôi trực ở trên đài quan sát, qua vô tuyến điện, một sĩ quan địch trong khi trao đổi với ta xin được nghe một bài thơ của "Việt cộng". Qua làn sóng vô tuyến tôi đã đọc cho anh ta nghe bài "Quê hương" của Giang Nam: "Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm/ Có những ngày trốn học bị đòn roi/ Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi".
Hôm sau, Phạm Văn Đính hỏi: "Đêm qua ai là người đã đọc cho tôi bài "Quê hương"?". Tôi nói cho anh ta biết mình là người đọc cho Đính nghe bài thơ đó.
Tôi nhớ lúc đó thấy 2 trung tá ngụy có vẻ mệt mỏi, thất thểu nên lấy một bình-tông nước gạo rang đưa cho Đính. Anh ta uống một hơi, rồi đưa lại cho người phó của mình là Vĩnh Phong nói đặc giọng Huế: “Nề, uống đi, nước của các anh giải phóng ngon lắm".
Nhớ lại những ký ức cũ, ông Thông trầm ngâm kể: "Trong chuyện này có hai vấn đề rất nhân văn, thứ nhất là pháo ta đã không bắn khi trực thăng đến cứu 2 cố vấn Mỹ cho dù đó là địch; thứ hai, tuy bị bức hàng, nhưng Trung tá Đính vẫn được giữ nguyên quân hàm và tiếp tục làm việc cho chúng ta".
CUỘC TRÒ CHUYỆN BẤT NGỜ
Năm 1972, Đại tá Nguyễn Sỹ Ngợi, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 84 (Binh chủng Pháo binh) có cuộc gặp gỡ hết sức bất ngờ và thú vị với Trung tá Phạm Văn Đính, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 ngụy...
Năm 1972, Đại tá Nguyễn Sỹ Ngợi, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 84 (Binh chủng Pháo binh) có cuộc gặp gỡ hết sức bất ngờ và thú vị với Trung tá Phạm Văn Đính, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 ngụy. Qua cuộc trò chuyện giữa họ, chúng ta phần nào hiểu thêm: Vì sao Phạm Văn Đính quyết định hạ vũ khí, đưa cả trung đoàn ra đầu hàng, trở về với cách mạng?
Câu chuyện mà Đại tá Nguyễn Sỹ Ngợi kể với chúng tôi bắt đầu bằng dấu mốc năm 1972, khi Quảng Trị vừa được giải phóng. Thời điểm ấy, ông đang là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 84) thì được điều về cơ quan Quân khu Trị Thiên làm Tiểu đoàn trưởng Trinh sát.
Trên đường đi nhận nhiệm vụ, ông ghé thăm thủ trưởng cũ là đồng chí Lương Tư Hòa, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 84 vừa được bổ nhiệm làm Tỉnh đội phó Tỉnh đội Quảng Trị. Đại tá Nguyễn Sỹ Ngợi nhớ lại:
- Gặp tôi, thủ trưởng Hòa rất vui. Ông đưa tôi vào phòng khách rồi chợt quay sang nói: "Ngợi có biết Phạm Văn Đính không?".
- Dạ! Đính nào cơ ạ?
- Phạm Văn Đính, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 ngụy vừa hạ vũ khí, trở về với cách mạng ấy.
- À! Em nhớ rồi. Đính là người chỉ huy cao nhất ở Căn cứ 241 bị pháo binh Bông Lau dội bão lửa mấy ngày trời.
- Đính đang ở phòng bên và được cách mạng bổ nhiệm làm Tỉnh đội phó, phụ trách mảng địch vận. Để tôi gọi Đính ấy sang đây uống nước nhé!
Phạm Văn Đính xuất hiện trong quân phục chỉnh tề. Đính tầm tuổi tôi, dáng người cao lớn, da trắng, rất đẹp trai. Thấy Đính xuất hiện, thủ trưởng Hòa liền giới thiệu:
- Đây là đồng chí Nguyễn Sỹ Ngợi, người từng đi trinh sát, đo đạc và lập đài quan sát để chỉ huy lực lượng pháo binh của Trung đoàn 84 tiêu diệt Căn cứ 241 của Mỹ ngày 6-3-1967.
Và những ngày hè đỏ lửa vừa qua, đồng chí Ngợi cũng đã nằm trong hệ thống đài quan sát của Mặt trận B5 tham gia chỉ huy bắn vào Căn cứ 241 cùng với Đoàn Pháo binh Bông Lau.
Do bằng tuổi, lại hiểu biết về pháo binh nên tôi và Đính làm quen rất nhanh. Khi không còn khoảng cách, Đính dốc bầu tâm sự:
- Tôi thật không ngờ lại có được sự đặc ân khoan hồng của cách mạng. Tôi là sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, từng theo Mỹ, du học ở Mỹ rồi về làm sĩ quan hắc báo từ đại đội trưởng được thăng tiến rất nhanh. Sự thăng tiến ấy là cả quá trình tôi gây nhiều tội lỗi cho dân tộc. Khi nhận lệnh chỉ huy Trung đoàn 56 đồn trú tại Tân Lâm (Quảng Trị), tôi được Bộ tư lệnh Quân đoàn 1, Bộ tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh động viên, dặn dò và hứa hẹn nhiều điều.
Tướng Phạm Văn Giai còn vỗ vai tôi: "Hoa mai sẽ mau nở trên ve áo ngài thôi!". Được biết Quân Giải phóng sẽ mở đợt tấn công, cấp trên nói quy mô có thể lớn. Nhưng theo lời hứa của cấp trên với Trung đoàn 56, tôi thấy yên lòng mặc dù trung đoàn mới tái lập để đóng giữ căn cứ quan trọng này.
Sáng 30-3-1972, sau những đợt pháo kích ban đầu, tôi thấy tình hình chiến sự diễn ra không như tướng Giai nói. Hầu hết tuyến phòng ngự đều bị rung chuyển bởi hỏa lực pháo binh của Quân Giải phóng. Các pháo đội tầm xa của tôi và của thủy quân lục chiến bên Mai Lộc không tài nào ngóc đầu dậy được. Mật độ và sức phá hủy của pháo binh Quân Giải phóng ngày càng ác liệt.
Sau những đợt pháo kích, tôi lợi dụng lúc tạm ngưng của pháo, lên chòi quan sát trong căn cứ kiểm tra thì ôi thôi, cảnh đổ nát và sự chết chóc diễn ra trước mặt. Tôi đã xin Quân đoàn 1 và Sư đoàn 3 phải cho triệt thoái khỏi căn cứ nhưng họ không cho…
Ngừng một lát, Trung tá Phạm Văn Đính kể tiếp:
- Khi đó, tôi nghĩ chỉ có đầu hàng thì mới cứu được sinh mạng của 1.500 binh lính dưới quyền… Nếu không đầu hàng thì Trung đoàn 56 của tôi sẽ chịu số phận giống như thủy quân lục chiến Mỹ ở đây đúng 5 năm về trước.
Đó là tháng 3-1967, khi tôi chỉ huy Tiểu đoàn 52 kiêm Quận trưởng Quảng Điền ở Thừa Thiên đã được Tư lệnh Vùng 1, Tư lệnh Quân đoàn 1-tướng Chuân thông báo: Căn cứ Tân Lâm đã bị hỏa tiễn cỡ lớn của Việt Cộng triệt phá; 24/30 khẩu đại bác từ 105mm đến 155mm, hàng chục xe tăng, xe ủi đất, hàng ngàn nhà bạt bị phá hủy… Toàn bộ căn cứ phải nhiều ngày sau người Mỹ mới củng cố lại được.
Đồng chí Ngợi hỏi thêm Trung tá Phạm Văn Đính:
- Tại sao ông lại để cho 2 cố vấn Mỹ trốn thoát? Trong khi yêu cầu của Quân Giải phóng là phải bắt cố vấn Mỹ cùng ra đầu hàng?
- Sau khi họp với sĩ quan thuộc quyền, tôi mời cố vấn trưởng đến thông báo về quyết định ra hàng. Cố vấn Mỹ không đồng ý. Ông ta yêu cầu phải để cố vấn di tản. Trước khi quay về vị trí hầm, ông ta vỗ vai và nói với tôi như đe dọa, nếu ông ta bị bắt làm tù binh hoặc bị chết thì số phận vợ con tôi và một số gia đình sĩ quan dưới quyền đang ở Huế-Đà Nẵng… sẽ không được yên.
Chính vì lẽ đó mà khi hai chiếc trực thăng đến cứu cố vấn Mỹ, tôi đành để cho họ lên máy bay di tản và nói dối qua thông tin liên lạc với người chỉ huy Đoàn Pháo binh Bông Lau rằng: "Lộn xộn quá, căng thẳng quá, đầu óc mụ hết, không biết làm thế nào nữa và đang đôn đốc anh em mau mau ra khỏi căn cứ". Sau sự việc này, tôi nghĩ thế nào cũng bị cách mạng xử lý. Nhưng thật không ngờ, mọi suy nghĩ của tôi hoàn toàn không đúng.
Sau khi ra hàng, tôi và toàn bộ binh lính Trung đoàn 56 ngụy quân Sài Gòn đều nhận được sự khoan hồng của cách mạng. Đặc biệt, cách mạng còn cho tôi và toàn bộ sĩ quan binh lính dưới quyền được giữ nguyên cấp hàm, được giao việc phù hợp theo nguyện vọng của từng người-Phạm Văn Đính giải thích.
Được biết những ngày cuối năm 2014, Chủ tịch nước đã ký lệnh phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Trung đoàn Bông Lau (38). Đó là một tin vui cho toàn thể anh em cựu chiến binh của Trung đoàn./.
Yêu nước ST.