Thứ Hai, 11 tháng 4, 2022

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần trách nhiệm để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước.

 Tinh thần trách nhiệm là một giá trị văn hóa, được gọi là văn hóa trách nhiệm hay văn hóa bổn phận. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần trách nhiệm “Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công”(1).


Chủ tịch Hồ Chí Minh kiểm tra suất ăn giữa ca của công nhân Nhà máy cao su, xà phòng và thuốc lá Hà Nội, ngày 26-1-1961.


Tinh thần trách nhiệm trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân là tư tưởng xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Trách nhiệm đó được thể hiện trong mọi hoạt động của Người: trong học tập, lao động, nghiên cứu lý luận, hoạt động thực tiễn, cùng Đảng lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển...

Với thân phận của một người dân sống trong một đất nước mất độc lập, dân nô lệ, lầm than, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ trách nhiệm của một người dân mất nước, quyết tâm đi tìm đường cứu nước, giải phóng đồng bào. Trách nhiệm đó thấm sâu vào từng suy nghĩ và hành động của Người, để rồi trong suốt 30 năm, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã tìm đến các nước tư bản phát triển, các nước thuộc địa, sẵn sàng làm nhiều nghề để vừa nuôi sống bản thân, vừa hoạt động cách mạng. Người đã thể hiện trách nhiệm và quyết tâm cháy bỏng tìm con đường cứu nước bằng cách khám phá thế giới, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” rồi trở về giúp đồng bào. Không lo cho bản thân mình, Người sẵn sàng tranh luận, trao đổi các vấn đề lớn liên quan tới vận mệnh của nhân dân Việt Nam cũng như các dân tộc thuộc địa. Bản lĩnh và trách nhiệm của một chiến sĩ cách mạng dần hé lộ trong tư duy và hành động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Khi trở thành người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Bác vẫn thể hiện rõ trách nhiệm của một người đứng ở vị trí cao nhất. Người khẳng định: “chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(2). Người cũng chỉ rõ, muốn làm tròn bổn phận, chúng ta nên lợi dụng mấy khẩu hiệu của người Trung Hoa: “1. Khổ cán (làm việc hết sức mình). 2. Hạnh cán (làm việc chất lượng). 3. Thực cán (làm việc có hiệu quả, có năng suất)”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh thực thi công vụ với ý thức trách nhiệm của một người lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu không phải bằng việc sử dụng hay lạm dụng quyền lực mà thuyết phục bằng cảm hóa, bằng phong cách nói đi đôi với làm. Ý thức trách nhiệm của Người thể hiện từ những việc lớn như hoạch định đường lối, chính sách đến những việc nhỏ như lo tương cà, mắm muối cho dân. Người sống đời sống của dân, cùng nhịp đập với trái tim của dân, lo toan, trăn trở khi dân ốm, dân đói, dân rét, dân bị bóc lột, bị mù chữ, nghèo nàn… Theo Bác, người nấu bếp, lo làm cho luôn luôn cơm lành canh ngon, bát đũa sạch sẽ. Không phí phạm của công. Tìm cách tăng gia trồng rau, nuôi gà… Khi anh em ốm yếu, thì có bát canh bát cháo. Khi bộ đội đang mải đánh giặc thì tìm cách đưa cơm đến nơi cho anh em ăn. Khi tiếp tế khó khăn thì tìm cách vượt qua, không để anh em thiếu thốn. Như thế là có tinh thần trách nhiệm.

Người cán bộ quân sự, thì luôn luôn học hỏi chính trị và kỹ thuật, chiến thuật. Luôn luôn săn sóc đến tinh thần và vật chất của đội viên. Đoàn kết nội bộ. Giúp đỡ nhân dân. Kiên quyết chấp hành mệnh lệnh trên giao xuống. Khi đánh giặc thì làm cho toàn đội thấm nhuần tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Gặp việc khó khăn thì cố tìm cách giải quyết đúng. Như thế là có tinh thần trách nhiệm.

Đảng và Chính phủ đề ra chính sách. Cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần chính sách ấy. Theo chính sách ấy mà điều tra, nghiên cứu, thấu hiểu hoàn cảnh thiết thực của đơn vị mình, địa phương mình. Rồi đặt kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực để giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho mọi người hiểu và ủng hộ chính sách của Đảng và Chính phủ như là của họ, rồi thi đua thực hiện đầy đủ chính sách ấy. Như thế là làm trọn nhiệm vụ.

Để thực hiện chính sách, làm tròn nhiệm vụ, cán bộ chẳng những phải chịu khó giải thích, tuyên truyền, cổ động mà còn phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoanh nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình là gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính để nhân dân noi theo. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, Chính phủ và đối với Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, mọi suy nghĩ và hành động của cán bộ công chức phải đi đúng đường lối quần chúng. Đi đúng đường lối quần chúng là một nét đặc sắc trong tư duy Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ. Người khẳng định: “Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ”(4).

Ý thức trách nhiệm, tinh thần trách nhiệm, hành động có trách nhiệm là nhân tố có tính quyết định trong hoạt động thực tiễn của con người, là khía cạnh quan trọng nhất của đạo đức nghề nghiệp. Ngày 20-5-1950, Người đã ký Sắc lệnh 76/SL ban hành Quy chế công chức Việt Nam, trong đó, Điều 2 quy định: “Công chức Việt Nam phải phục vụ Nhân dân, trung thành với Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà nước”. Theo đó, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ công chức phải đặt lên hàng đầu ý thức và tinh thần trách nhiệm, hết lòng hết sức phục sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Còn nhiều tập thể, cá nhân thiếu tinh thần trách nhiệm

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Đại đa số cán bộ, đảng viên và quần chúng đều nêu cao vai trò trách nhiệm, thực hiện nghiêm quy định, quy chế làm việc của tổ chức, cơ quan, đơn vị; giữ gìn đạo đức, phẩm chất cách mạng, sống mẫu mực, đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân… Tuy nhiên, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm, bớt xén giờ giấc, làm không đúng quyền hạn, chức trách, nói nhiều, làm ít. Đặc biệt, một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền đã thiếu tinh thần trách nhiệm trong quá trình thực thi nhiệm vụ gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước và Nhân dân như các vụ án liên quan đến: Đảng đoàn Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác tổ chức - cán bộ, quản lý tài chính, quy hoạch, sắp xếp và quản lý các cơ quan báo chí trực thuộc Cơ quan Trung ương Hội; Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển Việt Nam nhiệm kỳ 2015-2020 đã thiếu trách nhiệm, thiếu kiểm tra, giám sát trong công tác quản lý, sử dụng tài chính, thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm vật tư, trang bị kỹ thuật và trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển; Ban Cán sự đảng Bộ Y tế đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác xây dựng, ban hành thể chế, chính sách; trong việc cấp phép nhập khẩu thuốc, thực hiện liên doanh liên kết, đấu thầu, mua sắm thuốc, trang thiết bị y tế; để nhiều cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số bị xử lý hình sự… Những vi phạm nêu trên đã gây hậu quả nghiêm trọng làm thất thoát, lãng phí tiền, tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, cá nhân và các ngành có liên quan.

Nâng cao tinh thần trách nhiệm để xây dựng đất nước phồn vinh

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thực hiện công việc người cán bộ, phải tích cực, tự giác thực hiện nhiệm vụ được giao, ý thức đúng đắn về trách nhiệm của mình trên mọi cương vị, vị trí công tác, “có gan phụ trách”, dám nghĩ dám làm, chủ động sáng tạo và đặc biệt phải có khát vọng vươn lên để có kết quả cao nhất. Nói đến khát vọng là nói đến yếu tố tinh thần, là sự mong muốn, khao khát, quyết tâm dồn sức lực, trí tuệ để đạt cho được mục tiêu; là nguồn động lực có sức mạnh vô biên để thực hiện những nhiệm vụ nặng nề nhằm đạt được ước mơ, không khuất phục trước mọi thử thách… là động lực để cho mọi tầng lớp nhân dân đem hết sức mình thực hiện khát vọng, mà cụ thể ở thời điểm này khát vọng của dân tộc Việt Nam là đưa đất nước đi tới phồn vinh, hùng cường, thịnh vượng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(5).

Trong thời gian tới, để góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hùng cường, xin đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu; có cơ chế, quy định cụ thể, rõ ràng và ràng buộc trách nhiệm của cá nhân trong hệ thống chính trị, hệ thống công quyền.

Hai là, mỗi cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần thực sự tiên phong, gương mẫu về tinh thần trách nhiệm trước công việc và nhân dân theo phương châm “nói đi đôi với làm”, nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động; cán bộ cấp trên nêu gương cho cán bộ cấp dưới; đảng viên nêu gương cho quần chúng noi theo.

Ba là, từng cán bộ, đảng viên cần nêu cao tính chủ động, sáng tạo trước công việc được giao. Khi thực hiện nhiệm vụ, công việc cần có chương trình, kế hoạch, tránh để chậm trễ gây tồn đọng, ách tắc, cấp trên hoặc lãnh đạo phải nhắc nhở hoặc nhân dân phải phàn nàn, chê trách, góp ý phê bình về ý thức và tinh thần trách nhiệm. Trong thực hiện nhiệm vụ cần thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đúng quy trình, thủ tục, đồng thời linh hoạt, sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm để hoàn thành công việc với hiệu quả cao nhất.

Bốn là, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, viên chức phải gắn với trao đổi, tự phê bình và phê bình, đóng góp ý kiến xây dựng cho cán bộ, đảng viên. Kịp thời khen thưởng, biểu dương những việc làm tốt và uốn nắn những hạn chế, khuyết điểm, có biện pháp phù hợp để cán bộ, đảng viên nhận thức được sai sót, hạn chế của mình, từ đó phấn đấu sửa chữa. Nghiêm túc đấu tranh chống bệnh tranh công, đổ lỗi cho khách quan hoặc đổ trách nhiệm cho người khác; những biểu hiện né tránh, bao biện hoặc kiểm điểm, phê bình một cách hình thức, chiếu lệ, qua loa.

Hơn 70 năm đã qua đi, nhưng những lời chỉ dẫn của Hồ Chí Minh trong tác phẩm Tinh thần trách nhiệm vẫn còn nguyên giá trị để Đảng và Nhà nước Việt Nam “Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”(6) nhằm đưa đất nước cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc.

-----------

(1), (4). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG-ST, H.2011, tập 7, tr.248, 249.

(2), (3). Sđd, tập 9, tr.518; tập 4, tr.176.

(5). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG-ST, H.2021, tập 1, tr.110.

(6). Sđd, tr.46.

Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới (tiếp theo và hết)

 Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Đảng coi đó là nội dung cốt lõi của công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do có nhiều chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”. Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các nghị quyết của Đảng qua các nhiệm kỳ Đại hội đều khẳng định: “Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên”; “Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”; “đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam”… Thực tiễn cho thấy, nơi nào xây dựng được hệ thống tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao và đội ngũ đảng viên có chất lượng, tiền phong, gương mẫu thì tạo ra sức mạnh tổng hợp, đóng góp vào công tác xây dựng Đảng và thành tựu phát triển của đất nước. Tuy nhiên, hiện nay năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên còn có hạn chế, ảnh hưởng tới vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở… Để phát huy vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của tổ chức cơ sở đảng, đội ngũ đảng viên, cần khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, vướng mắc trong thực tiễn và có biện pháp cụ thể nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên sẽ được tác giả trả lời trong bài viết 2 kỳ!
Kỳ II:
COI TRỌNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN


Từ Nghị quyết Đại hội X đến Nghị quyết Đại hội XI, XII, Đảng luôn đặt ra yêu cầu phải quan tâm xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, nhất là về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, tính tiên phong, gương mẫu. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đánh giá bên cạnh ưu điểm, một bộ phận đảng viên thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vậy làm thế nào để đội ngũ đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự “là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân”[1].

Các cấp ủy luôn bám sát sự chỉ đạo của Đảng

Cùng với các nghị quyết Đại hội Đảng, Nghị quyết số 22-NQ/TW “về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”, Kết luận số 38-KL/TW về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định, quy chế… liên quan trực tiếp đến phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Thực hiện các nghị quyết, văn bản của Đảng có liên quan, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng uỷ trực thuộc Trung ương đã ban hành khoảng 800 văn bản (chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch, hướng dẫn...) để cụ thể hoá, tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Nhiều cấp ủy quan tâm chỉ đạo sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, đề án ở cấp mình, rút kinh nghiệm, bổ sung giải pháp chỉ đạo phù hợp để xây dựng đội ngũ đảng viên có năng lực, trình độ, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức tốt.

Trong 10 năm qua (từ 2010-2020), công tác xây dựng đội ngũ đảng viên đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Tính đến 31-12-2021, toàn Đảng có tổng số 5.325.532 đảng viên. Công tác phát triển đảng viên được chú trọng, số lượng đảng viên tăng mạnh mẽ qua các nhiệm kỳ: Nếu Đại hội lần thứ nhất (1935) toàn Đảng có 600 đảng viên đến Đại hội lần thứ VI (1986) có 2.109.613 đảng viên và Đại hội lần thứ X (2006) có 3.100.000 đảng viên, Đại hội lần thứ XI (2011) có 3.636.158 đảng viên, Đại hội lần thứ XII (2016) có 4.769.325 đảng viên. Trung bình 10 năm qua, mỗi năm tăng 143.357 đảng viên. Đến nay tỷ lệ đảng viên trên dân số cả nước là 5,4% (bình quân 100 người dân có khoảng 6 đảng viên). Cơ cấu độ tuổi tương đối phù hợp, số lượng đảng viên nữ, trẻ, đồng bào dân tộc thiểu số, người có tôn giáo, chủ doanh nghiệp tư nhân tăng, tạo nguồn cán bộ cho Đảng. Đảng viên nữ chiếm 38,1% tổng số đảng viên toàn Đảng, sau 10 năm, tỷ lệ đảng viên nữ tăng gấp 1,8 lần so với tỷ lệ tăng đảng viên của toàn Đảng. Đảng viên là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 12,3%. Đảng viên là người có tôn giáo chiếm 1,8%. Độ tuổi trung bình của đảng viên là 43,9 tuổi (tăng 0,1 tuổi so với năm 2010).

Chất lượng đội ngũ đảng viên có chuyển biến tích cực; trình độ học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị ngày càng cao hơn (đảng viên có trình độ đại học trở lên chiếm khoảng 55%; có trình độ lý luận chính trị từ sơ cấp trở lên hơn 60%; toàn Đảng không còn đảng viên chưa biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ[2]). Các cấp ủy tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, quản lý, rà soát, sàng lọc, đánh giá, xếp loại chất lượng, kiểm tra, giám sát đảng viên thực hiện nhiệm vụ, xử lý đảng viên vi phạm, đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” được đẩy mạnh. Phần lớn đội ngũ đảng viên ở cơ sở đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, có ý thức rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, ý thức tự phê bình và phê bình, tinh thần tiền phong, gương mẫu, xây dựng mối quan hệ gắn bó với nhân dân, góp phần xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh.   

Chỉ rõ hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân

Đội ngũ đảng viên là nhân tố quyết định công tác xây dựng Đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, công tác phát triển đảng viên ở một số nơi còn chạy theo số lượng, chưa quan tâm giáo dục lý tưởng cách mạng và rèn luyện thử thách đối với quần chúng phấn đấu vào Đảng. Nhận thức, động cơ phấn đấu vào Đảng của một số đảng viên mới còn hạn chế. Cơ cấu đảng viên chưa hợp lý, đảng viên là công nhân, người lao động, đồng bào dân tộc thiểu số, đảng viên có tôn giáo còn thấp, tỷ lệ đảng viên trẻ chưa tương xứng với tiềm năng. Một bộ phận đảng viên năng lực hạn chế, phai nhạt lý tưởng, thiếu bản lĩnh chính trị; giảm sút ý chí phấn đấu, tinh thần đấu tranh, tự phê bình và phê bình yếu; chưa gương mẫu, chạy theo lối sống thực dụng. Vẫn còn một bộ phận đảng viên suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Hiện nay ở cơ sở có một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác đảng viên: Một số tổ chức cơ sở đảng đông đảng viên nhưng không có cán bộ chuyên trách, bí thư cấp uỷ kiêm nhiệm. Đội ngũ cấp uỷ viên, cán bộ chuyên trách công tác đảng chưa được thường xuyên bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức mới và ít kinh nghiệm công tác xây dựng Đảng. Các doanh nghiệp ngoài nhà nước gặp nhiều khó khăn trong các khâu của công tác đảng viên như bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng, đảng viên; phân công người giới thiệu, giúp đỡ quần chúng vào Đảng; doanh nghiệp chưa có tổ chức đảng thì đảng viên vẫn sinh hoạt đảng tại nơi cư trú... Thủ tục chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên đi làm ăn xa còn nhiều vướng mắc, bất cập. Một bộ phận đảng viên hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương xin ra khỏi Đảng. Một số đảng viên vừa nghỉ hưu đã xin miễn hoặc bỏ sinh hoạt đảng. Cơ sở vật chất, điều kiện, kinh phí hoạt động của các tổ chức đảng ở nhiều xã, phường, thị trấn, doanh nghiệp còn khó khăn, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức đảng ngoài nước, nơi có đông đảng viên, đảng viên làm việc phân tán...

Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc là do quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế phát sinh nhiều vấn đề mới, tác động đến công tác xây dựng đội ngũ đảng viên nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ, có giải pháp phù hợp. Vẫn còn một số cấp ủy, một bộ phận cán bộ, đảng viên nhận thức chưa đầy đủ về yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Còn có quy định, hướng dẫn về đảng viên chậm được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung. Một số nơi thực hiện chủ trương hướng về cơ sở hiệu quả chưa thực chất; chưa chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cho đảng viên. Một bộ phận thanh niên giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng, sống thực dụng, xa rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc, không muốn phấn đấu vào Đảng. 

Tập trung giải pháp nâng cao chất lượng đảng viên

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng “Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên.”[3], các cấp ủy tập trung một số giải pháp sau:

Một là, đổi mới, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đảng viên. Các cấp ủy cần đổi mới hình thức giáo dục chính trị tư tưởng sinh động, phong phú để đảng viên nhận thức đúng, sâu sắc. Đẩy mạnh sự tự giác nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong mỗi đảng viên; nâng cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, “tự soi”, “tự sửa”, đề cao danh dự của người đảng viên. Cấp ủy chủ động nắm tình hình, diễn biến tư tưởng, lắng nghe tâm tư, dư luận để kịp thời định hướng cho đảng viên trước những vấn đề phát sinh và yêu cầu mỗi đảng viên phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cấp ủy nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện. Phát huy vai trò của cơ quan báo chí trong tuyên truyền, giới thiệu tấm gương đảng viên tiêu biểu, tạo sự lan tỏa trong Đảng, trong xã hội.

Hai là, coi trọng công tác quản lý đảng viên và kịp thời rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Cấp ủy cơ sở thường xuyên kiểm tra, giám sát các chi bộ, đảng viên thực hiện chế độ sinh hoạt đảng định kỳ. Thực hiện nghiêm túc kiểm tra việc quản lý đảng viên tại chi bộ và đảng viên ở ngoài nước. Cấp ủy, chi bộ chỉ đạo phân công nhiệm vụ cụ thể và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của đảng viên. Mỗi đảng viên phải xây dựng kế hoạch phấn đấu, rèn luyện để chi ủy, chi bộ kiểm tra, giám sát, làm cơ sở để kiểm điểm, đánh giá, xếp loại cuối năm. Trong công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên kịp thời phát hiện, động viên, khen thưởng, nhân rộng những tấm gương đảng viên xuất sắc, tiêu biểu trên các lĩnh vực. Đối với những đảng viên có biểu hiện hoặc không hoàn thành nhiệm vụ hoặc có khuyết điểm, vi phạm, cấp ủy, người đứng đầu thường xuyên nhắc nhở, giáo dục, động viên, giúp đỡ.

Các cấp ủy chấn chỉnh, khắc phục tình trạng tùy tiện, buông lỏng quản lý trong xem xét miễn công tác và sinh hoạt đảng cho đảng viên. Yêu cầu đảng viên thực hiện nghiêm quy định về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú. Cơ quan chức năng nghiên cứu, rà soát, bổ sung quy định về quản lý đảng viên đi học tập, làm ăn xa nơi cư trú; đảng viên nghỉ hưu về làm việc trong khu vực ngoài nhà nước, các hội quần chúng; đảng viên ở ngoài nước và đảng viên ra nước ngoài. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đảng viên.

Tổ chức cơ sở đảng phải bám sát, nắm sâu và đánh giá được đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ; xác định được đảng viên không thực hiện đúng chế độ chuyển sinh hoạt hoặc đã chuyển sinh hoạt đảng nhưng không nộp hồ sơ cho tổ chức đảng có thẩm quyền; đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đảng viên thiếu gương mẫu, uy tín thấp. Đây là cơ sở để cấp ủy tiến hành rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Khắc phục triệt để tình trạng dễ dãi, nể nang, né tránh trong công tác đánh giá, phân loại đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.

Ba là, tập trung nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên. Căn cứ tình hình thực tế, các cấp ủy xây dựng kế hoạch phát triển đảng viên của cả nhiệm kỳ, hằng năm. Chỉ đạo các chi bộ, đảng viên tạo môi trường thuận lợi, hướng dẫn, giúp đỡ để quần chúng phấn đấu, rèn luyện, giác ngộ lý tưởng, có động cơ, mục đích vào Đảng trong sáng. Tiếp tục tăng số lượng đồng thời với nâng cao chất lượng phát triển đảng viên; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng kết nạp vào Đảng những đoàn viên, hội viên ưu tú, trưởng thành trong lao động, học tập, trong lực lượng vũ trang; quan tâm phát triển đảng viên là công nhân, trí thức, doanh nhân để tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị các cấp trước mắt và lâu dài. Quan tâm phát triển đảng viên ở miền núi, biên giới, hải đảo theo phương châm “ở đâu có dân thì ở đó có đảng viên”. Đối với các địa phương còn nhiều thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố, trường học, doanh nghiệp chưa có tổ chức đảng, chưa có đảng viên, cần tập trung củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác để tập hợp quần chúng, tạo nguồn kết nạp đảng viên, xây dựng lực lượng nòng cốt cho Đảng. Cấp uỷ cấp trên trực tiếp của cơ sở phân công cấp uỷ viên phụ trách, cấp uỷ cơ sở giao nhiệm vụ cho các chi bộ trong việc phát hiện, bồi dưỡng, giúp đỡ quần chúng phấn đấu vào Đảng. Đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng và đảng viên mới bảo đảm thiết thực, hiệu quả theo hướng tập trung vào những vấn đề cơ bản về Đảng, tiêu chuẩn, điều kiện, nhiệm vụ, quyền của đảng viên, tính tiên phong, gương mẫu, nhất là xác định đúng đắn động cơ vào Đảng. Đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập, kiểm tra, sát hạch phù hợp với từng đối tượng. Có kế hoạch mở lớp bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng viên là công nhân trong các doanh nghiệp tư nhân.

Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; phát huy và tăng cường vai trò của mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng Đảng, giám sát đảng viên.

Cải tiến phương pháp, quy trình, kỹ năng thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Đổi mới các cơ chế, biện pháp để chủ động phát hiện sớm, phòng ngừa, ngăn chặn từ xa những vi phạm của đảng viên. Thực hiện nghiêm minh việc kỷ luật đảng đối với đảng viên vi phạm. Coi trọng việc tự kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng đối với đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao, trách nhiệm nêu gương, quy định về những điều đảng viên không được làm…

Phát huy và tăng cường vai trò của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát với đảng viên trong thực hiện quy định nêu gương, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống ở nơi làm việc và nơi cư trú. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thường xuyên phát động, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, từ đó phát hiện, lựa chọn nhân tố tích cực trong đoàn viên, hội viên, quần chúng, người có uy tín trong cộng đồng dân cư giới thiệu cho Đảng. Đồng thời, phát huy ưu thế của mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động nhân dân giám sát đội ngũ đảng viên, tham gia xây dựng Đảng. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng, xếp loại đảng hằng năm.

Đội ngũ đảng viên là lực lượng nòng cốt, là cầu nối giữa Đảng với Nhân dân, là nhân tố kết nối, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, góp sức cùng nhân dân thực hiện thắng lợi, phát triển sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nhiệm kỳ 2020-2025 nhiều khó khăn, thách thức cũng như thời cơ thuận lợi, đòi hỏi, yêu cầu phải nâng cao trình độ, năng lực, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức để ”mỗi đảng viên... phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”[4], ”xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân”[5] như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn.


[1] Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, NXBCTQG, Hà Nội 2011, tr.7.

[2] Năm 2010 vẫn còn 353 đảng viên chưa biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.

[3] Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng, Văn kiện Đại hội đại biểu XIII của Đảng.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG-ST, Hà Nội 2011, tập 3, tr.219.

[5] Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG-ST, Hà Nội 2011, tập 5, tr.252.

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam bị sát hại tại Nhật Bản.

 Cảnh sát Osaka, Nhật Bản cho biết đêm 3-4 phát hiện một phụ nữ Việt Nam tử vong trong căn hộ ở quận Yodogawa, có thể bị chủ nhà người Nhật sát hại.

Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng.


Tại Họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao vào chiều 7-4, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết, theo Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Osaka, ngày 4-4-2022, cảnh sát địa phương thông báo phát hiện một thi thể được cho là nữ công dân Việt Nam tại một ngôi nhà ở quận Yodogawa, Osaka, Nhật Bản. Kết quả pháp y cho thấy nạn nhân bị sát hại vào khoảng 9 giờ sáng ngày 3-4-2022.

Ngay sau khi nhận được thông tin, Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Osaka đã chủ động trao đổi với các cơ quan chức năng sở tại và yêu cầu khẩn trương điều tra làm rõ nguyên nhân của vụ việc đồng thời liên hệ với cộng đồng người Việt Nam tại Osaka để tìm hiểu thêm thông tin. Hiện thi thể nạn nhân đã được bàn giao cho gia đình.

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Ngoại giao, Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Osaka tiếp tục theo dõi sát quá trình điều tra, tiến hành các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng sở tại và trong nước hỗ trợ thu xếp hậu sự theo nguyện vọng của gia đình nạn nhân.

Nhân đây, Phó Phát ngôn cũng gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình nạn nhân.


“Bất tuân dân sự” hay là chiêu trò kích động, chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị".

 Tác phẩm ““Bất tuân dân sự” hay là chiêu trò kích động, chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị” của tác giả Nguyễn Vũ Hoàng đăng trên Tạp chí Cộng sản đã đoạt Giải C và Giải tác phẩm xuất sắc về đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” - Giải Báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (mang tên Búa liềm vàng) lần thứ VI - năm 2021. Tạp chí Xây dựng Đảng trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.



LTS: Thực tiễn tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới cũng như tại  Việt Nam cho thấy, các thế lực phản động, thù địch đã sử dụng chiêu bài “bất tuân dân sự” để tiến hành các hoạt động chống phá, tấn công nhằm làm thay đổi tình hình chính trị của quốc gia. Thủ đoạn chống phá dưới chiêu bài “bất tuân dân sự” là nguồn gốc thai nghén các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, bạo loạn lật đổ chính quyền… tại không ít nơi trên thế giới, tạo ra những hệ quả vô cùng nghiêm trọng, những hậu quả khôn lường cho an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Bất tuân dân sự - góc nhìn, quan điểm và một số biểu hiện biến tướng

Thuật ngữ “bất tuân dân sự” lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Hen-ri Đây-vít Thơ-râu, nhà văn, nhà triết học người Mỹ, người bị chính quyền bang Ma-sa-chu-sét bắt do hành vi không đóng thuế vào cuối tháng 7 năm 1846, với nhan đề “Về bổn phận bất tuân dân sự” vào tháng 5-1849(1). Quan điểm của Thơ-râu sau đó được phát triển bởi một số học giả khác, chẳng hạn Gin-Sáp, Giáo sư chính trị học tại trường Đại học Massachusetts Dartmouth (Mỹ).

Khái niệm bất tuân dân sự đã phát triển trong một thời gian dài, được rút ra từ các giai đoạn lịch sử khác nhau và từ các nền văn hóa khác nhau. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu, đưa ra quan điểm, cách nhìn để nhận diện bất tuân dân sự. Theo Giôn-Ron, nhà triết học chính trị nổi tiếng của Mỹ trong thế kỷ XX, định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động công khai, bất bạo động, triệt để nhưng có tính chính trị trái với luật pháp nhằm mục đích thay đổi luật pháp hoặc chính sách(2). Hu-gô A-đam Bê-đâu, Giáo sư triết học của Đại học Tufts (Mỹ) định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động bất hợp pháp, được thực hiện một cách công khai, không mang tính bạo lực và thực hiện một cách cố ý, trong khuôn khổ pháp quyền và với ý định phản kháng hoặc phản đối một số luật, chính sách hoặc quyết định của chính phủ hoặc một số công chức của chính phủ(3). Ki-li và Ba-mu-lơ định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động có chủ ý, công khai và bất bạo động vi phạm luật mà người đó phải chịu trách nhiệm và chế tài(4). Xờ-mít quan niệm rằng bất tuân dân sự là một cuộc phản đối công khai, bất hợp pháp và mang tính chính trị được thực hiện chống lại nhà nước hoặc chính sách(5). Sen-đơn trong cuốn Bách khoa toàn thư về tư tưởng chính trị định nghĩa bất tuân dân sự là bất tuân hoặc vi phạm pháp luật vì các lý do đạo đức, tôn giáo hoặc các lý do khác, bởi một cá nhân hoặc một nhóm có tổ chức(6).

Bất tuân dân sự có nhiều hình thức và cách biểu hiện khác nhau. Ví dụ, có cách tiếp cận cho rằng bất tuân dân sự có 5 hình thức biểu hiện(7): Một là, tuần hành muối do Ma-hát-ma Gan-đi lãnh đạo (dẫn đầu đoàn 78 người đi bộ trong 24 ngày để phản đối chính sách độc quyền muối do chính quyền Anh áp đặt)(8); hai là, chiến dịch Extremadura  - một phong trào cải cách ruộng đất ở Tây Ban Nha; ba là, tuần hành ủng hộ và phong trào bất di chuyển ở Mỹ; bốn là, loại bỏ các doanh nghiệp không mong muốn (phong trào chống toàn cầu hóa ở Pháp); năm là, phong trào vận động không đóng thuế ở Luân đôn năm 1990.


Người biểu tình đụng độ với cảnh sát chống bạo động trong cuộc biểu tình ở Caracas, Venezuela năm 2017 - Nguồn: AFP / Getty Images

Mặc dù là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “bất tuân dân sự”, nhưng ở thời điểm ra đời, tác phẩm của Hen-ri Đây-vít Thơ-râu không gây được ảnh hưởng. Tuy nhiên, sang thế kỷ 20, tư tưởng về một cuộc “cách mạng hòa bình” của Thơ-râu được một số nhà hoạt động chính trị phát triển thành phương pháp đấu tranh bất bạo động như phong trào “Satyagraha” của Ma-hát-ma Gan-đi đấu tranh giành độc lập dân tộc cho Ấn Độ từ thực dân Anh (năm 1947); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc ở Mỹ của mục sư Mác-tin Lu-thơ Kinh (thập niên 60 thế kỷ 20); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc (chủ nghĩa A-pác-thai) ở Nam Phi của Nen-xơn Man-đê-la... Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc ra đời với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa. Từ đó, chiêu bài “bất tuân dân sự” đã bị chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế lợi dụng và từng bước trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Các cuộc “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Cộng hòa Dân chủ Đức; “cách mạng ca hát” ở các nước vùng Ban-tích (thuộc Liên Xô) vào những năm cuối thế kỷ XX; các cuộc “cách mạng màu” ở một số nước trong không gian hậu Xô-viết; “cách mạng hoa nhài” (“Mùa xuân Ả Rập”) ở một số nước Bắc Phi, Trung Đông cuối năm 2010, đầu năm 2011; phong trào biểu tình nhằm lật đổ Chính phủ Bô-li-va ở Vê-nê-xu-ê-la (từ năm 2014); phong trào “cách mạng dù” của sinh viên vùng lãnh thổ Hồng Kông (Trung Quốc) năm 2014, các cuộc biểu tình phản đối việc sửa đổi Dự luật dẫn độ ở vùng lãnh thổ Hồng Kông (Trung Quốc) vào các năm 2019 và 2020... đều có dấu ấn của thủ đoạn kích động bất tuân dân sự, nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây trở ngại đến hoạt động công quyền, thực thi công lý, gây ra những hiểm họa khôn lường, thậm chí khủng hoảng toàn diện, sâu sắc cho nhiều vùng lãnh thổ và quốc gia trên thế giới.

Ở Việt Nam, hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành “phong trào” gây nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội nếu không được nhận diện và đấu tranh kịp thời.

Các thế lực phản động, thù địch đã tiến hành nhiều hoạt động lợi dụng danh nghĩa dân chủ, phát động cái gọi là bất tuân dân sự để chống đối chính quyền, gây trở ngại cho hoạt động công quyền với nhiều hoạt động dưới nhiều dạng thức và hành động như lợi dụng việc Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng, dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước, các đối tượng phản động, thù địch đã kích động, lôi kéo người dân tham gia tuần hành, biểu tình, chống người thi hành công vụ, đập phá tài sản các trụ sở chính quyền, gây thiệt hại lớn về tài sản, kinh tế, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; vụ đình công phản đối Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 diễn ra tại một số tỉnh, thành phố; lợi dụng phản đối trạm BOT Cai Lậy ở tỉnh Tiền Giang năm 2017, trong đó một số lái xe quá khích đã đưa xe đến giữa trạm rồi bỏ đi; đốt phá Đông Đô Đại Phố ở tỉnh Bình Dương; lợi dụng sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại thềm lục địa Việt Nam tháng 5-2014 để kích động biểu tình, tuần hành, đập phá các doanh nghiệp ở 8 tỉnh, thành phố; khoét sâu, thêm tình tiết và thổi phồng các vấn đề nóng như sự cố môi trường, lũ lụt trên địa bàn một số tỉnh để kích động người dân gây mất an ninh, trật tự, đập phá tài sản; lợi dụng chống tiêu cực, tham nhũng, cưỡng chế đất đai, giải phóng mặt bằng để kích động hành vi bất tuân dân sự; lợi dụng tôn giáo để thực hiện mưu đồ xấu, công kích, chống phá... Các thế lực phản động, thù địch còn xuyên tạc trắng trợn rằng, việc xử lý những người vi phạm pháp luật là “đàn áp” những người biểu tình ôn hòa, yêu nước, kêu gọi đưa vấn đề ra Liên hợp quốc và kêu gọi các tổ chức quốc tế vào cuộc; xuyên tạc trắng trợn rằng các đạo luật trên là vi hiến, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống người dân. Nham hiểm hơn, các thế lực phản động, thù địch còn kêu gọi người dân không chỉ dùng Facebook mà dùng nhiều mạng xã hội khác để “đấu tranh”...

Lợi dụng phản đối trạm BOT Cai Lậy ở tỉnh Tiền Giang năm 2017, một số lái xe đã có những hành động quá khích, vi phạm pháp luật, nhằm gây áp lực cho trạm BOT - Ảnh: TTXVN

Không thể bác bỏ một chân lý hiển nhiên rằng, xây dựng pháp luật là công việc nội bộ của từng quốc gia, xuất phát từ nhu cầu, lợi ích của từng quốc gia

Cần khẳng định rằng, dưới góc độ một nhà nước pháp quyền, một khi đạo luật đã được ban hành thì đạo luật đó phải được tôn trọng và thực thi. Không một quốc gia nào trên thế giới lại dung túng cho những hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ, không một quốc gia nào lại cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại cho hoạt động công quyền, thực thi công lý. Đồng thời, hậu quả do việc lợi dụng “bất tuân dân sự” để lại rất nặng nề, kéo dài không chỉ ảnh hưởng về kinh tế - xã hội, mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với chính quyền. Mặt khác, việc xây dựng và thực thi pháp luật là công việc nội bộ của từng quốc gia và phải phù hợp với điều kiện của từng quốc gia. Không ai có thể phản bác điều hiển nhiên này. Nhiều nhà tư tưởng nổi tiếng thế giới cũng chỉ rõ việc nghiên cứu về quốc gia, xây dựng và thực thi pháp luật phải căn cứ vào đặc điểm, điều kiện của từng quốc gia, khu vực, dân tộc. Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, Mông-te-xki-ơ, nhà bình luận xã hội và tư tưởng chính trị nổi tiếng người Pháp, chỉ rõ: “Khi tôi nghiên cứu về con người, tôi đã đi đến kết luận rằng, những sự khác biệt của pháp luật và của đạo lý loài người không phải do họ tự vẽ ra một cách tùy tiện. Các đạo luật phải nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các đặc điểm của dân tộc vì dân tộc đó mới cần làm ra những đạo luật này. Và chỉ có những trường hợp rất đặc biệt luật của dân tộc này mới có thể thích ứng với dân tộc khác(9). Hê-ghen, nhà triết học vĩ đại người Đức, cũng khẳng định điều tương tự: “Mỗi dân tộc có chế độ nhà nước của mình; chế độ nhà nước Anh quốc là của người Anh; và nếu như người ta tự dưng muốn chuyển cho người Phổ thì điều đó cực kỳ vô lý như là quyết định chuyển Nhà nước Phổ cho người Thổ Nhĩ Kỳ. Mỗi một chế độ nhà nước chỉ là sản phẩm, là sự thể hiện tinh thần của riêng một dân tộc và của trình độ phát triển của ý thức dân tộc của họ mà thôi. Sự phát triển đó đòi hỏi một sự vận động liên tục và nhiều bước trong đó không một bước nào có thể bị xóa bỏ”(10). Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”(11). Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 khẳng định: “1. Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa...”(12).

Vì lẽ đó, việc xác định và lựa chọn ban hành đạo luật nào là quyền năng riêng của từng quốc gia. Ban hành Luật An ninh mạng là một ví dụ điển hình. Cần thấy rằng, luật (pháp luật) về an ninh mạng luôn được quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế trên toàn thế giới(13)... Luật An ninh mạng rất cần thiết không chỉ để bảo vệ an ninh quốc gia mà còn nhằm bảo vệ người dân, để có môi trường xã hội phát triển lành mạnh trên không gian mạng. Các quy định trong dự thảo Luật An ninh mạng của Việt Nam được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, với sự tham gia đóng góp ý kiến của các bộ, ngành chức năng, cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, nhiều chuyên gia, tổ chức, tập đoàn kinh tế, viễn thông nước ngoài lớn (như Facebook, Google, Apple, Amazon, Hội đồng kinh doanh Mỹ - ASEAN, Hiệp hội điện toán đám mây châu Á; các cơ quan đại diện nước ngoài như Mỹ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a, Nhật Bản... và ý kiến rộng rãi của quần chúng nhân dân; sự thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng và An ninh, sự chỉnh lý của các đại biểu Quốc hội qua 2 kỳ họp thứ 4 và thứ 5, Quốc hội khóa XIV(14). Các quy định của Luật An ninh mạng cũng phù hợp với pháp luật các nước và thông lệ quốc tế. Quy định về tội phạm mạng trong Luật An ninh mạng không phải là điều xa lạ gì, bởi lẽ không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia cũng quy định về tội phạm mạng. Theo thống kê của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), đã có đến 154 quốc gia trong tổng số 194 quốc gia thành viên UNCTAD ban hành luật pháp về tội phạm mạng(15). Các quy định của Luật An ninh mạng về bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng cũng phù hợp với xu hướng chung trên toàn thế giới về bảo vệ thông tin cá nhân. Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã ban hành Luật về bảo vệ thông tin cá nhân dưới nhiều tên gọi khác nhau như Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Bảo vệ dữ liệu, Luật Bảo vệ thông tin cá nhân, Luật về bảo vệ các mối quan hệ không công khai... Theo thống kê của UNCTAD, 128 trong tổng số 194 quốc gia thành viên của UNCTAD đã ban hành luật để bảo đảm việc bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư(16). An ninh quốc gia cũng là một ngoại lệ trong các điều ước quốc tế quan trọng về thương mại quốc tế(17). Điều này thể hiện tầm quan trọng và ý nghĩa sống còn của vấn đề an ninh quốc gia đối với tất cả các nước trên thế giới.

Lật tẩy các hành động lợi dụng quyền tự do, dân chủ để “bất tuân dân sự”, vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt động công quyền, thực thi công lý

Không thể bác bỏ một điều hiển nhiên rằng, việc các thế lực phản động, thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước ta từ nhiều phương diện khác nhau như xuyên tạc Luật An ninh mạng, xuyên tạc dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, lợi dụng việc phản đối một số chính sách, quy định pháp luật của Nhà nước ta một cách phi lý, thiếu căn cứ đã và đang là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Việt Nam, xâm hại quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội và từng người dân. Các đối tượng phản động, thù địch đã kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến pháp luật của Nhà nước, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân...

Đối với dự thảo Luật Đơn vị hành chính  - kinh tế đặc biệt, mặc dù Quốc hội đã quyết định lùi thời hạn thông qua để có thời gian bổ sung, hoàn thiện, nhưng các thế lực phản động, thù địch vẫn tung thông tin xuyên tạc, kích động, đòi phải đưa vấn đề này ra trưng cầu ý dân toàn quốc theo Luật Trưng cầu ý dân năm 2015; thổi phồng rằng không thể chỉ dừng ở đấu tranh cho một vài đạo luật mà phải thực hiện đa nguyên, đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây; kích động các đợt biểu tình, tuần hành bằng những mỹ từ mị dân như “khơi dậy lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân”, “nhiều người trong bộ máy cầm quyền thức tỉnh”...; thực hiện những chiêu trò mới như gây kẹt xe ở các đô thị, biểu tình trên mạng, hô hào các tổ chức phản động tổ chức biểu tình ở nước ngoài...


Quốc hội biểu quyết thông qua Luật An ninh mạng - Ảnh: TTXVN

Trước hết, cần thấy rõ rằng bất kỳ dự án luật nào cũng cần thực hiện đầy đủ quy trình xây dựng, ban hành. Các cơ quan có thẩm quyền xây dựng pháp luật của Việt Nam đều luôn tuân thủ quy trình đó, bảo đảm cao nhất sự tham gia của nhân dân góp ý xây dựng các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Bản thân Dự luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cũng không nằm ngoài quy trình đó. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, việc xây dựng, ban hành văn bản luật phải thông qua một quy trình rất chặt chẽ. Người dân có quyền được tiếp tục góp ý để Quốc hội hoàn thiện dự án Luật trên cơ sở góp ý của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận, các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân, lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và cơ quan, tổ chức có liên quan theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời việc góp ý kiến phải trên cơ sở tìm hiểu kỹ lưỡng dự thảo luật và có cơ sở khoa học, không tiếp tay cho những hành vi xuyên tạc, kích động, chống đối, phá hoại đất nước.

Việc xây dựng, ban hành một đạo luật trước hết phải dựa trên lợi ích của quốc gia đó và phải có cơ sở, lập luận khoa học. Không phải tự nhiên mà đạo luật An ninh mạng được ban hành ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Một điều dễ nhận thấy là an toàn thông tin đang là vấn đề nổi cộm ở không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Theo số liệu từ Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), hơn 9.300 trang web tại Việt Nam bị tấn công trong năm 2019. Theo báo cáo International Privacy Day Report 2020 của Kaspersky, Việt Nam đứng thứ 9 trên toàn cầu về mức độ bị ảnh hưởng bởi phần mềm gián điệp, với 7.216 người dùng bị tấn công vào năm 2019. Theo số liệu thống kê được ghi nhận bởi hệ thống giám sát của hãng bảo mật Mỹ SonicWall, hầu hết các hình thức tấn công đều có xu hướng gia tăng trên toàn cầu trong năm 2018. Cụ thể, số lượng các tấn công bằng mã độc gia tăng trên toàn cầu trong ba năm liên tiếp. Theo Báo cáo rủi ro toàn cầu năm 2019 của Diễn đàn Kinh tế thế giới, các cuộc tấn công an toàn, an ninh mạng hiện nằm trong số những rủi ro hàng đầu trên toàn cầu. Trong năm 2019, hệ thống CyStack Attack Map ghi nhận 563.000 cuộc tấn công vào các trang web trên toàn cầu.

Thực tiễn các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã chỉ ra một điều hiển nhiên rằng, việc hình thành các khu kinh tế đặc biệt luôn diễn ra và là hiện tượng phổ biến trên thế giới(18). Theo dữ liệu thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong vòng 30 năm, từ năm 1975 đến năm 2006, đã có sự tăng vọt số lượng SEZ và số lượng quốc gia có SEZ trên toàn thế giới(19). Nhiều quốc gia đã ban hành các luật riêng về khu kinh tế(20). Như vậy, việc hình thành các khu kinh tế đặc biệt trên thế giới không phải là hiện tượng ngẫu nhiên xuất hiện, mà đã có một quá trình hình thành lâu dài, với nhiều dạng thức khác nhau, được ghi nhận trong nhiều tài liệu của các tổ chức quốc tế lớn, và được quy định trong một đạo luật riêng biệt của quốc gia.

Pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ, nhưng không dung thứ cho hành vi lợi dụng tự do, dân chủ, “bất tuân dân sự” để vi phạm pháp luật, chống phá Đảng và Nhà nước

Các quyền tự do, dân chủ luôn là các quyền thiêng liêng, cần thiết cho cuộc sống, là một biểu hiện cho tiến bộ và là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nhưng tự do chưa bao giờ và không bao giờ là tự do chung chung, tự do vô bờ bến. Điều này được thể hiện rõ nét trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế(21). Pháp luật Việt Nam chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Ví dụ, khoản 1, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc quy định chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng cũng phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Cụ thể là, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) đề cập cụ thể trong một số điều quy định về các quyền có thể chịu sự giới hạn (Điều 4, Điều 19). Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đưa ra các giới hạn đối với quyền tự do ngôn luận theo đúng định nghĩa của nó (Điều 4, Điều 10, Điều 11).

Nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng quyền tự do ngôn luận để phát ngôn tiêu cực, thù địch trên in-tơ-nét, Ủy ban châu Âu (European Commission) đã ký Quy tắc ứng xử về chống lại lời nói có nội dung tiêu cực, thù địch bất hợp pháp trực tuyến với Google (YouTube), Facebook, Twitter và Microsoft năm 2016. Instagram, Google+, Dailymotion, Snap và Jeuxvideo.com sau đó đã tham gia Quy tắc này.

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việc bảo đảm quyền dân chủ, sự tham gia của người dân vào các hoạt động của Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, dân chủ phải gắn với kỷ cương, thượng tôn pháp luật (Trong ảnh: Cử tri thôn Lô Lô Chải, xã Lũng cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp) - Ảnh: TTXVN

Thông qua đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việc bảo đảm sự tham gia của người dân vào các hoạt động của Nhà nước và xã hội, bảo đảm quyền giám sát, phản biện xã hội của các chủ thể. Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các chủ thể, ủng hộ phản biện xã hội chân chính để hoàn thiện chính sách, pháp luật, xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật. Nhưng việc lợi dụng cái gọi là bất tuân dân sự để cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt động công quyền cần phải được ngăn chặn, đẩy lùi. Nhiều quan điểm trên thế giới cũng chỉ rõ tính trái pháp luật của hành vi bất tuân dân sự, phản bác việc lợi dụng bất tuân dân sự để kích động các hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại đến hoạt động công quyền. Pi-tơ Mai-ơ, Giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Wisconsin-Eau Claire (Mỹ), chỉ ra rằng bất tuân dân sự “gây ra mối đe dọa đối với nhà nước pháp quyền”(22). Trong một nghiên cứu trên một Tạp chí về luật của Mỹ, Ét-uốt Ma-rếc chỉ rõ: “Hành vi như vậy có thể được phân loại là bất tuân dân sự theo nghĩa là nó vi phạm một hệ thống luật có trật tự, nhưng nó cũng là hành vi không thể được bảo vệ bởi hiến pháp hoặc chế tài tư pháp bất kể mục đích của nó là gì hoặc sự bất công của các luật mà nó chống lại”(23). Trên một phân tích trên tờ Thời báo New York, Sác-lơ Phơ-ran-ken, nhà triết học người Mỹ, viết: “tôi có thể đúng khi nghĩ rằng một sắc lệnh chống đi bộ đường dài là một sự vi phạm không cần thiết đối với các quyền của tôi. Tuy nhiên, điều này không hợp lý khi tôi tổ chức một cuộc đình công khổng lồ trên những con phố tắc nghẽn giao thông trong một tuần”(24). Luật sư người Mỹ Mô-rít Lép-man, người được Tổng thống Mỹ Rô-nan Ri-gân trao tặng Huân chương Tự do Tổng thống vào năm 1981, dẫn lời Tổng thống Mỹ A-bra-ham Lin-côn, viết: “Mỗi người hãy ghi nhớ rằng vi phạm pháp luật là chà đạp lên máu mủ của cha mình, và xé bỏ hiến chương về quyền tự do của chính mình và con cái mình. Hãy để cho sự tôn kính pháp luật được hít thở bởi mỗi bà mẹ Mỹ đối với đứa con đang nói ngọng nựng nịu trong lòng mình; hãy để nó được giảng dạy trong các trường học, trong các chủng viện và trong các trường cao đẳng; hãy để nó được viết trong các sách bổ túc, sách chính tả, và trong các niên giám; hãy để nó được rao giảng từ bục giảng, được công bố trong các phòng lập pháp và được thực thi tại các tòa án”(25). Tòa án nhiều nước đều không cho phép hành vi bất tuân dân sự làm ảnh hưởng đến lợi ích chung. Phó Giáo sư luật Ri-sát Mô-lơ, Trung tâm Luật của Đại học Georgetown (Mỹ), dẫn lời của Chánh án thứ 11 của Tối cao Pháp viện Mỹ Sác-lơ Êvan Hu-gơ, viết: “duy trì cơ hội thảo luận chính trị tự do đến cùng để chính phủ có thể đáp ứng ý chí của người dân và những thay đổi có thể đạt được bằng các phương tiện hợp pháp... là một nguyên tắc cơ bản của hệ thống hiến pháp của chúng tôi”(26).

Tóm lại, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhận thức rất rõ vai trò quan trọng, thiết yếu của các quyền tự do, dân chủ của người dân với ý nghĩa là một quyền thiết thân của con người, là động lực phát triển của đất nước. Tuy nhiên, không một quốc gia nào trên thế giới lại dung thứ các hành vi lợi dụng dân chủ, cổ xúy cho các hành vi vi phạm pháp luật, gây tổn hại đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và của người dân. Nhận diện các biểu hiện lợi dụng “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị để kích động, chống phá là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong điều kiện hiện nay, không chỉ góp phần thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị và của từng người dân mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, từ đó chủ động trong việc triển khai có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn.

-------------

VIỆT NAM NHẤT QUÁN QUAN ĐIỂM KHÔNG "CHỌN BÊN" MÀ CHỌN LẼ PHẢI LỚN CỦA THỜI ĐẠI LÀ HÒA BÌNH, HỮU NGHỊ, HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN!

         Từng trải qua nhiều cuộc chiến tranh, chịu nhiều hậu quả nặng nề và đến giờ vẫn đang phải giải quyết, cho nên Việt Nam là đất nước yêu chuộng hòa bình, luôn đóng góp tích cực và hành động vì hòa bình, hợp tác, phát triển ở khu vực và thế giới.
Với mục tiêu xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, Việt Nam đã không bỏ lỡ mà bắt kịp và tích cực tham gia vào các xu thế lớn trên thế giới như xu thế thích ứng an toàn; xu thế mở cửa; xu thế phục hồi, phát triển; xu thế chuyển đổi xanh, chuyển đổi số… 
Cam kết luôn lắng nghe và tạo thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng luôn đề nghị các nhà đầu tư nâng tỷ lệ nội địa hóa, quan tâm đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ phía Việt Nam nâng cao năng lực công nghệ, quản trị, chứ không chỉ đóng góp cho Việt Nam bằng các khoản thuế hay thu nhập của công nhân.
Các đối tác quốc tế đều đánh giá cao khát vọng và các cam kết phát triển của Việt Nam, nhất là các cam kết về ứng phó biến đổi khí hậu tại COP26. Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc E. Knapper khẳng định Hoa Kỳ tin tưởng Việt Nam sẽ tham gia dẫn dắt, định hình quá trình phục hồi và phát triển sau đại dịch tại khu vực và trên thế giới. 
Nhiều đối tác quốc tế mong muốn và tin tưởng Việt Nam có thể trở thành một hình mẫu trong chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng sạch, thích ứng biến đổi khí hậu… trong giai đoạn phát triển mới hậu COVID-19./.
Môi Trường ST.

ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN QUYẾT, BỎ TU HÀNH ĐỂ THEO CÁCH MẠNG,CHỈ HUY GIÀNH CHÍNH QUYỀN Ở TUỔI 20!

         Hiện, đại tướng đã ở tuổi 100, vẫn minh mẫn và dành trọn tình yêu cho nhân dân, đất nước
Sinh năm 1922 ở Hưng Yên, ông Nguyễn Quyết (tên thật là Nguyễn Tiến Văn) được may mắn đi học. Năm 1937, xong tiểu học lúc 15 tuổi, ông lên Hà Nội tự tìm việc làm  nuôi thân và cũng để tìm gặp những người cách mạng. Công việc đầu tiên của ông là làm văn thư, phát hành Báo Đuốc Tuệ nằm trong chùa Quán Sứ, và từ 1938 tham gia tích cực vào phong trào của nhóm công nhân nhà in Báo Đuốc Tuệ.

“Chiều 18.8.1945, anh em công nhân xưởng Avia mang ô tô đi lấy vũ khí bên Gia Lâm. Khi về qua cầu Long Biên bị lính Nhật khám xét và đưa hết cả cờ cách mạng, v.ũ kh.í về giam giữ tại bộ tham mưu Nhật ở phố Phạm Ngũ Lão. Thấy sự việc có thể ảnh hưởng đến kế hoạch khởi nghĩa, chúng tôi huy động hàng nghìn công nhân kéo đến chỗ quân Nhật đòi trả người, s.úng và tiếp tục huy động quần chúng đến hỗ trợ, biến thành cuộc mít tinh lớn. Quân Nhật đưa xe tăng và binh lính ra uy h.iếp. Chúng tôi cho khênh tủ, bàn ghế và mọi thứ cồng kềnh làm chướng ngại vật dọc phố Tràng Tiền và huy động quần chúng bao vây tứ phía. Quân Nhật nhượng bộ trả cờ, hẹn hôm sau trả người và s.úng. Chúng tôi tiếp tục gây sức ép, chúng trả người, còn s.úng thì giữ với lý do “sợ Việt Minh lấy s.úng đ.ánh Nhật”. Tôi phải giải thích: “Đây là s.úng để nhân dân giành độc lập. VN sẽ không đ.ánh Nhật nếu Nhật không can thiệp vào công việc nội bộ của VN”. Giằng co mãi, 12 giờ đêm, quân Nhật mới trả cả người và s.úng”...

“Biết tôi tham gia hoạt động cách mạng, sư cụ phụ trách chùa khuyên tôi đi tu để thoát khỏi nỗi khổ trần tục, chứ đi làm cách mạng là con đường nguy hiểm”, đại tướng Nguyễn Quyết nhớ lại, và cười: “Tôi lại nghĩ muốn thoát khỏi bị áp bức bóc lột thì phải đấu tranh. Chỉ có làm cách mạng và chỉ những người cộng sản mới lật đổ chế độ cai trị của đế quốc, phong kiến”.

Cuối 1939, ông Quyết về Hưng Yên. Với danh nghĩa phóng viên Báo Đuốc Tuệ, ông đã giác ngộ và xây dựng quần chúng trong các tổ chức Thanh niên phản đế, Nông dân phản đế, Phụ nữ phản đế... Đầu 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 8.1943, Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ Hoàng Quốc Việt điều ông Nguyễn Quyết về bổ sung cho Ban Cán sự Hà Nội, với lý do “đã có thời gian hoạt động ở Hà Nội, có kinh nghiệm xây dựng cơ sở và chống địch khủng bố”...

Thời điểm này, ông Nguyễn Quyết mới 21 tuổi.

Cuối năm 1944 đầu 1945, tình hình thế giới và trong nước có nhiều thuận lợi. Tổng bộ Việt Minh kêu gọi nhân dân sắm vũ khí đuổi kẻ thù chung. Không khí cách mạng sôi sục khắp nơi, đòi hỏi Hà Nội phải chuẩn bị gấp rút. Thành ủy Hà Nội giao cho các đoàn thể xây dựng các đội tự vệ chiến đấu, phát triển mạnh các đoàn thể cứu quốc và chuẩn bị lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho khởi nghĩa.

Tại cuộc họp, Đại tướng Nguyễn Quyết rành mạch và trầm giọng: “Cuộc họp kéo dài đến gần sáng mới xong. Tôi yêu cầu các cán bộ về huy động lực lượng không phổ biến đi cướp chính quyền mà chỉ nói là đi dự mít tinh để giữ bí mật và tạo bất ngờ. Cả ngày 18.8.1945, cả Hà Nội nằm im, chờ ngày mai khởi nghĩa”...
Lúc ấy, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Quyết, 2 ngày nữa mới tròn 23 tuổi./.
Môi Trường ST.

NHỮNG KẺ GIẢ DANH VÌ DÂN VÀ "VIÊN ĐẠN BỌC ĐƯỜNG"!

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược của các nước đế quốc và thế lực phản động quốc tế, sử dụng như một phương tiện, công cụ để tấn công các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và những quốc gia tiến bộ nhằm thay đổi thể chế chính trị-xã hội từ bên trong theo hướng có lợi cho họ, bằng biện pháp phi quân sự là chủ yếu, thực hiện chiến thắng chủ nghĩa xã hội (CNXH) không cần chiến tranh. Chiến lược “diễn biến hòa bình” được Đảng ta xác định là một trong 4 nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ.

Thủ đoạn của những kẻ giả danh vì dân, vì nước
Trên các diễn đàn, hội nhóm thời gian qua, chúng ta chứng kiến không ít luận điệu rêu rao rằng học thuyết Mác-Lênin là "lạc hậu", là "sai lầm". Họ tỏ ra tiếc nuối, hối hận vì đi theo “con đường CNXH” của Mác và phát đi những tiếng kêu lạc lõng kêu gọi xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Khi đất nước diễn ra các sự kiện quan trọng như đại hội đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, chúng ta lại thấy “một đội quân bàn phím” tán phát nhiều tài liệu với những luận điệu xuyên tạc, giả danh vì dân, vì nước để đòi: Xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013; đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; đòi “phi chính trị hóa quân đội và công an”... Hay xuyên tạc rằng: “Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội nước ta là không chính danh, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”; “cuộc bầu cử chỉ do Đảng độc diễn, người dân không có vai trò gì”... Thực chất, đây là những thủ đoạn đòi xây dựng một thiết chế bầu cử theo kiểu phương Tây...

Ngoài ra, chúng lợi dụng một số sai phạm của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cấp cao, rồi hồ đồ lớn tiếng vu khống, dựng chuyện. Khi có những sự kiện ở khu vực, thế giới ảnh hưởng đến Việt Nam, chúng lại lên mạng xã hội, tập hợp những phần tử cơ hội, bất đồng chính kiến kêu gọi tuần hành phản đối, gây sức ép đối với hệ thống chính trị các cấp, làm rối loạn trật tự, an toàn xã hội...

Những việc làm, thủ đoạn trên của các thế lực thù địch trước hết nhằm tìm mọi cách xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tư tưởng của Đảng ta để thay thế bằng tư tưởng tư sản. Chúng xác định rõ, chính trị, tư tưởng là mặt trận hàng đầu, là khâu đột phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam trong tình hình hiện nay. Do vậy, đây là mục tiêu nhất quán của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống CNXH mà các thế lực thù địch hướng tới.

Thứ hai, chúng muốn xóa bỏ vị trí, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Về thực chất, chúng mưu đồ hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nhen nhóm lực lượng phản động chống đối để giành quyền thống trị xã hội cho giai cấp tư sản.

Ba là, chúng muốn gây mất ổn định về chính trị ở nước ta. Chúng tác động vào những cán bộ, đảng viên thiếu rèn luyện, tu dưỡng, từng bước làm tha hóa họ, dùng “cộng sản diệt cộng sản”, “cộng sản con diệt cộng sản cha”. Chúng không tiếc công sức và tiền bạc để thực hiện những hành vi lén lút, lôi kéo những người có chính kiến bất đồng, chống CNXH, chống sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dùng họ như một “con rối chính trị” trong tay để thực hiện mưu đồ về chính trị.

Với quần chúng nhân dân, chúng kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, tạo tâm lý hoài nghi, giảm dần niềm tin vào Đảng và hệ thống chính trị ở nước ta, gây mâu thuẫn nội bộ, làm mất sự đồng thuận xã hội.

Bốn là, bằng nhiều thủ đoạn bao vây, cấm vận kinh tế, lợi dụng các tổ chức quốc tế, tác động từng bước, làm suy yếu tiềm lực kinh tế, xâm nhập, chi phối, lũng đoạn kinh tế-tài chính, chuyển hóa nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta chệch hướng theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Năm là, xóa bỏ nền văn hóa, đạo đức, lối sống của chế độ XHCN, nhường chỗ để văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản xâm nhập vào. Từ đó làm tha hóa phẩm chất, đạo đức con người, làm băng hoại nhiều giá trị truyền thống của dân tộc ta, dẫn đến rối loạn an ninh chính trị, trận tự an toàn xã hội.

Sáu là, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, mục tiêu là loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội và công an, hòng tạo ra sự bất ổn chính trị trong nước và cao hơn là sụp đổ chế độ...

Sách “Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” do Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Dương (chủ biên) nhận định: Thực chất của “diễn biến hòa bình” và chống “diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa giai cấp vô sản và tư sản, được biểu hiện ở sự đối kháng giữa hai hệ thống chính trị thế giới: XHCN và tư bản chủ nghĩa. Chừng nào còn tồn tại hai hình thái kinh tế-xã hội đối lập nhau, còn đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và tư sản thì nhân loại tiến bộ phải phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình".

Vô hiệu hóa “viên đạn bọc đường”

Để phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” hiệu quả thì Đảng ta phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp như: Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; làm tốt công tác dự báo, nắm chắc diễn biến thông tin, chủ động định hướng tư tưởng trong mọi tầng lớp nhân dân; lấp những “khoảng trống” thông tin trên mạng xã hội, đặc biệt là ở cơ sở, vùng sâu, vùng xa theo phương châm “nơi nào nhân dân tiếp cận thông tin, nơi đó có cán bộ định hướng thông tin”.

 Trong nhiều giải pháp triển khai, theo chúng tôi, công tác phòng, chống tốt “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp mang tính then chốt. Lênin-nhà tư tưởng vĩ đại, người sáng lập nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới đã căn dặn những người cộng sản: Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta.

Nói chuyện với cán bộ trước khi vào tiếp quản Thủ đô Hà Nội năm 1954, nhiều người thắc mắc không biết về dưới xuôi rồi thì lương bổng thế nào, công tác sau này ra sao? Bác Hồ đã bổ sung thêm một điều đáng thắc mắc mà không ai nêu ra: Khi về xuôi thì đạo đức và nhân cách của mình phải thế nào? Người căn dặn: Bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không trông thấy.

Đất nước ta đang mở cửa, hội nhập kinh tế sâu rộng, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng đem lại cho đất nước ta, nhân dân ta những thành tựu to lớn. Nhưng mặt trái của nền kinh tế thị trường khiến không ít cán bộ, đảng viên của Đảng sa ngã, đánh mất mình.

Nhận rõ nguy cơ này là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch thực hiện thành công chiến lược “diễn biến hòa bình”, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, Đảng ta chỉ rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nghị quyết chỉ rõ suy thoái về tư tưởng chính trị trong đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta kiên quyết xử lý những cán bộ thoái hóa, biến chất, dẫu chúng ta vô cùng đau xót khi đồng chí mình bị kỷ luật! Song vì sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, sự thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng và ý nguyện của nhân dân, Đảng, Nhà nước ta phải xử lý nghiêm khắc những cán bộ vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước với phương châm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.

Cựu chiến binh Nguyễn Viết Phiên, ở thị trấn Ngọc Lặc, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa tâm sự: “Nhìn thẳng sự thật, nhiều lãnh đạo từ cấp cơ sở đến Trung ương rất năng động, sáng tạo, luôn đau đáu lo cho dân được ấm no, hạnh phúc, đất nước ngày một phồn vinh. Nhưng có một bộ phận cán bộ chỉ lo vun vén cho cá nhân, gia đình, “nhóm lợi ích” của mình. Số cán bộ này, cái gì có lợi cho mình thì ra sức làm, ra sức bảo vệ; cái gì không thu được lợi cho mình thì thờ ơ, phó mặc. Cho nên, cán bộ dù ở vị trí nào cũng phải luôn nghĩ cho dân, cho nước là trên hết, trước hết. Đó là niềm mong mỏi chung của toàn Đảng, toàn dân ta đối với đội ngũ cán bộ các cấp”.

Do vậy, cuộc chiến chống "viên đạn bọc đường" phải bắt đầu từ công việc tự soi, tự sửa, giống như việc đánh răng, rửa mặt hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên; phải phòng ngừa, ngăn chặn ngay những cám dỗ danh vọng, quyền lực xung quanh mình, giữ cho mình thực sự trong sạch. Khi Đảng ta đã lựa chọn, xây dựng được một Ban Chấp hành Trung ương mạnh, Bộ Chính trị mạnh, cán bộ chủ chốt mạnh, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ thì chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động không đạt mục đích.

Thay lời kết

Khẳng định rằng: Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ rõ có quan hệ chặt chẽ và nguy cơ nào cũng nguy hại, đều phải đấu tranh, ngăn chặn đẩy lùi, không thể chủ quan xem thường bất cứ nguy cơ nào. Muốn đẩy lùi các nguy cơ thì Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ, bài bản và phải có những giải pháp rất tích cực, trong đó, xây dựng hệ thống thể chế, pháp luật và chế tài đồng bộ, đặc biệt là kiểm soát quyền lực, chế tài xử lý nghiêm minh kết hợp với giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân là trọng tâm để khắc phục các nguy cơ mà Đảng chỉ ra.

Các thế lực thù địch luôn luôn muốn thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Đảng ta, chế độ ta. Thế nhưng, bằng sự đoàn kết, vững vàng, bản lĩnh chính trị cao, dựa trên trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân thì không thế lực nào có thể ngăn cản con đường phát triển của đất nước chúng ta.

“...nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường XHCN, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân”. (Trích phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng)./.

Yêu nước ST.

BẮT RỒI.

Ông chủ của Tân Hoàng Minh.

Giờ thì nổi đám, nổi đình hẳn nha.

Lừa đảo chiếm của người ta.

Công an vào cuộc điều tra, bắt rồi.


Tiền tài, danh vọng hỡi ôi!

Thói đạo đức giả tội đời, đắng cay.

Đại za xếp hạng mặt dày.

Nhà lao mở cửa từ nay đón chào.

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2022

ĐẤU TRANH CHỐNG ÂM MƯU ĐÒI "CHUYỂN ĐỔI THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ" Ở VIỆT NAM!

         Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam.
 
Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Sự nguy hại khôn lường của âm mưu đòi “đa nguyên, đa đảng”
Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!).
Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.

Kiên trì giữ vững
“linh hồn, mạch sống” của Đảng
Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện nay, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng.
Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.

Bảo vệ đường lối
cách mạng, khoa học của Đảng
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Những năm cuối thập niên 1930, trước sự chống phá của bọn Trotsky, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Năm 1939, trong ý kiến gửi các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Đối với bọn Trotsky, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”.
Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam “không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930), Luận cương chính trị tháng 10-1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng CNXH; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.
Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam": “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”.
Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.

Khẳng định nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Thực tiễn lịch sử 92 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn.
Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại:
Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH.
Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH: “Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ 20, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá”(4). Với những thành quả đạt được: “Chúng ta tự hào về dân tộc ta-một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta-Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện-một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân”.
Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, quy mô nền kinh tế tăng từ 26,88 tỷ USD năm 1986 lên 271,2 tỷ USD năm 2020; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 182USD năm 1990 lên 2.779USD năm 2020. Sau 25 năm (1995-2020), Việt Nam đã làm được kỳ tích, đưa nền kinh tế tăng gấp 10 lần cả về quy mô và thu nhập bình quân trên đầu người, tăng 21 hạng về quy mô nền kinh tế và tăng 54 hạng về thu nhập đầu người trên bảng xếp hạng các quốc gia.
Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam 92 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Đồng thời khẳng định một chân lý: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.
Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ./.
Yêu nước ST.

CĂNG VÀ NÓNG: LIỆU CÓ PHẢI MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY TRỪNG PHẠT NHÂN QUYỀN CÁC QUỐC GIA VOTE CHỐNG VÀ TRUNG LẬP TẠI HỘI NGHỊ LOẠI NGA RA KHỎI HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC?

     Tờ Human Right Watch cho biết, Joe Biden đã thảo luận với các nhà lãnh đạo phương Tây tiến hành áp đặt các lệnh trừng phạt nhân quyền đối với các quốc gia bỏ phiếu chống, trung lập trong hội nghị loại Nga ra khỏi hội đồng nhân quyền.

Sau cuộc bỏ phiếu, ông Joe Biden được cho là đã tuyên bố những quốc gia bỏ phiếu chống, trung lập là kẻ thù của nền dân chủ nhân quyền. 

Các chuyên gia phỏng đoán các lệnh trừng phạt sẽ bao gồm việc hạn chế tiếp cận với nền dân chủ, hạn chế các gói viện trợ nâng cao dân chủ, nhân quyền, sẽ bị chấm điểm đánh giá thấp về nhân quyền dân chủ.... 

Hiện có tới 82 quốc gia bỏ phiếu chống, trung lập tại nghị quyết loại Nga ra khỏi Hội đồng nhân quyền. Một số quốc gia đáng kể tên trong danh sách trên là Trung Quốc, Iran, Việt Nam, Pakistan, Bangladesh, Triều Tiên, Indonesia, Singapore, Nigieria...

Pha "giải pháp" nhân quyền cực đỉnh: Nhân danh nhân quyền để chống lại các quyền! Mọi người nên nhớ, Hồi năm 1979, Việt Nam đánh Khơme đỏ LHQ cũng chả là cái thá gì với Việt Nam, Hồi đó ta nghèo rớt mồng tơi, 20 năm Mỹ xâm lược đất nước về số mo cả về kinh tế, cơ sở hạ tầng, Trung Quốc nuôi dưỡng tư tưởng thù nghịch mang 600.000 quân chiếm đánh biên giới phía Bắc... Ngàn cân treo sợi tóc, 5 anh HĐBA thì chỉ có Nga (Liên Xô) ủng hộ và thành viên LHQ chỉ có Cuba và 1 số nước ủng hộ Việt Nam. Ít ra là người Việt Nam cũng nhìn được như thế. Còn bây giờ, Việt Nam nhìn vào lẽ phải của thời đại chứ không nhìn vào Mỹ cà phương Tây hay Trung Quốc. 

Còn nhìn vào lẽ phải của thời đại thì chúng ta hãy nhìn vào Tunisia, hay Iraq, Libya, Syria... để lấy làm bài học. Còn Mỹ và phương Tây chỉ là bánh vẽ nhân quyền, lợi dụng nhân quyền để sản xuất và bán vũ khí thì nhân quyền nằm ở chỗ nào???
Yêu nước ST.