Thứ Ba, 12 tháng 7, 2022

Bóc mẽ bản chất thật của IDS

 

          Cả trên giấy tờ lẫn trước dư luận, các cựu lãnh đạo của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS luôn tự tuyên bố rằng tổ chức này là một tổ chức khoa học công nghệ, đăng ký pháp nhân trên cơ sở Luật Khoa học – Công nghệ Việt Nam, và hoạt động tư vấn dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học. Nhưng đó có phải là sự thật không? Không chắc.

          Trong thực tế, viện IDS có rất ít đặc điểm của một tổ chức khoa học. Trong khi đó nó lại có thừa đặc điểm của một tổ chức chính trị mạo danh. Thực tế đó thể hiện rõ ràng qua những bằng chứng này:

          - Từ khi sáng lập đến khi giải thể, viện IDS chưa từng đưa ra được một công trình nghiên cứu khoa học nào.

          - Dù viện IDS tuyên bố rằng họ hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu và tư vấn về phát triển cho các tổ chức có nhu cầu, hoạt động thực tế của viện lại hoàn toàn tập trung vào việc tổ chức sự kiện và trả lời phỏng vấn báo chí hay đứng hơn là hoạt động chính trị.

          - Trong ba đề tài nghiên cứu mà viện IDS từng chọn, đề tài đầu tiên mang tên Cải cách Giáo dục và Y tế nhìn từ góc độ kinh tế học. Tuy vậy, trong số những thành viên viên viện tham gia “nghiên cứu” trong đề tài này, không ai có kiến thức chuyên môn về giáo dục và y tế. Như vậy, phải khẳng định rằng ngay từ đầu, các kết luận và tư vấn mà viện IDS đưa ra đã có tính phi khoa học.

          - Ngay sau khi có tư cách pháp nhân, viện IDS đã làm việc với nhóm tác giả của nghiên cứu “Lựa chọn thành công: Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam” của trường John F. Kennedy School of Government, Đại học Harvard, Mỹ. Làm sao một tổ chức dân sự mới thành lập, không danh tiếng, thậm chí chưa làm ra một sản phẩm nào cho đời lại có thể liên kết với đại học Havard, trừ phi tổ chức đó được thành lập để làm vỏ bọc cho một kế hoạch chuyển đổi chính trị chung mà các thành viên viện và giới chức Mỹ đã thống nhất với nhau từ trước?

          - Trong các hội thảo và phát ngôn trước truyền thông, viện IDS chưa bao giờ cảnh báo những nguy cơ mà kinh tế, văn hóa và xã hội Việt Nam phải đối mặt khi mở cửa. Thay vào đó, họ chỉ ca ngợi những phép màu của “kinh tế tự do”, và thúc giục người Việt gia nhập trật tự Mỹ mà không cần cân nhắc. Các thành viên của viện này, đặc biệt là Nguyễn Quang A, Phạm Chi Lan, Lê Đăng Doanh và Phạm Nguyên Trường, giống những tay chào hàng của trật tự Mỹ hơn là những người nghiên cứu khoa học có trách nhiệm và những nhân viên tư vấn công tâm.

          - Ngày 14/09/2009, hội đồng viện IDS đã quyết định giải tán Viện để phản đối quyết định số 97/2009/QĐ-TTg, theo đó các tổ chức nghiên cứu khoa học có phản biện ngược với chính sách của Chính phủ thì không được công bố công khai. Để lý giải cho cuộc quyên sinh gây sóng gió của mình, họ tuyên bố rằng quyết định nêu trên của chính quyền khiến viện “không thể hoạt động theo đúng sứ mệnh”. Tuy nhiên, chính lời lý giải bất hợp lý này đã làm lộ rõ bản chất chính trị của viện. Vì nếu IDS thật sự là một tổ chức nghiên cứu và tư vấn khoa học như tuyên bố, họ hoàn toàn có thể tiếp tục cung cấp dịch vụ nêu trên cho những khách hàng của mình, và không công khai thành quả nghiên cứu với công chúng. Nếu hội đồng viện IDS cảm thấy viện bị “bức tử” vì quyết định này, thì phải khẳng định rằng viện được lập ra không phải để nghiên cứu và tư vấn, mà là để làm chính trị bằng cách dắt mũi truyền thông.

          Ngoài ra, với cách thức hoạt động của mình, viện IDS hoàn toàn có thể giữ vai trò của một trung tâm mua bán thông tin nội bộ và vỏ bọc che giấu gián điệp kinh tế. Cũng cần lưu ý rằng viện IDS chỉ là một trong những vỏ bọc mà một nhóm lợi ích sử dụng để thao túng quá trình chuyển đổi kinh tế – chính trị thông qua dư luận và cộng đồng học thuật. Ngay cả khi viện này đã tự giải thể, những quân cờ của nhóm lợi ích đó vẫn tiếp tục hoạt động dưới những vỏ bọc mới mẻ hơn, hoặc chính thống hơn. Chẳng hạn, nhìn nhân sự liên quan, có thể liên tưởng ngay đến những tổ chức như Quỹ Phan Chu Trinh, Văn đoàn Độc lập và Diễn đàn Xã hội Dân sự.

          Câu hỏi đặt ra là: vì sao sau quyết định số 97/2009/QĐ-TTg, chỉ có viện IDS tuyên bố tự giải thể để ăn vạ ầm ĩ với dư luận, còn không ít NGO khác vẫn tiếp tục được thành lập, hoạt động nghiên cứu – tư vấn và làm ra sản phẩm thực cho xã hội từ đó đến nay? IDS không hề bị bức tử, nó chỉ giả chết để che giấu bản chất.

          Qua những chiêu trò nhân danh, đánh bóng và ăn vạ để mua chuộc lòng người của tổ chức này, chúng ta có thể hiểu hơn về cách làm chính trị, mục đích và dự định của các cựu thành viên viện IDS.

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ - Nhà lý luận và thực tiễn xuất sắc trong công tác xây dựng Đảng

 Nguyễn Văn Cừ - Tổng Bí thư thứ tư của Đảng, nhà chính trị tài năng, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lý luận xuất sắc của Đảng, của cách mạng Việt Nam. Đồng chí là tấm gương sáng ngời về tinh thần tự phê bình và phê bình, có đóng góp quan trọng trong việc vạch ra chiến lược và sách lược của cách mạng giải phóng dân tộc. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ tiêu biểu cho thế hệ cán bộ rèn luyện, trưởng thành trong phong trào đấu tranh cách mạng; là đảng viên lớp đầu của Đảng Cộng sản Đông Dương đồng thời cũng là một trong những cán bộ đầu tiên của Đảng tham gia thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, rèn luyện trong thực tiễn đấu tranh của phong trào công nhân mỏ vùng Đông Bắc. Được tôi luyện trong các Nhà tù Hoả Lò, Côn Đảo, đồng chí đã cùng với các chiến sĩ cộng sản biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, tự trang bị cho mình lý luận cách mạng Mác - Lênin, trưởng thành cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất và trí tuệ, giữ trọng trách Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng khi mới 26 tuổi đời.

Tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học tập, nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa Mác - Lênin vào xây dựng Đảng

Ngay từ khi còn là một cậu thanh niên hiếu học với lòng yêu nước, sự nhạy cảm chính trị và nhiệt huyết cách mạng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã tiếp cận, nghiên cứu và thấm nhuần Chủ nghĩa Mác - Lênin, sớm trở thành hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập.

Cuối năm 1928, thực hiện chủ trương của Kỳ bộ Bắc kỳ, đồng chí Nguyễn Văn Cừ tham gia phong trào “vô sản hóa”(1) tại mỏ than Vàng Danh, Mạo Khê... (Quảng Ninh). Trong hoàn cảnh thực tiễn và phong trào hoạt động cách mạng bí mật hết sức khó khăn, song qua tiếp xúc với công nhân và nông dân đã tôi luyện người thanh niên yêu nước Nguyễn Văn Cừ trở thành người chiến sĩ cộng sản, nhà hoạt động cách mạng kiên cường. Đồng chí đã nhận thức được khả năng to lớn của giai cấp công nhân Việt Nam, giác ngộ, vận động họ đứng lên làm cách mạng. Với tinh thần vừa làm, vừa học, sự năng động, sáng tạo trong lý luận và thực tiễn, tư duy lí luận đến đâu áp dụng thực hành ngay vào thực tiễn đến đó, đồng chí đã tổ chức nhiều cuộc mít-tinh, kêu gọi công nhân đấu tranh. Tờ báo Than do Nguyễn Văn Cừ trực tiếp chỉ đạo, tham gia viết và là người biên tập chính đã được phát hành rộng rãi trong vùng, tuyên truyền rộng khắp trong quần chúng công nhân về Chủ nghĩa Mác - Lênin, động viên tinh thần và định hướng quần chúng đấu tranh. Tuy tờ báo có khổ nhỏ, in thủ công nhưng được công nhân lần lượt truyền tay nhau đọc. Các bài báo đã vạch trần thủ đoạn đàn áp, bóc lột của chủ mỏ, nói lên nỗi khổ cực hằng ngày của công nhân. Từ đó đã xây dựng nên ý chí quyết tâm lật đổ ách thống trị và tinh thần đoàn kết, đấu tranh của giai cấp công nhân. Sau hai năm “vô sản hóa”, Nguyễn Văn Cừ đã trở thành một cán bộ lãnh đạo chủ chốt của phong trào công nhân vùng mỏ. Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ đảng do đồng chí thành lập, phong trào đấu tranh của công nhân mỏ bước vào thời kỳ mới, sôi nổi, rộng khắp với nhiều hình thức phong phú, hòa nhịp với cao trào cách mạng của cả nước.

Năm 1931, khi bị địch bắt, giam cầm, tra tấn tại nhà tù Côn Đảo, Nguyễn Văn Cừ đã cùng với các đồng chí của mình “biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng”. Chính tại nơi “địa ngục trần gian” này, Nguyễn Văn Cừ được tiếp cận các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin như: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Hai sách lược của Đảng, Làm gì?, Những nguyên lý của chủ nghĩa Lê-nin, Tư bản…” và nhiều sách báo của Quốc tế Cộng sản, Đảng Cộng sản Pháp. Được các đồng chí lớn tuổi hơn có nhiều kinh nghiệm và trình độ lý luận giúp đỡ, đồng chí đã nắm bắt được nhiều vấn đề lý luận, tiếp thu những quan điểm, nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đó nghiền ngẫm, đúc rút thành kinh nghiệm cho quá trình hoạt động thực tiễn của mình. Nguyễn Văn Cừ đã cùng với các đồng chí khác chép lại bản “Luận cương chính trị” và trực tiếp truyền thụ cho các đồng chí khác ngay tại Nhà tù Côn Đảo. Dù chưa có điều kiện nghiên cứu một cách hệ thống về phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhưng tinh thần quốc tế vô sản đã thể hiện rõ nét ngay từ khi đồng chí trở thành đảng viên cộng sản, “đồng chí Nguyễn Văn Cừ có nhiều bài viết sâu sắc kêu gọi những người cộng sản và các tầng lớp nhân dân lao động Việt Nam ủng hộ cách mạng Trung Quốc, Liên Xô, ủng hộ Liên Xô vào Hội Quốc liên, vận động giúp cách mạng Trung Quốc kháng Nhật”(2).

Có thể thấy, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã thể hiện tư chất của một người chiến sĩ cộng sản có tầm nhìn xa trông rộng, có quyết tâm và nghị lực lớn, có khả năng phân tích, khái quát, nhận định chính xác các vấn đề cách mạng trong nước và quốc tế, sớm định hình và khẳng định là một tài năng chính trị kiệt xuất của Đảng ta.

Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, kiên quyết đấu tranh chống lại biểu hiện tả khuynh, giáo điều và chủ nghĩa cá nhân trong Đảng

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ là người có tư duy lý luận sắc sảo, sáng tạo; nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn được đồng chí giải quyết một cách nhuần nhuyễn, phù hợp với thực tế Việt Nam. Nắm vững Chủ nghĩa Mác - Lênin; nắm vững quan điểm, tư tưởng trung tâm của Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản; nắm vững thời cơ “đặc biệt thuận lợi để thành lập Mặt trận Nhân dân thống nhất phản đế rộng rãi ở Đông Dương”. Tại Hội nghị BCH Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 3-1938, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã đưa ra sáng kiến và được Hội nghị “quyết định thành lập Mặt trận Dân chủ thống nhất Đông Dương”, tập trung vào nhiệm vụ xây dựng mặt trận chống phát-xít.

Để tuyên truyền, vận động cách mạng, tập hợp đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Các quyền tự do dân chủ với nhân dân Đông Dương”. Đây là một tác phẩm lý luận chính trị quan trọng, trình bày những quan điểm cơ bản của Đảng về vấn đề tự do dân chủ, khẳng định bản chất tốt đẹp của tự do dân chủ XHCN, muốn phát triển phải giành được tự do dân chủ. Muốn được hưởng tự do dân chủ thì phải đoàn kết cùng nhau đấu tranh dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Tác phẩm đã phân tích đúng, trúng và có sức thuyết phục những vấn đề lý luận cơ bản, trên cơ sở đó giúp Đảng đưa ra những quyết sách chiến lược, sách lược trong thời kỳ đấu tranh đòi dân chủ.

Năm 1939, trước nguy cơ phát-xít và Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thực dân Pháp trở mặt đàn áp phong trào dân chủ, những phần tử tờ-rốt-kít giả danh cách mạng cũng ra mặt chống phá Đảng. Trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã chỉ đạo và tiến hành một cuộc đấu tranh kiên quyết, sâu rộng trên mặt trận tư tưởng, lý luận, nhằm chống bọn tờ-rốt-kít và củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng.

Trên phương diện đấu tranh củng cố nội bộ, tháng 6-l939, trong thời kỳ Đảng còn hoạt động bí mật, với bút danh Trí Cường, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết và cho in cuốn “Tự chỉ trích”. Đây là một đóng góp quan trọng của đồng chí Nguyễn Văn Cừ vào công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Lần đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, một đồng chí lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng đã thẳng thắn viết và khẳng định: “Người cộng sản có bổn phận nói sự thật với quần chúng, dẫn đường cho quần chúng chớ không phải theo đuôi hay phỉnh họ”(3). Và dù có sai lầm, có thất bại thì “phải có can đảm mở to mắt ra nhìn sự thật”(4). Phê phán những khuynh hướng sai lầm “thiên tả”, hoặc “thiên hữu” của một số cán bộ, đảng viên, “Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã cho rằng, đối với một đảng chính trị, việc mắc phải khuyết điểm, thậm chí sai lầm là khó tránh khỏi”(5). Điều quan trọng là Đảng phải biết tự phê bình, “công khai, mạnh dạn, thành thực vạch những nhầm lỗi của mình và tìm phương châm sửa đổi, chống những xu hướng hoạt đầu, thỏa hiệp, như thế không phải làm yếu Đảng, mà làm cho Đảng được thống nhất mạnh mẽ”(6).

Tác phẩm thể hiện tư duy sắc sảo của một lãnh tụ nhạy bén về chính trị; vừa tranh luận, vừa thuyết trình một cách sáng tỏ đường lối, chính sách của Đảng – chỉ ra những vấn đề cần xử lý trước mắt và lâu dài, giữa sách lược và chiến lược, củng cố bộ máy tổ chức của Đảng và niềm tin của quần chúng lúc bấy giờ.

Người chiến sĩ cách mạng đạo đức, trí tuệ với tinh thần tự giác phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trưởng thành qua thực tiễn

Lựa chọn con đường hoạt động cách mạng từ khi còn rất trẻ, với ý chí niềm tin vững vàng và sự cố gắng không ngừng nghỉ ngay cả khi đã trở thành người lãnh đạo cao nhất của Đảng; xác định mục tiêu phấn đấu hy sinh lợi ích cá nhân vì tập thể, Nguyễn Văn Cừ đã dày công nghiên cứu, tôi luyện trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, từ thực tiễn đúc rút thành những hiểu biết về lý luận chính trị. Càng vất vả, gian lao, hiểm nguy đồng chí càng phát huy trí tuệ, khả năng lý luận khoa học kết hợp một cách nhuần nhuyễn với hoạt động thực tiễn nhằm giải quyết đúng đắn những vấn đề cơ bản mà cách mạng đặt ra, nhất là trong những hoàn cảnh gay go, phức tạp. Trong cao trào vận động dân chủ (1936-1939), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, bằng sức mạnh đoàn kết của quần chúng đã buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách cụ thể trước mắt về dân sinh, dân chủ; quần chúng nhân dân được giác ngộ về chính trị, tham gia vào mặt trận dân tộc thống nhất và trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng; đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện và ngày càng trưởng thành. Thành công đó có sự đóng góp không những về trí tuệ mà còn cả sức lực to lớn của đồng chí Nguyễn Văn Cừ.

Đồng chí đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhận thức và hành động, giữa lý luận với thực tiễn, góp phần cùng BCH Trung ương Đảng giải quyết đúng đắn những yêu cầu của cách mạng Việt Nam và Đông Dương đề ra. Trong hoàn cảnh khẩn trương phức tạp thời kỳ vận động dân chủ, Đảng ta gặp nhiều trở lực và khó khăn: Kẻ thù luôn luôn tìm cách đàn áp, bọn Tờ-rốt-kít khiêu khích phá hoại, nhiều đảng phái chính trị hoạt động, trong đó có đảng cách mạng, đảng theo xu hướng cải lương, đảng phản động... Các đảng tận dụng cơ hội đẩy mạnh hoạt động, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng, một số cán bộ, đảng viên của Đảng bộc lộ những khuynh hướng sai lầm tả khuynh và hữu khuynh trong việc thực hiện chiến lược, sách lược cách mạng, trong nhận thức... Nhưng dưới sự vận động, lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đoàn kết một lòng đấu tranh trên tất cả các mặt trận từ đòi các quyền tự do, dân sinh, dân chủ; đấu tranh trên nghị trường; đấu tranh trên lĩnh vực báo chí cả công khai lẫn bí mật. Kết quả là Đảng đã vận động, giác ngộ đông đảo các tầng lớp nhân dân về con đường cách mạng của Đảng.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã thể hiện rõ khả năng thuyết phục, cảm hoá mạnh mẽ, nêu tấm gương sáng về tinh thần tự phê bình trong Đảng. Sự nhạy cảm về chính trị của người lãnh đạo “biết cương”, “biết nhu” thể hiện rõ ở điểm: đối với kẻ thù và những phần tử phản động, phần tử Tờ-rốt-kít mưu toan phá hoại, chia rẽ nội bộ Đảng, đồng chí kiên quyết đấu tranh bác bỏ, không khoan nhượng; đối với cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót đồng chí Nguyễn Văn Cừ luôn nhẹ nhàng chia sẻ, trao đổi thường xuyên, chân thành; phân tích vấn đề hợp tình, hợp lý góp phần đặt nền móng vào việc củng cố sự đoàn kết trong Đảng, phòng chống các biểu hiện suy thoái, biến chất về tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên, góp phần phát triển con đường cách mạng Việt Nam.

Khí chất của người chiến sĩ cách mạng kiên trung không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của đồng chí cả về xây dựng, chỉnh đốn, tăng cường đoàn kết trong nội bộ Đảng; xây dựng mối đoàn kết giữa Đảng với Nhân dân, giữa các tầng lớp nhân dân lao động với nhau mà còn thể hiện ở tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản. Điều này đã được thể hiện rõ nét ngay từ những năm 30 thế kỷ XX khi trở thành đảng viên cộng sản, đồng chí Nguyễn Văn Cừ có nhiều bài viết sâu sắc kêu gọi những người cộng sản và các tầng lớp nhân dân lao động Việt Nam ủng hộ cách mạng Trung Quốc, Liên Xô, ủng hộ Liên Xô vào Hội Quốc liên, vận động giúp cách mạng Trung Quốc kháng Nhật,... Những bài viết này thể hiện khả năng khái quát cao, tư duy độc lập và biện chứng về mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam, cách mạng Đông Dương với cách mạng thế giới, những vấn đề cách mạng nóng bỏng trong nước và quốc tế, khẳng định tài năng chính trị của một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và dân tộc ta.

Luôn coi trọng mối quan hệ gắn bó mật thiết với Nhân dân

Cả cuộc đời, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp cách mạng, cho lý tưởng cao đẹp của Đảng và Nhân dân; một tấm gương điển hình để lại bài học cho thế hệ sau này với tư tưởng “Dân là gốc”. Đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân. Bất kỳ ở đâu, giữa những người công nhân, phu mỏ vùng Đông Bắc hay bà con nông dân tận miệt vườn Nam Bộ, khi đi “vô sản hóa”, từ khi mới chỉ là đảng viên cho đến khi đã trở thành Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí luôn “gần dân”, “tin dân” hòa mình với nhân dân, coi trọng công tác vận động quần chúng. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ luôn toát lên phẩm chất của người cán bộ có đạo đức cách mạng trong sáng, chân thành, giản dị, gương mẫu trong cuộc sống; lối sống chan hoà, gần gũi với mọi người, có khả năng thuyết phục tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân đoàn kết, tin tưởng đi theo con đường cách mạng.

Giai đoạn 1936-1940 còn ghi dấu ấn của đồng chí Nguyễn Văn Cừ trong chỉ đạo phong trào cách mạng tại Sài Gòn - nơi Trung ương Đảng chọn là nơi đứng chân để chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước, cũng là nơi xuất bản công khai tờ báo của Đảng. Trong thời kỳ này, ảnh hưởng từ phong trào dân chủ tại Sài Gòn đã lan truyền đến cả vùng Nam Bộ, tờ báo Dân chúng của Đảng Cộng sản Đông Dương đã ra đời. Sau khi dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ bảy trở về, BCH Trung ương họp Hội nghị (tháng 11-1936) xác định mục tiêu chủ yếu và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam lúc này là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống chủ nghĩa phát-xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Chủ trương của Đảng lúc này là tạm thời gác khẩu hiệu: “Đánh đổ đế quốc Pháp” và “Tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày”, thay vào đó là khẩu hiệu: “Tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình” để phù hợp với tình hình lúc bấy giờ. Phương pháp đấu tranh lúc này của Đảng là kết hợp nhuần nhuyễn giữa hình thức công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp, bán hợp pháp với đấu tranh bí mật tại ngay các thành phố lớn.

Thời kì đầu mới thành lập tờ báo Dân chúng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã chỉ đạo và trực tiếp viết một số bài có tính chất định hướng lớn các nhiệm vụ của Đảng. Số đầu tiên báo Dân chúng ra vào ngày 22-7-1938 không có giấy phép của nhà cầm quyền, nhưng báo của Đảng ra công khai giữa Sài Gòn được nhân dân đón đọc. Từng bước đi sâu vào đời sống nhân dân lao động, sau một năm họat động, báo Dân chúng đã dùng những bài viết đầy tính chiến đấu để đả kích chính sách cai trị của bọn đế quốc, thực dân Pháp gây nên những chết chóc, khổ cực cho nhân dân các nước thuộc địa. Qua một năm, báo Dân chúng đã truyền tải lý luận, đường lối quan điểm, chính sách cách mạng của Đảng ta đến từng ngõ hẻm, mái nhà của các tầng lớp nhân dân lao động; khơi dậy lòng yêu nước, niềm tin cách mạng, căm thù chế độ bóc lột tay sai; từng bước tạo động lực, cổ động và tổ chức quần chúng đấu tranh thực hiện các khẩu hiệu dân chủ và chống chiến tranh phát-xít; đấu tranh chống bọn Tờ-rốt-kít; cổ vũ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, ủng hộ Mặt trận Dân chủ đấu tranh chống chủ nghĩa phát-xít, đặc biệt là Tây Ban Nha, Trung Quốc, ủng hộ Liên bang Xô-viết, ủng hộ Mặt trận bình dân Pháp… đồng thời phê phán chính sách cai trị của bọn đế quốc, thực dân Pháp đã và đang gây ra. Trong hơn một năm tồn tại, Báo Dân chúng ra được tất cả 80 số, là tờ báo được vinh dự đăng bài đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cho báo trong nước trong thời kỳ vận động dân chủ; là tờ báo in với số lượng cao nhất, có nhiều bạn đọc nhất trước Cách mạng Tháng Tám 1945.

Nhà lý luận chính trị xuất sắc luôn đề cao các nguyên tắc xây dựng Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tự phê bình và phê bình

Tại Hội nghị BCH Trung ương Đảng tháng 3-1938, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Tại Hội nghị này đồng chí đưa vấn đề lập Mặt trận Dân chủ thống nhất Đông Dương (gọi tắt là Mặt trận Dân chủ), coi đó là nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn mới. Trung ương Đảng ta đề ra chủ trương Mặt trận Dân chủ có nhiệm vụ: Liên hiệp các tầng lớp nhân dân và lực lượng cải cách dân chủ tiến bộ, không phân biệt giai cấp, đảng phái, tôn giáo, dân tộc… để chống phản động thuộc địa, phát-xít, đòi tự do, cơm áo, hoà bình. Chủ trương do đồng chí Nguyễn Văn Cừ đưa ra đã được Trung ương Đảng hoàn toàn tán thành và tích cực triển khai thực hiện, đưa phong trào đấu tranh quần chúng tiến thêm một bước, đây là thời gian Đảng tranh thủ thời gian để củng cố các cơ sở cách mạng. 

Những chủ trương sáng tạo nói trên được phân tích và phát triển trong tác phẩm “Tự chỉ trích” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ với bút danh Trí Cường. Trong nội dung tác phẩm có viết: “…Người Bôn-sơ-vích chân chính biết trọng uy tín của Đảng, coi nó là cốt yếu luôn làm cho nó tăng gia… người đảng viên cộng sản chỉ biết lấy uy tín lấy danh dự chung của toàn Đảng làm danh dự của mình thôi”(7). Những nguyên tắc cơ bản về tự phê bình của Đảng; những chính sách của Đảng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ; đấu tranh chống những nhận thức, tư tưởng sai trái để giữ vững và phát huy truyền thống đoàn kết nhất trí của Đảng đã được đồng chí thẳng thắn đưa ra.

Trong xây dựng Đảng, theo những nguyên tắc ấy, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ cho rằng “Bao giờ sự chỉ trích cũng là tự chỉ trích Bôn-sơ-vích, nghĩa là huấn luyện quần chúng và giúp đảng viên tự huấn luyện, để làm tăng uy tín và ảnh hưởng của Đảng, để cho Đảng được càng thống nhất và củng cố, để đưa phong trào phát triển lên, đưa cách mạng tới thắng lợi; chớ không phải đặt cá nhân mình lên trên Đảng, đem ý kiến riêng - dù cho đúng - đối chọi với Đảng, vin vào một vài khuyết điểm mà mạt sát Đảng, phá hoại ảnh hưởng của Đảng, gieo mối hoài nghi, lộn xộn trong quần chúng, gây mầm bè phái, chia rẽ trong hàng ngũ Đảng”(8). 

Và đồng chí khẳng định: Sự chỉ trích của người cách mạng phải là để tìm tòi những lỗi lầm của mình, nghiên cứu phương pháp để sửa đổi, để tiến lên và phải “đứng về lợi ích công cuộc của dân chúng mà chỉ trích những khuyết điểm, những chỗ lừng chừng hoặc hèn nhát để đẩy phong trào phát triển mạnh mẽ rộng rãi hơn”(9). Về vấn đề phê bình lẫn nhau Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ nhấn mạnh: Mỗi đảng viên có quyền tự do thảo luận, tự do chỉ trích miễn là sự thảo luận luôn theo tinh thần Bôn-sê-vích, không làm giảm uy tín của Đảng… 

Những quan điểm, lời tâm huyết về “Tự phê bình và phê bình” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trong “Tự chỉ trích” đến nay vẫn còn tính thời sự sâu sắc, cần được vận dụng trong tổ chức kiểm điểm tự phê bình và phê bình trong các cơ quan, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên; vận dụng sáng tạo trong công cuộc cách mạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta hiện nay.

Giá trị lý luận và thực tiễn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay

Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Nguyễn Văn Cừ đúng vào dịp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các nghị quyết, kết luận gần đây của Trung ương nhằm “nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện… phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(10).

Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo; dịch bệnh COVID-19 dự báo tiếp tục kéo dài; xung đột vũ trang và khủng hoảng năng lượng ngày càng trầm trọng. Sau hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị thế, sức mạnh tổng hợp và uy tín trên trường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch và các tổ chức phản động… tình hình nêu trên sẽ tác động mạnh đến công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới.

Trong thời gian tới, nhằm củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện cần tập trung vào những phương hướng cụ thể đã được chỉ ra:

Một là, tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hoá. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Kiên định đường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN bảo đảm nhanh, bền vững đi liền với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.

Tiếp tục đổi mới toàn diện, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; bảo đảm cho bản chất giai cấp công nhân của Đảng luôn giữ vững. Tiến hành quán triệt và phổ biến sâu rộng nội dung Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị “về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Không ngừng nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu, tinh thần “tự soi”, “tự sửa” của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược; tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, âm mưu “diễn biến hoà bình” chống phá Đảng, Nhà nước, lợi dụng việc xử lý tham ô, tham nhũng của một số cán bộ đảng viên thoái hoá, suy đồi đạo đức, chính trị mà công kích, phủ định sạch trơn, chống phá mọi thành quả mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã gây dựng. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống có hiệu quả chủ nghĩa cơ hội, xét lại, giáo điều, bảo thủ, bè phái, những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hai là, tiếp tục đổi mới, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Gắn bó chặt chẽ và thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các mặt công tác quan trọng: tư tưởng - tổ chức - cán bộ cùng với việc bảo đảm tính đảng, tính cách mạng trong mỗi mặt công tác, không tuyệt đối hoá cũng như xem nhẹ bất kì mặt công tác nào. Kết hợp giữa xây và chống, lấy xây là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài. Tăng cường giáo dục truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng; tuyên truyền sâu rộng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động trong Đảng và nhân dân. Đổi mới và triển khai đồng bộ việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với đấu tranh ngăn chặn, đầy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, nói không đi đôi với làm trong cán bộ, đảng viên.

Kiên quyết, kiên trì thực hiện Kết luận số 21-KL/TW Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương khoá XIII  về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ để ngăn chặn, đầy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng. Thực hiện tốt các quy định về chức trách nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của đảng. Kiện toàn TCCSĐ phù hợp với việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy.

Ba là, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội.

Tổ chức quán triệt sâu rộng nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khoá XIII) về “Tăng cường củng cố, xây dựng TCCSĐ và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong tình hình mới” nhằm tạo sự tiến bộ mới, thực chất, mạnh mẽ, hiệu quả, nâng cao hơn nữa chất lượng, sức mạnh và tính chiến đấu của Đảng. Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng, lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, nhân sinh quan cách mạng cho đảng viên, đặc biệt là đảng viên trẻ. Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng kết nạp vào Đảng những đoàn viên ưu tú, trưởng thành trong lao động, học tập, trong lực lượng vũ trang; có nghị lực, cống hiến tài năng, trí tuệ vì cộng đồng. Đẩy mạnh phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng đảng viên ở miền núi, biên giới, hải đảo theo phương châm ở đâu có dân ở đó có đảng viên.

Tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên; gắn liền công tác bồi dưỡng, phát triển đảng viên với thường xuyên rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng bảo đảm làm trong sạch bộ máy của Đảng. Thường xuyên rà soát, đổi mới, đơn giản hóa quy trình, thủ tục và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác.

Bốn là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ đảng viên, tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, cùng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

Kiện toàn TCCSĐ phù hợp với việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; nâng cao chất lượng hoạt động, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở, nhất là ở xã, phường, thị trấn, các vùng sâu, vùng xa, vùng trọng yếu về kinh tế, chính trị, văn hoá. Nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân; thực hiện tốt phong trào thi đua dân vận khéo. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan, tổ chức với MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp.

Năm là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và kiểm soát chặt chẽ quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí.

Tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Xây dựng và hoàn thiện quy định, quy chế, quy trình để siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Triển khai thực hiện đồng bộ, sâu rộng, có hiệu quả các nội dung nghị quyết, kết luận tại Hội nghị Trung ương 5 (khoá XIII). Triển khai thực hiện Kết luận số 12-KL/TW ngày 6-4-2022 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”.

Triển khai các giải pháp đồng bộ, thực hiện có hiệu quả Kết luận số 34-KL/TW ngày 18-4-2022 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030. Nâng cao khả năng dự báo về những hành vi vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ để đề ra các chủ trương, biện pháp phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ sớm, từ xa.

Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, coi trọng giám sát theo chuyên đề. Chủ động nắm chắc tình hình hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp, các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị để ngăn chặn từ xa, từ đầu, giải quyết từ sớm.

Có thể thấy, học tập tấm gương đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh chính trị và tư duy sáng tạo của đồng chí Nguyễn Văn Cừ, mỗi cán bộ, đảng viên cần luôn nêu cao ý chí cách mạng, tự giác phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của người cộng sản, kiên trì học tập, nâng cao nhận thức, trình độ mọi mặt, tích cực hoạt động thực tiễn, đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng và Nhân dân lên trên hết, trước hết, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp vẻ vang của Đảng, của dân tộc. Học tập và noi gương đồng chí Nguyễn Văn Cừ, cần tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, bè phái, cục bộ, những thói hư tật xấu; xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân, lãnh đạo toàn dân ra sức thi đua đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các nghị quyết, kết luận của BCH Trung ương Đảng, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước trên con đường XHCN.

----------------------------

(1) Ban Tuyên giáo Thành uỷ TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc với việc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Trang tin điện tử Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh, ngày 8-6-2021. Từ năm 1925 đến tháng 4-1927, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp huấn luyện chính trị cho 75 học viên tại Trung Quốc. Sau đó phần lớn được đưa về nước hoạt động tuyên truyền lý luận cách mạng và xây dựng tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, sự nỗ lực của các hội viên được cử về nước hoạt động, hệ thống tổ chức của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhanh chóng bắt rễ, phát triển trên phạm vi cả nước. Phong trào “vô sản hóa” do Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên xây dựng và tổ chức đã tích cực đưa hội viên vào các đồn điền, hầm mỏ, nhà máy, nông thôn để rèn luyện, học tập nâng cao lập trường giai cấp công nhân, đồng thời truyền bá lý luận Mác - Lênin, đường lối cách mạng đúng đắn vào phong trào công nhân, giác ngộ họ, tổ chức họ đấu tranh cách mạng một cách tự giác, thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ, tiến tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt Nam, tạo điều kiện cho sự ra đời của Đảng.

(2) Nguyễn Đắc Thu, Tài liệu tuyên truyền Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ (9-7-1912 - 9-7-2022), Trang điện tử Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ - Bắc Ninh, 2022.

(3), (4), (6), (7), (8), (9) Nguyễn Văn Cừ, Tự chỉ trích, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2013, tr.43; tr.19; tr.6; tr.11-12; tr.13-14; tr.39.

(5) Nguyễn Phú Trọng, Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt để phát triển đất nước, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2017, tr.201.

(10) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2021, tập II, tr.326.

QUY ĐỊNH CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ KỶ LUẬT ĐẢNG VIÊN CHẠY CHỨC, CHẠY QUYỀN

 

          Thay mặt Bộ Chính trị, ngày 6/7/2022, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Quy định số 69-QÐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm

          Điều 30, Quyết định số 69-QÐ/TW đã quy định cụ thể về kỷ luật đảng viên vi phạm quy định về chống chạy chức, chạy quyền.

          Các trường hợp bị kỷ luật khiển trách

          Khoản 1, Điều 30, Quyết định số 69-QĐ/TW quy định "đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách":

          Tiếp cận, thiết lập quan hệ, tặng quà người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan để được ưu ái, ủng hộ nhằm mục đích có được vị trí công tác, chức vụ, quyền hạn.

          Tác động, mua chuộc, gây sức ép với người có thẩm quyền, trách nhiệm trong việc giới thiệu, bổ nhiệm mình hoặc người khác vào vị trí, chức vụ có lợi cho cá nhân.

          Đặt điều kiện, gây sức ép với người có thẩm quyền, trách nhiệm trong việc giới thiệu, đề cử, bổ nhiệm mình.

          Mặc cả, đặt điều kiện, đòi hỏi không chính đáng với tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trách nhiệm để được sắp xếp vào chức vụ, vị trí công tác.

          Can thiệp, tác động, gây áp lực để người khác quyết định hoặc tham mưu, đề xuất, nhận xét, đánh giá, biểu quyết, bỏ phiếu giới thiệu nhân sự theo mục đích cá nhân.

          Trì hoãn, không thực hiện hoặc chọn thời điểm có lợi với nhân sự theo ý mình để thực hiện quy trình công tác cán bộ.

          Các trường hợp bị kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức

          Trường hợp đã kỷ luật theo Khoản 1 Điều 30 mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

          Không chỉ đạo xem xét, xử lý kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội về hành vi tiêu cực trong công tác cán bộ hoặc bao che, tiếp tay cho hành vi tiêu cực này.

          Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thao túng, bao che hành vi tiêu cực trong đánh giá cán bộ, bố trí, bổ nhiệm cán bộ, bầu cử; quyết định không đúng cho người khác có được vị trí, chức vụ, quyền lợi trái quy định.

          Can thiệp, tác động trái quy định vào công tác cán bộ; bổ nhiệm, bố trí cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, theo quy định. Để cho người khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để bố trí, bổ nhiệm cán bộ.

          Thiếu trách nhiệm trong việc xử lý cán bộ, đảng viên có hành vi tiêu cực trong bố trí, bổ nhiệm cán bộ hoặc không kiến nghị, xem xét xử lý theo quy định đối với hành vi tiêu cực này.

          Bao che, không xử lý, không giải quyết khiếu nại, tố cáo tổ chức đảng, đảng viên có hành vi tiêu cực trong bố trí, bổ nhiệm cán bộ.

          Tặng, nhận quà biếu cho người có trách nhiệm hoặc người có liên quan quyết định đến việc bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật.

          Kỷ luật bằng hình thức khai trừ

          Khoảng 3, Điều 30, Quyết định số 69-QĐ/TW quy định: "Kỷ luật bằng hình thức khai trừ trong trường hợp vi phạm Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đưa, nhận hối lộ để được bố trí, bổ nhiệm hoặc bổ nhiệm, bố trí nhiều cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện gây hậu quả rất nghiêm trọng"./.

Bộ Chính trị kỷ luật Cảnh cáo đối với ông Nguyễn Thành Phong

 Đồng chí Nguyễn Thành Phong, trong thời gian giữ chức vụ Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Ban Cán sự đảng, Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh đã vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định về trách nhiệm nêu gương; chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm người đứng đầu đối với các vi phạm, khuyết điểm của Ban Cán sự đảng và UBND TP. Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2016-2021...

Ngày 8-7-2022, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp Bộ Chính trị để xem xét, thi hành kỷ luật Ban Cán sự đảng UBND TP. Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2016-2021 và đồng chí Nguyễn Thành Phong, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, nguyên Phó Bí thư Thành ủy, nguyên Bí thư Ban Cán sự đảng, nguyên Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2016-2021. 

Đồng chí Nguyễn Thành Phong bị xử lý kỷ luật bằng hình thức Cảnh cáo. 

Sau khi xem xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Bộ Chính trị nhận thấy: Ban Cán sự đảng UBND TP. Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2016-2021 đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, Quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo để UBND thành phố và nhiều tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong quản lý tài chính, tài sản nhà nước; xảy ra nhiều vụ án, vụ việc trên địa bàn Thành phố; nhiều tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật; một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả lãnh đạo chủ chốt của UBND thành phố và một số sở, ngành bị xử lý hình sự.

Đồng chí Nguyễn Thành Phong, trong thời gian giữ chức vụ Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Ban Cán sự đảng, Chủ tịch UBND thành phố đã vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định về trách nhiệm nêu gương; chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm người đứng đầu đối với các vi phạm, khuyết điểm của Ban Cán sự đảng và UBND TP. Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2016-2021; chịu trách nhiệm trực tiếp, trách nhiệm cá nhân về những vi phạm, khuyết điểm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Vi phạm, khuyết điểm của Ban Cán sự đảng UBND TP. Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2016-2021 đã gây hậu quả rất nghiêm trọng; của đồng chí Nguyễn Thành Phong đã gây hậu quả nghiêm trọng, khó khắc phục, làm thất thoát rất lớn tài sản nhà nước; gây dư luận xấu, bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng bộ, chính quyền, sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố và cá nhân đồng chí Nguyễn Thành Phong.

Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm và Quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức Cảnh cáo đối với Ban cán sự đảng UBND TP. Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2016-2021 và đồng chí Nguyễn Thành Phong.

Đề nghị các cơ quan chức năng kỷ luật về hành chính theo đúng quy định đối với tập thể, cá nhân đã bị kỷ luật đảng.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần trách nhiệm để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước

 Tinh thần trách nhiệm là một giá trị văn hóa, được gọi là văn hóa trách nhiệm hay văn hóa bổn phận. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần trách nhiệm “Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công”(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh kiểm tra suất ăn giữa ca của công nhân Nhà máy cao su, xà phòng và thuốc lá Hà Nội, ngày 26-1-1961.


Tinh thần trách nhiệm trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân là tư tưởng xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Trách nhiệm đó được thể hiện trong mọi hoạt động của Người: trong học tập, lao động, nghiên cứu lý luận, hoạt động thực tiễn, cùng Đảng lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển...

Với thân phận của một người dân sống trong một đất nước mất độc lập, dân nô lệ, lầm than, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ trách nhiệm của một người dân mất nước, quyết tâm đi tìm đường cứu nước, giải phóng đồng bào. Trách nhiệm đó thấm sâu vào từng suy nghĩ và hành động của Người, để rồi trong suốt 30 năm, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã tìm đến các nước tư bản phát triển, các nước thuộc địa, sẵn sàng làm nhiều nghề để vừa nuôi sống bản thân, vừa hoạt động cách mạng. Người đã thể hiện trách nhiệm và quyết tâm cháy bỏng tìm con đường cứu nước bằng cách khám phá thế giới, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” rồi trở về giúp đồng bào. Không lo cho bản thân mình, Người sẵn sàng tranh luận, trao đổi các vấn đề lớn liên quan tới vận mệnh của nhân dân Việt Nam cũng như các dân tộc thuộc địa. Bản lĩnh và trách nhiệm của một chiến sĩ cách mạng dần hé lộ trong tư duy và hành động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Khi trở thành người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Bác vẫn thể hiện rõ trách nhiệm của một người đứng ở vị trí cao nhất. Người khẳng định: “chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(2). Người cũng chỉ rõ, muốn làm tròn bổn phận, chúng ta nên lợi dụng mấy khẩu hiệu của người Trung Hoa: “1. Khổ cán (làm việc hết sức mình). 2. Hạnh cán (làm việc chất lượng). 3. Thực cán (làm việc có hiệu quả, có năng suất)”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh thực thi công vụ với ý thức trách nhiệm của một người lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu không phải bằng việc sử dụng hay lạm dụng quyền lực mà thuyết phục bằng cảm hóa, bằng phong cách nói đi đôi với làm. Ý thức trách nhiệm của Người thể hiện từ những việc lớn như hoạch định đường lối, chính sách đến những việc nhỏ như lo tương cà, mắm muối cho dân. Người sống đời sống của dân, cùng nhịp đập với trái tim của dân, lo toan, trăn trở khi dân ốm, dân đói, dân rét, dân bị bóc lột, bị mù chữ, nghèo nàn… Theo Bác, người nấu bếp, lo làm cho luôn luôn cơm lành canh ngon, bát đũa sạch sẽ. Không phí phạm của công. Tìm cách tăng gia trồng rau, nuôi gà… Khi anh em ốm yếu, thì có bát canh bát cháo. Khi bộ đội đang mải đánh giặc thì tìm cách đưa cơm đến nơi cho anh em ăn. Khi tiếp tế khó khăn thì tìm cách vượt qua, không để anh em thiếu thốn. Như thế là có tinh thần trách nhiệm.

Người cán bộ quân sự, thì luôn luôn học hỏi chính trị và kỹ thuật, chiến thuật. Luôn luôn săn sóc đến tinh thần và vật chất của đội viên. Đoàn kết nội bộ. Giúp đỡ nhân dân. Kiên quyết chấp hành mệnh lệnh trên giao xuống. Khi đánh giặc thì làm cho toàn đội thấm nhuần tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Gặp việc khó khăn thì cố tìm cách giải quyết đúng. Như thế là có tinh thần trách nhiệm.

Đảng và Chính phủ đề ra chính sách. Cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần chính sách ấy. Theo chính sách ấy mà điều tra, nghiên cứu, thấu hiểu hoàn cảnh thiết thực của đơn vị mình, địa phương mình. Rồi đặt kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực để giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho mọi người hiểu và ủng hộ chính sách của Đảng và Chính phủ như là của họ, rồi thi đua thực hiện đầy đủ chính sách ấy. Như thế là làm trọn nhiệm vụ.

Để thực hiện chính sách, làm tròn nhiệm vụ, cán bộ chẳng những phải chịu khó giải thích, tuyên truyền, cổ động mà còn phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoanh nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình là gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính để nhân dân noi theo. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, Chính phủ và đối với Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, mọi suy nghĩ và hành động của cán bộ công chức phải đi đúng đường lối quần chúng. Đi đúng đường lối quần chúng là một nét đặc sắc trong tư duy Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ. Người khẳng định: “Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ”(4).

Ý thức trách nhiệm, tinh thần trách nhiệm, hành động có trách nhiệm là nhân tố có tính quyết định trong hoạt động thực tiễn của con người, là khía cạnh quan trọng nhất của đạo đức nghề nghiệp. Ngày 20-5-1950, Người đã ký Sắc lệnh 76/SL ban hành Quy chế công chức Việt Nam, trong đó, Điều 2 quy định: “Công chức Việt Nam phải phục vụ Nhân dân, trung thành với Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà nước”. Theo đó, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ công chức phải đặt lên hàng đầu ý thức và tinh thần trách nhiệm, hết lòng hết sức phục sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Còn nhiều tập thể, cá nhân thiếu tinh thần trách nhiệm

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Đại đa số cán bộ, đảng viên và quần chúng đều nêu cao vai trò trách nhiệm, thực hiện nghiêm quy định, quy chế làm việc của tổ chức, cơ quan, đơn vị; giữ gìn đạo đức, phẩm chất cách mạng, sống mẫu mực, đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân… Tuy nhiên, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm, bớt xén giờ giấc, làm không đúng quyền hạn, chức trách, nói nhiều, làm ít. Đặc biệt, một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền đã thiếu tinh thần trách nhiệm trong quá trình thực thi nhiệm vụ gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước và Nhân dân như các vụ án liên quan đến: Đảng đoàn Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác tổ chức - cán bộ, quản lý tài chính, quy hoạch, sắp xếp và quản lý các cơ quan báo chí trực thuộc Cơ quan Trung ương Hội; Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển Việt Nam nhiệm kỳ 2015-2020 đã thiếu trách nhiệm, thiếu kiểm tra, giám sát trong công tác quản lý, sử dụng tài chính, thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm vật tư, trang bị kỹ thuật và trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển; Ban Cán sự đảng Bộ Y tế đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác xây dựng, ban hành thể chế, chính sách; trong việc cấp phép nhập khẩu thuốc, thực hiện liên doanh liên kết, đấu thầu, mua sắm thuốc, trang thiết bị y tế; để nhiều cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số bị xử lý hình sự… Những vi phạm nêu trên đã gây hậu quả nghiêm trọng làm thất thoát, lãng phí tiền, tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, cá nhân và các ngành có liên quan.

Nâng cao tinh thần trách nhiệm để xây dựng đất nước phồn vinh

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thực hiện công việc người cán bộ, phải tích cực, tự giác thực hiện nhiệm vụ được giao, ý thức đúng đắn về trách nhiệm của mình trên mọi cương vị, vị trí công tác, “có gan phụ trách”, dám nghĩ dám làm, chủ động sáng tạo và đặc biệt phải có khát vọng vươn lên để có kết quả cao nhất. Nói đến khát vọng là nói đến yếu tố tinh thần, là sự mong muốn, khao khát, quyết tâm dồn sức lực, trí tuệ để đạt cho được mục tiêu; là nguồn động lực có sức mạnh vô biên để thực hiện những nhiệm vụ nặng nề nhằm đạt được ước mơ, không khuất phục trước mọi thử thách… là động lực để cho mọi tầng lớp nhân dân đem hết sức mình thực hiện khát vọng, mà cụ thể ở thời điểm này khát vọng của dân tộc Việt Nam là đưa đất nước đi tới phồn vinh, hùng cường, thịnh vượng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(5).

Trong thời gian tới, để góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hùng cường, xin đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu; có cơ chế, quy định cụ thể, rõ ràng và ràng buộc trách nhiệm của cá nhân trong hệ thống chính trị, hệ thống công quyền.

Hai là, mỗi cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần thực sự tiên phong, gương mẫu về tinh thần trách nhiệm trước công việc và nhân dân theo phương châm “nói đi đôi với làm”, nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động; cán bộ cấp trên nêu gương cho cán bộ cấp dưới; đảng viên nêu gương cho quần chúng noi theo.

Ba là, từng cán bộ, đảng viên cần nêu cao tính chủ động, sáng tạo trước công việc được giao. Khi thực hiện nhiệm vụ, công việc cần có chương trình, kế hoạch, tránh để chậm trễ gây tồn đọng, ách tắc, cấp trên hoặc lãnh đạo phải nhắc nhở hoặc nhân dân phải phàn nàn, chê trách, góp ý phê bình về ý thức và tinh thần trách nhiệm. Trong thực hiện nhiệm vụ cần thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đúng quy trình, thủ tục, đồng thời linh hoạt, sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm để hoàn thành công việc với hiệu quả cao nhất.

Bốn là, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, viên chức phải gắn với trao đổi, tự phê bình và phê bình, đóng góp ý kiến xây dựng cho cán bộ, đảng viên. Kịp thời khen thưởng, biểu dương những việc làm tốt và uốn nắn những hạn chế, khuyết điểm, có biện pháp phù hợp để cán bộ, đảng viên nhận thức được sai sót, hạn chế của mình, từ đó phấn đấu sửa chữa. Nghiêm túc đấu tranh chống bệnh tranh công, đổ lỗi cho khách quan hoặc đổ trách nhiệm cho người khác; những biểu hiện né tránh, bao biện hoặc kiểm điểm, phê bình một cách hình thức, chiếu lệ, qua loa.

Hơn 70 năm đã qua đi, nhưng những lời chỉ dẫn của Hồ Chí Minh trong tác phẩm Tinh thần trách nhiệm vẫn còn nguyên giá trị để Đảng và Nhà nước Việt Nam “Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”(6) nhằm đưa đất nước cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc.

-----------

(1), (4). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG-ST, H.2011, tập 7, tr.248, 249.

(2), (3). Sđd, tập 9, tr.518; tập 4, tr.176.

(5). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG-ST, H.2021, tập 1, tr.110.

(6). Sđd, tr.46.

Thường xuyên “vun gốc, tỉa cành”

 Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Bác còn chỉ rõ: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. Quán triệt tư tưởng của Người, trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng luôn quan tâm đến công tác cán bộ và xác định việc xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ then chốt của then chốt, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng.

1. Mỗi kỳ đại hội Đảng toàn quốc, công tác cán bộ luôn là một trong những vấn đề quan trọng được xem xét, bàn thảo kỹ lưỡng, về những thành tựu, hạn chế cũng như nguyên nhân của hạn chế, yếu kém. Đặc biệt, trên cơ sở tổng kết 10 năm đổi mới, BCH Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18-6-1997 về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh”.

Những năm gần đây, BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận về công tác cán bộ. Trong đó phải kể đến Kết luận số 24-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 26-NQ/TW (khóa XII) về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

Sau 23 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW, đội ngũ cán bộ các cấp đã có bước trưởng thành, phát triển nhiều mặt. Sự trưởng thành, phát triển của đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nói riêng đã góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước, giúp đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín lớn mạnh nhất từ trước đến nay.

Để xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, Đảng đã tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, lấy phòng ngừa làm trọng, lấy xây là chính; kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh, ngăn chặn những hành vi vi phạm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thiếu gương mẫu trong cuộc sống với mục đích “trị bệnh cứu người”. Đảng kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên cố tình vi phạm, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, đến sự phát triển của đất nước. Rõ nhất là từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật gần 100 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý; một số cán bộ đã bị xử lý hình sự…

Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc chuẩn bị đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng” chỉ rõ yêu cầu, nội dung, phương pháp, cách thức tiến hành. Qua đó khẳng định mục tiêu là phải lựa chọn được những đồng chí thật sự tiêu biểu của Đảng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; kiên quyết không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ tiêu chuẩn. Đồng thời không để lọt vào BCH Trung ương khóa XIII những người có một trong 6 nhóm khuyết điểm đã được chỉ ra. Đó là những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính…

Để có được nguồn cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, đặc biệt từ khi có Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhiều văn bản của Đảng về công tác cán bộ được ban hành. Trong đó nổi bật là Quy chế đánh giá cán bộ, công chức (ban hành theo Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 8-2-2010 của Bộ Chính trị khóa X). Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đánh giá cán bộ, Bộ Chính trị (khóa XII) có Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Tiêu chuẩn cán bộ và khung tiêu chí đánh giá từng loại cán bộ được ban hành theo Quy định số 89-QĐ/TW, Quy định số 90-QĐ/TW đã thể hiện quyết tâm của Đảng trong đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, đấu tranh không khoan nhượng với tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống, lợi ích nhóm trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đây cũng là công cụ để Đảng kiểm soát quyền lực cán bộ, nhân dân giám sát, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên trong việc sử dụng quyền lực được giao.  

Việc thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và nghị quyết các kỳ đại hội; nghị quyết, quy định của BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng không ngừng được kiện toàn, được đào tạo cơ bản và tương đối toàn diện về chính trị cũng như chuyên môn, nghiệp vụ. Đặc biệt là đã xuất hiện nhiều cán bộ trẻ tài năng, là nguồn kế cận thế hệ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược trong tương lai với tư duy, tầm nhìn mới.

2. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, công tác cán bộ của Đảng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất. Đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh. Năng lực chưa đồng đều; nhiều cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp. Trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và những mặt trái của quá trình toàn cầu hóa, một bộ phận cán bộ của Đảng đã bị thoái hóa, biến chất, tình trạng ngại phấn đấu, rèn luyện đã xuất hiện trong số cán bộ trẻ.

Điều đáng quan tâm là một số cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đến mức tha hóa, biến chất, tham nhũng, vi phạm kỷ luật, pháp luật, bị khai trừ Đảng, bị xử lý hình sự những năm qua thật đau xót. Trong đó có những đảng viên 30-40 tuổi đảng, cán bộ cấp Trung ương quản lý, phần đông cán bộ có chức vụ chính quyền và đều tham gia cấp ủy, hoặc đứng đầu cấp ủy. Nhiều người có học hàm giáo sư, phó giáo sư, là tiến sĩ, nhiều người có 2-3 bằng thạc sĩ, cử nhân và phần lớn cán bộ các cấp vi phạm kỷ luật và phạm tội nêu trên đều có trình độ lý luận chính trị cao cấp. Trong đó, vụ việc gần đây khi nhiều cán bộ bị bắt liên quan đến Công ty Việt Á hay các chuyến bay giải cứu công dân trong bối cảnh đại dịch đã gây nhiều bức xúc đối với dư luận…

Điểm lại như thế để thấy rất rõ không chỉ có số lượng vụ án tham nhũng, mà hành vi tham nhũng và đối tượng tham nhũng ngày càng tinh vi, tập trung vào những người có chức quyền, học thức, đã từng có nhiều đóng góp cho đất nước trên cương vị công tác của bản thân. Điều này một lần nữa giong lên hồi chuông báo động về tình trạng tham nhũng, tiêu cực, cần phải kiên quyết, có biện pháp đủ mạnh để ngăn chặn.

Câu chuyện về chống tham nhũng và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xử lý những cán bộ thoái hóa, biến chất đến nay vẫn là bài học kinh nghiệm còn nguyên giá trị. Bác ví von độc đáo, một thân cây đã bị sâu đục những lỗ to, chảy hết nhựa, muốn cứu cái cây phải bắt giết hết những con sâu. Với loài sâu mọt đục khoét nhân dân cũng thế, nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo.

3. Với quyết tâm chính trị cao, vận dụng sáng tạo và hiệu quả tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ vào thực tiễn, Đảng đề ra nhiều biện pháp tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định: "Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Đây là lần đầu tiên nội dung “xây dựng, chỉnh đốn Đảng về cán bộ” được cụ thể, nhắc đến với tư cách là nội dung thứ năm nằm trong mệnh đề về xây dựng Đảng, nhằm tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh hơn nữa vị trí, vai trò của cán bộ và công tác cán bộ. Dành sự quan tâm đặc biệt để xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, đồng thời tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên phát huy năng lực, sở trường trong công tác, ngay đầu nhiệm kỳ XIII, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Điều này một lần nữa khẳng định đây là vấn đề được Đảng rất quan tâm, qua đó giúp cán bộ, đảng viên tự tin hơn, dám bước qua những lối mòn, thách thức, có thêm những cơ hội để cống hiến cho đất nước, nhân dân. Đây chính là sự cụ thể hóa phương hướng của nhiệm kỳ Đại hội XIII là xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Mặt khác, nhằm khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, Kết luận 14-KL/TW nêu vấn đề “khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp. Những định hướng này góp phần tạo niềm tin và động lực để cán bộ, đảng viên dám dấn thân cống hiến vì lợi ích chung. Việc xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm là giải pháp căn cơ đối với công tác cán bộ, qua đó thúc đẩy sự phát triển của cơ quan, đơn vị, địa phương và rộng hơn là sự phát triển của cả đất nước. Đây chính là cơ chế tạo động lực cho sự đổi mới, bứt phá, khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, của cán bộ.

Cùng với sự khuyến khích đột phá, Bộ Chính trị ban hành Quy định 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ, mở đường cho sự tự sàng lọc cán bộ sát với thực tế hiện nay. Quy định nêu rõ kiên quyết, kịp thời xem xét cho miễn nhiệm, từ chức với cán bộ khi có đủ căn cứ. Việc ban hành Quy định số 41-QĐ/TW là một bước hoàn thiện hơn công tác quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng ta, để việc từ chức của những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu về năng lực trình độ dần trở thành nét "văn hóa" trong hoạt động của Đảng.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong đó tiếp tục xác định cán bộ, công tác cán bộ là vấn đề then chốt của then chốt. Các nghị quyết, quy định, kết luận của Đảng cùng với việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, tổ chức luân chuyển rèn luyện thực sự là “công việc gốc của Đảng” thường xuyên “vun gốc, tỉa cành” nhằm xây dựng được một đội ngũ cán bộ “có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu” để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.


Tọa đàm “Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng”

 Để chuẩn bị Đề án trình Hội nghị Trung ương 6, sáng 12-7, tại Hà Nội, Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Tọa đàm “Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng”. Đồng chí Nguyễn Quang Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương và đồng chí Tạ Ngọc Tấn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương đồng chủ trì Tọa đàm.

Quang cảnh Tọa đàm.

Tham gia Tọa đàm còn có đồng chí Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cùng đại diện lãnh đạo một số cơ quan Trung ương, như: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước…

Trong không khí cởi mở, thẳng thắn, các đại biểu đã tập trung làm rõ 7 vấn đề. Đó là: (1) Thể chế hóa các nguyên tắc chung về phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị; (2) Mối quan hệ giữa phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng; giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; (3) Đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; (4) Việc thể chế hóa, cụ thể hóa và lãnh đạo tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng – thực trạng và giải pháp; (5) Giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị nhằm khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo; (6) Giải pháp thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; (7) Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phát biểu kết luận tại Tọa đàm, thay mặt 2 cơ quan đồng chủ trì Tọa đàm, đồng chí Nguyễn Quang Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương (ảnh trên) trân trọng cảm ơn các đại biểu là các giáo sư, nhà khoa học, chuyên gia đã dành thời gian quý báu để tham gia Tọa đàm hôm nay. “Tọa đàm đã thu được kết quả tốt đẹp, đó đều là những ý kiến hết sức tâm huyết, trách nhiệm, mang tính lý luận và thực tiễn cao. Chúng tôi xin tiếp thu toàn bộ ý kiến tại Tọa đàm hôm nay để hoàn thiện tốt nhất Đề án trình Hội nghị Trung ương 6 sắp tới”, đồng chí Nguyễn Quang Dương nhấn mạnh.