Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2022

LỜI THÁNG TƯ CỦA MẸ LÀ LỜI CỦA NON SÔNG…

         Đó là lời Mẹ Tổ Quốc KHẨN THIẾT YÊU CẦU, với những đứa con vẫn luôn là con của Mẹ.
     Nhưng cũng có thể rút gọn để hiểu là LỜI KHẨN CẦU, với những đứa đang làm quan và muốn làm quan với Mẹ!
     Lời của Mẹ, lời tháng Tư, lời của cả ngàn xưa vọng về:
1. Các con phải giữ lấy những giá trị lịch sử. Hãy học tất cả các bài học lịch sử, từ thắng lợi tự hào cho đến thất bại đắng cay nhất!
2. Hãy trả lại vị trí xứng đáng cho môn Lịch sử trong nhà trường và trong mọi lĩnh vực. Đừng bao giờ cắt kết nối giữa hiện tại với quá khứ, bởi như vậy các con sẽ không có tương lai! Đừng giẫm đạp hay bắn vào quá khứ, bởi như vậy tương lai của các con sẽ chỉ là bùn và máu!
3. “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” - hãy giữ lấy chân lý bất biến ấy để có thể ứng vạn biến!
4. Hãy trân trọng máu xương của những người đi trước. Hãy gọi đúng tên Mẹ, tên Cha của các con: từ khi giành độc lập, chúng ta chỉ có một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thống nhất từ Nam ra Bắc chứ không có một chế độ nào khác; chúng ta chỉ có các cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ cứu nước, không có cái gọi là “chiến tranh Việt Nam” mơ hồ - Hãy tôn trọng sự thật đó, trong tất cả SGK, công trình nghiên cứu, hay phim ảnh tài liệu, dù chúng đã đạt giải thưởng này khác thì cũng phải trả lại sự thật đó!
5. Hãy nhớ các bài học Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn, Nam - Bắc phân tranh; bài học Liên Xô, Nam Tư, Nga, Ukraina. Nhớ để hiểu rằng: các con luôn có và luôn chỉ có MỘT NGƯỜI MẸ TỔ QUỐC và MỘT NGƯỜI CHA LÝ TƯỞNG!

KHÔNG NHỚ, KHÔNG THỰC HIỆN NHỮNG ĐIỀU ĐÓ - CÁC CON SẼ THÀNH TỘI ĐỒ, VÀ SẼ CHẾT, THỐI RỮA - ĐÓ LÀ SỰ XÚC PHẠM LÀM ĐAU LÒNG MẸ!


Ảnh: Bà Mẹ Việt Nam, Bà Mẹ Nga, Bà Mẹ Ukraina…
Yêu nước ST.

LO CHO VẬN MỆNH NƯỚC NHÀ LẮM, THƯA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO!

        Chẳng nơi đâu như giáo dục nước ta, đã bao năm thoát khỏi chế độ thực dân, phong kiến và chống ngoại xâm. Nhưng có lẽ cái bóng tối dài đó vẫn cứ ám ảnh mãi không thôi. Cải cách, cải cách và cải cách, điệp khúc vang mãi nhưng kết quả lại khiến cho nhân dân đi từ lo lắng này đến lo lắng khác. Sách giáo khoa là ví dụ điển hình, thay đi đổi lại nhưng vẫn luẩn quẩn mà không thoát ra được cái bóng tối tăm ấy. Mới nhất là việc, năm học 2022-2023 tới đây, chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 bậc THPT sẽ được triển khai trong chương trình lớp 10. Trong đó, Học sinh lớp 10 sẽ không phải học Lịch sử hay Hoá học, Sinh học... nếu không muốn, nhưng có thể chọn thêm nhiều môn học khác như Âm nhạc, Mỹ thuật, Giáo dục kinh tế và pháp luật…

Đây thật sự là mối lo cho vận mệnh của dân tộc chứ không đơn thuần chỉ là bộ môn lịch sử. Kẻ thù từ bao đời nay mỗi khi xâm lược, đô hộ nước ta, việc đầu tiên mà chúng làm chính là xoá nhoà sử sách, để cho người dân không biết gì về truyền thống hào hùng và lịch sử chống ngoại xâm bất khuất của dân tộc ta. Từ đó sẽ phải thần phục họ. Minh Thành Tổ Chu Đệ lấy cớ phù Trần diệt Hồ để mang quân đánh Hồ Quý Ly. Năm 1407, nhà Hồ diệt vong và nước ta bước vào thời kỳ đen tối, đó là Bắc thuộc lần thứ Tư trong lịch sử. Quân Minh cho lùng sục và đốt sạch sử sách nước nhà, áp đặt chế độ ngu dân. Người tàu hiểu rằng, sử sách chính là xương sống, là rường cột là kết nối quá khứ và hiện tại của mỗi quốc gia. Vậy nên chúng đã xoá sạch dấu vết, Đại Việt sử ký của Lê Vă Hưu là tài liệu lịch sử quý giá hiếm hoi còn sót lại, sau này Ngô Sỹ Liên và các sĩ phu thời Hậu Lê kế thừa và phát triển để có Đại Việt sử ký toàn thư như hôm nay. 

Nói thế để hiểu rằng, bất kỳ quốc gia dân tộc nào cũng phải xem lịch sử là một phần không thể thiếu của dân tộc mình. Lịch sử phải đổi bằng xương, bằng máu mới có thể rút ra được các bài học kinh nghiệm. Bởi vậy kinh nghiệm lịch sử là một kho quý vô tận. Vấn đề là chúng ta biết sử dụng kho quý đó như thế nào. Kinh nghiệm lịch sử chỉ cho mọi người đến cánh cửa để mở kho báu, không chỉ kho báu của dân tộc mình mà còn của cả các nước trên thế giới. Học sinh không còn phải học lịch sử, nếu không muốn. Không hiểu các thế hệ làm chủ vận mệnh của dân tộc này sẽ đi về đâu khi họ không phân biệt được đâu là anh hùng dân tộc, đâu là tội đồ dân tộc. Truyền thống quý báu của người Việt Nam thông qua các giai đoạn lịch sử cũng theo đó mà bị xoá mờ. Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước cũng chẳng ai biết tới. Vậy dân tộc này sẽ đi về đâu?

Lịch sử dạy chúng ta tư duy hệ thống, tư duy lịch sử, lấy câu chuyện hôm nay để đặt vào hoàn cảnh thời kỳ ấy. Theo đó thì những gì tốt đẹp sẽ được ngợi ca, phát huy, những tồn tại hạn chế cần khắc phục. Cố Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela từng có câu nói để đời: "Để phá hủy bất kỳ quốc gia nào không cần phải sử dụng đến bom nguyên tử hoặc tên lửa tầm xa, chỉ cần hạ thấp chất lượng giáo dục và cho phép gian lận trong các kỳ thi của sinh viên, bệnh nhân sẽ chết dưới bàn tay của bác sĩ của nền giáo dục đó, các tòa nhà sụp đổ dưới bàn tay của các kỹ sư của nền giáo dục đó. Tiền bị mất trong tay các nhà kinh tế và kế toán của nền giáo dục đó và nhân loại chết dưới bàn tay của các học giả tôn giáo của nền giáo dục đó. Công lý bị mất trong tay của các thẩm phán của nền giáo dục đó và sự sụp đổ của giáo dục là sự sụp đổ của một quốc gia". Lịch sử ví như nền mống để xây nên ngôi nhà tổ quốc, xẹm nhẹ lịch sử nghĩa là ta đang tự tay hạ thấp nền giáo dục nước nhà.

Alexander Yakovlev, Trưởng ban Tuyên giáo Đảng Cộng sản Liên Xô, kẻ đã phản bội lý tưởng. Là người cổ súy cho báo chí, truyền thông, biến chúng thành những đàn sói chồm lên cắn vào lịch sử. Xem nhẹ lịch sử, phỉ báng anh hùng Xô Viết và tiến hành chiến tranh nhồi sọ. Người dân Xô Viết hoang không biết đâu là thực, là hư. Kết cục là Liên Xô sụp đổ. Năm 1994, nhà văn Boldarev khi nhìn lại tình cảnh của thời kỳ này đã nói: “Trong sáu năm, báo chí đã thực hiện được mục tiêu mà quân đội châu Âu có trang bị tinh nhuệ nhất cũng không thể thực hiện được khi xâm lược nước ta bằng lửa và kiếm vào những năm 1940. Quân đội đó có thiết bị kỹ thuật hàng đầu nhưng thiếu một thứ. Đó là hàng triệu ấn phẩm mang vi trùng”. Việt Nam ta, phong trào xuyên tạc lịch sử đang nở rộ, đấu tranh mãi mới tạm yên. Giờ lại nghe chuyện lịch sử là môn học không bắt buộc, khiến nhiều người Việt Nam yêu nước, có lương tri "chết nửa con người".

Lịch sử quan trọng với tất cả các dân tộc, nếu không muốn nói là gắn liền với vận mệnh dân tộc. Giáo dục cần cải cách để phù hợp với tính hình mới nhưng không có nghĩa là bê nguyên xi cách giáo dục của phương Tây. Mỹ chỉ có 300 năm lịch sử, gắn liền với chiến tranh xâm lược. Việt Nam ta có hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước. Không thể chạy theo thời đại một cách thiếu sáng suốt. Lương dược khổ khẩu, trung ngôn nghịch nhỉ. Hy vọng Bộ Giáo dục và Đào tạo cân nhắc, hồi tâm chuyển ý. Phải xem trọng môn lịch sử và đó là môn học bắt buộc./.


Yêu nước ST.

HÃY NGỪNG NGAY CÁC HÀNH ĐỘNG CHỐNG NGA!

         Vào ngày 24 tháng 3 năm 1999, NATO đã vượt qua ranh giới đỏ của chính mình, khi ném bom Serbia và Montenegro, hai nước cộng hòa cuối cùng vẫn còn tồn tại vào thời điểm đó trong một liên minh của các dân tộc Nam-Slav (Nam Tư). Chiến dịch ném bom kéo dài 78 ngày là một hành động tội ác chiến tranh chống lại một quốc gia có chủ quyền và thực sự độc lập, được biện minh bởi những lời dối trá và ác độc nhằm vào các lãnh đạo và người dân của đất nước này.


Kết quả của cuộc chiến đó, NATO đã tách khỏi Serbia tỉnh Kosovo và Metohija, vùng lãnh thổ này hiện vẫn chưa được LHQ công nhận là một quốc gia độc lập, thậm chí một số nước NATO cũng không công nhận. Ngày nay, đây là một lãnh thổ hoàn toàn vô luật pháp, được thống trị bởi các băng nhóm tội phạm và chủ nhân thực sự của chúng có trụ sở tại Trại Bondsteel của quân đội Hoa Kỳ.


Từ một tổ chức được gọi là liên minh phòng thủ, NATO đã trở thành doanh nghiệp tội phạm lớn nhất trên Trái đất. Sau Nam Tư, NATO tiếp tục tiêu diệt Afghanistan, Iraq, Libya và Syria; và bây giờ nó đang tiến hành một cuộc chiến tranh ủy nhiệm, với sự trợ giúp của giới tinh hoa cánh hữu Ukraina tham nhũng, chống lại Nga. 


Trong nhiều năm, Mỹ đã hối lộ các chính trị gia Ukraina hàng tỷ USD. Một cuộc đảo chính của phe cánh hữu đã được dàn dựng, tổng thống đắc cử bị loại bỏ và chế độ mới đưa ra các chính sách phân biệt đối xử trắng trợn đối với các công dân nói tiếng Nga của Ukraina. Cuộc chiến của chính phủ Ukraina chống lại cộng đồng nói tiếng Nga ở vùng Donbass bắt đầu cách đây tám năm; 14.000 người đã thiệt mạng. Cuộc chiến bắt đầu ngay khi đó, vào năm 2014, chứ không phải tuần trước. 


Cuộc thảm sát này phải dừng lại. Cách duy nhất để đạt được một nền hòa bình vĩnh viễn giữa hai dân tộc láng giềng, Ukraina và Nga, là ngăn chặn Mỹ và NATO trong nỗ lực điên cuồng áp đặt sự thống trị của họ trong một thế giới đơn cực. Mỹ và NATO có thể ngừng chiến tranh chỉ bằng một cuộc điện thoại tới Tổng thống Ukraina, với yêu cầu tôn trọng thỏa thuận Minsk đã được ký kết năm 2015. 


Sự tồn tại của NATO và cuộc chiến ủy nhiệm hiện tại chống lại Nga đang phải trả giá đắt. Chính những người dân bình thường trên khắp thế giới, bao gồm cả ở Mỹ, những người sẽ phải gánh chịu hậu quả trong những năm tới do chiến tranh và các lệnh trừng phạt. Người dân phải tổ chức để ngăn chặn việc chi tiêu quân sự và đòi lại tiền thuế của họ để cải thiện cuộc sống của chính họ, chứ không phải để chi cho chiến tranh.


Giải tán NATO, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và nhà ở miễn phí! Người Nga không phải là kẻ thù, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa quân phiệt mới là kẻ thù của chúng ta./.

Tác giả: Milos Raickovich, nhà soạn nhạc người Serbia sống ở Mỹ).

Ảnh: Lễ thắp nến kỷ niệm 20 năm Mỹ/NATO ném bom Nam Tư, được tổ chức tại Belgrade, Serbia, 2019.

Yêu nước ST.

BÁO CHÍ PHỤC VỤ AI?

         Ngày 16-4-1959, đến thăm Đại hội lần thứ II Hội Nhà báo Việt Nam, lấy tư cách “một người có nhiều duyên nợ với báo chí”, Bác có một bài phát biểu dài phân tích bản chất của báo chí cách mạng, những kinh nghiệm viết báo cũng như những căn bệnh thường thấy của người làm báo.

Bác nói: “Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Báo chí phục vụ ai?... Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu... Tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề tài là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác đối với báo chí là như vậy đó. Kinh nghiệm của 40 năm là không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì cố gắng học, mà cố gắng học thì nhất định học được”./.

Môi Trường ST.

NGƯỜI TRUYỀN LỬA CHO CÁN BỘ ĐẤU TRANH CHỐNG DBHB VÀ TINH THẦN DÂN TỘC CỦA NGƯỜI VIỆT NAM!

         Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị, người con của quê hương Quảng Nam gắn gần như cả cuộc đời binh nghiệp với nghề tuyên huấn. Điều làm ông hạnh phúc nhất là đã góp phần gắn kết tình yêu biển đảo cho cộng đồng người Việt trong và ngoài nước.

Hạt giống đỏ vùng B

Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn có vóc dáng nhỏ nhắn, mình hạc xương mai. Tuổi thơ ông cũng như hầu hết trẻ em sinh ra ở xã Đại Thắng, vùng B Đại Lộc bấy giờ, lớn lên trong thiếu thốn, nghèo đói lại hàng ngày đập vào mắt là tội ác của đế quốc Mỹ nên người cứ rắn chắc lại. Mới 8 tuổi, ông đã chứng kiến người chú ruột của mình bị địch bắt tra tấn dã man từ nhà lên quận, rồi xác cán bộ ta bị địch bắn chết trói phơi nắng ở đầu chợ. Ám ảnh nhất là tên Đại úy Sáu, đại đội trưởng biệt kích ngụy đeo chuỗi tai khô cộng sản trên cổ làm bùa. Cuối năm 1967, người cha tham gia cách mạng từ thời Việt Minh của ông bị địch thả bom hy sinh. Quyết trả thù nhà, ông giã từ mái trường cấp 2 giải phóng Quảng Đà để “nhảy núi”. Khi 14 tuổi, làm chiến sĩ chuyển công văn của của Tiểu đoàn Đặc công 91 Lam Sơn sang Trung đoàn 36, ông được chỉ huy Trung đoàn này yêu cầu đi kể chuyện tội ác của Mỹ- ngụy ở quê hương cho bộ đội nghe, tiếp thêm căm thù để đánh giặc. Đây là lần đầu tiên ông nói trước đám đông và cảm xúc ấy còn lưu giữ mãi.

Những năm tháng khốc liệt của chiến tranh, những người lính như ông đối mặt với cái chết trong gang tấc, có lần mảnh bom văng đúng băng đạn AK đang mang. Biết ông là con liệt sĩ, nhà có 7 người thân hy sinh trong kháng chiến, Mặt trận 44 không muốn mất một hạt giống đỏ nên cho ra Bắc học tập. Nhưng ông nhất quyết xin ở lại miền Nam dầu sôi lửa bỏng. Không đi xa thì ở gần, đơn vị lại cho ông đi học trường Đặc công Quân khu 5 ở Quảng Ngãi, rồi giữ lại làm giáo viên đến 3 khóa. Thấy thầy giáo cứ nằng nặc ra trận, cấp trên đưa ông về tham gia biệt động Quảng Đà; làm đội trưởng biệt động quận Nhì, rồi tham gia giải phóng Đà Nẵng, ông đã có những ngày tháng vô cùng ý nghĩa cùng khúc khải hoàn ca của toàn dân tộc. Khi làm trợ lý tác chiến của quận, ông được giao lên lớp chính trị cho gần một vạn binh lính, nhân viên ngụy quân, ngụy quyền. Có lẽ nghiệp báo cáo viên xuất phát từ thuở thiếu niên, tiếp tục phù hợp với tạng của ông nên trải qua nhiều cương vị khác nhau nhưng cuối cùng nghề tuyên huấn vẫn neo đậu dài nhất trong đời quân ngũ của ông.

Người Quảng Nam như ông vốn “thẳng ruột ngựa”, thấy đúng là bảo vệ, thấy sai thì đấu tranh, không nể nang, thỏa hiệp. Tính ông vốn nhỏ nhẹ, chưa quát nạt ai bao giờ, vì thế mà đời binh nghiệp của ông có một quãng thăng trầm. Cấp trên cũng đã nhận ra khí chất và tâm huyết của ông. Ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 5, sau đó ra Bộ Quốc phòng làm Cục trưởng Cục Tuyên huấn suốt 5 năm cho đến khi về hưu. Đây chính là quãng thời gian ông có nhiều đóng góp cho quân đội trong công tác tư tưởng văn hóa ở tầm chiến lược. Có những việc đòi hỏi nhọc công không chỉ liên quan ở ngành của mình mà còn liên quan đến các ngành khác, không chỉ trong quân đội mà ở các cơ quan Trung ương, nhưng ông theo đến cùng. Hàng loạt đề án, trong đó có một số đề án quan trọng như: “Hiện đại hóa các cơ quan báo chí Quân đội giai đoạn 2014-2018” thực sự là bệ phóng để các cơ quan báo chí “cất cánh”. Hay đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới” (2013-2015) đã góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội... Đặc biệt, chưa bao giờ công tác tuyên truyền về biển, đảo trong thời gian ông làm Cục trưởng lại được chú trọng đến như vậy. Có tư duy mẫn tiệp, sắc sảo, tầm nhìn xa trông rộng, ông thường được các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Trung ương kham thảo, đóng góp ý kiến, nhiều khi là người có tiếng nói quan trọng để trên nghiên cứu quyết định trước một số vấn đề lớn về chính trị, tư tưởng của quân đội và đất nước.

Bí quyết “”truyền lửa”

Năm 2012, một sự kiện làm chấn động đời sống báo chí đó là buổi nói chuyện tại thành phố Hồ Chí Minh về chủ quyền biển, đảo của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn (lúc này là Thiếu tướng) tại Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài. Trước 1000 kiều bào tiêu biểu định cư ở hơn 100 nước trên thế giới, ông đã có bài diễn thuyết làm nóng rực hội trường. Gần chục lần tiếng vỗ tay cắt ngang diễn giả. Sau khi rời khán đài, nhiều chính khách, doanh nhân nổi tiếng đã ôm chầm lấy ông và thốt lên ngưỡng mộ: “Tướng thế mới là tướng!”. Nhiều người trước đây từng tham gia chế độ cũ nay được nghe ông nói chuyện đã vỡ vạc ra nhiều điều, không ngại bày tỏ tình yêu quê hương đất nước và tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh bảo vệ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng. “Nói như tướng Tuấn” là điệp từ được nhắc đến đến nhiều sau đó. Hàng loạt tờ báo, nhiều bloger đã phát biểu cảm nghĩ về ông, hầu hết đều bày tỏ sự khâm phục bài nói chạm đến trái tim, kết nối lòng yêu nước trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Sau khi ông về hưu, Bộ Thông tin và Truyền thông đã mời ông đi nói chuyện chuyên đề “Tình hình tranh chấp chủ quyền biển Đông, chủ trương và đối sách giải quyết tranh chấp biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta” cho cán bộ cấp sở của hơn 50 tỉnh, thành phố trong toàn quốc. Và ông đã có cuộc hành trình “xuyên Việt” suốt mấy tháng ròng.

Không phải đến bây giờ, tài diễn thuyết của ông mới được ghi nhận. Từ năm 1995, khi làm Trưởng phòng Tuyên huấn Quân khu 5, những buổi nói chuyện của ông luôn được cán bộ các đơn vị chờ đón. Không ai không biết tên ông. Ông luôn “đắt show” khi được các hội, ngành, đoàn thể hai tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng mời nói chuyện. Các nhà báo vốn chộn rộn với công việc, chẳng mấy khi họp hành mà đủ đầy, vậy nhưng nghe tin ông về VTV Đà Nẵng nói chuyện Trường Sa, Hoàng Sa, họ có mặt từ sớm gần hai tiếng đồng hồ không ai đi ra ngoài. Ban giám đốc nói rằng, chưa bao giờ có hiện tượng như vậy ở đài.

Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn trả lời các báo, đài về khu căn cứ lõm cách mạng B1 Hồng Phước, Đà Nẵng, nơi ông từng hoạt động. 
Hỏi ông có bí quyết gì mà có thể nhớ hết các sự kiện từ đời “tu huýt, tu lai”, ông cười mà rằng: “Phải đọc thôi. Đọc và sắp xếp hợp lý, xâu chuỗi vào bộ nhớ. Đặc biệt phải luôn cập nhật các thông tin mới nhất. Kể cả lĩnh vực quân sự cũng phải am hiểu tường tận thì nói mới có sách, mách có chứng”. Ông luôn nói với đội ngũ báo cáo viên: “Đi tuyên truyền là đi chuyển lửa nhiệt tình cách mạng cho người khác, bởi vậy người báo cáo viên phải có “lửa”. Khác với một người lên lớp về lịch sử đơn thuần, các bài nói chuyện của ông hấp dẫn, lôi cuốn không chỉ bởi kiến thức đa dạng, tính lô-gích chặt chẽ; ngữ điệu, thần thái sôi nổi mà còn thể hiện tầm nhìn, định hướng của một chính trị gia, một người lính đã từng cầm súng, luôn đau đáu về vết thương chiến tranh, không bao giờ cho phép ai lãng quên quá khứ hào hùng của dân tộc. Ông lo ngại về tư tưởng “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, vì thế ngay cả khi về hưu, làm được gì để có thể góp phần giáo dục chính trị cho các đối tượng, đặc biệt là thế hệ trẻ là ông sẵn sàng lên đường.

Người ta bảo, tuổi Ngọ là chân hay chạy, có lẽ đúng hoàn toàn với ông. Ít ai biết để có những chuyến đi nói chuyện từ Bắc vào Nam, ông phải sắp xếp vô cùng vất vả. Bởi vì ngoài công việc ông còn phải dành thời gian đưa người bạn đời của ông đang trọng bệnh thường xuyên ra Hà Nội điều trị dài ngày. Rồi từ ngày người bạn đời ra đi đến nay hàng ngày buổi chiều nếu ở nhà ông vẫn thường đến thăm mộ vợ ở nghĩa trang QK5. Ẩn giấu đằng sau nụ cười thường trực, nhân hậu, rất đỗi thân thương với đồng đội, đồng chí là một nghị lực sống mạnh mẽ, làm điểm tựa cho con. Ông luôn như thế. Như đã từng vượt qua những khó khăn nhất của cuộc đời mà vẫn bình thản và ung dung./.
Ảnh: Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, TCCT, QĐNDVN.
Yêu nước ST.

ĐỒNG CHÍ LÊ ĐỨC THỌ ĐÈ BẸP KISSINGER TRONG CUỘC ĐẤU TRÍ ĐẦY CĂNG THẲNG TẠI HỘI NGHỊ PARIS - NƠI QUYẾT ĐỊNH SỐ PHẬN CỦA CẢ MỘT DÂN TỘC!

         Ông Lê Đức Thọ, tên thật là Phan Đình Khải, sinh ngày 10/10/1911 tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay là xã Nam Vân (TP Nam Định) trong một gia đình nho giáo, ở vùng đất có truyền thống yêu nước, hiếu học. Ông nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một chiến sỹ cách mạng kiên cường, một cán bộ lãnh đạo giàu kinh nghiệm của Đảng và Nhà nước.

Ấn tượng khó quên: Lần đầu tiên đồng chí Lê Đức Thọ và Kissinger gặp nhau là ngày 21-2-1970. Địa điểm hai người gặp gỡ là căn nhà số 11, phố Dathes, thị trấn Choisy Le Roi (Pháp). Ngay lần tiếp xúc đầu tiên, ông đã làm cho Kissinger có những ấn tượng khó quên. Sổ nhật ký của Kissinger có đoạn : “Tóc hoa râm, đường bệ, Lê Đức Thọ bao giờ cũng mặc bộ đại cán xám hoặc marông. Ông lúc nào cũng tỏ ra rất bình tĩnh, thái độ bao giờ cũng không có điều gì chê trách được…”

Ông trực tiếp phụ trách đoàn ngoại giao Việt Nam đàm phán với Mỹ về Hiệp định Paris. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ông Thọ từng được trao tặng giải Nobel Hòa bình cùng với cố vấn ngoại giao Henry Kissinger vào năm 1973, nhưng ông đã từ chối nhận giải với lý do đất nước Việt Nam chưa thể có được hòa bình chừng nào chưa đánh đổ được chế độ tay sai của Mỹ. Đó là giải Nobel duy nhất dành cho người Việt cho đến nay. Năm 2002, nhân kỷ niệm 100 năm thành lập giải Nobel Hòa bình (1902 – 2002), Nevis đã cho phát hành một mẫu tem chân dung cố vấn Lê Đức Thọ và nhắc lại “sự kiện” ông không nhận giải thưởng này. Cũng chính vì những lẽ đó mà ông là một trong những nhân vật được tôn vinh là “Nhà kiến tạo Hòa bình” xuất sắc của thế giới.

Các phiên họp riêng giữa các ông Xuân Thủy, Lê Đức Thọ và Kissinger, Cố vấn của Tổng thống Mỹ Nixon, đều là những ngày làm việc dài. Có ngày làm việc đến 13 tiếng đồng hồ, lấn sang cả đêm. Ông Lê Đức Thọ sinh năm 1911, lúc ấy hơn 60 tuổi, nhiều hơn Kissinger gần một giáp. Kissinger rất mánh lới, vào đầu các cuộc họp riêng thì cứ đưa chuyện nọ – chuyện kia dài lê thê, và cứ nhè vào lúc chiều hay gần tối mới đưa việc chính ra tranh cãi.. Đó là lúc ông ta nghĩ rằng ông già kia (Lê Đức Thọ) mệt mỏi rồi, chắc dễ ừ, dễ gật.

Nhưng ông ta không biết gì về ông Thọ! Lúc nghỉ, ông Lưu Văn Lợi (*) hỏi thăm, ông Thọ nói: “Mình phải cảnh giác, mình biết thằng này hoạt động theo kiểu tình báo, mình phải giữ…”. Đàm phán càng muộn, ông Thọ càng tỉnh và thậm chí có lúc diễn thuyết làm cho Kissinger sau này phải nói là: “Ông Thọ ở Paris đã mổ xẻ tôi bằng con dao rất nhọn, với tay nghề của một nhà phẫu thuật. Có những lúc ông ấy nói cả tiếng đồng hồ, tôi bảo cái điều này tôi đã nghe nhiều lần rồi, thì ông Thọ bảo: Ông nghe nhiều lần nhưng chưa thuộc, tôi nói lại…”.

Trên bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, có giai đoạn Mỹ đòi ta không được đưa thêm quân miền Bắc vào miền Nam. Mỹ còn đưa ra các bằng chứng để cáo buộc ta về việc này. Có lần họp, Kissinger đưa cho Cố vấn Lê Đức Thọ khoảng 30 cái ảnh màu cỡ bằng cái khay, chụp từ vệ tinh rất rõ, trong đó chụp bộ đội của ta đang ở trong rừng không đội mũ tai bèo mà đội mũ cối, vai đeo lon, rõ cả sao trên mũ mà Mỹ cho là đang trên đường hành quân vào Nam. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ rất nhanh, phản ứng trước tiên bằng tiếng cười to, chắc khỏe, có ý “khinh khi” sự bịa đặt của Mỹ. Rồi đồng chí nói, tình báo của các ông tồi lắm.

Lúc chúng tôi không đưa quân nữa thì các ông lại chụp ảnh này. Tôi nói với các ông chứ rừng Việt Nam chỗ nào chả giống chỗ nào. Các ông ra Bắc chụp quân mà đội mũ cối, sao vàng, đeo lon thế này là bình thường. Nhưng lúc chúng tôi đưa đại pháo và cả xe tăng vào Sài Gòn thì tình báo các ông lại chẳng biết tí gì cả. Cho nên các ông thua là phải. Kissinger ngồi không nói được câu nào!

Tấm ảnh Mỹ đưa ra không hề chính xác, vì khi dàn trận, quân ta không đeo lon, đeo sao như thế. Sau đó, ta họp báo cũng nêu tình tiết này nhằm cho thế giới biết âm mưu và thủ đoạn của Mỹ.

“Tôi không cười
thì khóc à”
Báo chí ở Pa-ri hồi ấy săm soi nhất cử nhất động của hai đoàn ta và Mỹ rất ghê, nhất là trong những cuộc đàm phán riêng giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ. Họp trong phòng mà có phóng viên còn thuê nhà bên cạnh, dỡ cả mái ngói để trèo lên rồi chĩa máy ảnh sang. Hai ông cố vấn họp xong đi ra ngoài cửa, có bắt tay không, có cười không, mặt lạnh hay cười… đều bị chụp lại rồi đưa lên báo. Có lần họp căng thẳng, quyết liệt, kết quả chưa ngã ngũ mà chẳng hiểu sao báo chí lại đồng loạt đăng tin nghe chừng đàm phán có tiến triển. Thì ra họ chụp được cảnh đồng chí Lê Đức Thọ đang cười, dẫu chưa biết ông cười vì cái gì, họp có kết quả không nhưng đã vội tung tin lên báo theo chiều hướng tích cực. Ở Hà Nội theo dõi tin tức thấy vậy gọi sang hỏi tình hình thế nào, sao đồng chí Thọ lại cười! Lúc ấy, đồng chí Lê Đức Thọ mới lộ ra rằng: “Tôi không cười thì khóc à, vì Kít-xinh-giơ bắt tay tôi chặt quá!”.

Một hôm, sau buổi đàm phán, Henry Kissinger có nói với ông Lê Đức Thọ rằng: “Dù mới chỉ gặp được 45 phút nhưng ông hoàn toàn khiến chúng tôi bối rối”. Cách đây 1 năm, trong bài phát biểu trong hội thảo về lịch sử liên quan đến Đông Nam Á của Mỹ tại Bộ Ngoại giao Mỹ, ông Henry Kissinger còn thừa nhận Mỹ đánh giá thấp sự kiên cường của các nhà lãnh đạo miền Bắc Việt Nam thời bấy giờ; rằng người dân đất nước hình chữ “S” quá kiên cường và không hề nao núng trước kẻ địch. “Washington muốn thỏa hiệp nhưng Hà Nội nhất định giành chiến thắng”, ông thừa nhận. Trong buổi hội thảo, ông Kissinger còn bày tỏ sự thất vọng và tiếc nuối vì cuộc chiến đã “chôn vùi” cả một thế hệ người Mỹ.

* Chiếc nhẫn đặc biệt của cố vấn Lê Đức Thọ
Trong các cuốn hồi ký, ông Henry Kissinger từng nhiều lần nhắc đến đối thủ của mình trên bàn đàm phán là cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ. Ông này thừa nhận Lê Đức Thọ là người có phong cách đàm phán uyển chuyển, sắc sảo. Ông nhớ như in giây phút đầu tiên gặp nhà ngoại giao Việt Nam ngày 21-2-1970. Ông miêu tả Lê Đức Thọ có mái tóc hoa râm, dáng vóc đường bệ, bao giờ cũng mặc bộ đại cán, đôi mắt mở to và sáng, ít khi để lộ suy nghĩ. Nhưng có một chi tiết mà không bao giờ thấy Kissinger nhắc đến trong hồi ký là chiếc nhẫn sáng bóng mà cố vấn Lê Đức Thọ luôn đeo trong mỗi lần thương thảo. Đơn giản, nó là chiếc nhẫn được gò từ mảnh xác máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc Việt Nam!

* Món quà đặc biệt
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ngày 8-2-1973, ông Henry Kissinger sang thăm Hà Nội. Ra đón cố vấn Mỹ không phải ai khác chính là người quen biết cũ của ông: cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ. Ông đã đưa Kissinger tới thăm Viện bảo tàng lịch sử. Khi nghe giới thiệu dân tộc Việt Nam đã ba lần chiến thắng quân Nguyên, ông Kissinger thốt lên: “Với chúng tôi một lần đánh nhau với các ông cũng thấy là quá đủ!”.
Trong bữa cơm tiễn, được thưởng thức thứ rượu nếp cái hoa vàng cất ở vùng quê Nam Định, cố vấn Mỹ Kissinger cứ gật gù mãi và thích thú khi cố vấn Lê Đức Thọ tặng ông ta hai chai rượu trong văn vắt, nút lá chuối khô./.
Môi Trường ST.

44 NĂM TRƯỚC, CÓ MỘT CUỘC THẢM SÁT BỊ THẾ GIỚI THỜ Ơ VÀ LÃNG QUÊN...!

 

Mấy ngày nay, chính trường thế giới dậy sóng về thảm sát Bucha (Ukraine) khiến khoảng 300 người dân thiệt mạng. Đây là một cuộc thảm sát gây tranh cãi về tính xác thực khi các bên đổ lỗi cho nhau. Mặc dù chưa vào cuộc điều tra và cho ra kết quả cuối cùng, phương Tây đã vội đã đưa ra các lệnh trừng phạt mới nhắm vào Nga trên các phương diện kinh tế, chính trị, quân sự và xã hội.

Vào giữa tháng 4 ở 44 năm trước (04/1978) đã diễn thảm sát Ba Chúc - một trong những cuộc thảm sát tập trung lớn nhất thế giới hậu chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Thảm sát đã cướp đi tính mạng của hơn 3000 người, tức là gấp 10 lần thảm sát Bucha (nếu thảm sát Bucha có thật).

Đó cuộc thảm sát tập trung tàn bạo nhất tại miền Nam Việt Nam do chế độ Khmer Đỏ gây ra. Nhưng vẫn chỉ là một góc của những gì Khmer Đỏ đã gây ra cho dân thường Việt Nam. Từ 1975 đến 1978, hơn 30 ngàn người Việt ở vùng biên giới đã bị kết thúc cuộc đời một cách dã man, chưa kể hàng chục ngàn người Việt sinh sống tại Campuchia. Vậy, thế giới hay nói đúng hơn là phương Tây có lên án thảm sát Ba Chúc hay những tội ác mà Khmer Đỏ đã gây ra cho người dân Việt Nam? Điều đáng buồn là gói gọn trong ba chữ “không gì cả”.

Vụ việc Ba Chúc đáng nhẽ có thể được đưa ra trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc nhưng lại bị Trung Quốc và Hoa Kỳ ngăn cản. Một số lý do được đưa ra là các bằng chứng của Việt Nam không thực sự thuyết phục, có thể là ngụy tạo, hoặc được lấy từ cuộc chiến Việt Nam trước năm 1975. Phần lớn các quốc gia phương Tây không phản bác thông tin từ Ba Chúc nhưng họ cho rằng Việt Nam “không nên làm phức tạp hóa tình hình” và đánh giá các thông tin về một cuộc thảm sát Ba Chúc có thể “không có thật vì không có một bên thứ ba ghi nhận”. 

Chình vì thái độ có phần dửng dưng này của Liên Hợp Quốc (LHQ), một loạt các vụ việc Thiện Ngôn, Xa Mát, Lò Gò, Thiện Hưng, Hưng Phước… cướp đi tính mạng của hàng ngàn dân Việt Nam vô tội.

Trong cuộc họp Đại hội đồng LHQ diễn ra vào 09/1979, LHQ thừa nhận một số thành tích tồi tệ về nhân quyền ở Campuchia nhưng từ chối chọn lọc các bằng chứng của phía Việt Nam về các vụ thảm sát Khmer Đỏ - trong đó có thảm sát Ba Chúc. Các quốc gia trong cuộc họp ấy cũng lên án Việt Nam xâm lược Campuchia một cách rất gay gắt. 

Rất nhiều năm sau, Ba Chúc mới được nhìn nhận một cách đúng đắn rằng đây là một cuộc thảm sát có thật, không phải ngụy tạo, càng không phải là một cái cớ được Việt Nam dọn sẵn để đưa quân tiến đánh Khmer Đỏ.

Bộ Quốc phòng Úc ghi lại rằng vào 18/04/1978, Khmer Đỏ đánh phủ đầu bằng cuộc tấn công vào vùng biên giới Việt Nam trong đó có thị trấn Ba Chúc. Khmer đã tận diệt khoảng 3.155 người, chỉ còn duy nhất 2 người còn sống. Sau những tội ác gây ra với người Việt và Campuchia, Khmer Đỏ vẫn giữ ghế tại LHQ cho đến năm 1993 vì hành động của thế giới là không đủ lớn và quyết liệt.

Andrew Mertha, nhà nghiên cứu thuộc ĐH Cornell Hoa Kỳ cho biết trong cuốn “Brothers in Arms: Chinese Aid to the Khmer Rouge, 1975-1979” rằng cuộc chiến Việt Nam - Khmer sẽ không diễn ra và hàng triệu người Campuchia có thể sẽ còn sống nếu như phương Tây hành động nhanh, mạnh hơn. Mãi vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, phương Tây mới nhận ra những sự kiện ở Ba Chúc, Choeung Ek… là có thật, chứ không phải ngụy tạo, bịa đặt như họ đã từng khẳng định.

Nhà nghiên cứu thuộc ĐH Michigan John D. Ciorciari cho biết Trung Quốc và các đối tác (phương Tây) đã làm ngơ cho các đợt thanh trừng 100 ngàn dân ở miền Đông Campuchia và miền Tây Việt Nam nhất là trong giai đoạn Xuân 1978.

Biên niên sử LHQ ghi rằng quân đội Việt Nam cùng với những người nổi dậy Campuchia đã lật đổ chế độ diệt chủng, chấm dứt cơn ác mộng của người dân Campuchia. Nhưng Khmer Đỏ vẫn tồn tại ở LHQ bất chấp những tội ác được gây ra với người dân Campuchia và Việt Nam, lý do cho sự việc này nằm ở những hành động ngoại giao đã cản trở các tiến trình bàn giao vị trí đại diện cho Cộng hòa Nhân dân Campuchia.

Sau 44 năm, Ba Chúc đã yên bình và những gì còn lại đã được đặt trong một góc trang trọng của lịch sử. Thời gian đã qua lâu, nhưng bài học từ Ba Chúc về ngoại giao, sự công bằng của các nước lớn thì vẫn còn mãi.

PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC QUY ĐỊNH VỀ NHỮNG ĐIỀU ĐẢNG VIÊN KHÔNG ĐƯỢC LÀM

 

Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã ban hành Quy định số 37-QĐ/TW thay thế Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về những điều đảng viên không được làm.

Điều này xuất phát từ thực tiễn áp dụng Quy định 47-QĐ/TW còn có những vướng mắc, bất cập do được ban hành cách đây 10 năm, thực tế đã có nhiều thay đổi đòi hỏi phải ban hành Quy định mới nhằm cập nhật, bổ sung, sửa đổi và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thi hành Điều lệ Đảng, đồng bộ hóa các quy định trong Đảng nhằm phát huy hơn nữa vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên.

Tuy nhiên với âm mưu thâm độc, thái độ hằn học, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị đã cố tình xuyên tạc, hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng cho rằng, việc Đảng ban hành Quy định số 37-QĐ/TW là do sự tha hóa biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên; chúng dẫn ra một số vụ tham nhũng, lãng phí rồi từ đó quy kết, đánh đồng hiện tượng tham nhũng là bản chất của Đảng và Nhà nước ta. Bên cạnh đó, chúng còn đưa ra luận điệu xuyên tạc rằng việc ban hành Quy định 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm là “lấn sân” cơ quan hành pháp vì đảng viên là công dân thì chỉ cần chấp hành pháp luật, không cần đến Quy định 37-QĐ/TW, từ đó chúng tung ra luận điệu xuyên tạc cho rằng “Đảng đứng trên pháp luật”. Đây là những luận điệu có chủ ý với âm mưu hết sức sai trái, thâm độc.

Chúng ta đều biết quy định về những điều đảng viên không được làm mục đích nhằm điều chỉnh hoạt động trong nội bộ Đảng, đây là việc làm cần thiết, bất cứ đảng chính trị nào cũng đều có những quy định nội bộ của mình. Quy định của Đảng nhằm nêu cao hơn nữa tinh thần nêu gương của đội ngũ đảng viên theo phương châm “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 4, Hiến pháp 2013. Các tổ chức đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam luôn hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Những luận điệu xuyên tạc Quy định số 37-QĐ/TW mà các thế lực thù địch chống phá kể từ khi quy định được ban hành đã bộc lộ rõ âm mưu chống phá Đảng và chế độ. Chúng không từ một thủ đoạn nào hòng làm mất ổn định chính trị, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Việc Đảng ta sửa đổi, bổ sung và ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm là cần thiết, không chỉ nhằm đề cao tinh thần nêu gương của cán bộ, đảng viên, yêu cầu đội ngũ đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, mà còn thể hiện rõ quan điểm của Đảng trong đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực nhằm làm trong sạch Đảng. Đây cũng là cơ sở xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng./. 

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2022

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG - NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA VĂN HOÁ VIỆT

 

Trong đời sống tâm linh của người Việt, Vua Hùng có một vị trí đặc biệt quan trọng. Dân ta tôn vinh các Vua Hùng là tổ tiên khai sáng quốc gia dân tộc, vì vậy, giỗ Tổ Hùng Vương là lễ trọng đại, trở thành ngày Quốc giỗ của dân tộc Việt Nam. Dù sinh sống ở nơi đâu, đã là người Việt đều nhớ ngày giỗ Tổ...

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương từ xa xưa cho đến hôm nay đã được hình thành, tồn tại và phát triển hết sức đa dạng ở muôn nơi trên đất nước Việt Nam. Điều quan trọng hơn cả là tín ngưỡng này đã có sức sống và in sâu vào tâm thức mỗi con người mang trong mình dòng máu Lạc Hồng:

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba

Khắp miền truyền mãi câu ca

Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.

Truyền thống xưa độc đáo của người Việt là tục thờ gia tiên ở mỗi gia đình để con cháu truyền mãi công đức tổ tiên, ông cha; là mở hội làng để tưởng nhớ những vị thành hoàng làm phúc cho dân. Cũng độc đáo và kỳ diệu là làng xóm nào, gia đình nào, người dân nào cũng thờ Quốc Tổ Hùng Vương. Truyền thống ấy đang được kế thừa và vun đắp, là tình cảm thiêng liêng mà trong sáng, là văn hóa tinh thần luôn tiềm ẩn và trở thành sức mạnh vô biên. Ý nghĩa đặc trưng của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là ý thức “Uống nước nhớ nguồn”. Nguồn cội gia đình - làng - nước - tổ tiên các Vua Hùng là cội nguồn có thật, không phải là một đấng, một sức mạnh siêu nhiên.

Thời đại các Vua Hùng là thời đại văn minh mở nước, dựng nước - văn minh sông Hồng, văn minh Việt cổ. Sức mạnh văn hóa vật chất - văn hóa tinh thần của thời đại các Vua Hùng tạo nền tảng cho nước Việt, văn hóa Việt trường tồn. Vượt qua mọi thử thách cam go, khốc liệt suốt chiều dài lịch sử, nhân dân ta đã tạo dựng nên cơ đồ Việt Nam hôm nay, tạo dựng giá trị văn hóa tinh thần, bản sắc và bản lĩnh, đặc biệt là một tấm lòng sắt son, một niềm tin kiên định ở chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, để Việt Nam vững vàng bước vào thời kỳ CNH-HĐH.

Tháng 12/2012, UNESCO đã chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” của Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đây là lần đầu tiên một di sản văn hóa của Việt Nam được vinh danh ở loại hình tín ngưỡng. Theo đánh giá của UNESCO, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” đã đáp ứng được tiêu chí quan trọng nhất trong 5 tiêu chí, đó là: di sản có giá trị nổi bật mang tính toàn cầu, khích lệ ý thức chung của mọi dân tộc trong việc thúc đẩy giá trị đó. Cụ thể, hồ sơ “Tín ngưỡng Hùng Vương” nêu rõ giá trị của di sản là thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên, theo tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” và khi được UNESCO công nhận, di sản sẽ khích lệ nhận thức của cộng đồng nhiều quốc gia trên thế giới về lòng biết ơn tổ tiên, về thái độ tôn trọng sự đa dạng văn hóa.

Như vậy, không chỉ người Việt tôn kính, tự hào về Đền Hùng mà bạn bè, nhân dân tiến bộ trên thế giới cũng tìm thấy ở đây những giá trị tâm linh to lớn. Những dòng lưu bút của các đoàn khách quốc tế khi đến thăm Đền Hùng làm chúng ta thật sự xúc động. Nhiều người của các dân tộc khác cũng thừa nhận: Đền Hùng là nơi đặt nền móng cho lịch sử Việt Nam, là một di tích vô giá của nhân dân Việt Nam; là biểu tượng của tổ tiên dân tộc Việt Nam.

Tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng không chỉ bộc lộ niềm tin tưởng, kính trọng đối với cội nguồn dân tộc mà còn là tinh thần yêu nước, là ý thức tự hào dân tộc sâu xa. Công nhận lễ hội Đền Hùng là di sản văn hóa thế giới, UNESCO đã đề cao tinh thần yêu nước của các dân tộc, muốn nó trở thành một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân loại.

Hàng ngàn năm nay, Đền Hùng – nơi cội nguồn của dân tộc, của đất nước luôn là biểu tượng tôn kính, linh nghiêm quy tụ và gắn bó với dân tộc Việt Nam. Và dù ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này, cứ đến ngày Giỗ Tổ, là hàng triệu người con mang dòng máu Việt cùng nhau hành hương hoặc hướng về đất Tổ, thắp nén tâm hương, nhớ về nguồn cội, tri ân tổ tiên với lòng thành kính.

Như thông lệ, cứ đến ngày mồng 10 tháng 3 (âm lịch) hằng năm, nhân dân cả nước lại hướng về Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, nơi diễn ra lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng với tất cả lòng thành kính, biết ơn các Vua Hùng đã có công dựng nước.

Hôm nay 10/4 (tức mồng 10 tháng 3 âm lịch), tại Đền Thượng thuộc Khu di tích lịch sử đặc biệt quốc gia Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ tổ chức trọng thể lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng với sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương năm nay do UBND tỉnh Phú Thọ tổ chức có chủ đề “Linh thiêng nguồn cội, Đất Tổ Hùng Vương”, gắn với kỷ niệm 10 năm UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Vượt lên những giá trị lịch sử, tâm linh, Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành điểm hội tụ của lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, tôn vinh các giá trị đạo đức, văn hóa đậm đà bản sắc. Trong đó, tín ngưỡng thờ Hùng Vương là đỉnh cao tâm thức dân tộc và lễ Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành lễ hội văn hóa lớn nhất cả nước.

Thật tự hào khi chúng ta là con Rồng cháu Tiên, là con cháu của các vị Vua Hùng đã gây dựng nên đất nước Văn Lang, Âu Lạc và đánh thắng giặc ngoại xâm làm nền móng cho nước Việt Nam ta ngày nay. Đó là những ngày đầu hoang sơ nhất mở ra một thời kỳ lịch sử huy hoàng cho dân tộc. 

TỔ QUỐC - HAI TIẾNG THIÊNG LIÊNG

 

Cây có cội, sông có nguồn, chim có tổ, từ hàng ngàn đời nay, cháu con nối nghiệp ông cha dựng xây đất nước đều tin tưởng, hướng lòng về cội nguồn nòi giống Rồng Tiên. Huyền sử bọc trăm trứng được sinh từ mẹ Âu Cơ - cha Lạc Long Quân, cha đưa 50 con lên rừng, mẹ đưa 50 con xuống biển trở thành niềm tin thiêng liêng về nòi giống, về nguồn cội phát sinh dân tộc Việt Nam.

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” viết: “Lạc Long Quân nối đời Hồng Bàng, lấy con gái họ Âu Lạc mà có điềm lành sinh trăm con trai, tổ của người Bách Việt thực bắt đầu từ đấy… Hùng Vương nối nghiệp Lạc Long, chăm ban đức huệ để vỗ về muôn dân, chuyên nghề làm ruộng, chăn tằm, không lo can qua chinh chiến, con cháu nối đời đều gọi là Hùng Vương, phúc gồm 18 đời” .

Quốc Tổ là vị tổ của cả Nhân dân, đất nước. Vua Hùng dựng nước Văn Lang, từ ngọn núi Nghĩa Lĩnh, từ mảnh đất Phong Châu mà tạo nên cơ nghiệp cho muôn đời. Những người con đất Việt hôm nay là thế hệ ngàn đời của những người “cùng chung một bọc”, cũng bởi vậy mà hai tiếng: “đồng bào” trở nên thiêng liêng, tự hào và cao quý.

Hằng năm, như đã hẹn ước với lòng mình, đến ngày mùng mười tháng ba âm lịch, “dù ai đi ngược về xuôi” đều hướng về đại lễ giỗ Quốc Tổ Hùng Vương, tưởng nhớ những vị vua khai quốc mở cõi. Năm 2012, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Qua hàng ngàn năm đấu tranh với thiên tai, giặc giã, qua bao cuộc thế biến đổi, niềm tin son sắt, lòng thành kính, nhớ ơn Quốc Tổ và các vị tiên hiền, tiên liệt vẫn vững bền trong trái tim mỗi người Việt Nam.

Các lớp sóng thời gian càng bồi đắp thêm những giá trị to lớn của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Hiện nay, trên khắp các tỉnh, thành trong cả nước, từ Nam tới Bắc, từ miền ngược đến miền xuôi, chính quyền và Nhân dân đều góp sức xây dựng, tôn tạo các địa điểm thờ cúng Hùng Vương. Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước hiện có 1.400 di tích thờ cúng Hùng Vương, riêng tỉnh Phú Thọ có tới 326 di tích, TP Hồ Chí Minh có 11 di tích. Trải dài theo đất nước, nơi nào có người Việt sinh sống là có thờ Quốc Tổ. Lòng tự hào, biết ơn tổ tiên được chuyển hóa thành niềm tin, trách nhiệm phải chăm lo xây dựng, bảo vệ cơ đồ mà cha ông để lại.

Suốt hơn 4.000 năm, dòng máu Lạc Hồng vẫn chảy mạnh mẽ trong huyết quản mỗi người dân nước Việt, trở thành sức mạnh to lớn gắn kết hàng chục triệu người trong cộng đồng 54 dân tộc anh em cùng dựng xây đất nước mạnh giàu, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thiêng liêng và cao quý. Từ thuở khai sơn phá thạch, “mang gươm đi mở cõi” lấn biển lập làng, đấu tranh với thú dữ, với giặc ngoại xâm, với thiên tai, các thế hệ cha ông đã đem mồ hôi, công sức xây dựng đất nước, đem máu xương để bảo vệ Tổ quốc. “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần, bao đời xây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương” (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi).

Yêu nước đồng nghĩa với yêu Tổ quốc, yêu đồng bào. Yêu nước, đứa trẻ ba tuổi Thánh Gióng bỗng lớn lên thành dũng sĩ nhổ tre đánh đuổi giặc xâm lăng. Yêu nước “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, các cụ già đồng tâm quyết chí đánh giặc tại Hội nghị Diên Hồng thế kỷ XIII. Thế kỷ XX, lòng yêu nước thôi thúc chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành ở Làng Sen bôn ba tìm đường cứu nước: “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/ Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa” (Người đi tìm hình của nước - Chế Lan Viên). Người đã nhận ra chân lý của thời đại: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người khởi xướng thành lập, với lòng yêu nước nồng nàn, ngày 19/8/1945, toàn thể Nhân dân đã vùng dậy đánh đổ thực dân, phong kiến, giành độc lập, tự do. Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra mốc son chói lọi trong lịch sử Việt Nam.

Ghi nhớ sâu sắc lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”, tiếp nối truyền thống của cha ông, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, người dân Việt Nam đã không tiếc xương máu, của cải, sẵn sàng chịu mất mát hy sinh để giành lại giang sơn gấm vóc, cơ đồ của tổ tiên để lại, làm cho hai tiếng “Việt Nam” ngời sáng trên bản đồ năm châu. Hàng triệu người đã “hóa thân cho dáng hình xứ sở/ Làm nên đất nước muôn đời” (Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm).

Công cuộc đổi mới đất nước hôm nay đang cần bàn tay, khối óc của hàng chục triệu người dân Việt Nam. Trái tim của gần 100 triệu người dân đang cùng nhịp đập với trái tim lớn: Tổ quốc. Tổ quốc hùng vĩ, tươi đẹp, vững bền. Tổ quốc là đất nước mà tổ tiên bao đời để lại rộng lớn bao la, là hiện hữu góc phố, con đường, ngôi nhà, là ông bà, mẹ cha, là những người thân thương xung quanh ta, là cộng đồng ta đang sống… “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào” như lời Bác dạy, mỗi người phải có trách nhiệm làm giàu, làm đẹp cho đất nước, quê hương, gắn bó, sẻ chia với đồng bào, làm cho màu cờ sắc áo Tổ quốc ngời sáng, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc từng khiến hàng triệu người lên đường đi cứu nước thì nay tiếng gọi ấy đã thúc giục đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài chung sức trong “cuộc chiến” phòng chống dịch COVID-19”, bảo vệ sức khỏe, cuộc sống bình yên của Nhân dân, phục hồi kinh tế đất nước.

“Khi chúng ta cầm tay mọi người/ Đất nước vẹn tròn, to lớn” (Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm). Tổ quốc là đất nước, là tổ tiên, cội nguồn linh thiêng. Hướng về ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương, thêm một lần, chúng ta cầm chặt tay nhau. Thêm một lần tự hào, tin yêu về nguồn cội và cũng thêm một lần nhắc nhở trách nhiệm của mình với Tổ quốc, quê hương.

KHÔNG PHẢI GIẢ VỜ MÀ ĐÓ LÀ SỰ THỰC!

 

Tôi đã đánh giá cao sự kém cỏi trong nhận thức của Nguyễn Văn Đài trong bài viết lần trước của mình. Tôi đã nghĩ tích cực rằng Đài chỉ giả vờ kém cỏi khi bất chấp đăng một bức ảnh photoshop rõ ràng lên trên mạng để kiên trì xuyên tạc mà thôi. Ít ra thì với lập luận này người ta còn đánh giá cao Đài là người lao động có trách nhiệm, nhận tiền của ai là làm hết trách nhiệm, mặc cho người đời chửi Đài ng.u.

Nhưng mới đây, dòng bình luận chữa thẹn của Đài đã phơi bày điều ngược lại. Hóa ra tôi đã không để ý đến lịch sử đăng tin của Đài khi trước đó Đài còn nhầm hình ảnh cái máy giặt thành cái tủ lạnh. Điều mà con trẻ 3 tuổi đều có nhận thức sơ qua. Đây là điều khẳng định đầu tiên về sự kém cỏi nhận thức của Đài.

Điều thứ hai thôi thì biết là nó photoshop thì thôi thì đăng xong cho nó qua đi. Nhưng không Đài vẫn cãi có rằng bức ảnh này vẫn rất hợp lý mặc cho cư dân mạng cũng thấy nó bất hợp lý, thậm chí họ đã tìm được ảnh gốc.

Chẳng hiểu sau những câu chuyện này còn có ai kiên trì, kiên nhẫn nghe Đài xuyên tạc không, bởi cái trì nó cũng cần một chút trí tuệ chứ không như này phong trào rân chủ lại xuống dốc không phanh mất. Qua đây, người ta chẳng còn phải nghi ngờ nữa rồi, người ta khẳng định, tin tưởng rằng Đài có vấn đề về nhận thức.

CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN XUÂN PHÚC DÂNG HƯƠNG TƯỞNG NIỆM CÁC VUA HÙNG!

     Sáng 10-4 (tức 10-3 Âm lịch), Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương cùng đông đảo người dân về dâng lễ, dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng tại Khu Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Đền Hùng (tỉnh Phú Thọ) nhằm tưởng nhớ, tri ân công đức tổ tiên có công dựng nước.

Từ 6 giờ sáng, khoảng 1.000 cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an và đoàn viên thanh niên địa phương được huy động để bảo vệ an ninh trật tự cho lễ dâng hương.

Ban tổ chức cũng bố trí lực lượng công an, đoàn viên thanh niên lập hàng rào mềm hai bên từ sân trung tâm lễ hội lên tới cổng đền. Hàng ngàn người dân cũng đã có mặt từ sớm chờ dâng hương.

Đúng 7 giờ sáng, trong không khí trang nghiêm, đoàn dâng hương gồm các khối nghi thức, đội rước kiệu, lễ vật khởi hành từ sân Trung tâm Lễ hội đền Hùng qua Nghi môn, đền Hạ, đền Trung lên đền Thượng.

Đi đầu là đội tiêu binh rước cờ Tổ quốc, cờ hội đền Hùng và vòng hoa mang dòng chữ "Ðời đời nhớ ơn các vua Hùng đã có công dựng nước".

Tại Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2022, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cùng các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tỉnh Phú Thọ… đã thành kính dâng hương, hoa, lễ vật tưởng nhớ, tri ân công đức của các vua Hùng đã có công dựng nước, cầu cho xã tắc thịnh vượng, quốc thái dân an, bách gia trăm họ vạn đại trường tồn, đất nước ngày càng vững mạnh, hùng cường.

Trong giờ phút thiêng liêng của ngày giỗ Tổ, triệu triệu con tim người Việt ở trong và ngoài nước cùng hướng về Đền Hùng với tấm lòng thành kính để tưởng nhớ, tri ân công đức các vua Hùng, các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ Bùi Văn Quang, Chủ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương 2022 đọc chúc văn bày tỏ lòng tự hào, biết ơn công đức tổ tiên; ôn lại và tự hào về truyền thống dựng nước, giữ nước vẻ vang của dân tộc Việt Nam; kính cáo trước anh linh các bậc tiền nhân về những thành tựu to lớn mà đất nước đạt được trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế.

Bên cạnh những thời cơ, dân tộc ta vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức ở phía trước, thế hệ con cháu Lạc Hồng quyết tâm phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường; ra sức rèn đức, luyện tài, cùng nhau đoàn kết vượt qua mọi khó khăn. Phát huy trí tuệ, sức mạnh tổng hợp, tập trung chỉ đạo với tinh thần chung là quyết liệt hơn, đổi mới sáng tạo hơn, đưa nước ta trở nên giàu mạnh, hùng cường, làm rạng danh cơ đồ dân tộc.

Ngoài ra, chúc văn cũng cầu mong Thánh Tổ phù hộ cho mưa thuận, gió hòa; nhân khang, vật thịnh; dịch bệnh, nhất là đại dịch Covid-19 được đẩy lùi; xã tắc thịnh vượng, hùng cường; nhân dân ấm no, hạnh phúc. Con cháu Lạc Hồng trên khắp mọi miền đất nước và kiều bào ta ở nước ngoài có cuộc sống an khang, thịnh vượng. Các tỉnh, thành phố trong cả nước thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội...

Sau phần đọc Chúc văn, Chủ tịch nước cùng các lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, các cơ quan Trung ương, các địa phương, lãnh đạo tỉnh Phú Thọ vào Thượng cung dâng hương, hoa, lễ vật tri ân, tưởng nhớ công đức các Vua Hùng và các bậc tiền nhân./.



Yêu nước ST.

CHÂU ÂU LẠI VUI LÊN RỒI!

         Tổng thống Pháp Macron đã cáo buộc Thủ tướng Ba Lan Mateusz Morawiecki là ph ần tử cực hữu, bài Do Thái và kì thị người giới tí nh thứ ba.
Tuyên bố này được đưa ra sau khi thủ tướng Ba Lan chỉ trích việc Pháp duy trì đối thoại với Nga về vấn đề chiến tranh Ucraina.

Ngoài ra, tổng thống Macron cũng cáo buộc thủ tướng Ba Lan đang đi đêm với Marie Le Pen, lãnh đạo của đảng cực hữu khét tiếng ở Pháp. Le Pen hiện là đối thủ cạnh tranh nặng ký đe doạ đến Macron trong cuộc bầu cử tổng thống sắp tới.

Bộ ngoại giao Ba Lan đã triệu tập đại sứ Pháp tại Vácsava để phản đối tuyên bố.

--------------
Hungary triệu hồi Đại sứ Ukraine, nói Ukraine 'xúc phạm' lập trường về Nga.

     Hungary vừa mới triệu đại sứ Ukraine để phản đối vì cho rằng lãnh đạo nước này có phát ngôn "xúc phạm" quan điểm của Budapest về chiến dịch quân sự Nga.

"Chúng tôi đã lên án chiến dịch quân sự của Nga, công nhận chủ quyền của Ukraine và tiếp nhận hàng trăm nghìn người tị nạn từ nước này", Ngoại trưởng Hungary Peter Szijjarto hôm nay viết trên Facebook, khi thông báo về quyết định triệu tập đại sứ Ukraine tới trụ sở Bộ Ngoại giao.

     Ông Szijjarto cho rằng "đã tới lúc các lãnh đạo Ukraine ngừng những lời lẽ xúc phạm Hungary và thừa nhận ý chí của người dân Hungary", khẳng định nước này không ủng hộ vận chuyển vũ khí cho Ukraine hay áp lệnh trừng phạt năng lượng Nga vì "không muốn gây nguy hiểm cho nền hòa bình và an ninh của người dân". "Đây không phải là cuộc xung đột của chúng tôi, vì vậy chúng tôi mong muốn và sẽ tránh không can dự", ông Szijjarto nói thêm

     Tuyên bố được Ngoại trưởng Szijjarto đưa ra sau khi Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky hôm 5/4 nói rằng Thủ tướng Hungary Viktor Orban "lo sợ ảnh hưởng của Nga" và Hungary "phải lựa chọn giữa Nga với thế giới khác".

     Thủ tướng Orban (58 tuổi) vừa đắc cử nhiệm kỳ thứ 4, từng lên án chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraine và không phủ quyết các lệnh trừng phạt của Liên minh châu Âu (EU) nhắm vào Nga.

     Tuy nhiên, ông không chỉ trích trực tiếp Tổng thống Nga Vladimir Putin và tuyên bố phản đối lệnh trừng phạt dầu khí Nga, cho rằng điều này sẽ tàn phá nền kinh tế Hungary.

     Thủ tướng Orban thường đưa ra quan điểm trung lập về tình hình Ukraine và từng từ chối để số vũ khí phương Tây viện trợ cho Kiev đi qua lãnh thổ Hungary, dù Hungary là thành viên của cả NATO lẫn EU.

     Orban giữ chức Thủ tướng Hungary từ năm 2010 và là người theo đuổi chính sách theo hướng dân túy, bảo thủ. Ông được coi là lãnh đạo ủng hộ Nga nhất trong số 27 nước thành viên EU. Hungary cũng là nước EU đầu tiên mua vaccine Covid-19 do Nga sản xuất, dù cơ quan quản lý châu Âu chưa phê duyệt vaccine này.

     Quan điểm trung lập cũng là một trong số những lý do giúp Đảng Fidesz của ông Orban vừa mới chiến thắng cuộc bầu cử với tỷ lệ 53% ủng hộ, đưa ông trở lại vị trí Thủ tướng nhiệm kỳ thứ 4./.

Yêu nước ST.

 Sức sống mãnh liệt, trường tồn từ tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

----
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ thể hiện trong đời sống văn hóa tâm linh và còn trở thành đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” biết ơn những bậc tiền nhân có công dựng nước.
Thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt
Những ngày diễn ra Lễ hội Đền Hùng - Giỗ Tổ Hùng Vương, hàng triệu người hành hương hướng về cội nguồn dân tộc. Ban tổ chức (BTC) lễ hội thực hiện nhiều biện pháp đảm bảo cho mọi người tham gia giỗ tổ trang nghiêm, an toàn.
Những ngày tháng Ba âm lịch, dịp Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng du khách thập phương khắp nơi lại nô nức trở về Khu di tích lịch sử Đền Hùng (Việt Trì, Phú Thọ) dâng hương, tham quan, cùng tham gia vào không gian văn hoá truyền thống. Khắp các lối lên từ cổng Đền hướng về núi Nghĩa Lĩnh lễ tổ đều đông kín du khách.
Cùng với nghi lễ thờ cúng, hàng loạt các hoạt động văn hóa dân gian như: Rước kiệu truyền thống, hát Xoan, đánh trống đồng, thi giã bánh giầy, gói bánh chưng… được phục dựng nguyên bản làm cho Giỗ Tổ Hùng Vương- Lễ hội Đền Hùng ngày càng gắn với tín ngưỡng, không gian văn hóa truyền thống.
Ngày nay, Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng đã trở thành một nếp sinh hoạt văn hóa phổ biến trong đời sống của đông đảo người Việt Nam, gắn với thờ cúng Tổ tiên là một biểu hiện nhất quán của văn hóa truyền thống dân tộc, được xem như một biểu tượng phản ánh tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc và sự kết nối cộng đồng của người Việt Nam.
ThS Nguyễn Tiến Khôi - Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Phú Thọ cho hay, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương thuộc văn hóa tín ngưỡng thờ Tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Các Vua Hùng được nhân dân lập đền thờ chính tại núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ. Ngoài ra còn có rất nhiều các đền miếu thờ cúng Hùng Vương và tướng lĩnh dưới thời các Vua Hùng ở Phú Thọ và nhiều địa phương trong cả nước.
Thực tế Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã tồn tại và phát triển trong cuộc sống cộng đồng người Việt hàng ngàn năm nay. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ thể hiện trong đời sống văn hóa tâm linh và còn trở thành đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” biết ơn những bậc tiền nhân có công dựng nước.
Theo ông Khôi, Giỗ Tổ Hùng Vương - lễ hội Đền Hùng từ ngàn đời nay đã đi sâu vào tiềm thức của mỗi người con đất Việt. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Tổ tiên chung của dân tộc sẽ mãi mãi trường tồn. Các thế hệ người dân Việt Nam hôm nay và mai sau ngày càng biết trân trọng và giữ gìn những thành quả mà ông cha để lại, tự hào về quá khứ của dân tộc mình.
"Về nơi thờ Tổ tiên của dân tộc không chỉ là về với cội nguồn mà còn là cuộc hành hương về với đức tin truyền thống, vào sự linh thiêng huyền diệu của Tổ tiên, của hồn thiêng sông núi. Cũng chính nhờ có đức tin và sự tôn thờ bất diệt trong tâm thức của mỗi người con đất Việt đối với tổ tiên ông bà, cha mẹ đến các Vua Hùng, mà trong các thời kỳ lịch sử, sức mạnh của dân tộc đã được nhân lên gấp bội. Vượt qua mọi khó khăn thử thách dân tộc Việt Nam vẫn tồn tại và không ngừng phát triển" - ông Khôi phân tích.
Lan toả hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng đậm bản sắc Việt
GS.TS Bùi Quang Thanh (Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam) phân tích, nhìn lại tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, đồng thời cũng là những nghìn năm của tiến trình sáng tạo, thực hành tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng, có thể thấy rõ bước đường lan tỏa, lưu truyền một hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng mang đậm bản sắc văn hóa Việt.
Với sức sống ngày một mãnh liệt, xoáy tụ từ vùng đất thiêng Nghĩa Lĩnh - Việt Trì, Phú Thọ, tỏa ra nhiều làng quê châu thổ Bắc Bộ, lan tỏa dọc theo vùng đất cách mạng Trung Bộ và nhiều làng quê Nam Bộ, thậm chí lan sang một số nước trên thế giới, nơi có con cháu Vua Hùng đã và đang cư trú, làm ăn, sinh sống.
Nhìn ra các nước trên thế giới, nơi có con em người Việt nhiều thế hệ đã và đang cư trú, làm ăn sinh sống, có thể thấy rằng, hầu như mọi gia đình đều thiết lập ban thờ Tổ tiên, hướng về cội nguồn dân tộc, thể hiện tấm lòng của người xa quê đối với quê hương đất nước. Hàng nghìn đoàn du lịch từ nước ngoài đã được tổ chức cho con em người Việt xa xứ hành hương về đất thiêng Nghĩa Lĩnh ngày Giỗ Tổ hàng năm. Tại một số nước, Hội người Việt Nam sở tại đã bằng những cách thức khác nhau tổ chức xây dựng những đền, chùa, trong đó có nơi dành cho thờ cúng các Vua Hùng, đáp ứng nhu cầu thực hành tín ngưỡng tôn giáo của người dân, như Liên bang Nga, Liên bang Hoa Kỳ, Ba Lan, Đức…
"Như vậy, từ vùng đất cội nguồn của Phú Thọ với dấu thiêng Nghĩa Lĩnh - Việt Trì, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được sáng tạo, trao truyền, gìn giữ và phát huy, lan tỏa mở rộng trên phạm vi cả nước cũng như đã và đang được chuyển hóa xuyên biên giới lan tỏa đến cộng đồng người Việt ở nhiều nước trên thế giới" - GS.TS Bùi Quang Thanh phân tích.
“Linh thiêng nguồn cội, Đất Tổ Hùng Vương” là chủ đề của Giỗ Tổ Hùng Vương năm Nhâm Dần – 2022. Lễ Giỗ Tổ năm nay do UBND tỉnh Phú Thọ tổ chức được gắn với kỷ niệm 10 năm UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. (Vương Trần)
nguồn: laodong.vn