Thứ Hai, 11 tháng 4, 2022

Tái diễn luận điệu sai lệch về phòng, chống COVID-19 trong giai đoạn mới

 

Mặc dù không nắm rõ chính sách phòng, chống dịch COVID-19 của Đảng, Nhà nước ta cũng như không tham gia đóng góp công sức vào công cuộc chống dịch gian nan, vất vả của mọi tầng lớp trong xã hội, tuy nhiên, một số trang tin, tài khoản mạng xã hội, điển hình như Đài Á châu Tự do (RFA) đăng tải nhiều bài viết sai lệch, phiến diện về công tác phòng, chống dịch. Những bài viết này còn hướng lái dư luận, kéo theo đó là hiệu ứng đám đông, “a dua” trên mạng xã hội khiến cho người đọc hiểu sai lệch về chính sách phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mỗi khi Chính phủ hay các bộ, ban, ngành đưa ra chính sách, chủ trương mới về phòng, chống dịch COVID-19, dù chưa hiểu rõ và cũng không nắm chắc các cơ sở đề xuất về các chính sách đó nhưng nhiều đối tượng chống đối chính trị, đối tượng phản động, các trung tâm truyền thông thiếu thiện chí lại nhanh chóng đưa ra các quan điểm trái chiều, sai lệch, gây phân tâm dư luận.

Tại phiên họp của Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 ngày 5/3/2022, Bộ Y tế đã đề xuất tạm dừng thông báo số ca nhiễm hằng ngày để tránh gây hoang mang. Và đây cũng là đề xuất được dư luận đặc biệt quan tâm, trong đó nhiều chuyên gia về lĩnh vực y tế cũng đã được báo chí trao đổi và thông tin cụ thể tới dư luận người dân. Ngay sau khi Bộ Y tế đưa ra đề xuất thì trên website của RFA đăng bài viết cho rằng “Số ca nhiễm COVID-19: Dừng công bố nhưng đừng bí mật, giấu giếm”. Bài viết này đã lập luận, đưa ra nhiều quan điểm không trung thực với tình hình thực tế dịch bệnh hiện nay ở nước ta, trong đó trích dẫn phát ngôn của một số người nhằm cố tình hướng lái dư luận, chỉ trích về chính sách phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Bài viết vu cáo: “Ở Việt Nam thì mọi chủ trương công bố hay không công bố (số ca nhiễm COVID-19) thì nó thuộc về vấn đề chính trị, chứ không phải vấn đề chuyên môn. Ngành y chỉ là một ngành chuyên môn, họ công bố nhiều hay ít, công bố đúng sự thật hay công bố khác đi đều có chỉ đạo của lãnh đạo đảng CSVN...”. Bài viết được chia sẻ trên mạng xã hội facebook, nhiều đối tượng chống đối chính trị đã vào “a dua”, cổ súy để nhằm tăng “độ tin cậy” cho nguồn thông tin, từ đó đánh lạc hướng dư luận, vu khống chính sách phòng, chống dịch COVID-19 của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Một số tài khoản mạng xã hội facebook của các đối tượng chống phá Nhà nước tìm cách miệt thị: “Chế độ cộng sản không bao giờ làm việc minh bạch, còn người dân thì sẽ mãi trượt dài trong những bí mật ấy”; “Bây giờ họ cho nhiễm tràn lan rồi, các công ty F0 không triệu chứng vẫn đi làm bình thường, các cháu nhỏ vẫn đi học ở nhiều nơi, đơn cử như Sài Gòn không đi học thì bị đuổi”… Rồi nhiều bình luận vu cáo, giờ người dân nên tự mình lo lấy, dịch bệnh đã “bung, toang” không trông đợi gì ở Đảng, Nhà nước. Các quan điểm mà RFA đưa ra dường như đã có một ekip của các phần tử chống phá phụ họa để tạo nên hiệu ứng đám đông và đó cũng là lý do tại sao có một số người  bị các đối tượng này lôi kéo vào tư tưởng chống phá chế độ, trở thành con rối bị tiêu khiển. Cần thấy rằng trước đó, cũng trên RFA và nhiều trang mạng khác đã chỉ trích việc Bộ Y tế thống kê số ca nhiễm hiện nay là lỗi thời, cho rằng đó là sự bảo thủ của Nhà nước. Nay khi quan điểm ngừng thống kê được đưa ra, cũng chính họ lại nói ngược lại! Thực tế, việc suy diễn, bôi nhọ công tác phòng, chống dịch bệnh là mảnh đất mà các đối tượng thù địch, chống phá ra sức lợi dụng từ hơn 2 năm nay, kể từ khi dịch bệnh xuất hiện, bùng phát. Ở mỗi giai đoạn, các đối tượng lại mở các “chiến dịch” nhắm vào những vấn đề nóng, nổi cộm để hướng lái dư luận, để người dân có suy nghĩ, quan điểm không đúng về Đảng, Nhà nước, gây sự chia rẽ, mất niềm tin.

Đáng nói, một số suy diễn cho rằng, việc bí mật, giấu giếm thông tin hay công bố bao nhiêu ca nhiễm là “vấn đề chính trị chứ hoàn toàn không phải thuộc về chuyên môn”. Cách suy diễn vấn đề như vậy là sai trái theo tư duy chủ quan của một vài cá nhân có động cơ xấu. Từ trước đến nay, RFA cùng một số kênh truyền thông khác ở hải ngoại như VOA, RFI, được lập nên với mục đích thúc đẩy nhanh chiến lược “diễn biến hòa bình”, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Với động cơ, mục đích đó, họ sẵn sàng bất chấp bịa chuyện, biến không thành có, đổi trắng thay đen và không bao giờ cảm thấy có lỗi khi nói sai sự thật. Nhiều bài viết đăng tải lại của những cá nhân thù địch, chống phá Việt Nam, phần lớn những bài này thông qua hư cấu, thu thập thông tin tài liệu một chiều để rồi dựng lên các sự việc không trung thực, suy diễn, bôi nhọ nhằm gây dư luận xấu về tình hình chính trị, xã hội ở Việt Nam.

Trở lại việc Bộ Y tế báo cáo Thủ tướng Chính phủ xin ý kiến về vấn đề tạm dừng việc thông báo số nhiễm SARS-CoV-2 hàng ngày vào ngày 5/3 vừa qua xuất phát từ nhiều lý do. Trong đó, đề xuất này nhằm tránh gây hoang mang cho người dân, vì đây chỉ là 1 trong 8 chỉ số để đánh giá tình hình cấp độ dịch mà chưa phản ánh đúng bản chất tình hình dịch bệnh. Việc cân nhắc để đưa ra ý kiến dựa trên khả năng chuyên môn, công khai, minh bạch và các ý kiến đều được bàn bạc kỹ lưỡng trước khi quyết định đề xuất Thủ tướng Chính phủ và đồng thời không làm ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch hiện nay ở nước ta. Hơn nữa, nhiều chuyên gia trên lĩnh vực y tế cũng đưa ra các ý kiến khách quan và được người dân hưởng ứng về vấn đề này.

Công tác phòng, chống dịch COVID-19 được Đảng, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm và là vấn đề đặt lên hàng đầu, xuyên suốt kể từ khi dịch bệnh xuất hiện. Ở mỗi giai đoạn của dịch bệnh, các chính sách đó lại được xem xét thay đổi phù hợp với bối cảnh, tình hình thực tế, đáp ứng linh hoạt vừa phòng, chống dịch vừa phát triển kinh tế - xã hội. Những thành công về công tác phòng, chống dịch cùng với việc phổ cập vaccine ngừa COVID-19 đã tạo ra môi trường sống thích ứng an toàn với dịch  bệnh. Rõ ràng, tất thảy những luận điệu mà các trung tâm truyền thông thù địch đưa ra đều với mục đích xấu nhằm tạo ra làn sóng dư luận đi ngược lại với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đó cũng là lời cảnh tỉnh cho người dùng mạng khi tiếp cận với các nguồn thông tin, cần có sự tỉnh táo nhận diện, kiểm chứng, không cổ súy, hùa theo quan điểm sai trái, nguy hại…

Sự vu khống trắng trợn

 

Thời gian gần đây, lợi dụng vụ việc Dương Văn Mình (người tự nhận là "con của Chúa Trời" lập ra cái gọi là "đạo Dương Văn Mình" - tổ chức đã gieo rắc bao nỗi khổ đau của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc), mắc bệnh nặng và mất vào ngày 11-12-2021, các tổ chức phản động trong và ngoài nước đã đồng loạt hô vang luận điệu “chính quyền Việt Nam” đàn áp tôn giáo, cấm đoán sinh hoạt tín ngưỡng. Đó tiếp tục là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch chống phá Đảng, chính quyền khi tung hô một tổ chức bất hợp pháp luôn có động thái manh nha lập nhà nước riêng, đòi li khai tự trị tách ra khỏi cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Có thể nói, Dương Văn Mình là “cơn gió độc” gây bao nhiêu ác mộng cho đồng bào dân tộc H’Mông. Chính y và đồng bọn là những kẻ chọc gậy vào bánh xe phát triển của chính dân tộc mình, gây nên cảnh bao mất nhà, mất cửa khốn cùng của những kiếp người "nhẹ dạ cả tin" . Y đã ngấm ngầm bịa đặt, in ấn và phát tán tài liệu, nhằm tìm kiếm sự giúp từ bên ngoài, vu khống chính quyền Việt Nam đàn áp tôn giáo, cưỡng chế sự tự do tín ngưỡng. Và từ đây, vấn đề Dương Văn Mình đã trở thành “miếng mồi béo bở” để các thế lực thù địch trong và ngoài nước ra sức chống phá Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đàn áp người DTTS...

Thậm chí, sau cái chết của Dương Văn Mình, sự “nổi dậy” của các diễn đàn như RFA, VOA, RFI… những cái tên có tiếng trong “làng” phản động lại càng trở nên mạnh mẽ với những luận điệu như chính quyền đang nói dối về đạo Dương Văn Mình, chính quyền xâm phạm thi thể Dương Văn Mình, Việt Nam lại đàn áp tôn giáo, cấm đoán tự do tín ngưỡng…

Nhìn vào những con số dưới đây, có thể khẳng định, tổ chức do Dương Văn Mình lập ra là một thứ “tà đạo” chứ không phải một tổ chức tôn giáo hợp pháp, đem cái nhìn văn minh đến cho nhân loại như những gì đã được rao giảng.

Theo số liệu thống kê của các địa phương về quy mô ảnh hưởng của "tà đạo Dương Văn Mình” là tương đối lớn. Tính đến năm 2017 tổng số người Mông tham gia theo Dương Văn Mình là 1.160 hộ/6.613 người, trong đó: Thái Nguyên: 174 hộ/880 người, ở 8 xã của 3 huyện; Bắc Kạn: 109 hộ/ 567 người ở 6 xã của 3 huyện; Cao Bằng: 389 hộ/ 2218 người ở 13 xã của 4 huyện; Tuyên Quang: 488 hộ/ 2948 người ở 10 xã của 5 huyện. Đáng chú ý, trong số đồng bào Mông theo tà đạo Dương Văn Mình có cả cán bộ, đảng viên... Số “nhà đòn” đã xây dựng ở các địa phương là: 22 chiếc, trong đó: Thái Nguyên: 4 chiếc; Bắc Cạn: 5 chiếc (đã tháo dỡ 2 chiếc); Cao Bằng: 10 chiếc (đã tháo dỡ 2 chiếc); Tuyên Quang: 3 chiếc.

Ngoài ra, tổ chức của Dương Văn Mình đã có nhiều hoạt động trái pháp luật, mặc cả, chống đối chính quyền trong nhiều năm, nhất là đã đe dọa, ép buộc một số người không nhận thẻ cử tri, không đi bầu cử Quốc hội và HĐND nhiệm kỳ 2016-2021. Theo thống kê của 4 tỉnh, đã có 641 hộ/1.863 đối tượng là người Mông theo tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình không tham gia bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp ngày 22-5-2017. Đây là hành động vi phạm pháp luật nghiêm trọng, cấm đoán một bộ phận người Mông từ bỏ quyền công dân thiêng liêng của mình.

Ngoài ra, Dương Văn Mình còn trực tiếp đến các địa bàn gặp gỡ đối tượng cốt cán để bàn bạc, chỉ đạo dựng “ngôi nhà chung”, chuẩn bị tổ chức “Tết chung”, móc nối với các lực lượng bên ngoài, quyên góp tiền để tổ chức các hoạt động.

Trong thời gian qua, đội ngũ cốt cán của Dương Văn Mình có ý đồ mở rộng tổ chức hoạt động ra các tỉnh ở khu vực và các tỉnh có người Mông sinh sống trong cả nước nhằm tập hợp lực lượng. Để ngăn chặn ý đồ nguy hiểm này, chính quyền các địa phương đã tăng cường công tác tuyên truyền, vận động đồng bào Mông.

Khi chính quyền tiến hành cưỡng chế, tháo dỡ “nhà đòn”, giải tán việc tổ chức “Tết chung”, sinh nhật Dương Văn Mình, lễ kỷ niệm “Ngày thành lập tổ chức Dương Văn Minh”… thì số đối tượng cốt cán đã quá khích kích động, xúi giục người dân tập trung đông người gây cản trở an ninh trật tự, chống đối chính quyền cơ sở, vu cáo cán bộ đánh người, ngăn cấm không cho con, em đi học, không nhận hỗ trợ xoá đói, giảm nghèo, lôi kéo khiếu kiện, tái dựng “nhà đòn”.

Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Minh đã tổ chức cho đồng bào Mông về Hà Nội khiếu kiện đến các cơ quan Trung ương và liên kết với các linh mục công giáo cực đoan ở Nhà thờ Thái Hà và được sự tung hô của các thế lực thù địch thông qua các bản tin tại các đài phát thanh, truyền hình của RFA, RFI, BBC.

Thực chất của vấn đề Dương Văn Mình là tổ chức bất hợp pháp đã được các thế lực thù địch lợi dụng gắn vấn đề dân tộc, tôn giáo để tạo “ngòi nổ” vận động một bộ phận đồng bào Mông đi ngược lại chính sách, pháp luật của Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết giữa các dân tộc. Vì vậy, hệ thống chính trị các cấp ở các địa phương bị ảnh hưởng đã phải đề ra nhiều giải pháp nhằm xóa bỏ tận gốc, không để tổ chức này phát triển, nhưng đến nay nó vẫn cứ âm ỉ tồn tại với sự tham gia của hơn 8.000 người Mông tại 5 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang.

Đặc biệt hiện tại, tại một số địa phương, vấn đề Dương Văn Mình đã không được xử lý triệt để vô tình tạo nên những điểm nóng về an ninh trật tự vào tiếp tục bị các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền chống phá, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và mới đây nhất là việc lợi dụng cái chết của Dương Văn Mình để kích động một bộ phận người Mông tham gia tụ tập đông người trái pháp luật.

Để giải quyết triệt để tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, các địa phương bị ảnh hưởng cần phải thực hiện nhất quán quan điểm của Đảng về công tác tôn giáo, "cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng". Công tác tôn giáo là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị nên hệ thống chính trị các cấp ở các địa phương cần tăng cường hiệu quả công tác dân vận, tuyên truyền, vận động, thuyết phục, giáo dục một bộ phận đồng bào dân tộc Mông bị ảnh hưởng bằng các giải pháp cụ thể, thiết thực./.

Thủ đoạn lợi dụng vụ án Nguyễn Phương Hằng để chống phá Đảng, Nhà nước

 

Ngày 24/3, ngay sau khi Công an TP Hồ Chí Minh đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, sinh năm 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam, trú tại 17-19 Ngô Đức Kế, phường Bến Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng để xuyên tạc, hướng lái bản chất vụ việc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước.

Một số tổ chức, hội nhóm phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông hải ngoại vốn thiếu thiện chí với Việt Nam như RFA, RFI, VOA… đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, sai trái. Điển hình trên mạng facebook của Việt Tân vu cáo: “Công an sử dụng Điều 331 để khởi tố bà Hằng là sai trái”, rồi suy diễn thành việc “doanh nhân đối đầu với thế lực chính trị như việc trứng chọi đá”. Bài viết đưa ra luận điệu hết sức lố bịch rằng: “Ở Việt Nam này luật pháp không tồn tại”, “quyền tự do dân chủ bị bóp nghẹt”...

Những hành vi trên của một số tổ chức, cá nhân thù địch, phản động không nằm ngoài các hoạt động chống phá Việt Nam, các đối tượng vin vào việc cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, bắt tạm giam bị can Nguyễn Phương Hằng để hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam; đả phá, phỉ báng chính quyền các cấp, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, tiến tới quy kết, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Nguy hại hơn, các thế lực thù địch, phản động còn cổ xúy, xúi giục, thậm chí ca ngợi, tán dương các hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ để bôi nhọ, lăng mạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của các tổ chức, cá nhân, gây tổn hại đến truyền thống văn hóa, thuần phong, mỹ tục của dân tộc; làm giảm vị thế, uy tín cũng như hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Đối với vụ án liên quan đến bị can Nguyễn Phương Hằng, theo điều tra ban đầu, Công an TP Hồ Chí Minh xác định, từ tháng 3/2021 cho đến trước khi bị bắt tạm giam, bà Nguyễn Phương Hằng đã thông qua nhiều tài khoản Youtube, Facebook, Tiktok, phát ngôn trực tiếp qua mạng internet, đưa các thông tin chưa được kiểm chứng, xúc phạm đến uy tín, danh dự của nhiều tổ chức, cá nhân, gây bất bình dư luận. Hành vi của bà Nguyễn Phương Hằng vừa xâm phạm danh dự, uy tín của các công dân, vừa ảnh hưởng xấu đến truyền thống văn hóa dân tộc, gây bất bình trong dư luận.

Việc cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, bắt tạm giam đối với bị can Nguyễn Phương Hằng về hành vi “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331 Bộ luật Hình sự để điều tra, làm rõ hành vi phạm pháp là tuân thủ theo quy định của pháp luật, không có chuyện chính quyền các cấp “bóp nghẹt quyền tự do dân chủ” như luận điệu của các thế lực xấu.

Hiện nay, việc mỗi người thiết lập và sử dụng các tài khoản mạng xã hội là xu thế tất yếu. Pháp luật luôn bảo vệ việc biểu đạt tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của bản thân trên tinh thần xây dựng, thượng tôn pháp luật, theo đúng chuẩn mực đạo đức, truyền thống văn hóa của dân tộc. Đảm bảo điều đó sẽ thúc đẩy sự phát triển các lĩnh vực đời sống xã hội. Nhưng ngược lại, những tổ chức, cá nhân sử dụng mạng xã hội với mục đích xấu, động cơ không trong sáng, lấy cớ quyền tự do dân chủ của mình mà lại xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân khác hay xâm phạm đến tổ chức, xâm phạm đến Nhà nước thì đều phải chịu các chế tài tương ứng. Mặt khác, mạng xã hội cũng là nơi các thế lực thù địch, phản cách mạng, phần tử cơ hội chính trị sử dụng để thực hiện những thủ đoạn xấu nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, do đó, cần sự tỉnh táo để không bị lôi kéo, kích động./.

Đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước phải gắn với bảo vệ các giá trị chuẩn mực của luật pháp quốc tế

 

Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước phải được thực hiện trên tinh thần độc lập, tự chủ. Việt Nam luôn nhất quán quan điểm không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, căn cứ vào tình hình, điều kiện cụ thể, “Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”. Việc giải quyết các tranh chấp, bất đồng được thực hiện theo phương châm kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình (đàm phán, trọng tài, tòa án quốc tế...) trên cơ sở luật pháp quốc tế. Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích chiến lược của đất nước gắn liền với cuộc đấu tranh bảo vệ các chuẩn mực của luật pháp quốc tế. Kêu gọi sự ủng hộ, đồng thuận của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên tinh thần luật pháp quốc tế.

Trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, tiếp tục đẩy mạnh, không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu mối quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước không chỉ sử dụng thuần túy sức mạnh nội sinh của quốc gia - dân tộc, mà cần kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong đó, sức mạnh quốc tế chỉ được phát huy cao độ khi Việt Nam đứng vững trên lập trường chính nghĩa, dựa trên luật pháp quốc tế, phù hợp với giá trị chung mà nhân loại cùng quan tâm, như: Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, các lợi ích chiến lược của đất nước phù hợp với luật pháp quốc tế; phát huy vai trò, trách nhiệm trong bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới; mở rộng hợp tác với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực, quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “đẩy mạnh đưa quan hệ với các đối tác, đặc biệt là đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững, tăng cường đan xen lợi ích; xử lý linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn”.

Sử dụng hiệu quả các biện pháp chính trị ngoại giao tại khoản 1, Điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc: “Các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình”. Đồng thuận, nhất quán với quan điểm đó, nhân kỷ niệm 53 năm Ngày thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN (8-8-1967 - 8-8-2020), Bộ trưởng Ngoại giao của 10 nước ASEAN đã ra Tuyên bố về việc duy trì hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á: “Kêu gọi tất cả các nước kiềm chế, không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc leo thang tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình, ổn định, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực và giải quyết các khác biệt và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”. Tôn trọng luật pháp quốc tế là cách thức hữu hiệu nhằm ngăn ngừa xung đột cũng như tìm kiếm những giải pháp lâu bền cho tranh chấp, xung đột. Theo đó, Việt Nam cần tiếp tục ủng hộ mọi nỗ lực thực hiện các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp theo Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, từ thương lượng, hòa giải tới việc sử dụng các cơ chế pháp lý quốc tế. Tích cực triển khai các cam kết khu vực và quốc tế, lồng ghép với các chiến lược, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội./.

Ban Tổ chức Tỉnh ủy Thái Bình: Làm tốt công tác tham mưu về xây dựng Đảng


Phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất trong toàn Ngành, đặc biệt là vai trò nêu gương của người đứng đầu, Ngành Tổ chức Xây dựng Đảng tỉnh Thái Bình đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ năm 2021, xứng đáng với vai trò là cơ quan tham mưu cho cấp uỷ về công tác tổ chức xây dựng Đảng.

Đồng chí Phạm Văn Tuân (thứ 3 từ trái sang), Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Thái Bình trao giấy khen cho các đơn vị, cá nhân tiêu biểu năm 2021.

Bốn nhiệm vụ trọng tâm

Năm 2021, năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025; năm tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, Ngành Tổ chức xây dựng Đảng đứng trước rất nhiều nhiệm vụ lớn phải tham mưu, tổ chức triển khai thực hiện. Mặt khác, tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp, ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống xã hội của tỉnh. Nỗ lực khắc phục mọi khó khăn, Ban Tổ chức Tỉnh ủy Thái Bình đã thực hiện tốt 4 nhiệm vụ trọng tâm: Tham mưu cụ thể hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025; Phối hợp chuẩn bị, tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; Tham mưu triển khai thực hiện các văn bản của Trung ương về xây dựng Đảng, tổng kết các nghị quyết, quy định, chỉ thị và báo cáo chuyên đề về xây dựng Đảng; Tổ chức giám sát chuyên đề công tác cán bộ theo thẩm quyền.

Ban Tổ chức Tỉnh ủy đã phối hợp các cơ quan liên quan tham mưu xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện phần mềm “Sổ tay đảng viên điện tử”. Ngày 7-1-2021, Tỉnh ủy Thái Bình tổ chức khai trương phần mềm “Sổ tay đảng viên điện tử”, trở thành tỉnh đầu tiên trong cả nước triển khai phần mềm này. Theo đó, ban tổ chức cấp ủy cấp huyện đã tham mưu chỉ đạo các đảng bộ, chi bộ tổ chức quán triệt, triển khai phần mềm đến toàn thể đảng viên; phân công trách nhiệm cụ thể cho bí thư chi bộ, cấp ủy viên trong việc tổ chức sinh hoạt đảng ủy, chi bộ hằng tháng theo mô hình của phần mềm. Đồng thời tham mưu thành lập tổ giúp việc đôn đốc, theo dõi tình hình thực hiện phần mềm ở các đảng bộ, chi bộ theo đúng chủ trương, kế hoạch của Tỉnh uỷ.

Thực hiện Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 20-6-2020 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 32-CT/TU, ngày 13-7-2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, ban tổ chức cấp ủy các cấp đã chủ động tham mưu giúp ban thường vụ cấp ủy thành lập ban chỉ đạo bầu cử, phân công nhiệm vụ các đồng chí thành viên ban chỉ đạo. Tham mưu tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch năm 2021 đối với các chức danh cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương và cán bộ diện ban thường vụ cấp ủy quản lý nhiệm kỳ 2020-2025, 2021-2026 làm cơ sở cho công tác nhân sự bầu cử; tham mưu ban hành văn bản chỉ đạo công tác nhân sự HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 và đã hoàn thành tốt bầu các chức danh lãnh đạo HĐND, UBND nhiệm kỳ 2021-2026 theo đúng quy định.

Ban Tổ chức Tỉnh ủy Thái Bình đã thực hiện 2 cuộc giám sát việc thực hiện một số nội dung về công tác phổ biến, quán triệt, cụ thể hóa các văn bản của Trung ương, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác cán bộ; việc bố trí, sắp xếp, phân công cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ và các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp ủy nhiệm kỳ 2020-2025; lãnh đạo HĐND, UBND nhiệm kỳ 2016-2021, 2021-2026; việc thực hiện các nội dung về công tác cán bộ, công tác cán bộ tại ban thường vụ 8 huyện, thành ủy.

Cùng với 4 nhiệm vụ trọng tâm, ban tổ chức cấp uỷ các cấp trong tỉnh đã tham mưu thực hiện đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các nhiệm vụ thường xuyên. Công tác tổ chức bộ máy tiếp tục được ban tổ chức cấp uỷ tham mưu thực hiện, nhằm đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng vị trí việc làm viên chức các đơn vị sự nghiệp thuộc các cơ quan đảng, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. 

Tính đến tháng 12-2021, toàn tỉnh Thái Bình có 700 tổ chức cơ sở đảng, trong đó 260 đảng bộ xã, phường, thị trấn; 224 đảng bộ, chi bộ cơ sở cơ quan, đơn vị sự nghiệp; 181 đảng bộ, chi bộ cơ sở cơ doanh nghiệp,  còn lại là chi bộ cơ sở trong các loại hình khác. Đảng bộ tỉnh có 4.315 chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở, trong đó 1.795 chi bộ thôn, tổ dân phố; 1.996 chi bộ cơ quan hành chính, sự nghiệp; 295 chi bộ doanh nghiệp và 229 chi bộ thuộc các loại hình khác. Công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, phát triển đội ngũ đảng viên được các cấp uỷ trong Đảng bộ tỉnh quan tâm. Ban tổ chức cấp uỷ đã chủ động tham mưu với cấp ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các giải pháp về công tác phát triển đảng viên. Một số địa phương đã có cách làm hiệu quả nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên mới. Năm 2021, toàn tỉnh kết nạp được 1.227 đảng viên mới, tăng 27 đảng viên so với năm 2020, nâng tổng số đảng viên Đảng bộ tỉnh lên 108.822 đảng viên.

Ban Tổ chức Tỉnh uỷ đã chủ trì đề tài khoa học “Nghiên cứu thực trạng, đề xuất xây dựng mô hình chi bộ kiểu mẫu trong các loại hình chi bộ trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2021-2025”, lấy kết quả đề tài làm cơ sở tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy dự thảo Quy định về khung tiêu chí mô hình chi bộ kiểu mẫu áp dụng đối với từng loại hình chi bộ.

Trong công tác cán bộ, ban tổ chức các cấp đã chủ động tham mưu ban hành kế hoạch, hướng dẫn rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý năm 2021; tham mưu kiện toàn các chức danh lãnh đạo, quản lý khuyết thiếu theo phân cấp nền nếp, chặt chẽ, đảm bảo các điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị; quan tâm thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; thực hiện chính sách đối với cán bộ, đảng viên kịp thời, đúng quy định.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được tăng cường chủ động rà soát kỹ lưỡng, chặt chẽ và thẩm tra, xác minh bài bản, tham mưu kết luận các trường hợp có vấn đề về lịch sử chính trị phục vụ công tác quy hoạch, việc đề bạt, bổ nhiệm, bố trí sử dụng cán bộ, kết nạp đảng viên. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc gắn với cải cách hành chính, bảo đảm đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Năm 2021, Ban Tổ chức Tỉnh uỷ đã phối hợp với Viện Khoa học tổ chức, cán bộ - Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu, viết bài tham gia hội thảo 3 chuyên đề: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng về đạo đức”; “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương đáp ứng yêu cầu làm việc trong môi trường quốc tế” và “Ứng dụng công nghệ thông tin trong thí điểm sinh hoạt trực tuyến tại một số loại hình chi bộ đặc thù”.

Ngay từ đầu năm, ban tổ chức cấp uỷ các cấp đã triển khai kế hoạch và phát động phong trào thi đua yêu nước gắn với việc triển khai học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ban Tổ chức Tỉnh ủy Thái Bình đã hoàn thành xuất sắc vai trò là cụm trưởng Cụm thi đua số 2, gồm 14 ban tổ chức các tỉnh, thành ủy khu vực Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, được Ban Tổ chức Trung ương tặng Cờ đơn vị dẫn đầu.

 

 

Bảo đảm công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội được kế thừa và phát triển từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về một xã hội tiến bộ vì mục tiêu giải phóng và phát triển toàn diện con người, hướng tới những giá trị về bình đẳng, tự do, dân chủ. Đặc biệt, tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội, mà cốt lõi là ở quan điểm công bằng về cơ hội phát triển vẫn giữ nguyên giá trị và có vai trò định hướng quan trọng để chúng ta phấn đấu thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trong giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội được hình thành và phát triển gắn liền với mục tiêu giải phóng dân tộc, giành lại cho nhân dân Việt Nam quyền sống đích thực của con người; đồng thời, góp phần cùng nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, bình đẳng và tiến bộ của cả xã hội loài người. Bởi vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội, mà cốt lõi là quan điểm công bằng về cơ hội phát triển, không chỉ là tiền đề tạo ra cơ hội và động lực phát triển cho mỗi con người, mà cho cả dân tộc Việt Nam nói riêng, các dân tộc thế giới nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Chẳng những Việt Nam phải đấu tranh giành lấy độc lập dân tộc cho chính mình, mà còn phải gánh vác trách nhiệm một phần trong sự nghiệp mưu cầu hòa bình cho toàn thế giới”.

Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, trực tiếp chứng kiến tất cả những gì diễn ra trong đời sống kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới mà Người từng đặt chân đến, cũng như qua nghiên cứu tình hình cụ thể của xã hội Việt Nam ở giai đoạn trước cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra kết luận: “Dưới sự thống trị của đế quốc và phong kiến, nhân dân chỉ có nghĩa vụ, như nộp sưu đóng thuế, đi lính đi phu mà không có quyền lợi”. Trên thực tế, công nhân và nông dân là lực lượng chủ yếu sáng tạo nên của cải vật chất cũng như tinh thần trong xã hội, nhờ có sức lao động của họ, mà xã hội mới tồn tại, phát triển. Song, có một sự vô lý và bất công là, những người lao động thì suốt đời nghèo khó, trong khi một số người không lao động thì lại “ngồi mát ăn bát vàng”, chuyên cướp đoạt sản phẩm lao động của người khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nguyên nhân: “Vì đâu có nỗi chẳng công bằng này? Vì một số ít người đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã hội”; đồng thời, Người còn vạch rõ, trong xã hội có giai cấp bóc lột thống trị, chỉ có lợi ích cá nhân của bọn thống trị là được thỏa mãn, còn lợi ích cá nhân và cơ hội phát triển của quần chúng lao động thì bị chà đạp, giày xéo.

Chứng kiến Cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917) vĩ đại thắng lợi và những thành quả giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước Nga Xô-viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến kết luận quan trọng: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hòa thế giới chân chính, xóa bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau”. Với tầm tư duy sâu sắc trong nhận thức về lực lượng to lớn của cách mạng giải phóng dân tộc, cùng với cách mạng thế giới để giành lại quyền bình đẳng, tự do và dân chủ, mà thực chất chính là công bằng về cơ hội của sự giải phóng và phát triển cho mọi dân tộc bị áp bức trên thế giới, trong đó có Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tất cả dân cày, người thợ trong thế giới bất kỳ nước nào, nòi nào đều liên hợp nhau lại như anh em một nhà, để đập đổ tất cả tư bản trong thế giới, làm cho nước nào, dân nào cũng được hạnh phúc, làm cho thiên hạ đại đồng - ấy là thế giới cách mệnh”.

Những nội dung trên cho thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng và phát triển con người ngày càng toàn diện, với hệ giá trị về bình đẳng, tự do và dân chủ, chính là tiền đề của công lý, của công bằng xã hội, mà cốt lõi là công bằng về cơ hội phát triển. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Trên cơ sở tiếp thu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”; và “Chính nhờ cuộc cách mạng này mà cơ sở của quyền tự do chân chính và quyền bình đẳng thực sự đã được đặt ra cho loài người”.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ giá trị về mục tiêu giải phóng con người, mà trước hết là giành độc lập, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân, chính là mục tiêu, tiền đề của công bằng xã hội với nội dung cốt lõi là công bằng về cơ hội phát triển. Đấy chính là điều kiện tiên quyết để mỗi con người được làm chủ vận mệnh của mình, với mục tiêu “làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”. Khi đất nước giành được độc lập, trên tinh thần của bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Chính phủ cố gắng làm theo đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc”. Đó là xã hội mà nhân dân ngày càng sung sướng, hạnh phúc, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục, tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ; là xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt. Một xã hội như vậy chỉ có thể là xã hội xã hội chủ nghĩa.

Từ những đánh giá trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra nhận định, công bằng xã hội mà cốt lõi là công bằng về cơ hội phát triển với hệ giá trị về bình đẳng, tự do và dân chủ, thực sự chỉ có được trong chế độ xã hội mới dưới chế độ dân chủ cộng hòa. Người cho rằng: “Nhân dân có nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi”. Trong điều kiện sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân); “Nhà nước ta ngày nay là của tất cả những người lao động. Vậy công nhân, nông dân, trí thức cách mạng cần nhận rõ rằng: Hiện nay, nhân dân lao động ta là những người làm chủ nước ta, chứ không phải là những người làm thuê cho giai cấp bóc lột như thời cũ nữa. Chúng ta có quyền và có đủ điều kiện để tự tay mình xây dựng đời sống tự do, hạnh phúc cho mình. Nhân dân lao động là những người chủ tập thể của tất cả những của cải vật chất và văn hóa, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”. Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, công bằng về cơ hội phát triển chính là nội dung cốt lõi của công bằng xã hội về hệ giá trị bình đẳng, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho mỗi người dân và đó cũng đồng thời là điều kiện và tiền đề của động lực và mục tiêu giành độc lập dân tộc, giải phóng và phát triển ngày càng toàn diện cho mỗi con người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

Khi nói đến công bằng xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường gắn với bình đẳng xã hội, mà trước hết là “bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”; song, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ thực chất là công bằng về cơ hội phát triển. Với quan niệm như vậy, Người yêu cầu tất cả những người lao động ngày nay đều phải nhận thức rõ mình là người chủ nước nhà và đã có quyền hạn làm chủ, thì phải làm trọn nghĩa vụ của người chủ - đó là cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, bình đẳng trước hết là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ; đồng thời, việc thực hiện sự bình đẳng giữa người với người trong mối quan hệ giữa thực hiện nghĩa vụ và hưởng thụ quyền lợi ấy lại chính là thực hiện công bằng về cơ hội phát triển. Việc thực hiện một chế độ phân phối công bằng, theo quan niệm của Người, chính là thực hiện nguyên tắc phân phối; trong đó, phần hưởng thụ ngang bằng với mức độ đóng góp, cống hiến của từng cá nhân, chứ hoàn toàn không phải là sự ngang bằng về hưởng thụ giữa các cá nhân, mà không tính đến sự cống hiến của từng người. Người cho rằng, trong chủ nghĩa xã hội, nguyên tắc phân phối công bằng là: “Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng”. Đây là nguyên tắc phân phối công bằng và phù hợp với điều kiện nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là khi đất nước vừa thoát khỏi chế độ thực dân, phong kiến, còn rất nhiều khó khăn về kinh tế; vì thế, sự bình đẳng của những người lao động trong mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, mà cụ thể là sự ngang bằng về địa vị làm chủ nước nhà, làm chủ tư liệu sản xuất, là những điều kiện cơ bản, quan trọng; là cơ hội do chế độ xã hội mới tạo ra, bảo đảm cho mỗi người đều có thể phát huy mọi khả năng của mình để cùng vươn tới một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, công bằng về cơ hội phát triển là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, là một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; là tiền đề quan trọng để hiện thực hóa những giá trị, lý tưởng nhân văn, tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, việc thực hiện công bằng xã hội là một yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội. Người chỉ rõ, yêu cầu quan trọng trong công tác lưu thông phân phối là: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng, thực hiện công bằng về cơ hội phát triển với nguyên tắc ngang bằng giữa nghĩa vụ và quyền lợi; giữa cống hiến và hưởng thụ trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong hoàn cảnh đất nước còn khó khăn về kinh tế, đời sống của nhân dân còn đói, nghèo; cho nên không được coi việc thực hiện công bằng xã hội như là một sự cào bằng trong nghèo khó. Người khẳng định: “Không phải chúng ta ham chuộng khổ hạnh và bần cùng. Trái lại, chúng ta phấn đấu hy sinh, vì chúng ta muốn xây dựng một xã hội ai cũng ấm no, sung sướng”. Người nhấn mạnh, “chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng, v.v., làm của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con. Thế ta đã đến đấy chưa? Chưa đến. Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần. Ở nông thôn phải có tổ đổi công để tăng gia sản xuất rồi tiến lên hợp tác xã, tiến lên nông trường”.

Để vượt qua hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân phát huy tinh thần đồng cam cộng khổ, đùm bọc, tương thân tương ái, đoàn kết, hợp tác vì mục tiêu xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc; kiên quyết chống lại sự đồng nhất tinh thần đồng cam cộng khổ với chủ nghĩa bình quân. Người nói: “Đồng cam cộng khổ là một tinh thần cần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩa thì lại không đúng. Bình quân chủ nghĩa là gì? Là ai cũng như ai, bằng hết. Ví dụ như Bác yếu chỉ ăn ba bát cơm, chú khỏe cần nhiều hơn mà cũng ăn ba bát, chú lùn cũng đòi may áo dài, Bác cao hơn cũng mặc áo dài như chú. Bình quân chủ nghĩa là trái chủ nghĩa xã hội, thế là không đúng”.

Như vậy, trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công bằng xã hội với cốt lõi là công bằng về cơ hội phát triển, mà thực chất là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, là một mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới. Mục tiêu của chế độ xã hội mới, là không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, là phấn đấu: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu/ Người khá giàu thì giàu thêm”. Những quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa cho thấy, việc thực hiện công bằng xã hội với cốt lõi ở việc thực hiện công bằng về cơ hội phát triển, mà thực chất là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, mang ý nghĩa là động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước; thông qua việc phát huy cao nhất khả năng, sức mạnh của mỗi người, cùng tham gia xây dựng một cuộc sống mới, từng bước vươn tới xã hội cộng sản - một xã hội trong đó “Mọi người làm hết tài năng; ai cần dùng gì có nấy”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, địa vị và vai trò chủ thể của quần chúng nhân dân luôn được đề cao; đồng thời, Người cũng luôn đánh giá rất cao vai trò của thực hiện công bằng về cơ hội phát triển trong việc làm yên lòng dân, và nhờ “yên được lòng dân” mà xã hội được ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, những tư tưởng vô cùng quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, có tác dụng dẫn dắt, định hướng đối với Việt Nam không chỉ trong quan hệ lợi ích kinh tế, mà còn trong nhiều mối quan hệ xã hội khác.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội, mà cốt lõi là quan điểm công bằng về cơ hội phát triển, tiếp tục định hướng cho đường lối phát triển của Việt Nam, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Quan điểm của Đảng về động lực và mục tiêu phát triển đất nước luôn dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội. Cùng với sự tổng kết quá trình phát triển đất nước qua hơn 35 năm đổi mới cả về lý luận và thực tiễn, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta khái quát: “Gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; phát huy nhân tố con người, lấy nhân dân làm trung tâm; phát huy vai trò của văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển”. Nhằm thực hiện công bằng về cơ hội phát triển, Đảng ta luôn nhấn mạnh về mục tiêu “kép” của công bằng xã hội, cả về phương diện hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, đều tập trung cho mục tiêu phát triển con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn, vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng rất cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người,... phải làm cho quần chúng hiểu chủ nghĩa xã hội đúng hơn, phải quan tâm đến đời sống quần chúng và giáo dục quần chúng. Để đạt được “mục tiêu kép” của công bằng về cơ hội phát triển, Đại hội XIII của Đảng không chỉ nhấn mạnh tới vai trò của Nhà nước, mà còn coi trọng: “Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường. Xử lý tốt những bất cập của cơ chế thị trường, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái”. Những nội dung về thực hiện công bằng xã hội được Đại hội XIII của Đảng đề cập cũng chính là quan điểm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ từ rất sớm: “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”. Đây cũng chính là cơ sở để chúng ta phấn đấu sớm hoàn thành các mục tiêu theo Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc, được Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển vì con người, tạo điều kiện cho mọi người, nhất là trẻ em, nhóm yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, người di cư hòa nhập, tiếp cận bình đẳng nguồn lực, cơ hội phát triển và hưởng thụ công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện các chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, cùng phát triển”.

Để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội, bảo đảm công bằng về cơ hội phát triển, cần: “Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Triển khai đồng bộ, toàn diện các mục tiêu kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường, trên cơ sở đó, đổi mới phân bổ nguồn lực hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển xã hội. Xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa”. Đồng thời, phải dự báo đúng xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta trong những năm tới, để từ đó xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước; đồng thời, xử lý hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát sự phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Đặc biệt, trên cơ sở gắn với mục tiêu phát triển toàn diện con người và lấy nhân dân làm trung tâm, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Gắn chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội, quan tâm lĩnh vực công tác xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đổi mới cơ chế, huy động phân bổ và đa dạng hóa các nguồn lực thực hiện chính sách xã hội phù hợp với nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp dân cư, nhóm xã hội, bảo đảm bình đẳng về cơ hội phát triển, nhất là với lao động khu vực phi chính thức”.

Có thể khẳng định, quan điểm Đại hội XIII của Đảng về thực hiện công bằng về cơ hội phát triển là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục tập trung vào mục tiêu phát triển toàn diện con người và nhân dân làm trung tâm, trên cơ sở nhất quán lấy hiệu quả kinh tế của công bằng xã hội làm tiền đề để thực hiện công bằng về hiệu quả xã hội. Những quan điểm cụ thể trong thực hiện công bằng xã hội với cốt lõi là công bằng về cơ hội phát triển, như: “Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế. Cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ - bền vững. Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bền vững, bảo đảm mức sống tối thiểu và các dịch vụ cơ bản. Nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới, triển khai có hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2020 - 2030, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc”, tiếp tục là sự khẳng định cho mục tiêu phát triển bền vững ở nước ta trong điều kiện mới./.

 

Cấu trúc an ninh của Châu Âu!

        Trung lập để tồn tại, phát triển Chiến tranh Lạnh bùng phát với việc quan hệ giữa hai siêu cường Mỹ-Liên Xô xấu đi, Washington năm 1949 cùng 11 quốc gia khác quyết định thành lập NATO, một tổ chức ban đầu được mô tả là nhằm phòng thủ trước đà "Tây tiến" của Liên Xô. Trong hơn 7 thập kỉ qua, khối quân sự này đã kết nạp thêm 18 quốc gia, trở thành liên minh quân sự hùng mạnh nhất thế giới với 30 nước thành viên, trong đó hầu hết các quốc gia Liên minh châu Âu (EU) đều là thành viên của NATO. Tuy vậy, cũng có các quốc gia không gia nhập khối. Họ lựa chọn vị trí trung lập mà theo Ulrika Moller, Phó Giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Gothenburg của Thụy Điển, là công cụ để các nước nhỏ hơn bảo vệ toàn vẹn chính trị trước những láng giềng lớn hoặc cường quốc khu vực. Áo, Thụy Điển và Phần Lan gần đây được mô tả là giải pháp hình mẫu cho Ukraine, trong bối cảnh Moscow đã nêu rõ một trong những yêu cầu của họ cho chiến dịch quân sự là buộc Kiev trung lập. Trong số 3 quốc gia này, Phần Lan là quốc gia duy nhất chia sẻ đường biên giới chung kéo dài hơn 1.300km với Nga. Họ trở thành nước trung lập thông qua Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Tương trợ kí với Liên Xô năm 1948, trong đó cấm hai nước tham gia liên minh quân sự chống lại bên kia và Phần Lan cũng phải cam kết không cho phép sử dụng lãnh thổ của mình cho một cuộc tấn công vào Liên Xô, với kỳ vọng ngăn tái diễn cuộc chiến năm 1939, được châm ngòi từ những tính toán an ninh địa chính trị trong Thế chiến II và mâu thuẫn mang tính lịch sử giữa hai bên. Tờ France24 dẫn lời chuyên gia lịch sử Maurice Carrez thuộc Viện Khoa học Strassbourg của Pháp, tính trung lập của Phần Lan thực chất do hoàn cảnh, khi họ tồn tại cạnh một siêu cường quân sự là Liên Xô. Xuyên suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, quốc gia Bắc Âu này duy trì tôn chỉ không liên kết, bất chấp sức ảnh hưởng từ cả hai khối do Liên Xô và Mỹ dẫn đầu. Giới quan sát cho rằng, chính lựa chọn trung lập là yếu tố để Phần Lan không bị kéo vào vòng xoáy cạnh tranh cường quốc, rồi tập trung phát triển kinh tế thị trường theo kiểu phương Tây. Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, Phần Lan chuyển dần trọng tâm đối ngoại và quyết định gia nhập EU vào năm 1995. Tuy nhiên, nước này vẫn kiên trì chính sách trung lập về quân sự và nhiều lần loại trừ việc gia nhập NATO. Hiện nay, Phần Lan là một hình mẫu kinh tế, với GDP đầu người đạt gần 50.000 USD, mức cao trên thế giới. Về phần Thụy Điển, nước này không chia sẻ biên giới chung với Nga và đã lựa chọn chính sách trung lập trong suốt 2 thế kỉ qua, tính từ thời điểm Vua Gustav XIV đưa ra tuyên bố trung lập vào năm 1834. Năm 1941, Thụy Điển từng cho phép quân đội Đức di chuyển qua lãnh thổ đến mặt trận Phần Lan - Liên Xô, nhưng đồng thời bảo vệ người tị nạn trước chủ nghĩa Phát xít. Sau năm 1945, Thụy Điển chọn duy trì tình trạng trung lập. An ninh của Thụy Điển phụ thuộc nhiều vào tình trạng của Phần Lan và gián tiếp vào chính sách của Liên Xô đối với Phần Lan. Đến năm 1995, Thụy Điển cũng gia nhập EU và tăng cường đối thoại với NATO, song loại trừ khả năng gia nhập liên minh. Thụy Điển hiện có GDP đầu người hơn 51.000 USD. Cách đây vài năm, Thụy Điển từng được đánh giá là quốc gia có uy tín nhất trên thế giới theo bảng xếp hạng của Country RepTrak. Lập trường thay đổi vì chiến sự Ukraine Sau khi Nga mở chiến dịch quân sự ở Ukraine hôm 24/2, Thụy Điển và Phần Lan cùng lên tiếng phản đối. Tờ The Times của Anh ngày 11/4 dẫn lời một số quan chức Mỹ cho biết, Thụy Điển và Phần Lan đang lên kế hoạch gia nhập khối quân sự NATO do Mỹ dẫn đầu, bước đi được cho là sẽ đảo ngược chính sách trung lập mà hai quốc gia này đã duy trì trong nhiều thập kỉ liên tiếp. Theo lời quan chức Mỹ, khả năng trao tư cách thành viên NATO cho Thụy Điển và Phần Lan đã trở thành chủ đề của "các cuộc trò chuyện và nhiều phiên họp" khi ngoại trưởng các nước thành viên NATO nhóm họp hồi tuần trước, nơi cũng có sự tham dự của đại diện tới từ Stockholm, Helsinki. Nguồn tin tiết lộ thêm, Phần Lan dự kiến đệ đơn xin gia nhập NATO ngay trong tháng 6/2022 và Thụy Điển cũng sẽ đưa ra quyết định tương tự rất sớm. Dù Thụy Điển và Phần Lan chưa lên tiếng về thông tin này, nhưng trên thực tế, cả hai nước đã sự thay đổi nhất định về lập trường vì chiến dịch của Nga. Cuối tháng 2, truyền thông phương Tây cho biết Thụy Điển đã đưa ra quyết định lịch sử khi gửi thiết bị quân sự, trong đó có cả vũ khí chống tăng cho Ukraine. Lần gần nhất Thụy Điển gửi viện trợ vũ khí ra nước ngoài là năm 1939, khi xung đột biên giới Phần Lan - Liên Xô xảy ra. Không lâu sau, Phần Lan cũng thông báo sẽ cung cấp một loạt vũ khí cho Ukraine, bao gồm 2.500 súng trường tự động, 150.000 viên đạn, 1.500 khẩu súng chống tăng dùng một lần RPG và 70.000 suất lương thực. Trong các tuyên bố chính thức, hồi tháng 2/2022, Thủ tướng Thụy Điển Magdalena Andersson tuyên bố Stockholm tiếp tục theo đuổi chính sách an ninh độc lập. Tuy nhiên, sang tháng 3, bà Andersson nói Thụy Điển cần phân tích khả năng gia nhập một liên minh quân sự và không loại trừ theo đuổi tư cách thành viên NATO. Tại Phần Lan, kết quả một cuộc thăm dò dư luận mới được tiến hành đã chỉ ra rằng 62% dân chúng nước này muốn Helsinki gia nhập NATO, cao hơn con số 16% phản đối. Thủ tướng Phần Lan Sanna Marin gần đây nhấn mạnh nước này cần quyết định kế hoạch tham gia NATO "một cách triệt để nhưng nhanh chóng". Theo nhận định của giới quan sát, dù chưa gia nhập NATO, Thụy Điển và Phần Lan đều là thành viên EU. Hai nước này sở hữu quân đội được trang bị khí tài theo chuẩn phương Tây, nên họ gần như chắc chắn đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn thành viên NATO. Đó là chưa kể việc NATO luôn sẵn sàng kết nạp hai nước này vào khối, bất chấp sự phản đối của Nga. Tuy chưa phản ứng cứng rắn như tình huống của Ukraine, Điện Kremlin vẫn cảnh báo, nếu Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO, Nga sẽ có các biện pháp củng cố sườn phía Tây bằng các biện pháp của mình nhằm "tái cân bằng tình hình". Trong tuyên bố mới nhất ngày 11/4, phát ngôn viên Điện Kremlin Dmitri Peskov cho biết: "Chúng tôi từng nhiều lần khẳng định NATO là công cụ hướng tới đối đầu và việc mở rộng liên minh này sẽ không mang đến ổn định cho lục địa châu Âu". Cách đây vài tuần, trả lời Interfax, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov từng cảnh báo: "Việc Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO sẽ gây ra những hậu quả chính trị và quân sự nghiêm trọng khiến chúng tôi phải xem xét lại toàn bộ mối quan hệ với những nước này và thực hiện các biện pháp đáp trả".

THÊM 5 DI SẢN ĐƯỢC ĐƯA VÀO DANH MỤC DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CẤP QUỐC GIA!

         Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng vừa ký Quyết định số 778/QĐ-BVHTTDL, ghi danh Tập quán xã hội và tín ngưỡng lễ cúng Bàn Vương của người Dao đỏ xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Lễ cúng Bàn Vương của người Dao đỏ xã Hồ Thầu được tổ chức vào khoảng tháng Hai âm lịch hằng năm, là nghi lễ mang đậm tính nhân văn nhằm tỏ lòng thành kính trước Sư tổ Bàn Vương, người sinh ra 12 tộc họ. Đây cũng là dịp người Dao đỏ cầu nguyện cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, con cháu đời đời ấm no, hạnh phúc. Người Dao đỏ coi việc thờ cúng Bàn Vương là nét sinh hoạt văn hóa tâm linh liên quan đến vận mệnh của mỗi người, mỗi dòng họ, giáo dục người Dao hướng về nguồn cội. Lễ cúng Bàn Vương còn mang ý nghĩa liên kết, gắn bó mọi người tạo nên sức mạnh cộng đồng, thể hiện sự phong phú, đa dạng trong đời sống văn hóa của con người và vùng đất Hà Giang trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc Việt Nam.

Cùng với tập quán xã hội và tín ngưỡng lễ cúng Bàn Vương của người Dao đỏ xã Hồ Thầu, trong dịp này, còn có 4 di sản văn hóa phi vật thể khác được đưa vào Danh mục quốc gia. Đó là các di sản: Tập quán xã hội và tín ngưỡng Lễ cầu mùa của người Cờ Lao, xã Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì; tri thức dân gian, nghề trồng rau Trà Quế xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam; Lễ hội khai hạ - cầu an tại lăng Ông Tả quân Lê Văn Duyệt, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh; Lễ hội Katê của người Chăm, tỉnh Bình Thuận./.
Ảnh: Lễ cúng Bàn Vương của người Dao đỏ.
Yêu nước ST.

VỀ CÁI GỌI LÀ TRUYỀN THÔNG PHƯƠNG TÂY!

         Sau khi quân Giải phóng miền Nam Việt Nam rút khỏi Huế, để che giấu thất bại của mình cũng như bôi nhọ hình ảnh quân Giải phóng, Mỹ nguỵ và truyền thông phương Tây đã vẽ lên cái gọi là "thảm sát Huế 1968". 

Theo các thông tin do Mỹ và VNCH đưa ra, trong 22 địa điểm tìm được các mồ chôn tập thể, người ta đếm được 2.326 sọ người. Sau tết, các gia đình kê khai có người chết hoặc mất tích là 4.000 gia đình. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thì đưa ra danh sách 4.062 nạn nhân được họ xác định là đã bị mất tích, bắt cóc hoặc bị giết. Theo các báo cáo của Việt Nam Cộng Hòa, nhiều thi thể được tìm thấy ở tư thế bị trói buộc, bị tra tấn và đôi khi bị chôn sống. 

Nhờ những "món nghề truyền thông" đã thành thương hiệu (tương tự như sự kiện nước mắt Đức Mẹ Maria 1954 đưa tới sự kiện 2 triệu người di cư vào Nam), Mỹ đã khiến cả thế giới tin rằng Việt Cộng là thủ phạm đứng sau vụ thảm sát ở Huế. Đến mức, tới ngày 30/4/1975, hàng triệu người miền Nam đã phải di cư sang nước ngoài vì tin rằng sẽ có cuộc "tắm máu" nếu Việt Cộng chiếm được miền Nam. Nhưng sự thật đâu phải như vậy!

Từ những bài học kinh nghiệm xương máu đó nên Chính phủ Việt Nam tỏ ra cực kỳ thận trọng với thông tin về những cuộc thảm sát mà Mỹ và phương Tây đang cáo buộc Nga ở Ucraina. Việt Nam không ủng hộ bất cứ hành vi vi phạm nhân quyền nào nhưng tất cả thông tin đưa ra phải được đánh giá, xem xét kỹ lưỡng, chứ không phải là thông tin 1 chiều, thiếu chứng cứ như hiện nay.

Bởi lẽ, đơn giản vì chúng tôi cũng là nạn nhân, từng bị Mỹ vu cáo rất nhiều trong suốt 20 năm chiến tranh. Nên đừng đòi hỏi Việt Nam phải tin lời cáo buộc của Mỹ./.
Yêu nước ST.

Pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ, nhưng không dung thứ cho hành vi lợi dụng tự do, dân chủ, “bất tuân dân sự” để vi phạm pháp luật, chống phá Đảng và Nhà nước

 Các quyền tự do, dân chủ luôn là các quyền thiêng liêng, cần thiết cho cuộc sống, là một biểu hiện cho tiến bộ và là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nhưng tự do chưa bao giờ và không bao giờ là tự do chung chung, tự do vô bờ bến. Điều này được thể hiện rõ nét trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Pháp luật Việt Nam chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Ví dụ, khoản 1, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc quy định chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng cũng phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Cụ thể là, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) đề cập cụ thể trong một số điều quy định về các quyền có thể chịu sự giới hạn (Điều 4, Điều 19). Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đưa ra các giới hạn đối với quyền tự do ngôn luận theo đúng định nghĩa của nó (Điều 4, Điều 10, Điều 11).

    Nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng quyền tự do ngôn luận để phát ngôn tiêu cực, thù địch trên in-tơ-nét, Ủy ban châu Âu (European Commission) đã ký Quy tắc ứng xử về chống lại lời nói có nội dung tiêu cực, thù địch bất hợp pháp trực tuyến với Google (YouTube), Facebook, Twitter và Microsoft năm 2016. Instagram, Google+, Dailymotion, Snap và Jeuxvideo.com sau đó đã tham gia Quy tắc này.Thông qua đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việc bảo đảm sự tham gia của người dân vào các hoạt động của Nhà nước và xã hội, bảo đảm quyền giám sát, phản biện xã hội của các chủ thể. Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các chủ thể, ủng hộ phản biện xã hội chân chính để hoàn thiện chính sách, pháp luật, xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật. Nhưng việc lợi dụng cái gọi là bất tuân dân sự để cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt động công quyền cần phải được ngăn chặn, đẩy lùi. Nhiều quan điểm trên thế giới cũng chỉ rõ tính trái pháp luật của hành vi bất tuân dân sự, phản bác việc lợi dụng bất tuân dân sự để kích động các hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại đến hoạt động công quyền. Pi-tơ Mai-ơ, Giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Wisconsin-Eau Claire (Mỹ), chỉ ra rằng bất tuân dân sự “gây ra mối đe dọa đối với nhà nước pháp quyền”. Trong một nghiên cứu trên một Tạp chí về luật của Mỹ, Ét-uốt Ma-rếc chỉ rõ: “Hành vi như vậy có thể được phân loại là bất tuân dân sự theo nghĩa là nó vi phạm một hệ thống luật có trật tự, nhưng nó cũng là hành vi không thể được bảo vệ bởi hiến pháp hoặc chế tài tư pháp bất kể mục đích của nó là gì hoặc sự bất công của các luật mà nó chống lại”. Trên một phân tích trên tờ Thời báo New York, Sác-lơ Phơ-ran-ken, nhà triết học người Mỹ, viết: “tôi có thể đúng khi nghĩ rằng một sắc lệnh chống đi bộ đường dài là một sự vi phạm không cần thiết đối với các quyền của tôi. Tuy nhiên, điều này không hợp lý khi tôi tổ chức một cuộc đình công khổng lồ trên những con phố tắc nghẽn giao thông trong một tuần”. Luật sư người Mỹ Mô-rít Lép-man, người được Tổng thống Mỹ Rô-nan Ri-gân trao tặng Huân chương Tự do Tổng thống vào năm 1981, dẫn lời Tổng thống Mỹ A-bra-ham Lin-côn, viết: “Mỗi người hãy ghi nhớ rằng vi phạm pháp luật là chà đạp lên máu mủ của cha mình, và xé bỏ hiến chương về quyền tự do của chính mình và con cái mình. Hãy để cho sự tôn kính pháp luật được hít thở bởi mỗi bà mẹ Mỹ đối với đứa con đang nói ngọng nựng nịu trong lòng mình; hãy để nó được giảng dạy trong các trường học, trong các chủng viện và trong các trường cao đẳng; hãy để nó được viết trong các sách bổ túc, sách chính tả, và trong các niên giám; hãy để nó được rao giảng từ bục giảng, được công bố trong các phòng lập pháp và được thực thi tại các tòa án”. Tòa án nhiều nước đều không cho phép hành vi bất tuân dân sự làm ảnh hưởng đến lợi ích chung. Phó Giáo sư luật Ri-sát Mô-lơ, Trung tâm Luật của Đại học Georgetown (Mỹ), dẫn lời của Chánh án thứ 11 của Tối cao Pháp viện Mỹ Sác-lơ Êvan Hu-gơ, viết: “duy trì cơ hội thảo luận chính trị tự do đến cùng để chính phủ có thể đáp ứng ý chí của người dân và những thay đổi có thể đạt được bằng các phương tiện hợp pháp... là một nguyên tắc cơ bản của hệ thống hiến pháp của chúng tôi”.

    Tóm lại, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhận thức rất rõ vai trò quan trọng, thiết yếu của các quyền tự do, dân chủ của người dân với ý nghĩa là một quyền thiết thân của con người, là động lực phát triển của đất nước. Tuy nhiên, không một quốc gia nào trên thế giới lại dung thứ các hành vi lợi dụng dân chủ, cổ xúy cho các hành vi vi phạm pháp luật, gây tổn hại đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và của người dân. Nhận diện các biểu hiện lợi dụng “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị để kích động, chống phá là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong điều kiện hiện nay, không chỉ góp phần thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị và của từng người dân mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, từ đó chủ động trong việc triển khai có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn.

Lật tẩy các hành động lợi dụng quyền tự do, dân chủ để “bất tuân dân sự”, vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt động công quyền, thực thi công lý

     Không thể bác bỏ một điều hiển nhiên rằng, việc các thế lực phản động, thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước ta từ nhiều phương diện khác nhau như xuyên tạc Luật An ninh mạng, xuyên tạc dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, lợi dụng việc phản đối một số chính sách, quy định pháp luật của Nhà nước ta một cách phi lý, thiếu căn cứ đã và đang là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Việt Nam, xâm hại quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội và từng người dân. Các đối tượng phản động, thù địch đã kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến pháp luật của Nhà nước, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân...

    Đối với dự thảo Luật Đơn vị hành chính  - kinh tế đặc biệt, mặc dù Quốc hội đã quyết định lùi thời hạn thông qua để có thời gian bổ sung, hoàn thiện, nhưng các thế lực phản động, thù địch vẫn tung thông tin xuyên tạc, kích động, đòi phải đưa vấn đề này ra trưng cầu ý dân toàn quốc theo Luật Trưng cầu ý dân năm 2015; thổi phồng rằng không thể chỉ dừng ở đấu tranh cho một vài đạo luật mà phải thực hiện đa nguyên, đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây; kích động các đợt biểu tình, tuần hành bằng những mỹ từ mị dân như “khơi dậy lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân”, “nhiều người trong bộ máy cầm quyền thức tỉnh”...; thực hiện những chiêu trò mới như gây kẹt xe ở các đô thị, biểu tình trên mạng, hô hào các tổ chức phản động tổ chức biểu tình ở nước ngoài...Trước hết, cần thấy rõ rằng bất kỳ dự án luật nào cũng cần thực hiện đầy đủ quy trình xây dựng, ban hành. Các cơ quan có thẩm quyền xây dựng pháp luật của Việt Nam đều luôn tuân thủ quy trình đó, bảo đảm cao nhất sự tham gia của nhân dân góp ý xây dựng các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Bản thân Dự luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cũng không nằm ngoài quy trình đó. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, việc xây dựng, ban hành văn bản luật phải thông qua một quy trình rất chặt chẽ. Người dân có quyền được tiếp tục góp ý để Quốc hội hoàn thiện dự án Luật trên cơ sở góp ý của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận, các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân, lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và cơ quan, tổ chức có liên quan theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời việc góp ý kiến phải trên cơ sở tìm hiểu kỹ lưỡng dự thảo luật và có cơ sở khoa học, không tiếp tay cho những hành vi xuyên tạc, kích động, chống đối, phá hoại đất nước.

    Việc xây dựng, ban hành một đạo luật trước hết phải dựa trên lợi ích của quốc gia đó và phải có cơ sở, lập luận khoa học. Không phải tự nhiên mà đạo luật An ninh mạng được ban hành ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Một điều dễ nhận thấy là an toàn thông tin đang là vấn đề nổi cộm ở không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Theo số liệu từ Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), hơn 9.300 trang web tại Việt Nam bị tấn công trong năm 2019. Theo báo cáo International Privacy Day Report 2020 của Kaspersky, Việt Nam đứng thứ 9 trên toàn cầu về mức độ bị ảnh hưởng bởi phần mềm gián điệp, với 7.216 người dùng bị tấn công vào năm 2019. Theo số liệu thống kê được ghi nhận bởi hệ thống giám sát của hãng bảo mật Mỹ SonicWall, hầu hết các hình thức tấn công đều có xu hướng gia tăng trên toàn cầu trong năm 2018. Cụ thể, số lượng các tấn công bằng mã độc gia tăng trên toàn cầu trong ba năm liên tiếp. Theo Báo cáo rủi ro toàn cầu năm 2019 của Diễn đàn Kinh tế thế giới, các cuộc tấn công an toàn, an ninh mạng hiện nằm trong số những rủi ro hàng đầu trên toàn cầu. Trong năm 2019, hệ thống CyStack Attack Map ghi nhận 563.000 cuộc tấn công vào các trang web trên toàn cầu.

    Thực tiễn các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã chỉ ra một điều hiển nhiên rằng, việc hình thành các khu kinh tế đặc biệt luôn diễn ra và là hiện tượng phổ biến trên thế giới. Theo dữ liệu thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong vòng 30 năm, từ năm 1975 đến năm 2006, đã có sự tăng vọt số lượng SEZ và số lượng quốc gia có SEZ trên toàn thế giới. Nhiều quốc gia đã ban hành các luật riêng về khu kinh tế. Như vậy, việc hình thành các khu kinh tế đặc biệt trên thế giới không phải là hiện tượng ngẫu nhiên xuất hiện, mà đã có một quá trình hình thành lâu dài, với nhiều dạng thức khác nhau, được ghi nhận trong nhiều tài liệu của các tổ chức quốc tế lớn, và được quy định trong một đạo luật riêng biệt của quốc gia.


Chuyện không thể đùa!

Trong quán cà phê vắng, phía góc gần với quầy thu ngân, một nhóm thanh niên nam, nữ ăn mặc sành điệu đang chăm chú nhìn vào màn hình điện thoại. Giọng một chàng trai ồm ồm cất lên: - Eo ơi, chúng mày nhìn này, sến sẩm chưa. Tiễn người yêu đi lính mà nước mắt sụt sùi, lại còn gục đầu vào vai đầy lưu luyến nữa. Diễn quá chúng mày nhỉ? - Ối giời, cô gái này trông ánh mắt thế kia thì cứ xác định: Anh lên đơn vị vài hôm/ Ở nhà em có người ôm mới rồi. Nghe cô gái tóc nhuộm hung hung vừa bình phẩm vừa cười khả ố, cả đám cười theo đầy khoái trá và một giọng nam lại cất lên: - Có người yêu rồi mà còn đi bộ đội thì quả là dại dột... Cả đám đang rôm rả "bình loạn" thì anh chủ quán lại gần, bảo: - Anh vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự về đây. Mấy em biết gì về bộ đội mà nói linh tinh! Làm trai mà không dám nhập ngũ, trốn tránh nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc thì mới là hèn nhát, đáng chê cười. Còn các bạn nữ, có dám chắc mình chung thủy, đứng đắn hơn cô gái trong ảnh không mà mạnh miệng chê bai? Hầu như gia đình nhà ai cũng có người đi bộ đội, lấy chồng từng đi bộ đội và chắc chắn có cả bố mẹ, cô chú, anh chị các em đấy! Trước những lời thẳng thắn, gay gắt của anh chủ quán, cả đám choai choai im bặt. Rồi một chàng thanh minh: "Tại bọn em thấy trên mạng đầy những kiểu bình luận, xui khiến thanh niên không nên đi bộ đội nên cũng hùa theo anh ạ". Anh chủ quán hạ giọng, nhưng vẫn ý trách móc: - Các em đều được ăn học mà chẳng lẽ không biết đó là giọng điệu của bọn phản động nhằm chống phá đất nước à? Chúng nó tìm đủ mọi lý do, dùng mọi cách bịa đặt, kích động, thổi phồng, thậm chí nói xấu cả quân đội, rồi kêu gọi thanh niên đừng đi bộ đội nhằm thực hiện mưu đồ đen tối của chúng. Nếu không có người chắc tay súng bảo vệ Tổ quốc thì đất nước ta sẽ ra sao? Chuyện nghiêm trọng không thể đùa được, thế mà các em còn hùa vào bình loạn. Nhóm thanh niên giờ mới hiểu vì sao anh chủ quán lại nóng tính và họ đều nói lời xin lỗi.