Nếu có thể nhân danh nhân dân tôi muốn được tự mình loại bỏ hết bọn vô ơn lật sử, xuyên tạc chống phá nhà nước, gây diễn biến hoà bình... dù là đối tượng nào dù là vô danh hay nổi tiếng do phương tây và mễ và lũ phản quốc ra sức hậu thuẫn tích cực chống phá chế độ và nhà nước, xuyên tạc lịch sử, gieo mần những tư tưởng độc hại đối với nền độc lập tự do dân chủ của Việt Nam.
Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022
YÊU NƯỚC NÊN LÀM GÌ?
KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VỊ THẾ, VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM
Ngày 7/6, Đại hội đồng Liên hợp quốc đồng thuận bầu Việt Nam trở thành một trong những Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 đại diện cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương với nhiệm kỳ một năm. Điều này tiếp tục khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trên trường quốc tế.
Một trong những yếu tố quan trọng làm nên vị thế quốc gia của Việt Nam chính là sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Ngày 26/5/2022, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm S&P Global Ratings (một trong ba cơ quan xếp hạng tín dụng lớn và uy tín nhất thế giới) đã nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam lên mức BB+ với triển vọng “ổn định”. Trong bảng đánh giá mới nhất của tổ chức này, Việt Nam là nước duy nhất trong khối ASEAN được nâng hạng trong năm 2022.
Trước đó, hai tổ chức quốc tế hàng đầu về xếp hạng tín nhiệm khác là Fitch Ratings và Moodys cũng đưa ra những đánh giá tương đồng. Cần nhấn mạnh rằng, để được nâng hạng tín nhiệm và triển vọng, các quốc gia và tổ chức tài chính phải trải qua những đợt khảo sát, đánh giá gắt gao dựa trên các tiêu chí quan trọng như: thu nhập bình quân đầu người, sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô, thành tựu công bằng xã hội, tài chính công,… Đổi lại, những xếp hạng của ba tổ chức này là chứng nhận cho “sức mạnh” của một nền kinh tế, là số liệu tin cậy để các nhà đầu tư, kinh doanh tham khảo.
Thành tích nêu trên thực sự đáng khích lệ nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã và tiếp tục phải đối mặt với ảnh hưởng tiêu cực kéo dài của đại dịch Covid-19. Như thời điểm năm 2021, không ít địa phương phải thực hiện giãn cách xã hội dẫn đến hệ quả là hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại trong nước bị đình đốn. Theo số liệu của Cục Đăng ký kinh doanh, có đến gần 120.000 doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động trong năm 2021, tăng 17,8% so với năm 2020. Kéo theo đó là số người lao động thiếu việc làm cũng tăng cao, đặc biệt là tại khu vực thành thị. Sau nhiều năm liên tục phát triển với tốc độ ổn định, nền kinh tế Việt Nam phải nhận mức tăng trưởng âm vào quý III/2021.
Lợi dụng tình hình kinh tế trong nước có dấu hiệu khủng hoảng tạm thời, thế lực thù địch cùng các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đã vội vã tung ra hàng loạt luận điệu xuyên tạc như: “người lao động chịu hậu quả của chính sách, giai cấp công nhân rơi vào cảnh khốn cùng, niềm tin của người dân vào nhà cầm quyền đã không còn”… Ngay lập tức, vài tờ báo chống cộng cũng vào hùa khi đăng tải các bài viết “tường trình” từ Việt Nam mà thực chất chỉ là “phỏng vấn” một vài gương mặt cũ của các phong trào chống phá trong nước, qua đó cố gắng tô vẽ, bôi đen về bức tranh kinh tế-xã hội Việt Nam. Mặc dù vậy, ngay tại thời điểm đó, các chuyên gia hàng đầu từ nhiều tổ chức uy tín quốc tế đã bác bỏ các nội dung sai sự thật này.
Ngày 7/11/2021, đánh giá về Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 ban hành quy định tạm thời “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”, ông Marko Wald, Trưởng đại diện Phòng Công nghiệp và Thương mại Đức tại Việt Nam thẳng thắn nhận định: Những gì nêu trong Nghị quyết 128 là rất tiến bộ, cho thấy sự thích ứng nhanh chóng của Chính phủ trong bối cảnh mới. Cùng nhận định này, ngày 5/12/2021, ông Francois Painchaud, trưởng đại diện Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) tại Việt Nam cho rằng: Mặc dù đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng lớn đến việc làm Việt Nam vẫn có thể đạt được những chỉ tiêu kinh tế nhưng đòi hỏi những cải cách quyết liệt hơn.
Nhìn vào bức tranh tổng thể của nền kinh tế Việt Nam từ cuối năm 2021 đến nay, có thể thấy được sự khởi sắc trong nhiều lĩnh vực, ngành, nghề. GDP quý II/2022 của Việt Nam tăng trưởng 7,72%, cao nhất trong hơn một thập kỷ. Hiệu ứng này được đánh giá là xuất phát từ Nghị quyết 43/2022/QH15 (11/1/2022) về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội được Quốc hội thông qua với gói hỗ trợ có tổng giá trị lên đến 350.000 tỷ đồng.
Bên cạnh đó là nhiều sáng kiến, giải pháp ngắn hạn và dài hạn được đưa ra nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người lao động. Nhưng quan trọng hơn cả, vẫn là sự nhất quán trong đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam khi luôn đặt con người vừa là trung tâm, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Trong mọi tình huống, Đảng và Nhà nước ta luôn bảo đảm các chính sách, cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp; an sinh xã hội và đời sống của người dân, nhất là người lao động, người nghèo, người yếu thế, đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, xã hội.
Tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XV, các đại biểu Quốc hội dành nhiều thời gian để thảo luận về những vấn đề kinh tế-xã hội; xem xét, thông qua nhiều bộ luật, nghị quyết, chương trình với mục tiêu khẩn trương đưa nhiều chính sách phù hợp đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Đó là lý do để giới chuyên gia cũng như các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước có thể tin tưởng vào viễn cảnh tươi sáng của Việt Nam.
Cùng với bước tiến về kinh tế, chúng ta cũng gặt hái nhiều thành tựu trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Dù chịu ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, Việt Nam vẫn đạt vị trí thứ 40 (tăng 3 bậc so với năm 2020) trong bảng xếp hạng các quốc gia tốt nhất thế giới theo công bố của US News (công ty của Mỹ chuyên về lĩnh vực xuất bản tin tức, tư vấn tiêu dùng, bảng xếp hạng và phân tích).
Tuy nằm trong nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp, Việt Nam vẫn đạt được nhiều thành tích về bảo đảm và phát huy quyền con người. Chúng ta nằm trong số những nước có chỉ số bình đẳng giới cao nhất thế giới, kiểm soát được bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, đạt nhiều bước tiến trong thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, cải thiện chất lượng giáo dục. Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 đã thu được nhiều kỳ tích: tỷ lệ suy dinh dưỡng và thiếu chất giảm, chiều cao và thể trạng được cải thiện. Sự phát triển về mặt thể chất chính là chìa khóa nâng cao chất lượng lao động, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam.
Những năm gần đây, Việt Nam là một trong số ít quốc gia vẫn duy trì được tăng trưởng kinh tế dương bất chấp những tác động từ đại dịch và sự bất ổn của kinh tế thế giới. Chất lượng cuộc sống của người Việt Nam được cải thiện và nâng cao rõ rệt cả về vật chất và tinh thần, trong đó có nhiều tiêu chí gây ấn tượng, ngang với những nước phát triển. Môi trường ổn định, yên bình cùng người dân thân thiện đã thuyết phục rất nhiều người nước ngoài lựa chọn sinh sống và làm việc tại Việt Nam.
Trên trường quốc tế, Liên hợp quốc luôn đánh giá cao Việt Nam trong hoạt động gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, có nhiều đóng góp tích cực tại Cộng hòa Trung Phi, Nam Sudan; đề ra những sáng kiến quan trọng về bảo vệ rừng, chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, hỗ trợ thích ứng cho các cộng đồng địa phương và giảm thiểu khí methane; viện trợ, hỗ trợ cho nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới... Thực tế này khiến nhiều cá nhân, tổ chức dù thiếu thiện chí với Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng không thể không thừa nhận.
Chẳng hạn, một bài viết trên trang VOA gần đây nhận định: “Tỷ lệ nợ quốc gia so với GDP của Việt Nam thuộc hạng rất thấp so với đa số các nước khác (…). Hiện nay nhà nước Việt Nam đang tập trung vào phát triển kinh tế, ổn định xã hội, và có lẽ chủ trương dần dần chuyển đổi chính trị một cách tiệm tiến theo quy trình và chủ động của họ”. Bày tỏ quan điểm trên trang BBC, một vị tiến sĩ cũng có chung nhận xét: “Phải công bình để nói rằng về phương diện quốc gia, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công, trên mặt tích cực, xây dựng một quốc gia vững mạnh về cấu trúc và ổn định xã hội”.
Có thể nói, những thành tựu đạt được về mọi mặt của đời sống đã góp phần củng cố vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Dấu ấn, tầm ảnh hưởng của Việt Nam tại các diễn đàn đa phương, khu vực và quốc tế được đánh giá cao, nhiều sáng kiến của Việt Nam được bạn bè đồng tình, ủng hộ. Trong đó có thể kể đến sáng kiến và cam kết của Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc năm 2021 (COP26).
Ngày 16/5/2022, trong chuyến thăm và làm việc tại Trụ sở Liên hợp quốc ở thành phố New York (Mỹ), Thủ tướng Phạm Minh Chính có cuộc gặp với bà Anmina Mohammed - Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc, cùng nhiều quan chức cấp cao của tổ chức này. Khi đánh giá về Việt Nam, bà Anmina Mohammed khẳng định: Việt Nam là đối tác quan trọng và là người bạn của Liên hợp quốc, mong muốn hai bên tiếp tục phát triển quan hệ một cách toàn diện, hiệu quả hơn nữa.
Đến ngày 7/6/2022, Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam là một trong những Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 đại diện cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương với nhiệm kỳ một năm. Trong quá trình ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tới đây, Việt Nam cũng vinh dự được các nước ASEAN đồng thuận đề cử là ứng cử viên của ASEAN.
Hiện nay, tình hình thế giới còn diễn biến phức tạp. Dịch Covid-19 đã căn bản được kiểm soát nhưng vẫn có nguy cơ bùng phát tại một số quốc gia, vùng lãnh thổ. Các quốc gia trên toàn cầu tiếp tục phải đối mặt với các vấn đề biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh năng lượng… Những khó khăn này đều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đây cũng là thử thách để đất nước ta chứng tỏ bản lĩnh, tiềm lực của mình, tiếp tục vươn lên trên các lĩnh vực, thể hiện uy tín, vị thế trên trường quốc tế. Từ đó sẽ tạo nền móng vững chắc góp phần củng cố, nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới trong chặng đường phía trước.
SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ GÓP PHẦN GIỮ GÌN AN NINH TRẬT TỰ
Với gần 76 triệu người sử dụng mạng xã hội (tương đương 73,7% dân số), Việt Nam đang là quốc gia có tỷ lệ người sử dụng mạng xã hội ở mức cao trên thế giới.
Ðối với nhiều người sử dụng mạng xã hội dần trở thành nhu cầu không thể thiếu, hỗ trợ đắc lực cho việc học tập, kinh doanh, kết nối với cộng đồng, cung cấp thông tin... Ðáng chú ý thời gian qua ngày càng có nhiều người dân chủ động dùng mạng xã hội để tham gia công tác giữ gìn an ninh trật tự xã hội.
Tại nhiều khu dân cư, tổ dân phố, người dân đã biết khai thác các tính năng ưu việt của mạng xã hội như thông tin nhanh, hình ảnh chân thực, liên kết được nhiều người,... từ đó đã lập ra các hội nhóm để trao đổi về tình hình hoạt động của dân cư trên địa bàn, phổ biến các chủ trương, văn bản mới ban hành, đồng thời phản ánh kịp thời những biểu hiện tiêu cực, dấu hiệu của tội phạm để cảnh báo tới các thành viên.
Trong khi việc sử dụng các trang mạng xã hội cho công tác giữ gìn an ninh trật tự tại các khu dân cư phần nhiều còn mang tính tự phát thì tại không ít tỉnh, thành phố, chính quyền địa phương và cơ quan chức năng đã cho thấy sự chủ động, kiên quyết trong việc triển khai các trang mạng xã hội để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Như tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ hơn một năm qua, Công an thành phố đã đưa vào sử dụng 29 trang mạng xã hội thuộc các phòng nghiệp vụ, công an quận, huyện và 52 trang, hội nhóm trên nền tảng mạng xã hội của công an cấp phường, xã nhằm tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm, tuyên truyền các quy định pháp luật, cảnh báo thủ đoạn của tội phạm và hỗ trợ người dân các thủ tục hành chính.
Sau hơn một năm vận hành, các trang, hội nhóm trên các nền tảng mạng xã hội đã phát huy hiệu quả trong việc tiếp nhận các thông tin từ người dân tố giác tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật. Lực lượng chức năng đã tiếp nhận hơn 3.000 tin báo về các sự việc trộm cắp, tai nạn giao thông, cấp cứu y tế, hành vi vi phạm pháp luật khác do người dân gửi đến thông qua các trang mạng xã hội. Nhiều trang có lượng tương tác cao, thu hút hàng triệu lượt người xem, vì vậy đã phát huy tốt vai trò góp phần định hướng dư luận trước các sự việc, hiện tượng phức tạp mới nảy sinh. Cũng qua kênh thông tin hữu dụng này, nhiều vụ vi phạm pháp luật đã được ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Việc kết nối, trao đổi thông tin giữa chính quyền và người dân được thông suốt, nhanh chóng và thuận tiện.
Còn tại Hà Nội, từ năm 2019, công an thành phố đã xây dựng kênh thông tin tiếp nhận phản ánh của người dân về tình hình an ninh trật tự trên địa bàn Thủ đô qua Facebook. Ðồng thời tại cơ sở, lực lượng công an khu vực cũng tích cực triển khai kênh thông tin trên các trang mạng xã hội để tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm. Các hình thức này được đánh giá là có vai trò rất quan trọng góp phần đưa công tác đấu tranh, ngăn chặn các hành vi phạm tội ngày càng sâu sát thực tế, tạo điều kiện để mọi người dân đều có thể tố giác tội phạm một cách thuận tiện, an toàn. Khi có nguồn tin thông qua các trang mạng xã hội, lực lượng công an nhanh chóng tiến hành phân loại, xác minh, nếu có cơ sở, chính danh thì giải quyết theo quy định. Các trường hợp đưa tin sai, có hành vi xúc phạm nhân phẩm, uy tín của người khác cũng sẽ được cơ quan chức năng chấn chỉnh kịp thời.
Từ thực tế nêu trên cho thấy, nếu biết khai thác lợi thế của mạng xã hội, huy động được sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền các cấp và cơ quan có liên quan; kêu gọi được sự tham gia, phát huy ý thức trách nhiệm của cả cộng đồng sẽ phát huy hiệu quả rất lớn trong công tác giữ gìn an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Thời gian tới, công tác này cần được các địa phương tiếp tục chú trọng và phát huy hiệu quả hơn nữa trong đấu tranh, phòng, chống tội phạm.
Tỉnh táo, nhận diện “bình phong” mang tên hội, nhóm kín
Những ngày qua, trên mạng xã hội, lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của một số người dân, các hội, nhóm như “Vệ quốc quân” có liên hệ mật thiết với các địa chỉ “Tổ quốc - dân tộc”, “Quyền dân chủ cho nhân dân”, “Thông tin đa chiều”, “Người cầm đuốc”; “Tiên Rồng”, “Việt Tân tương trợ”… ra sức truyền bá những tư tưởng tâm linh, ma mị, tà đạo, thậm chí là những quan điểm phản động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Đáng chú ý là hội nhóm này chỉ
“rỉ tai” thôi mà có tốc độ lan truyền rất nhanh, rất mạnh lôi kéo nhiều người
tham gia. Đây chính là chiêu thức mới của các hội nhóm kín, thông qua các hoạt
động đi vào lòng người như chữa bệnh, hỗ trợ dân oan, hoạt động ái hữu…
Hầu hết các hội nhóm kín này
đều lợi dụng “tự do, dân chủ, nhân quyền” lôi kéo các thành viên tham gia các
hội nhóm tiến hành các hoạt động như tuyên truyền chống phá, tụ tập biểu tình,
tham gia các khóa huấn luyện, đào tạo... để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đặc
biệt có những hội nhóm như “Người cầm đuốc” quy ước với nhau các thành viên
trong nhóm đều sử dụng “nick ảo”, hoạt động theo số bí danh; giữa các thành viên
trong nhóm không biết tên thật của nhau, chỉ cần biết nhiệm vụ, số lượng người
tham gia nhiệm vụ, mục đích nhằm “giữ an toàn” cho các thành viên. Với nhiều
thủ đoạn lôi kéo như tạo thành các facebook “trắng” để xâm nhập vào các nhóm có
liên quan đến nhiều lĩnh vực của xã hội như hội đồng hương, kinh doanh, lái xe,
hội khóa, lớp, thâm nhập vào các điểm nóng khiếu kiện để lôi kéo thành lập
nhóm dân oan… Có một số hội nhóm liên hệ, chia sẻ những bài tuyên truyền phản
động, xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, thường thì chúng lợi dụng vào các dịp
lễ tết, bám sát những sự kiện chính trị trong nước, theo sát những vụ việc
chống tham nhũng để kích động, làm cho thông tin mang tính thời sự. Một số hội
nhóm có mối liên kết chặt chẽ với các tổ chức phản động, khủng bố như: “Chính
phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; Việt Tân… để tham gia vào các hoạt động biểu
tình, chống đối giải phóng mặt bằng, rải truyền đơn, kích động bạo loạn.
Có thể nói với vỏ bọc “hội nhóm
kín” các tổ chức phản động đang tìm mọi cách tiếp cận, với nhiều hình thức lôi
kéo tinh vi trong đó có chiêu thức “dân sự hóa” các “hành vi chính trị” để âm
thầm phát triển tổ chức, phổ cập truyền thông, len lỏi vào hội nhóm xã hội trên
không gian mạng. Tuy vậy “những viên đạn bọc đường” dù có tinh vi thế nào cũng bị
nhân dân ta phát giác. Qua theo dõi các buổi mạn đàm, hội luận có khá nhiều ý
kiến phản ứng lại, vạch trần mưu đồ ẩn sau của bọn chúng. Không gian mạng đang
là một trong những không gian không thể thiếu của xã hội loài người, nó mang
đến những tiện ích cho xã hội hiện đại, nhưng nó cũng tràn ngập những “rác
rưởi” được tạo bởi những mưu mô thâm độc.
Xuyên tạc quan điểm quốc phòng, an ninh của Đảng - thủ đoạn nham hiểm cần bác bỏ
Tăng cường quốc phòng, an ninh là yêu cầu tất yếu khách quan, nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề mà các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, đòi hỏi phải nhận diện và đấu tranh kiên quyết.
Quốc phòng, an ninh là
lĩnh vực đặc thù, nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân. Đường lối, quan điểm của Đảng ta về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc,
nhất là trong 35 năm đổi mới vừa qua đã không ngừng được bổ sung, phát triển,
hoàn thiện qua các kỳ Đại hội, nổi bật là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa
XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội
XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của
Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và
Công an nhân dân là nòng cốt”1. Đây là kết quả của quá trình phát
triển tư duy của Đảng ta trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm, truyền thống dựng nước
đi đôi với giữ nước của dân tộc; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới. Sự phát triển đó còn dựa trên cơ
sở nhận định, đánh giá, dự báo khách quan, chính xác tình hình thế giới, khu
vực, trong nước; gắn bảo vệ Tổ quốc với xây dựng, đổi mới toàn diện, hội nhập
quốc tế, phát triển đất nước phù hợp với ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân.
Sự bổ sung, phát triển tư
duy mới của Đảng ta về quốc phòng, an ninh là tất yếu khách quan - nhân tố quan
trọng góp phần làm nên những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín, tiềm lực,
sức mạnh mới cho đất nước. Nhưng với dã tâm phá hoại sự nghiệp cách mạng Việt
Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã dùng mọi thủ đoạn
xuyên tạc, công kích chủ trương đúng đắn ấy, cố tình cản trở, gây nhiễu, hướng
lái dư luận, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của
Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Thực hiện mưu đồ đó, chúng triệt để
lợi dụng các trang mạng xã hội và một số báo, đài phát thanh tiếng Việt ở nước
ngoài để xuyên tạc, bóp méo trắng trợn quan điểm, đường lối của Đảng ta về tăng
cường quốc phòng, an ninh; những hoạt động đối ngoại, các sự kiện quan trọng
trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Mỗi khi tình hình an ninh, chính trị - xã
hội, tình hình biên giới, biển, đảo có những diễn biến phức tạp, nhạy cảm, họ
lại ra sức lợi dụng để xuyên tạc, gây nhiễu thông tin, tạo sự hoài nghi của các
tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; từ đó, kích động lôi kéo các phần tử bất
mãn, cực đoan tạo lập lực lượng đối lập chống phá Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ
trang ta.
Với những lập luận theo
lối “đánh lận con đen”, họ thêu dệt, xuyên tạc nhiệm vụ quốc phòng, an ninh;
cho rằng: Đảng, Nhà nước ta vì sợ mất vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền đất
nước và xã hội mà ám ảnh, hù dọa về âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo
loạn lật đổ, về nguy cơ xung đột vũ trang, chiến tranh xâm lược,... lấy đó làm
cái cớ để tuyệt đối hóa, đề cao nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ
quốc, xem nhẹ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Thâm hiểm hơn, họ còn rắp
tâm quy kết: Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân
đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện
đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại là bị
“cuốn theo” hoặc “khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực”;
từ đó, mưu đồ “chống lại một nước thứ ba”. Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch
còn xuyên tạc Đảng, Nhà nước ta tập trung quá nhiều nguồn lực cho việc xây dựng
Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, “ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của nhân
dân vốn đã có nhiều khó khăn, thiếu thốn”; đồng thời, làm nảy sinh các tiêu
cực, như: đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng không thể kiểm soát được, làm cho đất
nước rơi vào tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, v.v. Nhằm tạo tâm lý hoài nghi, sự
mâu thuẫn trong nhận thức của nhân dân đối với chủ trương của Đảng về xây dựng
Quân đội nhân dân, Công an nhân dân hiện đại, chúng kích động tư tưởng đòi xóa
bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với việc xây
dựng Quân đội, Công an nói riêng và sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ
quốc nói chung. Thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội, họ đưa ra quan
điểm: “Quân đội nên trung lập, đứng ngoài chính trị” và “chỉ tuân theo pháp
luật” như quân đội các nước phương Tây. Đồng thời, xuyên tạc, phủ nhận bản chất
cách mạng, truyền thống tốt đẹp, mục tiêu lý tưởng, chức năng, nhiệm vụ của
Quân đội nhân dân; thổi phồng hạn chế, khuyết điểm và vu cáo, nói xấu, bôi nhọ
các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cao cấp của Quân đội ta, tạo ra sự nghi ngờ, gây
tâm lý hoang mang trong nhân dân, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường
lối quốc phòng, an ninh của Đảng với mục đích phá hoại khối đại đoàn kết toàn
dân tộc. Để gia tăng hiệu quả, họ kích động các phần tử cơ hội, bất mãn lợi
dụng mạng xã hội tấn công liên tục với cường độ cao, tạo sức ép dư luận, làm
cho Đảng ta phải “điều chỉnh” quan điểm về quốc phòng, an ninh theo ý đồ của
họ.
Những thủ đoạn trên của
các thế lực thù địch là đặc biệt nguy hiểm, gây hoang mang, tạo sự nghi ngờ,
làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào đường lối quân sự, quốc phòng, an ninh,
bảo vệ Tổ quốc và phương hướng xây dựng Quân đội, Công an hiện đại của Đảng và
Nhà nước ta. Đồng thời, tác động tiêu cực đến quá trình triển khai, thực hiện
đường lối của Đảng về quốc phòng, an ninh; kìm hãm và gây bất lợi cho ta trong
quan hệ quốc tế và đối ngoại quân sự, quốc phòng, an ninh, nhất là với các nước
lớn, các nước trong khu vực, cũng như bảo đảm hòa bình cho sự ổn định, phát
triển đất nước, v.v. Từ đó, họ hướng lái tư tưởng xây dựng quân đội theo mô
hình phương Tây; khơi dậy sự “mong ngóng” trong xã hội về sự liên kết, hỗ trợ,
“giúp đỡ” của cường quốc để hiện đại hóa Quân đội, tác động tiêu cực, cản trở sự
nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Quan điểm nhất quán của
Đảng, Nhà nước ta: xây dựng Quân đội hiện đại không chỉ về vũ khí trang bị, mà
hiện đại trên tất cả các nội dung cấu thành sức mạnh chiến đấu của Quân đội
trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới
của giai cấp vô sản; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về xây dựng nền
quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa. Đó còn là sự quán triệt sâu sắc quan điểm “người trước, súng sau”, giải
quyết tốt mối quan hệ giữa con người và vũ khí, trang bị. Nếu xa rời những
nguyên tắc, yêu cầu trên sẽ dẫn đến xây dựng quân đội theo hướng quân đội “nhà
nghề” như sự hô hào của các thế lực thù địch “Quân đội nên trung lập, đứng
ngoài chính trị”, sẽ làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, không
những không tăng cường được sức mạnh chiến đấu và bản chất giai cấp công nhân,
mà còn dẫn đến những nguy hại khôn lường. Vì thế, những luận điệu xuyên tạc
quan điểm về quốc phòng, an ninh của Đảng ta cần kiên quyết bác bỏ.
Sự nguy hại của biểu hiện “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, tạo dựng môi trường và không gian xã hội mới, xóa nhòa khoảng cách về không gian, thời gian và địa vị xã hội của mỗi con người; tạo ra sự giao lưu, tiếp biến văn hóa khác hẳn về chất trên tất cả các lĩnh vực, với tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Việt Nam hiện là quốc gia có tốc độ phát triển và ứng dụng internet thuộc tốp đứng đầu thế giới1, không gian mạng được sử dụng để tương tác trong học tập, lao động, giao tiếp, giải trí của người dân đã trở nên phổ biến và quen thuộc. Chúng ta đang đứng trước cơ hội và thách thức tiếp cận khối lượng khổng lồ các sản phẩm văn hóa của nhân loại bao gồm cả sản phẩm có giá trị văn hóa và phản văn hóa. Đảng, Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại. Song, trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là sự kết nối xuyên “biên giới” trên không gian mạng, việc giao lưu, tiếp biến văn hóa vẫn còn những lệch lạc, biểu hiện ở hiện tượng “sùng ngoại” và “lai căng” văn hóa, ảnh hưởng không nhỏ đến định hướng xây dựng nền văn hóa tiên tiến thời kỳ hội nhập.
“Sùng ngoại” trong văn
hóa có thể hiểu là sự đánh giá thái quá những yếu tố, sản phẩm, giá trị của
nước ngoài; từ đó, dẫn đến cuồng tín, tôn sùng, theo đuổi trong nhận thức và
hành động, hạ thấp, coi thường các sản phẩm, giá trị văn hóa trong nước. Còn
“lai căng” văn hóa là sự tiếp thu sản phẩm, giá trị văn hóa nước ngoài trên
không gian mạng để pha trộn, gán ghép một cách gượng ép, tùy tiện với các sản
phẩm, giá trị văn hóa trong nước theo kiểu “dở tây dở ta”, hay nói cách khác,
đó là sự bắt chước nước ngoài không có chọn lọc, gây phản cảm.
“Sùng ngoại”,
“lai căng” văn hóa trên không gian mạng như những virus “văn hóa độc hại” lây
lan, tác động to lớn đến con người và xã hội Việt Nam. Nó cổ súy cho lối sống
dân chủ, thể chế chính trị tư sản phương Tây. Những biểu hiện “sùng ngoại”,
“lai căng” văn hóa theo khuynh hướng xã hội công nghiệp hiện đại và mặt trái
của kinh tế thị trường, như: chủ nghĩa thực dụng, đề cao cá nhân, lối sống
hưởng thụ, tôn thờ tiền bạc thái quá, thị hiếu thấp kém,… đi ngược lại với giá
trị văn hóa truyền thống, con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã
lựa chọn. Không chỉ vậy, nó còn làm cho những giá trị đạo đức cốt lõi bị lung
lay, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhất là của giới trẻ hiện nay, mà còn
tạo ra nhiều hệ lụy trong xã hội, làm cho nhiều người dễ dao động, buông xuôi
trước sự tấn công của văn hóa ngoại lai xấu độc, gây khủng hoảng niềm tin, mất
phương hướng trong lựa chọn các giá trị, lối sống, v.v. Chỉ thị số 46-CT/TW,
ngày 27/7/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) chỉ rõ: “Nhiều sản phẩm
văn hóa độc hại từ bên ngoài đã xâm nhập vào nước ta bằng nhiều con đường, tác
động rất xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận
nhân dân, nhất là thế hệ thanh thiếu niên; làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và
những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc”.
Để giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc, một mặt phải không ngừng
chăm lo, xây dựng những giá trị văn hóa tốt đẹp, mặt khác cần phải kiên quyết
đấu tranh, bác bỏ những biểu hiện “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa trên không
gian mạng theo tinh thần: “Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù
hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời chủ động nâng cao sức đề kháng của các
tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại
lai độc hại”2.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện
nay, việc giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các quốc gia, trong đó có Việt Nam
là tất yếu khách quan, song sự du nhập, “lai căng” văn hóa từ bên ngoài đối với
từng quốc gia cũng khác nhau. Điều này phụ thuộc rất lớn vào việc sử dụng các
thiết chế quản lý văn hóa của mỗi nước. Vì thế, nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa nói chung và trên không gian
mạng nói riêng là vấn đề rất quan trọng. Đây là những cơ sở pháp lý
cần thiết để các cấp, ngành, tổ chức, lực lượng đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn
và xử lý những hành vi vi phạm về văn hóa. Theo đó, cùng với quán triệt, thực
hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước về văn hóa,
cần đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, khung pháp lý về văn
hóa, quản lý văn hóa ở tất cả các cấp. Đồng thời, tháo gỡ kịp thời những khó
khăn, vướng mắc, nhằm phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực, tạo động lực cho bản
sắc văn hóa dân tộc phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập mà không hòa tan.
Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh mạng, tạo cơ sở
pháp lý quan trọng trong phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hoạt động vi phạm
pháp luật trên không gian mạng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ
chức, cá nhân; nâng cao năng lực bảo vệ hệ thống thông tin quốc gia, góp phần
bảo đảm chủ quyền, an ninh, trật tự và xây dựng môi trường an toàn, lành mạnh
trên không gian mạng. Tiếp tục hoàn thiện, đồng bộ cơ chế thị trường trong lĩnh
vực văn hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy
đầu tư, sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu thụ các sản phẩm, nguồn tài nguyên,
dịch vụ văn hóa nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại trên không gian mạng.
Thực tiễn hoạt động văn hóa ở từng địa phương, lĩnh vực và cả
nước cho thấy, tuy cùng chịu sự tác động của văn hóa ngoại lai, nhưng ở đâu có
môi trường văn hóa tốt hơn thì ở đó sự “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa sẽ ít
hơn và việc đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện này cũng dễ dàng hơn và ngược
lại. Vì thế, để nâng cao sức đề kháng của nhân dân trước sự xâm nhập của văn
hóa ngoại lai độc hại cần phải xây dựng môi trường văn hóa xã hội lành
mạnh. Để làm được điều đó, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống
giá trị văn hóa với các tiêu chí, chuẩn mực cụ thể trong từng lĩnh vực: giáo
dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, báo chí và truyền thông, tôn giáo và tín
ngưỡng; trong gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, các cơ quan trong hệ
thống chính trị, doanh nghiệp, tổ chức xã hội,... nhằm hình thành các chuẩn mực
về văn hóa đạo đức, hành vi ứng xử của từng cá nhân. Khai thác, phát huy hiệu
quả các thiết chế văn hóa hiện có; thực hiện nghiêm các quy tắc ứng xử văn hóa,
văn minh trên môi trường mạng xã hội, hướng tới những giá trị cao đẹp, “chân,
thiện, mỹ”. Thực hiện tốt vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, người đứng
đầu các cơ quan, tổ chức, người có uy tín trong cộng đồng trong việc thực hiện
quy chế, chuẩn mực đạo đức, thực sự là tấm gương sáng, là hạt nhân trong việc
xây dựng môi trường văn hóa. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong xây
dựng đời sống văn hóa, đẩy mạnh đấu tranh bác bỏ các hiện tượng văn hóa độc
hại, biểu hiện “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa, nhất là trên không gian mạng ở
ngay mỗi địa phương, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị
và mỗi gia đình. Quá trình đấu tranh cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và
“chống”, lấy “xây” là nhân tố quyết định, “chống” là quan trọng.
Trong dòng chảy phát triển của nhân loại, việc giao thoa văn hóa
giữa các quốc gia, dân tộc như là một lẽ đương nhiên và không một quốc gia nào
có thể đứng ngoài dòng chảy đó. Trong bối cảnh ấy, cùng với các giải pháp khác,
việc sử dụng sức mạnh nội sinh của văn hóa nước nhà để ngăn chặn, giảm
thiểu,... sự tác động của văn hóa ngoại lai xấu độc là vấn đề cần được chú
trọng. Vì thế, cần chủ động hội nhập, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc
tế về văn hóa, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, đưa các quan
hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, làm phong phú
thêm văn hóa dân tộc. Chú trọng truyền bá văn hóa Việt Nam, tạo điều kiện thuận
lợi để các nước, các tổ chức quốc tế, các cơ quan văn hóa, du lịch nước ngoài
giới thiệu tiềm năng đất nước, văn hóa, con người Việt Nam với thế giới. Trong
hội nhập cần phát huy bản lĩnh văn hóa, trí tuệ con người Việt Nam giữ vững bản
sắc văn hóa dân tộc; giải quyết hài hòa mối quan hệ văn hóa với chính trị, kinh
tế, quốc phòng và an ninh với các nước và cộng đồng quốc tế; kiên quyết chống
sự áp đặt, đồng hóa về văn hóa từ các nước lớn.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát
triển như vũ bão, kéo theo đó là sự phát triển của không gian mạng cùng sự giao
thoa, tiếp biến văn hóa khổng lồ đối với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Do
đó, để nâng cao hiệu quả đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại,
xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong
mỹ tục, các cấp, ngành, lực lượng, địa phương cần đẩy mạnh ứng dụng,
phát triển công nghệ thông tin đi đôi với bảo đảm an toàn thông tin, an ninh
mạng trong công tác quản lý nhà nước và trong thực hiện các nhiệm vụ.
Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, phát triển, sản xuất các sản phẩm của Việt
Nam trên không gian mạng, tiến tới đủ năng lực bảo đảm an toàn thông tin, bảo
vệ an ninh mạng và làm chủ không gian mạng. Triển khai xây dựng phát triển
không gian mạng quốc gia an toàn, lành mạnh, rộng khắp gắn với xây dựng các quy
chế phối hợp và các giải pháp kỹ thuật trong kiểm soát, ngăn chặn các sản phẩm
văn hóa độc hại xâm nhập vào nước ta từ mạng internet, các thiết bị kỹ thuật
số, điện thoại di động. Xây dựng quy chế phối hợp với các hãng công nghệ nước
ngoài như Google, Youtube xóa bỏ các kênh thông tin xấu, độc, không phù hợp với
văn hóa nước ta. Biểu dương, khen thưởng những điển hình tốt, gương tiêu biểu
trong giữ gìn đạo đức, thuần phong mỹ tục, xây dựng cơ quan, đơn vị, gia đình
văn hóa và trong công tác phòng, chống, bài trừ, phê phán các sản phẩm văn hóa
“sùng ngoại”, “lai căng”; kịp thời xử lý nghiêm minh, những tổ chức, cá nhân có
sai phạm.
Việt Nam không có tự do ngôn luận và đàn áp mạng xã hội - Luận điệu xuyên tạc, lố bịch
Các thế lực thù địch, phản động, chống đối chính trị ra sức rêu rao, xuyên tạc Việt Nam ngăn cản tựh do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, là kẻ thù của tự do báo chí trên mạng. Họ chỉ trích chính quyền bắt, truy tố tùy tiện người chống đối; kiểm duyệt, đóng các trang mạng, ra các luật mang tính chất hình sự; chính quyền xiết chặt, kiềm tỏa các quyền tự do biểu đạt, tự do lập hội, nhóm ôn hòa, tự do đi lại và tự do tôn giáo, v.v. Họ ngộ nhận về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí dẫn tới cho rằng các quyền này là tuyệt đối, nhằm kích động, tẩy chay và trả đũa nhau khốc liệt, kể cả bôi nhọ, chống đối chế độ xã hội, đặc biệt thông qua livestream “bẩn” trên mạng xã hội, v.v. Từ đó, thúc đẩy thành lập một số tổ chức nhân danh văn chương, báo chí, như: “Văn đoàn độc lập”, “Hội nhà báo độc lập”, “Phóng viên không biên giới”, “The 88 Project”1,… để chống đối chế độ, xuyên tạc Nhà nước ta bắt, bỏ tù nhà báo độc lập, đấu tranh cho cái gọi là tự do ngôn luận. Đưa ra bảng xếp hạng sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam; gây sức ép đòi thả tự do cho các đối tượng bị cơ quan chức năng bắt giữ do vi phạm pháp luật Việt Nam mà họ gọi là bắt, bỏ tù “nhà báo báo độc lập”, “blogger”, v.v. Đây là những luận điệu xuyên tạc, lố bịch, bởi: Tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Với quan điểm đề cao vai trò của báo chí là diễn đàn của nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, để nhân dân trình bày những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình. Thông qua đó báo chí thực hiện chức năng phản biện xã hội, đề xuất những ý kiến tâm huyết đối với Đảng, Nhà nước, định hướng dư luận trong quá trình xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Thực hiện quan điểm đó, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin đã được Hiến pháp (năm 2013), Luật Báo chí (năm 2016) và Luật Tiếp cận thông tin (năm 2016) quy định trách nhiệm của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân. Đặc biệt, báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 41.000 nhân sự đang hoạt động trong
lĩnh vực báo chí, với 779 cơ quan báo chí (trong đó có: 142 báo, 612 tạp chí,
25 cơ quan báo chí điện tử độc lập), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát
thanh - truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình.
Tính tới tháng 6/2021, số lượng người dùng internet là gần 70 triệu người, tăng
0,8% trong giai đoạn 2020 - 2021 (chiếm hơn 70% dân số); số người sử dụng mạng
xã hội là gần 76 triệu người, tăng gần 10 triệu người trong vòng 01 năm (tương
đương 73,7% dân số). Việt Nam được đánh giá là quốc gia có lượng người dùng
internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ sáu trong tổng số 35 quốc
gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á.
Mặt khác, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do
thông tin không phải là quyền tuyệt đối mà là quyền có giới hạn. Tự do
ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin được xem là nguyên tắc cơ bản cho một
nền dân chủ, thậm chí được ví như là “khí ôxy” trong một xã hội dân chủ và phát
triển; nhưng không được cộng đồng quốc tế thừa nhận là quyền tuyệt đối. Các văn
kiện quốc tế về quyền con người, như: Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người
năm 1948 (Điều 29), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966
(Điều 19) đều khẳng định: việc thực hiện quyền tự do ngôn luận phải kèm theo
những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, có thể phải chịu một số hạn chế nhất
định được quy định trong luật và là cần thiết nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy
tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe
hoặc đạo đức của xã hội. Pháp luật của đa số các nước trên thế giới đều
giới hạn quyền này, như: tại Mỹ, Bộ luật Hình sự (Điều 2.385, Chương 115) quy
định về sự hạn chế của quyền tự do ngôn luận; tại Đức, Luật An ninh mạng năm
2015 (sửa đổi năm 2018), quy định những dịch vụ mạng xã hội có thể bị phạt lên
đến 50 triệu Euro nếu để xảy ra trường hợp người dùng lăng mạ, gây thù oán, hay
phát tán các tin tức giả mạo, v.v.
Để tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, Việt
Nam đã xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý bảo đảm quyền tự do ngôn luận, bảo
đảm nguyên tắc báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được
pháp luật bảo hộ; nghiêm cấm mọi hành vi lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự
do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức và công dân. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo trình tự, thủ tục luật định, bảo đảm
công khai, minh bạch, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người
vô tội, cũng không bỏ lọt tội phạm. Đồng thời, theo dõi, khảo sát, đánh giá và
kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, phù
hợp với các quy tắc điều chỉnh hành vi văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng xã
hội, nhất là trên không gian mạng. Sự thực trên đã vạch trần sự phiến diện,
xuyên tạc về quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam.
Sự xuyên tạc, lố bịch về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam
Những năm qua, Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, bảo đảm quyền dân chủ cho nhân dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch chẳng những không thừa nhận, mà còn ra sức chống phá, với những luận điệu xuyên tạc, lố bịch về một Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do ngôn luận và đàn áp mạng xã hội. Đó là vấn đề cần đấu tranh bác bỏ.
Cách nhìn xuyên tạc, lố
bịch đến mức chính trị hóa mọi vấn đề là điều dễ nhận thấy trong các chiêu trò
chống phá của các thế lực thù địch về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.
Họ lắp ghép khiên cưỡng yếu tố đạo đức vào thuật ngữ pháp lý, điển hình là ngôn
từ mà họ thường xướng lên: “tù nhân lương tâm”, phản ánh cách tư duy chiết
trung, ngụy biện, thiếu đạo đức khi không có cơ sở pháp lý. Bởi, trong nền tư
pháp Việt Nam và các nước trên thế giới không có thuật ngữ “tù nhân lương tâm”.
Thực chất cái gọi là “tù nhân lương tâm” chỉ là một chiêu trò nhằm cổ súy, hậu
thuẫn, để dễ bề can thiệp vào việc bảo vệ, kích động các đối tượng chống phá, xuyên
tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Những phiên tòa
xét xử công khai, nghiêm minh các đối tượng chống đối, như: Phạm Chí Dũng,
Nguyễn Tường Thụy, Phạm Chí Thành, Cấn Thị Thêu, Phạm Thị Đoan Trang,... là
việc làm cần thiết của một nhà nước có chủ quyền, nhằm ngăn chặn những hành vi
vi phạm pháp luật đến mức nguy hiểm đối với xã hội. Trước công lý, các đối
tượng này đều công khai chấp nhận các phán quyết của hội đồng xét xử với những
tội danh của mình. Vậy nhưng, một số tổ chức nước ngoài không có thiện chí với
Việt Nam lại ra những tuyên bố phê phán Tòa án Việt Nam và tỏ thái độ cổ súy,
ủng hộ những đối tượng đã bị xét xử và phán quyết công khai về hành vi phạm
tội. Đây thực chất là cách tiếp cận pháp lý hết sức sai trái và xuyên tạc trắng
trợn tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
Họ còn quy chụp rằng:
Việt Nam xem xét nhân quyền với nội hàm quá rộng, thiên về khuôn phép xã hội,
mà coi nhẹ việc bảo đảm quyền tự nhiên cụ thể của cá nhân. Họ cố tình lờ đi một
sự thật hiển nhiên rằng: bảo đảm quyền tự nhiên cụ thể của cá nhân phải đặt
trong mối quan hệ với lợi ích của xã hội trong khuôn khổ pháp luật. Không chỉ ở
Việt Nam, mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tiếp cận và thực hành nhân
quyền phổ quát không chung chung, trừu tượng, mà trong mối quan hệ tự nhiên
giữa quyền cá nhân cụ thể với quyền của nhóm xã hội trực tiếp liên quan đến cá
nhân đó. Chỉ dựa trên một số thông tin chưa được kiểm chứng và mang động cơ thù
địch về chính trị đối với Việt Nam để quy chụp tình hình dân chủ, nhân quyền sẽ
là cách nhìn lố bịch. Điều này thấy rõ nhất trong các bản phúc trình nhân quyền
toàn cầu từ năm 2013 của Tổ chức theo dõi Nhân quyền (HRW).
Các thế lực thù địch nhân
danh nhân quyền phổ quát để ra sức cổ súy cho nhân quyền phương Tây. Họ tự coi
văn hóa phương Tây là trung tâm, xem nhân quyền phương Tây chi phối nhân quyền
phổ quát toàn thế giới và cao hơn chủ quyền quốc gia. Lối nhân danh này bị chi
phối bởi nguồn kinh phí hoạt động của những cá nhân, tổ chức dân sự theo cơ chế
thị trường, vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can
thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. Điển hình là, các bản phúc
trình về nhân quyền của HRW thường bị nhiều nước phản ứng và chỉ trích, lên án.
Mỗi quốc gia, vùng
lãnh thổ và nền văn hóa do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, giá trị truyền
thống, trình độ phát triển, chế độ chính trị,... nên có cách tiếp cận nhân
quyền phổ quát là khác nhau. Ông Lý Quang Diệu, cố Thủ tướng Singapore, đã từng
khẳng định: không ở đâu trên thế giới, các quyền này lại được phép thực hiện mà
không có những giới hạn, vì nếu áp dụng một cách mù quáng những ý tưởng này có
thể đi theo hướng hủy hoại xã hội có tổ chức. Cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam
Pete Peterson cho rằng: không thể đánh giá tình hình nhân quyền của một quốc
gia trên chuẩn 100% hài lòng. Hoa Kỳ cũng như không một quốc gia nào khác có
thể đáp ứng nhu cầu đó; thang điểm 100% hài lòng về mặt nhân quyền là điều
không thể đạt được tại một quốc gia.
Những năm qua, bảo đảm
nhân quyền ở Việt Nam đã được nhiều nhà lãnh đạo, chính khách quốc tế, các nhà
quan sát, du khách cảm nhận, đánh giá cao. Nhà báo chuyên về chính trị Đông Nam
Á, David Hutt phát biểu trên đài BBC News rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hành
động trách nhiệm và đặt người dân là mối quan tâm hàng đầu. Ngoài ra, sự thành
công của Việt Nam trong việc biến nguy thành cơ để thực hiện có kết quả mục
tiêu kép trong: phòng, chống đại dịch Covid-19; đồng thời, phát triển kinh tế -
xã hội, nhằm “không để ai bị bỏ lại phía sau” đã nhận được rất nhiều bình luận,
đánh giá tốt của giới chính khách, chuyên gia, truyền thông quốc tế. Đó là minh
chứng sống động trong việc tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền của Đảng, Nhà
nước Việt Nam.
11.7
Nhận diện biểu hiên chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay
Hiện nay, mặc dù chủ nghĩa dân túy trên thế
giới đã trở thành trào lưu điển hình chi phối đời sống chính trị - xã hội ở
nhiều nước, nhưng ở Việt Nam mới chỉ biểu hiện ở những phát ngôn và hành động
của một số người. Tuy nhiên, những biểu hiện đó, đã, đang có tác động xấu và
nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh
ngăn ngừa kịp thời.
Ở nước ta hiện nay, chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh
tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, nhưng trước sự tác
động từ những diễn biến phức tạp của đời sống chính trị quốc tế, những biểu
hiện chủ nghĩa dân túy xuất hiện và có xu hướng phát triển. Dễ nhận thấy, thực
chất chủ nghĩa dân túy là những lời nói và hành động mang tính chất mị dân, lợi
dụng, kích động nhân dân, lấy một số nhóm được coi là “nhân dân” làm nền tảng
cho tính chính danh, phục vụ cho mục đích chính trị, kinh tế,… của cá nhân,
nhóm, phe phái nhất định, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển và lợi ích quốc
gia, dân tộc. Trong mỗi giai đoạn khác nhau, những biểu hiện chủ nghĩa dân túy
cũng khác nhau cả về đặc điểm và sắc thái, tuy chúng vẫn cùng bản chất và tính
chất. Vì thế, cần tiếp cận với các góc độ khác nhau để nhận diện những biểu
hiện chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau:
1. Những
biểu hiện “theo đuôi quần chúng” của một số cán bộ, đảng viên, cá nhân và nhóm
lợi ích. Những người có biểu hiện này thường “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng
của một nhóm quần chúng nhất định. Họ nhân danh quần chúng nhân dân, “lấy lòng”
quần chúng, tìm mọi cách vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín
nhiệm cho bản thân một cách không lành mạnh, bỏ qua các vấn đề thuộc về nguyên
tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng. Họ
thường xem mục tiêu, lý tưởng như là vấn đề “trang sức” cho con đường công
danh, tiến thân của bản thân; coi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật,
đặc biệt là những kẽ hở trong đó như là “điều kiện” để trục lợi. Tuy đây là cấp
độ biểu hiện thấp, nhưng nó đã thể hiện sự phai nhạt niềm tin, lý tưởng, thiếu
tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của
Đảng, sự quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước.
2. Lợi dụng
tình cảm tự phát, nhu cầu trước mắt, lợi ích thường nhật của dân chúng để mưu
cầu lợi ích riêng. Trước những vấn đề bức xúc, nhạy cảm của xã hội, của địa
phương, đất nước, họ lợi dụng, lấy lòng, hòng làm “thỏa mãn” nhu cầu trước mắt
nào đó của một bộ phận dân chúng; kích động người dân phản ứng với dụng ý xấu,
động cơ thiếu trong sáng, vì lợi ích riêng của họ; lạm dụng các quyền tự do,
dân chủ đưa ra những đòi hỏi, yêu sách phi lý, mị dân, trái với chính sách,
pháp luật của Nhà nước. Những người có biểu hiện này thực sự đã suy thoái về chính
trị tư tưởng, xa rời dần những nguyên tắc, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; niềm
tin đối với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đã suy giảm nghiêm trọng,
nhưng họ chưa muốn thay đổi chế độ, bởi lẽ chế độ này “còn có lợi” cho họ để có
thể “đục nước béo cò”.
3. Giương
cao khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước”, kích động, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng
viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối, chống phá, kích động tư
tưởng dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và môi
trường hòa bình, ổn định của đất nước. Những người có biểu hiện này đã thể hiện
rõ sự biến chất về chính trị, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, sự lãnh đạo của Đảng. Mặc dù họ ít bộc lộ tư tưởng, quan điểm một cách
trực tiếp, nhưng khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước” luôn được họ thể hiện bằng cách
này hay cách khác để lôi kéo, kích động đám đông phục vụ cho ý đồ của họ, tạo
cơ sở cho việc tuyên truyền các quan điểm lệch lạc, sai trái với chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
4. Những
biểu hiện ở người có quan điểm sai trái, thậm chí thù địch. Họ nhân danh “vì
nhân dân”, “bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước”, “vì sự phát triển đất nước và
lợi ích quốc gia dân tộc”,… lợi dụng, kích động dân chúng hướng đến những hành
động cực đoan chống đối Đảng, chính quyền và chế độ xã hội. Ở những người này,
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đạt đến độ thay đổi về chất, đã biến chất về
chính trị; ra mặt chống đối cách mạng, chống đối Đảng và Nhà nước không chỉ bằng
tư tưởng, quan điểm chính trị sai trái, mà còn bằng cả hành động; họ đã “trở
cờ”, nhưng vẫn nhân danh “vì nhân dân”, “vì lợi ích quốc gia dân tộc” và họ
thường được sự hỗ trợ, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần của các thế lực thù
địch, phản động.
Những biểu hiện
trên chưa phản ánh hết tính chất phức tạp của tình hình, song, đó là những dạng
biểu hiện cơ bản của chủ nghĩa dân túy hiện nay, đang từng ngày, từng giờ chống
phá Đảng và Nhà nước. Nó tác động, gây nhiều hệ lụy tiêu cực, dễ gây nên sự mơ
hồ, ngộ nhận; dễ lẫn lộn giữa những cán bộ thực sự vì dân, vì nước với những kẻ
ngụy trang khéo léo bằng vỏ bọc “vì dân”; dễ dẫn đến dao động về tư tưởng, hoài
nghi, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ,
ảnh hưởng tiêu cực đến đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Điều đó đặt ra nhiều khó khăn đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính
trị, cũng như trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
10.7
Cần xem lại cách nhìn, quan niệm về tự do tôn giáo
Những năm gần đây, sự sôi động trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam được thể hiện ở việc liên tục gia tăng số lượng các cơ sở thờ tự trong tôn giáo và tín đồ. Bất chấp điều đó, các thế lực thù địch vẫn vu cáo Việt Nam ngăn cản tự do tôn giáo, không công nhận các tổ chức tôn giáo.
Theo số liệu từ Ban Tôn giáo Chính phủ,
nếu như năm 1985, số lượng tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam vào khoảng 14 triệu,
thì đến năm 2021 đã tăng lên hơn 26,5 triệu. Thành tựu trong bảo đảm quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam còn được thể hiện qua sự gia tăng số lượng
các trường đào tạo chức sắc.
Tính đến tháng 4-2022, các tôn giáo ở
Việt Nam có 66 cơ sở đào tạo chức sắc với 10.000 học viên đang theo học, riêng
Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 47 cơ sở đào tạo, trong đó có 4 học viện Phật
giáo. Các cơ sở thờ tự cũng được quan tâm sửa chữa, xây mới. Tính đến ngày
31-12-2021, cả nước có 29.800 cơ sở thờ tự của các tôn giáo, tăng thêm 5.800 cơ
sở so với năm 2008.
Hiện ở Việt Nam cũng có nhiều hệ thống
tổ chức giáo hội có tầm hoạt động quốc tế, đặc biệt là Công giáo, Phật giáo và
một số tổ chức tôn giáo có nguồn gốc nước ngoài du nhập vào Việt Nam, thể hiện
thông qua việc mở rộng quan hệ với các tổ chức tôn giáo các nước và tiến hành
các hoạt động thiện nguyện ở nước ngoài. Chẳng hạn như giữa tháng 6 vừa qua,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ trao tặng tài trợ, giúp đỡ nhân dân
Sri Lanka vượt qua khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị tại đất nước
này.
Không chỉ phát triển mạnh mẽ về số
lượng, các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc ở Việt Nam đã chứng tỏ tầm ảnh
hưởng tích cực đối với đời sống, sẵn sàng đóng góp cho cộng đồng thông qua các
hoạt động thiện nguyện và đồng hành với các hoạt động của đất nước, mà những gì
diễn ra trong giai đoạn đại dịch Covid-19 phức tạp là một ví dụ điển hình.
Những con số và ví dụ nói trên một mặt
phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa
người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn
giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định
lâu dài hay mới được công nhận.
Thực tế cũng cho thấy, các tín đồ tôn
giáo ở Việt Nam ngày càng đông và họ được tự do hành lễ dù ở nhà riêng hay nơi
thờ tự. Mỗi người Việt Nam cũng thường có tín ngưỡng riêng, chẳng hạn như thờ
cúng tổ tiên, ngày rằm mùng một thắp hương... nhưng vẫn có thể theo tôn giáo.
Ngoài ra, nhiều lễ hội tôn giáo diễn ra hằng năm không còn là chuyện riêng của
từng tôn giáo mà đã có sức lan tỏa lớn trong cộng đồng xã hội, qua đó làm giàu
thêm đời sống tinh thần của nhân dân.
Qua đó để thấy rằng, việc một số cá
nhân, tổ chức nước ngoài thường xuyên bóp méo hoặc có cái nhìn sai lệch về tình
hình tự do tôn giáo ở Việt Nam có thể do mưu đồ rắp tâm chống phá Việt Nam
thông qua vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền, hoặc cũng có thể do sự khác
biệt trong cách nhìn và quan niệm của họ về vấn đề này.
Can thiệp sâu vào tình hình tự do nhân
quyền cũng như tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các quốc gia khác và cố bắt các
quốc gia ấy phải mặc “bộ cánh tự do tôn giáo” mang màu sắc phương Tây là điều
không thể chấp nhận được. Bộ cánh ấy qua mô tả thì rất mỹ miều và hợp thời,
nhưng liệu đã có ai thừa nhận sự chuẩn mực của nó?
11.7
Đừng đòi hỏi vô lý, quá trớn
Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên một số cá nhân, tổ chức hoạt động dưới danh nghĩa “người bảo vệ” tự do tôn giáo và nhân quyền thế giới vẫn tung ra những thông tin thiếu khách quan, những nhận định sai trái về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam.
Điển hình là gần đây, Ủy ban Tự do tôn
giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) công bố báo cáo về tình hình tự do tôn giáo quốc tế
năm 2021, trong đó nêu tình hình và kết quả thực hiện tôn giáo của 27 nước và
một số thực thể, tổ chức trên thế giới mà USCIRF đánh giá là có những vi phạm
“nghiêm trọng” hoặc “đặc biệt nghiêm trọng” để đề xuất Bộ Ngoại giao Mỹ đưa vào
“danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt” hoặc “danh sách cần theo dõi đặc
biệt” về tự do tôn giáo, từ đó nhằm áp đặt chế tài với các quốc gia này trong
hỗ trợ tài chính và hợp tác trên một số lĩnh vực.
Trong nội dung báo cáo về Việt Nam,
USCIRF đưa ra nhận xét với giọng điệu đầy kẻ cả rằng điều kiện tự do tôn giáo
của Việt Nam trong năm 2021 không có gì khác biệt so với năm 2020. Và, thông
qua việc đả kích tình hình bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam,
USCIRF thậm chí còn đòi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam.
Phải khẳng định rằng, không chỉ riêng
báo cáo năm 2021 mà các báo cáo thường niên của USCIRF đưa ra trong những năm
gần đây đều được đánh giá là chưa chính xác, thiếu thiện chí, thiếu khách quan
về tình hình tự do tôn giáo ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Thậm chí, ngay
cả trong chính giới Mỹ và các tổ chức nhân quyền ở Mỹ cũng xuất hiện những ý
kiến cho rằng, cách tiếp cận của USCIRF nặng về chỉ trích, không giúp cải thiện
tự do tôn giáo trên toàn cầu đúng với mục đích mà Quốc hội và Chính phủ Mỹ đặt
ra.
Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia có
nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có cả tôn giáo nội sinh và tôn
giáo ngoại nhập và từng được ví như một “bảo tàng” về tín ngưỡng, tôn giáo của
thế giới. Theo thống kê cập nhật từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay ở Việt Nam
có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và hơn 26,5 triệu tín đồ, chức sắc
của các tôn giáo. Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt
Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo
Hòa hảo...
Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước
Việt Nam là bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của
người dân, bảo đảm công bằng, không phân biệt đối xử với các tôn
giáo. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có đạo luật
về tôn giáo, cụ thể là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày
18-11-2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2018. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
của Việt Nam quy định rất rõ các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, không ai
được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi
phạm pháp luật.
Đồng thời, Nhà nước Việt Nam tôn trọng,
bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống
thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước và cộng đồng, đáp ứng nhu
cầu tinh thần của nhân dân. Nhà nước cũng bảo hộ các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức
tôn giáo và tài sản hợp pháp của các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo. Đồng
thời, nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn
giáo, ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín
ngưỡng, tôn giáo, xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội, môi trường, xâm phạm đời sống xã hội cũng như thân thể, tính
mạng, sức khỏe của nhân dân... Và việc xử lý đối với các hoạt động vi phạm pháp
luật liên quan đến tôn giáo cũng dựa trên những quy định này.
Quyền tự do tôn giáo là vấn đề có tính
lịch sử, nghĩa là phụ thuộc vào từng thời điểm lịch sử cụ thể ở từng quốc gia,
gắn với từng thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội cụ
thể nhất định. Nói cách khác, không thể tồn tại một khái niệm về quyền tự do
tôn giáo chung chung, trừu tượng mà không gắn với một bối cảnh và thực thể nhất
định.
Vì lẽ đó, không thể đem giá trị, quan
niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng hay đo lường, đánh giá mức
độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Đặc biệt, trên phương diện quan hệ
đối ngoại giữa các quốc gia, thể chế chính trị bình đẳng, độc lập thì càng
không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một
quốc gia khác và buộc quốc gia đó phải tuân theo.
Đây cũng là những điều mà USCIRF hay bất
cứ cá nhân, tổ chức nào đang muốn đưa ra những đòi hỏi quá trớn đối với việc
bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cần phải học thuộc!
ST
Sự thật cần phải được tôn trọng!
Xưa nay, ai làm báo chí-truyền thông, thậm chí bất kể người dân bình thường nào cũng có thể dễ dàng hiểu rằng, tiêu đề là phần quan trọng nhất của bài báo, đó chính là phần nội dung đáng chú ý nhất, nêu bật bản chất sự kiện, vấn đề, hiện tượng mà tác phẩm báo chí đề cập đến. Thế nên, chỉ cần nhìn vào các tiêu đề với nội dung gì được nêu ra, ngôn ngữ được sử dụng như thế nào, đã đủ để hình dung được dụng ý sâu xa, bản chất của nhà báo, cũng như cơ quan báo chí. Vậy thử một lần nữa quay lại nhìn một số tiêu đề mà các cơ quan báo chí có phiên bản tiếng Việt đặt, chúng ta sẽ thấy ngay đâu là sự thật ẩn giấu đằng sau những nội dung, ngôn từ giật gân, câu khách, gây sự chú ý bằng những thủ pháp ẩn chứa thông điệp kích động, chống phá, hằn học, gièm pha, giễu nhại... hết sức phi lý.
Thiết
nghĩ, cũng như con người vậy, các cụ đã đúc kết “trông mặt mà bắt hình dong”,
với hàm ý rằng, chỉ cần chú ý đến hình dáng khuôn mặt của người khác, bạn cũng
có thể biết được phần nào, thậm chí rất rõ đặc trưng tính cách, bản chất của
con người đó, đặc biệt là những người “lộ tướng”. Và với việc chỉ cần nhìn các
tiêu đề bài báo, cũng có thể nhận ra ngay mục đích thực sự của các nhà báo, cơ
quan báo chí kể trên đã nhắm đến sự lệch lạc, thiếu tôn trọng sự thật khách
quan, quy chụp về đất nước, con người, quốc gia khác. Điều này càng rõ ràng hơn
khi sự tiếp cận, những góc nhìn, cùng hệ thống luận điểm, luận cứ đưa ra đã
trường diễn suốt bao năm qua.
Chúng ta
đều biết rằng, trong "Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền" được Đại hội
đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết 217A (III) ngày
10-12-1948, có Điều 19 khẳng định rằng: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận
và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm
kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện
truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”. Rõ ràng, những gì mà các cơ quan
báo chí phương Tây nói về Việt Nam, dù bằng bất cứ loại hình báo chí-truyền
thông nào, từ báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử đến truyền
thông xã hội (ví như YouTube, Facebook...) là không hề bị cấm, không hề bị can
thiệp.
Nhưng
tuyên ngôn có ý nghĩa nhân văn cao cả ấy đâu chỉ dừng lại ở Điều 19 mà các cơ
quan báo chí phương Tây có thể hoàn toàn tự do phóng tác, thêu dệt, mượn một
phần sự thật để hướng lái nhằm làm sai lệch bản chất thông tin. Họ quên mất
rằng, chính Điều 29 và Điều 30 của "Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền"
khẳng định một điểm chung bắt buộc, đó là các quyền tự do ấy phải trong khuôn
khổ pháp luật! Mà pháp luật ấy, là của từng quốc gia độc lập, trên cơ sở thượng
tôn luật pháp quốc tế, chứ không thể có một thứ gọi là tự do tùy tiện, bất chấp
mà chà đạp lên tất cả chỉ để thỏa ý thích nói về cái gọi là “sự thật” theo quan
niệm của họ mà thiếu đi sự thật.
Người
phương Tây có câu ngạn ngữ rằng, “một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một
nửa sự thật thì chưa hẳn là sự thật”. Điều này không có gì phải bàn cãi. Đặc
biệt, đối với báo chí-truyền thông, một trong những nguyên tắc quan trọng hàng
đầu trong hoạt động của mình là phản ánh sự thật khách quan, tôn trọng sự thật
một cách tuyệt đối, toàn vẹn. Chính vì thế, những kiểu nhân danh tự do để vi
phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí một cách trắng trợn, tinh vi, có hệ thống,
cần phải bị phê phán thích đáng, bất kể chúng ở đâu, nói về vấn đề gì đi chăng
nữa. Chỉ một lẽ đơn giản, sự thật cần phải được đề cao, bảo đảm và tôn trọng
một cách trọn vẹn!
Đừng nhân danh tự do để vi phạm tự do một cách trắng trợn
Từ lâu, một số cơ quan truyền thông phương Tây, nhất là các trang tiếng Việt của những “ông lớn” như VOA, RFA, RFI, BBC... luôn nhân danh tự do, bảo vệ tự do báo chí, tự do ngôn luận để vi phạm một cách trắng trợn hoặc tinh vi, bóp méo sự thật khiến thông tin bị sai lệch, gây phương hại đến sự phát triển của quốc gia khác, ảnh hưởng không tốt đến quan hệ quốc tế...
Thử điểm
qua một số tiêu đề trong thời gian gần đây của Đài châu Á Tự do (RFA), một đài
phát thanh tư nhân của Hoa Kỳ, xem họ thông tin gì về tình hình Việt Nam. Ví
như: “Nước cộng sản Lào khủng hoảng, báo chí Việt tránh đưa tin”, “Thuốc đặc
trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế!”...
Đây nữa,
cũng là một số tiêu đề bài báo trên một cơ quan báo chí khác của Mỹ là Đài
Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), ví như: “Đảng CS nhắm kỷ luật cựu Chủ tịch TP HCM
Nguyễn Thành Phong”, “Xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã hội hóa và ơn... đảng”,
“Báo chí cách mạng Việt Nam cần cởi mở hơn”, “Dân mong nhà nước mau giảm giá
xăng, chớ “so sánh” nữa”...
Không
riêng gì hai cơ quan báo chí kể trên, một số cơ quan báo chí ở châu Âu cũng
xuất bản trang tiếng Việt với những chủ đích không hề dựa trên nguyên tắc cơ
bản nhất của báo chí là sự thật, nhất là việc tôn trọng sự thật khách quan. Có
thể kể đến BBC tiếng Việt (Anh), RFI tiếng Việt (Pháp). Có lẽ, cũng không cần
phải dẫn thêm những ví dụ về các tiêu đề lệch lạc, không đúng bản chất kiểu này
nữa. Bởi chưa cần đọc những bài báo đó viết về vấn đề gì, tính chính xác đến
đâu, nhưng chỉ nhìn riêng các tiêu đề đã thấy sự quy kết, chụp mũ những vấn đề
chính trị quan trọng, cũng như sự dễ dãi, tùy tiện, “chợ búa” trong cách dùng
từ ngữ...
Có một
điểm chung nữa hết sức nguy hiểm của các cơ quan báo chí phương Tây kể trên, đó
là sự phiến diện, mất cân bằng, mất công bằng trong thông tin. Điều này thể
hiện thông qua việc họ chỉ nhăm nhăm vào những thông tin tiêu cực, những hạn
chế, khiếm khuyết trong các lĩnh vực mà đào bới, xoáy sâu vào phản ánh. Họ coi
những hiện tượng cá biệt ấy là bản chất, là sự phổ biến. Họ cố tình quên những
thành quả to lớn mà Việt Nam đạt được trong suốt chiều dài lịch sử hình thành
và phát triển, nhất là từ khi đổi mới năm 1986 đến nay. Là một nhà báo, một cơ
quan báo chí, lẽ nào họ không biết các tổ chức quốc tế đánh giá khách quan,
chân xác về sự phát triển vượt bậc của Việt Nam, là mức sống của người dân được
nâng lên đáng kể, là các quyền tự do về ngôn luận, báo chí, tôn giáo, tín
ngưỡng, nhân quyền... đều được đề cao, bảo đảm.
Những
thông tin quan trọng về thành tựu của Việt Nam thì họ không bao giờ đưa. Ví dụ,
ngày 7-6-2022, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã đồng thuận bầu Việt Nam làm Phó
chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 đại diện châu Á-Thái Bình Dương.
Trước đó, Việt Nam đã hai lần được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng
Bảo an Liên hợp quốc (các nhiệm kỳ: 2008-2009, 2020-2021), 5 lần được bầu làm
thành viên Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên
hợp quốc (các nhiệm kỳ: 1978-1983, 2001-2005, 2009-2013, 2015-2019 và
2021-2025), thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014-2016),
thành viên Hội đồng Kinh tế-Xã hội Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2016-2018)...
Trong hơn
hai năm qua, khi đại dịch Covid-19 hoành hành khiến cả thế giới chao
đảo, Việt Nam đã rất thành công trong phòng, chống đại dịch, sớm kiểm soát được
dịch bệnh, đưa mọi hoạt động trở lại trạng thái bình thường mới. Việt Nam đã
“mở cửa bầu trời” quốc nội và quốc tế, hoạt động kinh tế nói chung, du lịch nói
riêng đã tấp nập trở lại với những mức tăng trưởng đầy khích lệ, hết sức lạc
quan. Cuối tháng 6-2022, Ngân hàng UOB (Singapore) đã công bố Báo cáo tăng
trưởng kinh tế và dự báo quý kế tiếp cho các thị trường, trong đó có Việt Nam.
Báo cáo của UOB vẫn giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 của Việt Nam ở
mức 6,5%, bởi đà tăng trưởng cơ bản của Việt Nam vẫn giữ nguyên trong quý
II-2022...
Trước đó,
vào đầu tháng 6-2022, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo tăng trưởng kinh
tế Việt Nam sẽ phục hồi ở mức 6,5% năm 2022 và đạt 6,7% năm 2023. Trong khi đó,
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2022 xuống
mức 3,6%, nhưng tin rằng tiến trình phục hồi kinh tế tại Việt Nam sẽ mạnh lên
từ việc thực thi Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Ông
Francois Painchaud-Trưởng đại diện IMF tại Việt Nam-cho rằng, GDP Việt Nam sẽ
tăng trưởng ở mức 6% trong năm 2022 và 7,2% trong năm 2023...
Có lẽ,
chỉ cần đưa những dẫn chứng hết sức cụ thể, khách quan kể trên, theo sự nhìn
nhận, đánh giá của thế giới cũng đủ sức thuyết phục về sự tăng trưởng kinh tế,
cũng như uy tín, vị thế của Việt Nam hiện nay! Xin được nhắc lại lời khẳng định
nhiều lần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có
được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.
