Thứ Tư, 13 tháng 7, 2022
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 14/7
Nguyễn Văn Cừ - tầm cao người cộng sản về lý luận và thực tiễn trong chỉ đạo cách mạng Việt Nam
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 9-7-1912 quê ở thôn Cẩm Giàng, Đồng Nguyên, Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Là hậu duệ của Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi, sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm ngay tại quê hương mình.
Tại Sài Gòn - Gia Định, trong nhiều năm liền Trung ương Đảng đã đứng chân hoạt động trong những tình huống nguy hiểm, gian khổ nhất và chỉ đạo nhiều vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam, trong đó có Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, rồi Tổng Bí thư Lê Hồng Phong, Tổng Bí thư Hà Huy Tập và nhiều lãnh tụ cấp cao của Trung ương Đảng ta. Nay ta đến đây, tại các xã Bà Điểm, Xuân Thới Sơn, Xuân Thới Thường (huyện Hóc Môn), hầu như những nơi từng in dấu ấn của Trung ương Đảng, cũng như hương hồn các Tổng Bí thư của Đảng, thì chúng ta mới hiểu thêm tại sao trong những tình huống khó khăn nhất, ác nghiệt nhất, kẻ thù cũng đàn áp khốc liệt nhất, tấm lòng người dân huyện Hóc Môn vẫn sống, chết tới cùng vì sự an toàn của cơ quần đầu não của Đảng ta.
Qua một quá trình hoạt động, đầu năm 1928, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hà Nội. Năm 1930, đồng chí được cử làm Bí thư đầu tiên đặc khu Hòn Gai - Uông Bí. Sau đó, ông bị địch bắt, kết án khổ sai 7 năm đày ra Côn Đảo. Trong nhà tù, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, cùng các đồng chí bạn tù vẫn tranh thủ học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin, viết báo và trở thành một cán bộ lý luận xuất sắc trong lao tù Côn Đảo. Năm 1936, sau phong trào Bình dân ở Pháp phát triển sâu rộng, có hiệu quả sang cả Đông Dương, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được trả tự do.
Năm 1938 khi mới 26 tuổi, đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Tháng 7-1939, đồng chí viết tác phẩm “Tự chỉ trích” để đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng, chấn chỉnh những tư tưởng lệch lạc, sai trái, thực hiện đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng. Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đồng chí đã chỉ đạo sớm đưa Đảng rút vào hoạt động bí mật và tích cực chuẩn bị cho việc chuyển hướng chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Là Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí đã lăn lộn trong nhiều phong trào mà lúc này Đảng ta phải hoạt động trong tình thế luôn bị kẻ thù bao vây. Lúc này, là Tổng Bí thư trẻ nhất trong lịch sử của Đảng ta, đồng chí đã chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu (khoá I) để chấn chỉnh, đề ra những vấn đề quan trọng của Đảng ta. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương, dựa trên cơ sở liên minh công - nông là “Hai lực lượng chính của cách mạng”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939 đánh dấu bước phát triển quan trọng về lý luận và đường lối phương pháp cách mạng của Đảng, thể hiện sự nhạy bén về chính trị và năng lực sáng tạo của Đảng. Nghị quyết góp phần làm phong phú kho tàng lý luận của Đảng ta về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong tình hình mới.
Những cống hiến quan trọng của đồng chí Nguyễn Văn Cừ
Là nhà lãnh đạo trẻ tuổi và đứng đầu Đảng ta trong một giai đoạn cực kỳ gian khó, kẻ địch thường xuyên theo dõi, bắt bớ các đảng viên cộng sản, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã có những đóng góp quyết định trong việc vạch ra chiến thuật và chiến lược của cách mạng Việt Nam vào những năm 1938-1940, trong lúc chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa Nam kỳ rộng rãi toàn xứ. Những lý luận và quyết sách của Đảng ta mà đồng chí Nguyễn Văn Cừ thay mặt Trung ương Đảng chỉ đạo đã để đưa phong trào đấu tranh của dân tộc lên một tầm cao mới vào những năm sau đó, sau thời kỳ thực dân Pháp bước vào giai đoạn khủng bố toàn diện. Những cống hiến quan trọng về lý luận và thực tiễn của đồng chí Nguyễn Văn Cừ cho cách mạng Việt Nam đã thể hiện trên nhiều mặt, sau đây:
Một là, với khả năng nhạy bén, đồng chí nắm bắt tình hình trong nước và ngoài nước đúng, nhanh chóng, cùng với trình độ lý luận chính trị xuất sắc, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã chỉ đạo toàn quốc phải thay đổi chiến lược cách mạng, tạo ra bước ngoặt quan trọng - giai đoạn cách mạng những năm 1938-1942, giai đoạn khi có cuộc chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ và những ứng biến của Đảng ta đầy gian nan trong với cuộc chiến tranh toàn thế giới lần thứ II.
Hai là, khi nhận thấy tình hình quốc tế đang có những chuyển biến bất lợi cho cách mạnh Việt Nam và Đông Dương, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã sớm đặt vấn đề về chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng; chỉ đạo cho phát hành cuốn “Công tác bí mật của Đảng” kịp thời gửi tới đảng bộ các cấp; trực tiếp triệu tập và chủ trì Hội nghị mở rộng Xứ ủy Bắc kỳ đã có những tác dụng cụ thể, quan trọng trong chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng ta. Đồng thời, từ tháng 9-1939, khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đồng chí đã chỉ đạo sớm đưa Đảng ta rút vào hoạt động bí mật và tích cực chuẩn bị cho chuyển hướng chỉ đạo cách mạng Việt Nam.
Ba là, đồng chí Nguyễn Văn Cừ là người có khả năng và tầm nhìn lý luận, ứng dụng vào thực tiễn sâu sắc. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, các vấn đề lý luận đi liền với thực tiễn được giải quyết một cách sáng tạo, nhuần nhuyễn, phù hợp với quy luật vận động khách quan, nhất là trong tình hình Đảng ta hoạt động đầy khó khăn khi chuẩn bị thế giới bước vào Đại chiến thế giới lần thứ II, mà thực dân Pháp là một mắt xích quan trọng của cuộc chiến tranh ra toàn thế giới.
Bốn là, với sáng kiến thành lập Mặt trận Dân chủ thống nhất Đông Dương đã cho thấy đồng chí Nguyễn Văn Cừ là người nắm vững Chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm chỉ đạo của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản. Từ sự phân tích khoa học, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ và Đảng ta quyết định không áp dụng mô hình Mặt trận bình dân (kiểu Pháp), cũng không rập khuôn mô hình Mặt trận dân tộc phản đế (của Trung Quốc) mà thành lập Mặt trận Dân chủ thống nhất. Chỉ có thế Đảng ta vừa đoàn kết được giai cấp công nhân, nông dân; vừa thu hút được trí thức và các lực lượng theo xu hướng cải cách dân chủ khác, trong điều kiện hoạt động của Đảng đầy gian nan.
Năm là, sau hai tháng sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, đồng chí đã triệu tập Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ sáu. Hội nghị họp vào tháng 11-1939 tại Hóc Môn đã quyết định chuyển toàn bộ hoạt động công khai và bán công khai của Đảng vào bí mật, quyết định khẩu hiệu đấu tranh, hình thức đấu tranh, mục tiêu và lực lượng cách mạng, vấn đề mặt trận và vấn đề Chính phủ sau này, cũng như thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng. Có thể nói Hội nghị Trung ương sáu đã ghi nhận bước đầu Đảng ta đã trở lại với các quan điểm của đồng chí Nguyễn Ái Quốc nêu ra thời kỳ thành lập Đảng, chuyển hướng chỉ đạo chiến lược khi bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế thay đổi nhanh chóng. Điều này thể hiện tư duy chính trị hết sức nhạy bén và năng lực sáng tạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ.
Sáu là, Tổng Bí thư Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ cũng đã sớm hiểu rõ tầm quan trọng của công tác tự phê bình và phê bình trong xây dựng đội ngũ cách mạng của Đảng ta. Với bút danh Trí Cường, tháng 7 năm 1939, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã cho ra mắt cuốn “Tự chỉ trích” để làm sáng tỏ hơn những vấn đề cần bàn bạc xung quanh công tác này của Đảng.
Bảy là, với 29 tuổi đời, hơn 13 năm tham gia cách mạng, 7 năm bị giam cầm trong nhà tù đế quốc, hơn 2 năm làm Tổng Bí thư của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Đồng chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng, cho lý tưởng cao đẹp của Đảng và nhân dân ta để đi tới những thắng lợi vĩ đại về sau. Toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là một tấm gương mẫu mực về phẩm chất cao quý của người cộng sản. Dù tuổi đời và sự nghiệp ngắn ngủi nhưng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã để lại cho Đảng, dân tộc ta tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, về lòng tin mãnh liệt ở lý tưởng cao đẹp cách mạng, về tình thương yêu, quý mến giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nếp sống giản dị, chan hòa cùng với quần chúng nhân dân, vì nhân dân trong mọi hoạt động cuộc đời cao đẹp của người đứng đầu Đảng ta.
Với phẩm chất cao quý, tôn vinh ấy, đồng chí đã thể hiện tinh thần say sưa học tập, rèn luyện và vươn lên không ngừng vào bất cứ thời điểm nào, kể cả trong lao tù. Từ lúc bắt đầu hoạt động cách mạng cho đến khi bị thực dân Pháp đưa xử bắn cùng nhiều lãnh tụ của Đảng ta sau Nam kỳ khởi nghĩa 1940, đồng chí dù chưa được học ở trường lớp lý luận nào nhưng bằng niềm tin và nghị lực đã trang bị cho mình những hiểu biết sâu rộng về khoa học chính trị và trở thành lãnh tụ cao nhất của Đảng ta, chỉ đạo nhiều vấn đề về mặt chiến lược, chiến thuật của Đảng, có tác động to lớn trong toàn quốc để vươn lên những tầm cao mới cách mạng Việt Nam đi tới Cách mạng Tháng Tám, lập nên nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
Giao ban công tác tổ chức xây dựng Đảng các đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan trực thuộc Trung ương.
Chiều 13-7, tại Hà Nội, Ban Tổ chức Trung ương đã tổ chức Hội nghị giao ban công tác tổ chức xây dựng Đảng với 29 đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan trực thuộc Trung ương nhằm đánh giá những kết quả đạt được; chỉ ra những hạn chế, vướng mắc; thống nhất về phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2022. Đồng thời, qua thực tiễn hoạt động chia sẻ một số kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả; giải đáp khó khăn, vướng mắc và những kiến nghị, đề xuất của các đơn vị. Đồng chí Nguyễn Quang Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương chủ trì Hội nghị. Dự Hội nghị có đồng chí Lương Quốc Đoàn, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam. Các đồng chí Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng: Nguyễn Long Hải, Bí thư Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương; Tôn Ngọc Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Bùi Quang Huy, Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Dự Hội nghị còn có đại diện lãnh đạo các vụ, cục, đơn vị thuộc Ban Tổ chức Trung ương; đại diện lãnh đạo và vụ trưởng (trưởng ban) tổ chức cán bộ và các ban đảng, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; đại diện ban cán sự đảng, đảng đoàn, lãnh đạo Văn phòng Chủ tịch nước và vụ trưởng (trưởng ban) tổ chức - cán bộ các bộ, ngành, cơ quan, đơn vị ở Trung ương.
Xác định công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, các đảng đoàn, ban cán sự, đảng ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), các đảng đoàn, ban cán sự, đảng ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc việc viết cam kết, kế hoạch thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, qua đó nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn; rà soát, hoàn thiện danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm cán bộ, công chức, viên chức thuộc cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực; xây dựng và ban hành các quy chế, quy định, hướng dẫn về công tác cán bộ trên cơ sở cụ thể hóa các quy chế, quy định của Trung ương như quy định về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, quy định về luân chuyển cán bộ, xây dựng hướng dẫn và kế hoạch triển khai công tác quy hoạch nhiệm kỳ 2025-2030 và nhiệm kỳ 2026-2031; phối hợp, tham mưu kịp thời trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư kiện toàn các chức danh Trung ương quản lý, chỉ định tham gia ban cán sự, ban chấp hành, ban thường vụ, phê duyệt quy hoạch cán bộ diện Trung ương quản lý giai đoạn 2021-2026, 2026-2031.
Dù đã đạt được nhiều kết quả, Báo cáo cũng chỉ rõ vẫn còn những hạn chế như việc tổ chức, học tập, quán triệt việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa thực sự đổi mới. Một số ban cán sự, đảng đoàn, đảng ủy thiếu quyết liệt trong chỉ đạo khắc phục yếu kém, khuyết điểm đã được chỉ ra, chưa mạnh dạn kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nhận diện khuyết điểm; việc triển khai thực hiện một số kết luận, nghị quyết, hướng dẫn về công tác tổ chức xây dựng Đảng có nơi, có lúc còn chậm, một số đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng ủy chưa ban hành chương trình, kế hoạch thực hiện Kết luận 21-KL/TW.
Bám sát những nội dung gợi ý của đồng chí Nguyễn Quang Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương trong phát biểu khai mạc tại Hội nghị, các ý kiến phát biểu tại Hội nghị đã tập trung vào trao đổi sâu thêm về việc triển khai các nghị quyết về công tác tổ chức xây dựng Đảng như sắp xếp tổ chức bộ máy, rà soát chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm, các khâu trong công tác cán bộ. Nêu ra những vướng mắc, khó khăn trong quá trình triển khai, chia sẻ những mô hình hay, cách làm có hiệu quả ở các cơ quan, đơn vị.
Đồng chí Bùi Quang Huy, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: Đánh giá cao cách làm của Ban Tổ chức Trung ương khi tổ chức giao ban công tác xây dựng Đảng. Về việc giao biên chế: Trung ương Đoàn báo cáo số lượng cán bộ, công chức thực tế sau khi đã thực hiện giảm 10%, nên khi được giao biên chế số lượng được ít, mong Ban Tổ chức Trung ương tiếp tục quan tâm, giúp đỡ để Trung ương Đoàn tiếp tục giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình công tác.
Đồng chí Nguyễn Long Hải, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương: Đây là hội nghị rất ý nghĩa để tăng cường sự phối hợp giữa Ban Tổ chức Trung ương với các ban cán sự đảng, đảng đoàn, đồng thời thống nhất cao với dự thảo báo cáo, nhất là 7 nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2022. Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương đang tập trung triển khai các quy định của Trung ương về công tác tổ chức xây dựng Đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giải quyết được một số nhiệm vụ còn tồn đọng; tổ chức hội nghị về công tác phát triển đảng viên trong công đoàn viên và đoàn viên thanh niên. Hiện Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương còn 3 đảng bộ chưa kiện toàn chức danh bí thư: Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam; Tổng Công ty Cà phê Việt Nam; Tổng Công ty Xi măng Việt Nam. Việc triển khai quy hoạch chức danh ủy viên ủy ban kiểm tra còn lúng túng (trong thực tiễn Đảng ủy Khối chưa quy hoạch chức danh này). Việc thực hiện quy hoạch cấp ủy và lãnh đạo quản lý của Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp còn vướng mắc.
Đồng chí Nguyễn Kim Anh, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Thực hiện Quy định 215-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của đảng ủy cấp trên trực tiếp TCCSĐ thuộc Đảng bộ Khối Các cơ quan Trung ương có một số vấn đề vướng mắc, phát sinh về hoạt động của văn phòng đảng, đoàn thể; công tác đảng của các đơn vị ngày càng nhiều, ở các cấp tổng cục phải bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác đảng nhưng trong vị trí việc làm chưa quy định về chức danh này, cần phải tính toán để đưa thêm chức danh này khi giao biên chế.
Đồn chí Ngô Minh Hiển, Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam: Đề nghị nghiên cứu thí điểm sinh hoạt đảng trực tuyến đối với các chi bộ đặc thù vì thực tế hoạt động của Đài Tiếng nói Việt Nam có hơn 70% phóng viên thường xuyên phải đi công tác. Có một số văn bản mới được ban hành nên mở lớp tập huấn để quán triệt, cập nhật kịp thời các văn bản mới cho đội ngũ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng.
Đồng chí Trần Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Cán bộ, Tòa án Nhân dân tối cao: Đánh giá cao sự phối hợp của cán bộ theo dõi địa bàn với đơn vị trong quá trình triển khai thực hiện công tác tổ chức xây dựng Đảng. Tòa án Nhân dân tối cao đã thí điểm triển khai Bảng chấm điểm theo tháng tại một số đơn vị trực thuộc (chấm điểm chung việc thực hiện quy định, quy chế của cơ quan và việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn), hiện các cơ quan tham mưu đang xây dựng để triển khai mô hình này trong toàn ngành dự kiến vào quý I năm 2023.
Đồng chí Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp Các hội VHNT Việt Nam: Đây là nhiệm kỳ Đại hội X của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam vừa có đảng ủy, vừa có đảng đoàn. Về biên chế của Liên hiệp Các hội VHNT Việt Nam, từ trước đến nay Bộ Nội vụ đã ấn định, ít có sự thay đổi, việc này xuất hiện nhiều bất cập, thiếu cán bộ làm việc. Cán bộ hội chuyên ngành về văn học - nghệ thuật không được tính là công chức, viên chức Nhà nước do vậy không được hưởng phụ cấp công tác đảng. Đề nghị xem xét về phụ cấp chức vụ đối với các chức danh chủ tịch và phó chủ tịch Liên hiệp Các hội VHNT Việt Nam.
Đồng chí Trần Văn Thuật, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động: Đề nghị nghiên cứu, cho phép vận dụng các quy định hiện hành để tuyển dụng cán bộ công đoàn trưởng thành từ cơ sở. Ban Tổ chức Trung ương xem xét, thống nhất với Đảng đoàn Tổng Liên đoàn để ban hành hướng dẫn liên tịch về phân cấp quản lý cán bộ các liên đoàn lao động tỉnh, thành phố nhằm khắc phục tình trạng cấp ủy đơn phương điều động cán bộ chủ chốt đi sang cơ quan khác mà không có sự trao đổi với Đảng đoàn Tổng Liên đoàn hoặc cán bộ từ nơi khác về cơ quan công tác nhưng không trong quy hoạch, không bảo đảm quy trình.
Phát biểu kết luận tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Quang Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương ghi nhận, biểu dương những ý kiến phát biểu đóng góp thẳng thắn, tâm huyết của các đại biểu. Đồng chí khẳng định, trong thời gian qua các đảng đoàn, ban cán sự đảng đã cố gắng thực hiện khối lượng công việc lớn, nhất là tập trung cho công tác tổ chức xây dựng Đảng: 4 mục tiêu 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của Kết luận 21-KL/TW, 11 nhiệm vụ trọng tâm, 11 giải pháp của Kế hoạch 03-KH/TW, từ đó góp phần xây dựng các tổ chức đảng vững mạnh, ngăn ngừa sự suy thoái, thực hiện tốt các nhiệm vụ Trung ương giao. Với các nghị quyết rõ về nhiệm vụ xây dựng Đảng như Nghị quyết 18, 19 về sắp xếp tổ chức, bộ máy, lần đầu tiên Trung ương rà soát kỹ để ra được tổng biên chế cụ thể, các đơn vị đã làm rất bài bản, nghiêm túc. Hoàn thành kiểm điểm đánh giá cán bộ, đảng viên một cách nghiêm túc; các khâu trong công tác cán bộ làm bài bản, đúng quy định. Đã tham gia và phối hợp tốt với Ban Tổ chức Trung ương để hoàn thành 12/19 đề án trình Trung ương. Trong 2 năm Ban Tổ chức Trung ương đã hoàn thành 43 văn bản trình Trung ương và Bộ Chính trị, trong đó có nhiều văn bản phối hợp với đảng đoàn, ban cán sự đảng.
Các ý kiến, kiến nghị đề xuất được trao đổi trong hội nghị hôm nay đề nghị có văn bản gửi về để các vụ chuyên đề của Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu và giải đáp. Thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm của 6 tháng cuối năm, nhất là các khâu trong công tác cán bộ, đánh giá, kiểm điểm tổ chức đảng, đảng viên; sơ kết Nghị quyết 18 về sắp xếp tổ chức bộ máy.
GIÁO DÂN VÀ GIẶC ĐẠO
"Giáo dân" là cách gọi phổ thông đối với đồng bào theo đạo "Ki tô". Giáo dân là những người "kính chúa, yêu nước", sống tốt đời đẹp đạo, tuân thủ luật pháp Việt Nam.
Tuy nhiên, không thể LẠM DỤNG cụm từ "giáo dân" để gọi những kẻ côn đồ, coi thường pháp luật, hung hăng tấn công lực lượng chức năng ở Nghi Lộc, Nghệ An (ngày 12/7/2022). BỌN NÀY phải gọi là lũ tội phạm, lũ giặc đạo!
Nhìn hình ảnh chiến sỹ cảnh sát cơ động, nằm gục khi bị đám giặc này tấn công mà thấy thật xót xa! Hình ảnh này lại làm chúng ta nhớ về vụ việc ở Đồng Tâm đầu năm 2020, hay bạo loạn ở Bình Thuận năm 2018.
Dẫu biết rằng những kẻ này cũng chỉ là nạn nhân của sự xúi dục, kích động. Tuy nhiên, pháp luật thượng tôn, kẻ nào vi phạm pháp luật đều phải bị trừng phạt thích đáng!
KHÔNG QUA ĐƯỢC MẮT DÂN
Trong công tác xây dựng Đảng nói chung, trong phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (TNLPTC) nói riêng, Đảng ta đã ban hành nhiều quy định để phát huy vai trò của Nhân dân. Ban Bí thư cũng đã có Quyết định hướng dẫn tiếp tục phát huy vai trò của Nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực hiện tốt vai trò giám sát của Nhân dân. Thể hiện ở chưa thực hiện đúng các quy định về công khai, minh bạch; hoặc có thực hiện nhưng hình thức, đối phó. Hình thức công khai cũng chưa phù hợp, người dân khó tiếp cận, rất ít người biết.
Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận: “Hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả”.
Sinh thời, Bác Hồ đã dạy “Không có gì mà Nhân dân không biết và không có gì qua mắt được Nhân dân. Chúng ta phải biến hàng vạn, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, làm cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu không có chỗ ẩn nấp”.
Do đó, cần đề cao hơn nữa vai trò của Nhân dân trong phòng chống TNLPTC. Thể hiện ở việc xây dựng cơ chế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhân dân tham gia giám sát, đóng góp ý kiến khi xây dựng, ban hành, thực hiện các chính sách; trong đánh giá, đề bạt bổ nhiệm; trong giám sát việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, giám sát biến động tài sản; giám sát về đạo đức, lối sống, chấp hành pháp luật... của cán bộ, đảng viên.
Thực tế là không biết thì không thể giám sát. Việc của Đảng cũng là việc của Dân. Cho nên công khai, minh bạch thật sự, tránh công khai hình thức, đối phó sẽ giúp Nhân dân được biết, được bàn, được giám sát. Từ đó Đảng sẽ có thêm “những ngọn đèn pha”, để TNLPTC, suy thoái biến chất “không còn chỗ ẩn nấp”.
PHÒNG CHỐNG, ĐẤU TRANH THÓI BA PHẢI VÀ THÁI ĐỘ “IM LẶNG ĐÁNG SỢ"
Trong đó có một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là:
"Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo
vệ, thấy sai không đấu tranh”. Thực tế thấy rằng những thiếu sót, khuyết điểm
này đã được gọi đúng tên, cái nọ liên quan đến cái kia, thậm chí là nơi trú ẩn,
là chỗ để ngụy biện cho những điều sai trái. Vì vậy, phải đồng thời phân tích,
chỉ rõ biểu hiện, nguyên nhân và cách khắc phục nó thế nào cho hiệu quả, để
hướng tới xây dựng một bầu không khí trong lành, tin cậy, chân thành, vô tư
trong mỗi cơ quan, đơn vị.
Xưa nay có nhiều cách nói về những người dĩ hòa vi quý. Nào là
ông ba phải, gió chiều nào che chiều ấy. Nào là ông mũ ni che tai, khôn ăn
người. Nặng nề hơn thì cho rằng đó là kẻ “ngậm miệng ăn tiền”. Thời hiện đại,
còn có những cụm từ mới xuất hiện: “tai lành tai điếc”, “đi giữa hai hàng”..
Năm 1947, tại Chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn
“Sửa đổi lối làm việc”. Bác gọi những kẻ khôn ăn người như thế là “bọn thứ ba”.
Đó là những kẻ cơ hội, là khôn mà không ngoan, làm gì cũng nghĩ đến cái lợi
riêng mình mà quên đi lợi ích chung, quyền lợi của người khác. Thời nay,
"bọn thứ ba" là người ta ám chỉ những người "dĩ hòa vi
quý".
Thật ra thành ngữ “dĩ hòa vi quý” khởi thủy của nó là thiện ý
tốt. Nôm na rằng, lấy hòa thuận làm vui. Chịu khó nhẫn nhịn một chút, hòa là
quý, nhẫn là cao. Đừng vội nổi xung lên, phỉ báng, nhiếc móc nhau, bé xé ra to,
mà nên “biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự”. Đúng như cái nghĩa
ngọn nguồn này thì quá hay. Thế nhưng, theo thời gian, theo những diễn biến phức
tạp trong đời sống hiện đại mà dần dần cái nghĩa của thành ngữ này bị hiểu
chệch, hiểu sai, lắm khi chỉ còn được hiểu theo nghĩa đó là tính cách khôn lỏi,
chả bao giờ nêu chính kiến, “tránh voi chả xấu mặt nào”, tránh mất lòng người
khác, nhất là mất lòng cấp trên. Và điều không bao giờ cũ: Nghiêm túc tự phê
bình và phê bình để nội bộ thật sự đoàn kết, hiểu nhau, tin nhau, hướng đến
những giá trị tốt đẹp, nhân văn, vì sự phát triển, vững mạnh của cơ quan, đơn
vị; đồng thời cũng vì sự tiến bộ, trưởng thành của mỗi cán bộ, đảng viên. St
Anh hùng, chiến sĩ thi đua phải...!
Anh hùng, chiến sĩ thi
đua đã là những người
tiên phong trong sản xuất, mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt
lợi ích chung của dân tộc trên lợi ích riêng của cá nhân”.
Kết luận nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài:
“Lời chào mừng Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ II”, đọc
ngày 07/7/1958. Đây là thời kỳ miền Bắc bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội,
thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế - văn hóa (1958 - 1960).
Nhiệm vụ trọng tâm lúc này là phát triển sản xuất, khôi phục kinh tế và xây
dựng chế độ mới trên tất cả các lĩnh vực.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi nhận, biểu dương, khích lệ thành
tích của các anh hùng, chiến sĩ thi đua đã đạt được trong những năm đầu đất
nước hoà bình, khôi phục kinh tế ở miền Bắc. Lời dạy của Người đã cổ vũ, động
viên, kêu gọi mọi người hăng hái phấn đấu học tập và làm theo tấm gương của các
anh hùng, chiến sĩ thi đua trong Đại hội. Mặt khác, đã chỉ ra cách thức rèn
luyện, phấn đấu cho mỗi cán bộ, đảng viên, phải luôn đặt lợi ích chung của dân
tộc, của đất nước lên trên lợi ích riêng của cá nhân, toàn tâm toàn ý phục vụ
nhân dân, không sợ gian nguy, ra sức vượt mọi khó khăn, gian khổ để hoàn thành
tốt nhiệm vụ được giao, mẫu mực về đạo đức, lối sống, không tự kiêu, tự mãn, tự
tư, tự lợi về lợi ích và hưởng thụ, luôn giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ. Đồng
thời, Bác chỉ rõ tầm quan trọng của đạo đức cách mạng và vai trò của thi đua
yêu nước đối với sự nghiệp xây dựng CNXH - một chế độ xã hội mà con người được
đặt ở vị trí trung tâm, được bảo đảm về mọi quyền lợi chính đáng, được phát
triển toàn diện bản thân.
Thực hiện lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân đẩy mạnh phong
trào thi đua Quyết thắng và các cuộc vận động của các cấp, các ngành, tập trung
đột phá, khắc phục khâu yếu, mặt yếu, khơi dậy ý thức tự lực, tự cường, vượt
qua khó khăn, thách thức, phát huy truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của
Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” hoàn
thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới,
biển, đảo của Tổ quốc. Toàn quân xuất hiện ngày càng nhiều tập thể, cá nhân
điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt” trên các lĩnh vực công tác,
trực tiếp góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tổ chức đảng TSVM;
cơ quan, đơn vị VMTD, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; không ngừng
nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi
nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân
dân.St.
VIỆT NAM ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI
CÓ 02 TƯỚNG TÀI & 06 DANH NHÂN VĂN HÓA ĐƯỢC THẾ GIỚI TÔN
VINH
-----
I. DANH NHÂN VĂN HOÁ
1. Nguyễn Trãi: Quê quán Thăng Long - HN (Tôn vinh năm 1980, dịp
600 năm ngày sinh)
2. Hồ Chí Minh: quê quán Nghệ An (Tôn vinh năm 1990, dịp 100 năm
ngày sinh).
3- Nguyễn Du, quê quán Hà Tĩnh (Tôn vinh năm 2015, dịp 250 năm
ngày sinh).
4- Chu Văn An, quê quán Thăng Long - HN (Tôn vinh năm 2019, dịp
650 năm ngày mất).
5- Nguyễn Đình Chiểu, quê quán Gia Định - TP. HCM (Tôn vinh năm
2022, dịp 200 năm ngày sinh).
6- Hồ Xuân Hương, quê quán Nghệ An (Tôn vinh năm 2022, dịp 250
năm ngày mất).
II. TƯỚNG TÀI (2 trong số 10 tướng tài được thế giới tôn vinh):
1- Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn (1228 – 1300).
2- Võ Nguyên Giáp (1911 – 2013). St
ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN CÁC ANH HÙNG LIỆT SĨ ĐÃ HY SINH TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC.
1. ANH HÙNG, LIỆT SĨ
- Có 1.146.250 Liệt sỹ trên cả nước.
+ Có 191.605 Liệt sỹ hi sinh trong
kháng chiến chống Pháp
+ Có 849.018 Liệt sỹ hi sinh trong
kháng chiến chống Mỹ
+ Có 105.627 Liệt sỹ hi sinh trong
các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh
biên giới phía Bắc, cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo…)
- Hơn 200.000 hài cốt Liệt sỹ chưa
được tìm thấy, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào,
Cam pu chia, Biển Đông…
- Hơn 300.000 hài cốt Liệt sĩ đã
được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính tên tuổi,
quê quán, đơn vị…
- Tỉnh có nhiều Liệt sĩ hi sinh
nhất: Tỉnh Quảng Nam có 65.000 Liệt sĩ hi sinh trong các cuộc chiến tranh.
(ngoài ra tỉnh Quảng Nam còn có hơn 30.000 thương binh) (tính đến năm 2012).
- Huyện có nhiều liệt sỹ nhất cả
nước là huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) với hơn 19.800 Liệt sĩ. (tính đến năm
2012).
2. NGƯỜI DÂN
- Ngoài ra, trong kháng chiến chống
Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có khoảng hơn 4 triệu dân thường
Việt Nam ở hai miền (miền Bắc và miền Nam) đã chết và bị thương tật suốt đời do
bom đạn, do kẻ thù giết hại…
3. CÔNG TRÌNH TRI ÂN ANH HÙNG, LIỆT
SỸ
- Có 9.637 công trình tri ân, ghi
công Liệt sỹ như tượng đài, nhà bia, nghĩa trang Liệt sỹ trên địa bàn cả nước.
(tính đến năm 2012)
+ Hơn 3.000 nghĩa trang Liệt sĩ trên
địa bàn cả nước (hầu hết các tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã, phường, thị trấn
trên đất nước Việt Nam đều có nghĩa trang Liệt sỹ…)
- Các Nghĩa trang Liệt sĩ cấp Quốc
gia nổi tiếng như:
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị
Xuyên (Hà Giang)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Điện Biên Phủ
(Điện Biên)
+ Nghĩa trang Mai Dịch (Thủ đô Hà
Nội)
+ Nghĩa trang Quốc tế Việt – Lào
(Anh Sơn, Nghệ An)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia
Trường Sơn (Quảng Trị)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường
9 (Đông Hà, Quảng Trị)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ
Chí Minh (TP HCM)…
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Hàng Dương
(Côn Đảo, Bà Rịa Vùng Tàu)
4. NGƯỜI CÓ CÔNG CỦA VIỆT NAM
- Có 9.000.000 người có công trên cả
nước
- Trên 127.000 Bà Mẹ Việt Nam anh
hùng có chồng, con hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Một số Bà
mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu:
+ Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam có
chồng, chín con đẻ, một con rể, 2 cháu ngoại là liệt sĩ;
+ Mẹ Trần Thị Mít ở Quảng Trị có
chồng, sáu con đẻ, một con dâu và một cháu nội là liệt sĩ;
+ Mẹ Lê Thị Tự ở Quảng Nam có chín
con là Liệt sĩ;
+ Mẹ Phạm Thị Ngư ở Bình Thuận, mẹ
Nguyễn Thị Rành ở huyện Củ Chi (Sài Gòn) đều có tám con là Liệt sĩ, bản thân 2
mẹ cũng là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
- Tỉnh Quảng Nam là tỉnh có nhiều Bà
mẹ Việt Nam anh hùng nhất với 11.658 mẹ (số liệu tính đến 2001).
- Gần 13.000 Anh hùng LLVTND và Anh
hùng Lao động.
- Gần 800.000 Thương binh và người
được hưởng chính sách như Thương binh.
- Hơn 300.000 người hoạt động kháng
chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam.
- Gần 111.000 người hoạt động cách
mạng, người tham gia kháng chiến bị địch bắt giam, tù đày, tra tấn trong các
nhà tù nổi tiếng như (Nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Lao Bảo, Côn Đảo, Phú Quốc...St
“Thế trận lòng dân”!
“Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được, trái ý dân, thì chạy
ngược chạy xuôi”.
Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Sẽ
được mấy lâu?”, đăng trên Báo Nhân dân, số 122, từ ngày 06 đến ngày 10/7/1953;
là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta bước
vào tổng phản công, quyết giành thắng lợi cuối cùng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải hành động
vì dân, thấu hiểu, chia sẻ, quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân. Có
như vậy, nhân dân mới tin tưởng và ủng hộ Chính phủ thực hiện thắng lợi mục
tiêu của cách mạng.
Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ
lợi ích, nguyện vọng của nhân dân để xác định chủ trương, đường lối, chính sách
và pháp luật, không ngừng chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân; nhân dân tin tưởng, đi theo Đảng, theo cách mạng làm nên chiến thắng
Điện Biên Phủ và đại thắng mùa Xuân năm 1975, giành độc lập dân tộc, thống nhất
đất nước. Ngày nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường;
trong nước các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá đường lối, chủ
trương của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nhân
dân với Đảng... Đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải sâu sát quần chúng, lắng nghe
tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, có chủ trương, đường lối hợp lòng dân, tạo
được sự đồng thuận giữa ý Đảng với lòng dân. Có như thế, mới tranh thủ được
thời cơ, vượt qua thách thức, tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới, CNH-HĐH,
xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn
thực hiện tốt chức năng đội quân công tác trong tình hình mới, quan tâm chăm lo
củng cố mối quan hệ đoàn kết nội bộ và làm tốt công tác dân vận; xây dựng cơ sở
chính trị địa phương vững mạnh, toàn quân đẩy mạnh phong trào thi đua “Quân đội
chung sức xây dựng nông thôn mới” với nhiều mô hình mới, cách làm sáng tạo,
hiệu quả; tiêu biểu: “Nâng bước em tới trường”, “Tết Biên phòng ấm lòng dân
bản”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”, “Tặng bò giống cho đồng
bào nghèo”, “Bệnh xá quân dân y kết hợp”, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, khắc
phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh… góp phần củng cố, giữ vững thế trận lòng
dân, được cấp ủy, chính quyền, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Sự nghiệp xây
dựng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi phải tập trung xây dựng
quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; không ngừng tăng
cường, củng cố mối quan hệ đoàn kết quân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực
hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam XHCN.St.
NHỚ VỀ CÁC THƯƠNG BINH LIỆT SĨ
Cách đây tròn 47 năm, cả nước vỡ òa khi nghe tin miền Nam thắng trận, non sông quy về một mối, Việt Nam ta từ đây thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than, cảnh súng đạn rền vang khắp trời. Để có hòa bình, dân tộc ta đã phải đánh đổi rất nhiều xương máu của biết bao thế hệ. Thế nhưng, niềm vui ngày độc lập dường như không trọn vẹn, bởi trọn vẹn là khi họ được cùng nhau mừng ngày toàn thắng, cùng tay nắm tay, trao cho nhau những cái ôm, những nụ cười… Những người anh, người em, người đồng đội, đồng chí, những người con đã ngã xuống nay đã không kịp chứng kiến cảnh đất nước hòa bình... Máu của những chiến sĩ tử trận hòa vào từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, để giờ đây mỗi bước phát triển của dân tộc Việt Nam đều nhắc đến các anh, lớp trẻ ngày nay luôn tưởng nhớ và gọi tên các anh - những anh hùng bất tử của dân tộc.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: “Ăn quả phải nhớ người trồng cây”. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta... Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh dũng cảm của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết trái tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ để vượt tất cả khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ chuyển lại cho chúng ta.
Ngày 27/7 hằng năm, Ngày Thương binh - Liệt sĩ Việt Nam là dịp để toàn dân cả nước ôn lại những câu chuyện phi thường, dũng cảm của những chiến sĩ tử trận, bồi dưỡng truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của các thương binh, liệt sĩ và người có công. Cũng là dịp để mỗi người Việt Nam được sống trong hòa bình tri ân hàng triệu con người đã hy sinh, đã để lại nơi chiến trường một phần xương máu và một phần cuộc sống của mình vì nền độc lập tự do của dân tộc, vì cuộc sống hạnh phúc, bình yên của nhân dân, như cách mà Anh hùng lực lượng vũ trang, liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã viết: “Hãy giữ vững tinh thần của người cộng sản, tinh thần trong suốt như pha lê, cứng rắn như kim cương và chói lọi muôn nghìn hào quang của lòng tin tưởng…”.
Thi đua!
“Thi đua ái quốc nhằm ba mục đích
chính: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Tức là làm cho nhân
dân no, ấm, biết chữ, làm cho Tổ quốc độc lập, tự do”.
Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong bài: “Thi đua ái quốc, hiện tại và tương lai vẻ vang của nước ta”,
đăng trên Báo Nhân dân, số 15, ngày 05 tháng 7 năm 1951. Đây là giai đoạn đầu
thực hiện đường lối trường kỳ kháng chiến do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II
xác định. Với phương châm: đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh biện pháp
thi đua yêu nước, khơi dậy, huy động sức dân tham gia cuộc kháng chiến kiến
quốc mau giành thắng lợi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ ba
mục đích cụ thể của thi đua ái quốc là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc
ngoại xâm. Tức thi đua ái quốc làm cho nhân dân no, ấm, biết chữ, làm cho Tổ
quốc độc lập, tự do. Theo Người, thi đua ái quốc phải xuất phát từ lợi ích,
nguyện vọng của dân, bám sát mục tiêu, nhiệm vụ chính trị cụ thể của từng thời
kỳ cách mạng. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thúc đẩy các phong trào thi
đua ái quốc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược phát triển
rộng khắp, động viên, cổ vũ toàn quân và thu hút mọi tầng lớp nhân dân đoàn kết
tham gia. Tiêu biểu như các phong trào “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc
ngoại xâm”, “Bình dân học vụ”, “Hũ gạo kháng chiến”… Qua đó đã cuốn hút, cổ vũ,
động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước hăng say lao động sản xuất, thực hành
tiết kiệm chống giặc đói; thi đua học tập xoá nạn mù chữ, chống giặc dốt và dũng
cảm ngoan cường trong chiến đấu diệt giặc ngoại xâm làm nên chiến thắng lịch sử
Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
thi đua ái quốc vẫn còn nguyên giá trị, đã cổ vũ, khích lệ quân và dân ta thi
đua lao động sản xuất, xóa đói giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới,
nâng cao đời sống của nhân dân, đảm bảo tốt an sinh xã hội; tăng cường, củng cố
quốc phòng - an ninh; nâng cao cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm
thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, quyết
tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy,
phong trào thi đua yêu nước được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục
Chính trị cụ thể hóa thành phong trào thi đua Quyết thắng phù hợp với đặc điểm,
tình hình, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội đã được cấp ủy, chỉ huy các cấp
trong toàn quân quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt, với các nội
dung, chỉ tiêu thi đua thiết thực, được cán bộ, chiến sĩ tích cực hưởng ứng
thực hiện với quyết tâm cao. Phong trào thi đua Quyết thắng được gắn kết chặt
chẽ với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ
đội Cụ Hồ”, các cuộc vận động của các cấp, các ngành đã góp phần quan trọng vào
kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững
mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện. St
Sức mạnh của sự đoàn kết…!
“Ong kia yêu giống,
yêu nòi,
Đồng tâm, hợp lực đuổi
loài cáo đi.
Bây giờ ta thử so bì,
Ong còn đoàn kết,
huống chi là người!”
Khổ thơ trên của Hồ Chí Minh được trích trong
bài thơ:“Con cáo và tổ ong”, đăng trên Báo Việt Nam độc lập, số 130, ngày 01
tháng 7 năm 1942. Đây là thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai
đoạn ác liệt, ở Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng, dâng Đông Dương cho Nhật,
cơ hội giải phóng dân tộc đã xuất hiện, cần phải nhanh chóng tổ chức đoàn kết
tập hợp toàn dân đứng lên khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Thông qua những câu thơ trên, Hồ Chí Minh muốn
nhắc nhở mọi người về tình yêu thương giống nòi và sức mạnh của sự đoàn kết
trong đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đây là tư tưởng bắt nguồn từ
truyền thống "lấy nhỏ chống mạnh", nhưng được nâng lên thành phương
pháp hành động và tư tưởng chỉ đạo cách mạng. Thực hiện lời dạy của Người, toàn
thể dân tộc Việt Nam đã đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận
Việt Minh tiến hành cuộc khởi nghĩa cách mạng tháng Tám giành chính quyền về
tay nhân dân. Tư tưởng của Người được Đảng ta vận dụng thành công trong suốt
hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc để giành được những thắng lợi vẻ vang.
80 năm trôi qua, lời dạy trên của Chủ tịch Hồ
Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, kêu gọi mọi người dân hợp sức, đồng lòng thực
hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ngày nay
xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự cạnh tranh lợi ích giữa các quốc
gia, dân tộc ngày càng gay gắt đang đặt ra cho dân tộc ta cả thời cơ và thách
thức to lớn. Thực tế đó đòi hỏi hơn lúc nào hết phải phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc để có thể phát huy nội lực, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách
thức đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Thấu triệt lời Bác dạy, hơn 70 năm xây dựng,
chiến đấu, trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn coi trọng xây dựng,
củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết
quốc tế để tạo nên sức mạnh hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Sự
đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động của quân đội đã trở thành lời thề danh
dự của mỗi cán bộ, chiến sĩ, trực tiếp góp phần xây dựng nên truyền thống vẻ
vang và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Ngày nay, trước yêu cầu mới của sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải biết quý trọng, giữ
gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quân đội, không ngừng
củng cố, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, góp phần xây dựng quân
đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh
chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.St.
“MỘT DÂN TỘC KHÔNG TỰ LỰC CÁNH SINH MÀ CỨ NGỒI CHỜ DÂN TỘC KHÁC GIÚP ĐỠ THÌ KHÔNG XỨNG ĐÁNG ĐƯỢC ĐỘC LẬP.”
Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong: “Bài nói
chuyện tại hội nghị chiến tranh du kích”, ngày 13 tháng 7 năm 1952. Đây là giai
đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta chuẩn bị
chuyển sang tổng phản công. Trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên,
nhân dân và lực lượng vũ trang có biểu hiện trông chờ vào sự giúp đỡ của các
nước bạn. Mặt khác, lại xuất hiện tư tưởng nóng vội muốn đánh thắng ngay. Trước
tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn chấn chỉnh nhận thức, củng cố niềm tin,
phát huy nội lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tích cực tham gia thúc đẩy
cuộc kháng chiến nhanh chóng giành thắng lợi.
Qua bài nói chuyện, Người nhấn mạnh, cuộc kháng chiến chống Pháp
của nhân dân ta là trường kỳ gian khổ nhưng lại phải tự lực cánh sinh, dựa vào
sức mình là chính. Lời dạy trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị lý luận
và thực tiễn to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất
đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực hiện lời dạy của Người,
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nhận thức rõ chủ trương, đường lối lãnh đạo
của Đảng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đoàn kết, thống nhất,
phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường trong thực hiện nhiệm vụ của từng cá
nhân, đơn vị, từng địa phương và nhiệm vụ chung của cách mạng. Tinh thần tự
lực, tự cường của cả dân tộc là nhân tố quan trọng để làm nên chiến thắng Điện
Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, mở ra một thời kỳ mới trong lịch
sử phát triển của dân tộc.
Ngày nay, xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng,
nhưng tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường vẫn là yếu tố quyết định đối với
sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc. Do đó, trong khi mở rộng hợp
tác quốc tế theo tinh thần Việt Nam là đối tác tin cậy và là thành viên có
trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Đảng ta phát huy cao độ tinh thần đại đoàn
kết toàn dân, chủ động tự lực cánh sinh thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới,
xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội
nhân dân Việt Nam phải đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo; ra sức học
tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực,
phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; nêu cao tinh thần
chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ
được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo
vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo
vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức
phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, luôn
làm tốt công tác đối ngoại quốc phòng để mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ sự
hợp tác, ủng hộ của các đối tác góp phần xây dựng Quân đội nhân dân tiến lên
chính quy, hiện đại.St
Phê bình cũng phải mang tính xây dựng
Gần đây, ông Tuyến bỗng trở nên nổi tiếng trên... trang Facebook của thôn Phiến Trung vì có vài truyện ngắn, dăm câu thơ ông đưa lên nhóm được tán thưởng.
Thế nhưng dần dà, ông sa đà, mượn văn chương để châm chọc người này, nói xấu người kia. Ông viết cả vè đả kích cán bộ xã với thái độ hằn học chỉ vì thấy "ngứa mắt".
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Quản lý chặt vùng trời, vùng biển, các địa bàn chiến lược
Sáng 13/7, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2022.
BÁC HỒ LUÔN Ở TRONG TIM MỖI NGƯỜI DÂN VIỆT NAM!
Có lẽ rất khó tìm được một quốc gia nào, một dân tộc nào như
Việt Nam, khi mà hình ảnh của Người khai sinh ra nhà nước, Vị Anh hùng giải
phóng dân tộc dường như mặc định gắn với tất cả các sự kiện lớn bé của đất
nước. Một từ Người duy nhất được viết hoa trong hệ thống văn bản ngữ pháp. Một
chân dung được hàng triệu người truyền tay, giơ cao đầy niềm tự hào trong mọi
hoạt động từ quốc gia đại sự đến hội làng, họp phố. Một bài hát chẳng hề có quy
định nào nhưng sẽ tự dưng vang lên, những ca từ dường như được "cài
đặt" trong tâm trí và khẩu hình của bất cứ ai rồi auto được bật khi chứng
kiến niềm vui, thành công trọng thể nào đó. NHƯ CÓ BÁC HỒ TRONG NGÀY VUI ĐẠI
THẮNG... VIỆT NAM - HỒ CHÍ MINH, VIỆT NAM - HỒ CHÍ MINH.
Con người ấy đã về thế giới người hiền hơn nửa thế kỷ, và hầu
hết những ai hôm nay đang giơ cao tấm hình Người, hát vang bài hát về Người đều
chưa bao giờ được gặp Người lúc sinh thời cả. Thế nhưng sự vĩ đại thì sẽ bất
tử, và Bác chưa bao giờ đi xa dân tộc này, Bác vẫn ở trong lòng tất cả chúng
ta.
Trong niềm vui chiến thắng, nhớ về Bác càng thêm ý nghĩa, trân
trọng. St

