Thứ Hai, 3 tháng 10, 2022

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG KHÔNG PHẢI “SẢN PHẨM RIÊNG CÓ CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN”

 


Chúng ta cần nhận thấy, luận điểm xuyên tạc cho rằng, “kinh tế thị trường là gắn với chủ nghĩa tư bản”, “là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản” là hết sức phản khoa học và phản động của các thế lực thù địch.

Trước hết, phải thấy rằng, kinh tế thị trường không phải là một chế độ kinh tế - xã hội. Nó là một hình thức, phương pháp vận hành nền kinh tế. Ở đó, các quy luật của thị trường chi phối việc phân bổ tài nguyên, quy định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Đây là một kiểu mô hình kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi khách quan về sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quá trình hình thành, phát triển kinh tế thị trường là quá trình mở rộng phân công lao động xã hội, phát triển khoa học - công nghệ và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất - kinh doanh. Dễ dàng thấy, sự phát triển của kinh tế thị trường gắn liền với sự phát triển của văn minh nhân loại, của khoa học - kỹ thuật và của lực lượng sản xuất. Nó là sản phẩm của sự phát triển khách quan của lịch sử xã hội loài người. Và như vậy, kinh tế thị trường không phải sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, càng không phải là chủ nghĩa tư bản, dù theo bất kỳ cách tiếp cận nào.  

Theo C. Mác, kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử, mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trải qua để đạt tới nấc thang cao hơn trên con đường phát triển và trong chủ nghĩa tư bản thì kinh tế thị trường phát triển đến trình độ phổ biến. Nấc thang cao hơn chính là nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Để chuyển lên nấc thang này, nền kinh tế thị trường phải phát triển hết mức, phải trở thành phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội. Đây là một kết luận có ý nghĩa quan trọng về lý luận. Nó khái quát quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, trong đó, kinh tế thị trường được xác định là một nấc thang tất yếu, mang tính phổ biến. Rõ ràng, luận điểm cho rằng, kinh tế thị trường chỉ gắn liền với chủ nghĩa tư bản là không có cơ sở khoa học.


 

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ TẤT YẾU

 


Các thế lực thù địch xuyên tạc cho rằng, không có cái gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội là hai ý tưởng hoàn toàn mâu thuẫn nhau, đưa thêm đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” vào là một sự gán ghép khiên cưỡng?! Chúng ta vần nhận diện, phê phán quan điểm sai trái, thù địch về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trong quản lý và điều hành đất nước, bất cứ quốc gia - dân tộc nào cũng lựa chọn và có quyền lựa chọn một mô hình quản lý, phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm của đất nước mình. Kể từ khi thành lập nước đến nay, chúng ta đã áp dụng và thực thi hai mô hình phát triển kinh tế cơ bản: mô hình kế hoạch hóa tập trung và mô hình phát triển kinh tế thị trường. Mô hình xây dựng và phát triển kinh tế theo phương thức vận hành của nền kinh tế kế hoạch (hay còn gọi là nền kinh tế kế hoạch tập trung, hoặc nền kinh tế chỉ huy) là mô hình kinh tế trong đó Nhà nước kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản xuất và giữ quyền phân phối về thu nhập (để bảo đảm tính xã hội). Mô hình này đặc biệt có ưu thế trong điều kiện đất nước có chiến tranh, vì có thể huy động tối đa các nguồn lực kinh tế, có tính thống nhất cao về hệ tư tưởng, ý chí để tập trung chiến đấu, sản xuất. Tuy nhiên, những hạn chế về quan liêu, triệt tiêu sáng tạo, cạnh tranh, làm cho mô hình này không có sức sống trong thời bình[1].

Nhận thức rõ hạn chế của mô hình kế hoạch hóa tập trung, với tinh thần đổi mới tư duy và đổi mới toàn diện công cuộc xây dựng đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn mô hình phát triển kinh tế thị trường trong việc xây dựng và phát triển đất nước, một mô hình vốn là kết quả của nền văn minh nhân loại đã đạt đến và là con đường tất yếu mà các dân tộc, dù dài hay ngắn, buộc phải đi theo để phát triển. Vấn đề đặt ra là, Việt Nam phải xây dựng và thực thi mô hình kinh tế thị trường kiểu gì để phù hợp với đặc điểm phát triển của đất nước, mà về thực chất, đã có sự lựa chọn con đường phát triển tiến lên chủ nghĩa xã hội? Một thực tế, nhân loại đã và đang có các phương án lựa chọn khác nhau trong phát triển kinh tế thị trường. Kiểu thứ nhấtkinh tế thị trường tự do, được thực hiện ở hầu hết các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Mô hình này hạn chế sự can thiệp, điều tiết của nhà nước ở mức thấp, trong khi đó đề cao sự vận hành tự do của quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh. Sự tham gia của nhà nước vào quá trình phân bổ hệ thống phúc lợi xã hội, ngăn chặn và xử lý các thất bại của thị trường, tuy vẫn được coi trọng nhưng không nhiều. Kiểu thứ hai, kinh tế thị trường xã hội, thực hiện ở một số nước Tây - Bắc Âu (điển hình là nước Đức - quê hương của mô hình kinh tế này). Đây là một nền kinh tế mà trong đó nhà nước bảo đảm tự do hoạt động kinh tế, nhưng có chính sách quản lý, điều tiết về kinh tế, cũng như về xã hội, để đạt được sự cân bằng về xã hội. Đặc trưng nổi bật của mô hình này là: ngoài mục tiêu lợi nhuận, phát triển kinh tế cũng rất coi trọng các mục tiêu xã hội và phát triển con người (công bằng xã hội, phúc lợi cho người nghèo và cho người lao động, quyền tự do...). Kiểu thứ ba, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mà Cộng hòa nhân dân Trung Hoa áp dụng. Sự ra đời của mô hình này gắn với sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, vốn trước đó phủ nhận vai trò của kinh tế thị trường và qua đó, Trung Quốc muốn khẳng định với thế giới một mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu mới mà Trung Quốc đã lựa chọn: chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Mô hình này cũng áp dụng các quy luật kinh tế thị trường, nhưng nhà nước can thiệp mạnh hơn vào thị trường, đồng thời tác động nhiều vào tính xã hội[2].

Trong khi đó, ở Việt Nam, mới chỉ đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội  - một thời kỳ quá độ đang hướng đến mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng có nghĩa là, cần một quá trình phấn đấu và phát triển lâu dài, Việt Nam mới có thể xây dựng được mô hình chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó. Để phù hợp và tương thích với hoàn cảnh và đặc điểm của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn xây dựng mô hình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mô hình này được Đảng Cộng sản Việt Nam sáng tạo và thực hiện xây dựng từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay và tên gọi này chính thức được dùng từ Đại hội IX của Đảng (năm 2001). Đối với Việt Nam, mô hình này có ý nghĩa quyết định đến tương lai đất nước và vì vậy, tại Đại hội XI, Đảng ta coi đây là một trong ba đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng và chủ động hội nhập quốc tế.

Hơn thế nữa, trong quá trình điều hành, hoàn thiện mô hình này, Đảng ta đã đưa ra cách tiếp cận tổng thể về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ làm rõ về nội hàm, đưa ra các quan điểm chỉ đạo đến xác định mục tiêu, lộ trình và đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện, mà điều này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, “Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong đó, đã thể hiện khá đầy đủ, sát hợp, khoa học, có hệ thống, vừa mang tính tổng quát, vừa có tính cụ thể về nội hàm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đây là lần đầu tiên có thể được định hình như là lý thuyết về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”[3].

Điều đó khẳng định rằng, định hướng xã hội chủ nghĩa “không phải là cái đuôi” được gán ghép chủ quan, áp đặt của những bộ óc “giáo điều”, “kinh viện chủ nghĩa” như một số người sính chữ đang dùng, mà chỉ rõ tính chất của nền kinh tế thị trường mà nước ta đang xây dựng. Bởi lẽ, nó được quyết định bởi chính tính chất của những bộ phận cấu thành, thuộc kết cấu bên trong của nền kinh tế, xác định bản chất và xu thế vận động của nền kinh tế thị trường. Điều đó cũng có nghĩa rằng, tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường hay tính định hướng trong phát triển nền kinh tế thị trường là hoàn toàn đúng đắn. Do đó, không thể xuyên tạc hoặc bóp méo sự thật mà phải nhận thức cho đúng, tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường phản ánh mục tiêu, phương thức phát triển, phân phối của cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta; nhờ đó mà khai thác tốt nhất lợi thế vốn có của thị trường, đồng thời khắc phục và hạn chế tới mức thấp nhất những “khuyết tật”, rủi ro của nó, nhằm phục vụ lợi ích chính đáng của nhân dân hướng đến các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.



[1] https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/suyngam/30-nam-doi-moi-kinh-te-thi-truong-co-the-di-cung-dinh-huong-xhcn-325545.htmlngày 9-9-2016

[2] https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/suyngam/30-nam-doi-moi-kinh-te-thi-truong-co-the-di-cung-dinh-huong-xhcn-325545.htmlngày 9-9-2016

[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 114.

Nhận diện hoạt động lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước

 


Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, luôn thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Do đó, cùng với vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chống phá Đảng và chế độ ta.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tiếp Đại sứ Hàn Quốc chào từ biệt

 


Chúc mừng Đại sứ Park Noh Wan hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong nhiệm kỳ tại Việt Nam, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đánh giá, Đại sứ đã góp phần thúc đẩy hợp tác hai nước trên nhiều lĩnh vực, nâng cao tin cậy chính trị, hợp tác quốc phòng, an ninh, kinh tế ngày càng được tăng cường.

Tẩy chay luận điệu của các “nhà” tự xưng

 


Để tăng độ "nóng" cho các luận điệu xuyên tạc, một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại tiếp tục lôi kéo, sử dụng các đối tượng bất mãn, có tư tưởng chống đối trong nước và tâng bốc họ bằng các loại danh xưng tự phong, như: “Nhà nghiên cứu”, “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà hoạt động môi trường”, “chuyên gia của dân oan”...

Thông qua miệng lưỡi của các loại “nhà” này, họ cố tạo ra uy tín giả để xuyên tạc luận điểm, ngụy tạo luận chứng, bịa đặt luận cứ... vẽ ra bức tranh đen tối, tiêu cực về đời sống KT-XH để lèo lái dư luận. Tuy nhiên, khi vào trang cá nhân trên MXH của một số loại “nhà” này thì thấy, không ít đối tượng đã lợi dụng chiêu trò để đánh bóng tên tuổi, bán hàng online, kinh doanh kiếm tiền. Mục tiêu của nhiều đối tượng dạng này là trở thành những “Kols” (Kols là từ viết tắt của Key Opinions Leaders, nghĩa là những người có tầm ảnh hưởng lớn trên cộng đồng mạng, thường được mời tham gia các chiến dịch truyền thông để tạo sức lan tỏa).

 Lợi dụng quyền dân chủ và tự do ngôn luận, họ không ngừng đánh bóng tên tuổi để trở thành “Kols”, xâm hại lợi ích quốc gia, ám chỉ, bịa đặt, gây tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân... Đây là chiêu trò rất nguy hiểm. Một số đối tượng hoạt động vi phạm pháp luật, bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra theo Điều 331 Bộ luật Hình sự thời gian gần đây, như: Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Thị Bích Thủy (Bích Thủy TV), Phan Bùi Bảo Thi... chính là những “Kols” dạng này. Sự vào cuộc kịp thời của các cơ quan chức năng và tính nghiêm minh của pháp luật đã có tác dụng răn đe, thức tỉnh nhiều người. Tuy nhiên, vẫn còn không ít đối tượng, vì nhiều lý do, vẫn tiếp tục bị lôi kéo, dụ dỗ, thực hiện các hoạt động trên không gian mạng theo kiểu lấp lửng, giả giả thật thật, u u minh minh, nhằm ám chỉ, bịa đặt, xâm hại quyền lợi, danh dự tổ chức, cá nhân và lợi ích quốc gia, dân tộc. Đáng tiếc, từ những thông tin kiểu dẫn dụ ấy, một số cá nhân, trong đó có cả một số người trong giới trí thức, văn nghệ sĩ, hưu trí... lại cả tin hùa theo, phát ngôn thiếu suy nghĩ kiểu ngẫu hứng cá nhân, bỡn cợt, đả kích, gây hoang mang dư luận.

Không khó nhận ra chân tướng của những chiêu trò này để phân biệt đâu là vàng, đâu là thau, đâu là hàng xi mạ bóng bẩy. Trong đối tượng có đối tác và trong đối tác có đối tượng. Hãy nhìn cách họ thể hiện thái độ, bày tỏ quan điểm cá nhân trên không gian mạng để chúng ta có cách ứng xử phù hợp. Cách tốt nhất là cùng nhau tẩy chay, đấu tranh thẳng thắn với những đối tượng có hành vi lệch lạc về tư tưởng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời góp ý chân thành, thẳng thắn với những cá nhân có biểu hiện dao động, bị lôi kéo, dụ dỗ. Bảo vệ môi trường văn hóa tư tưởng lành mạnh, nhất là trên không gian mạng, phải bắt đầu từ những việc làm mang tinh thần xây dựng, theo phương châm lấy xây để chống.

Một số quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay (3)

 


Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Sau đây xin nêu lên một số quan điểm đó:

Quan điểm sai lầm đem đối lập chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lê-nin, đối lập C. Mác với V.I. Lê-nin để phủ nhận cả chủ nghĩa Mác lẫn chủ nghĩa Lê-nin, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói chung. Họ viện dẫn ra sự “đối lập” là C. Mác và Ph.  Ăng-ghen cho rằng, cách mạng vô sản phải nổ ra đồng thời trong các nước tư bản, ít ra là trong các nước tư bản phát triển, còn V.I. Lê-nin lại cho rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể nổ ra và thành công ở một số nước, thậm chí ở một nước riêng lẻ, còn lạc hậu, còn nhiều tàn tích của chế độ nông nô như nước Nga.

Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã chứng minh tính đúng đắn của quan điểm và phương pháp của V.I. Lê-nin. Sự đối lập giữa C. Mác với V.I.  Lê-nin mà họ dựng lên là giả tạo, bịa đặt. V.I. Lê-nin là người mác-xít, ông đã tự nhận mình là học trò của Mác: Chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lê-nin thống nhất với nhau về bản chất. Chủ nghĩa Lê-nin là chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản. C.  Mác và V.I. Lê-nin sống ở hai thời đại khác nhau, C. Mác sống ở thời kỳ chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn tự do cạnh tranh, còn đến V.I. Lê-nin chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, khi đó cách mạng vô sản, phong trào giải phóng dân tộc nổi lên, mỗi ông phải giải quyết những nhiệm vụ do thời đại của mình đặt ra. V.I. Lê-nin không thể máy móc, giáo điều ngồi chờ cho cách mạng vô sản nổ ra đồng thời ở các nước tư bản phát triển được, mà phải chủ động nhận thức thời cơ, tình thế cách mạng và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga. V.I. Lê-nin trung thành với chủ nghĩa Mác trong bản chất cách mạng, khoa học, biện chứng, chứ không phải trung thành một cách máy móc bởi vì học thuyết của các ông không phải giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động.

 

Một số quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay (2)

 


Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Sau đây xin nêu lên một số quan điểm đó:

Quan điểm cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là sản phẩm của Việt Nam, nó là “ngoại lai”, “ngoại nhập” từ phương Tây, không phù hợp với Việt Nam là một xã hội phương Đông, kinh tế lạc hậu; thậm chí có ý kiến nói “du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử”, do đó “cần phải từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(?).

Quan điểm trên đây là sai lầm vì không hiểu được sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa của lý luận Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là lý luận khoa học nên cũng giống như các khoa học khác (kể cả khoa học tự nhiên) có giá trị phổ quát, vượt biên giới quốc gia - dân tộc, còn khi áp dụng nó đương nhiên phải chú ý đến điều kiện lịch sử cụ thể của từng quốc gia - dân tộc để tránh giáo điều, máy móc. Mặc dù chủ nghĩa Mác có nguồn gốc lý luận trực tiếp từ các nước phương Tây, như Đức (về triết học), Anh (về kinh tế chính trị), Pháp (về lý luận chủ nghĩa xã hội), nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”, không thể cấm bổ sung chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông. Nhưng khi nói vậy, Người vẫn khẳng định “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó” - tức ở phương Đông. Những quy luật của chủ nghĩa Mác vạch ra không chỉ đúng với các nước phát triển mà còn đúng cả với các nước kém phát triển. Vì, về mặt phương pháp luận như C.  Mác đã từng chỉ ra, trong cái phát triển cao chứa đựng cái phát triển ở trình độ thấp hơn dưới dạng lọc bỏ.

Mặt khác, nếu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý thì những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam từ khi chủ nghĩa Mác  - Lê-nin được truyền bá vào Việt Nam - một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, lạc hậu, kém phát triển nhưng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo, đưa đến thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành đổi mới mạnh mẽ, toàn diện đất nước.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều đổi mới về tư duy lý luận, đã nhận thức lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin theo tinh thần khẳng định sức sống, giá trị bền vững của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đồng thời loại bỏ những nhận thức không đúng, ấu trĩ, giáo điều về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới trên một loạt vấn đề, như mục tiêu, đặc trưng và phương hướng cơ bản của xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,... đó là những vấn đề không có sẵn trong di sản kinh điển mác-xít. Không có sự vận dụng, phát triển sáng tạo đó thì không có được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân Việt Nam đạt được trong gần 35 năm đổi mới.

 

Một số quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay (1)

 


Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Sau đây xin nêu lên một số quan điểm đó:

Quan điểm vin vào yếu tố thời đại để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin

Quan điểm đó cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, hoặc cùng lắm là đầu thế kỷ XX, nó chỉ thích hợp với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai, chỉ thích hợp với văn minh cơ khí, còn bây giờ nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI - là thời đại của cách mạng khoa học - công nghệ, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, văn minh tin học, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên không còn thích hợp nữa, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã bị lỗi thời (!).

Đúng là thời đại mà chúng ta đang sống khác rất nhiều so với thời đại của Mác - Ăng-ghen - Lê-nin, đã có nhiều biến đổi to lớn, sâu sắc về kinh tế, xã hội, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ. Không nhận thức được những biến đổi to lớn của thời đại sẽ không hiểu đúng bản chất của thời đại. Tuy nhiên, những biến đổi đó không vượt ra ngoài những quy luật, những nguyên lý chung nhất mà C. Mác đã khám phá ra. Chẳng hạn, đó là những quy luật phổ biến của phép biện chứng duy vật, những quy luật phổ biến của sự phát triển xã hội loài người, như quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, kinh tế xét đến cùng quyết định chính trị, quy luật đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp, quy luật giá trị thặng dư, những nguyên lý khoa học về nhà nước, cách mạng xã hội, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân...

Đứng trên quan điểm khách quan, có một số luận điểm cụ thể của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin không còn phù hợp với điều kiện lịch sử mới, đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua, song những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, bản chất khoa học và cách mạng vẫn giữ nguyên giá trị cần phải bảo vệ. Hoàn cảnh lịch sử cụ thể luôn luôn thay đổi, song những quy luật phát triển cơ bản, phổ biến của lịch sử loài người mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin nêu lên là không thay đổi, có giá trị trường tồn. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà không một học thuyết nào có thể thực hiện được vai trò đó.

 

Một số quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay (5)

 


Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Sau đây xin nêu lên một số quan điểm đó:

Quan điểm đem quy sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, “sai lầm từ gốc, từ bản chất của học thuyết” (!).

Chúng ta thấy rằng, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội  - mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp, hành chính, mệnh lệnh, xa rời quần chúng nhân dân với nhiều khuyết tật, chứ không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung.

Sự sụp đổ ấy có nguyên nhân khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài, sâu xa và trực tiếp. Chính những khuyết tật của mô hình chủ nghĩa xã hội đó không được phát hiện và khắc phục kịp thời, tồn tại kéo dài, tích tụ lại đã đẩy xã hội Xô-viết đến sự sụp đổ. Sự sai lầm về đường lối cải tổ của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô trước đây - cả đường lối kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và đối ngoại, sự phản bội lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa của một số lãnh đạo cao nhất trong Đảng cùng với âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, sự chống phá của các thế lực thù địch là những nguyên nhân trực tiếp. Không thể quy sự sụp đổ của Liên Xô vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chính sự nhận thức sai, vận dụng sai, sự phản bội lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin của một số người cao nhất trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô là nguyên nhân chủ yếu. Vì vậy, quyết không được đồng nhất những sai lầm đó với bản thân chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Tại sao công cuộc cải cách, mở cửa của Trung Quốc, công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế của Việt Nam lại đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng? Cải tổ sẽ không thất bại nếu Đảng Cộng sản Liên Xô có đường lối cải tổ đúng đắn, trung thành và sáng tạo trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có bản lĩnh chính trị vững vàng, cảnh giác với âm mưu và hoạt động chống phá chủ nghĩa xã hội của các thế lực đế quốc thù địch, nếu xây dựng Đảng và Nhà nước vững mạnh, trong sạch, gắn bó mật thiết với nhân dân, chống được quan liêu, tham nhũng...

Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô nay đã trải qua hơn 30 năm song vẫn là lời cảnh báo thường xuyên đối với các đảng cộng sản đang cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa để tránh đi vào “vết xe đổ” của Liên Xô.

 

Một số quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay (4)

 


Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Sau đây xin nêu lên một số quan điểm đó:

Quan điểm đem đối lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận cả chủ nghĩa Mác - Lê-nin lẫn tư tưởng Hồ Chí Minh.

Quan điểm trên đây là sai lầm cả về lịch sử và lô-gic. Về mặt lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn và được hình thành từ việc tiếp thu các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

 Chủ nghĩa Mác - Lê-nin chính là nguồn gốc lý luận quan trọng nhất, là cơ sở chủ yếu nhất để hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Thông qua hoạt động trí tuệ và thực tiễn sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để nghiên cứu thực tiễn và tìm ra con đường cách mạng Việt Nam, vượt lên trước những nhà yêu nước đương thời, khắc phục được sự khủng hoảng về con đường tiến lên của dân tộc Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện lịch sử mới. Như vậy, về mặt lô-gic, về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lê-nin chứ không có sự đối lập như một số người tưởng tượng ra. Và do đó cũng không có cái gọi là “cuộc nội chiến về tư tưởng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin” từ năm 1930 đến nay ở Việt Nam như có người nhận định. Một số người nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Họ nói tư tưởng Hồ Chí Minh mới là sản phẩm của Việt Nam, có nguồn gốc Việt Nam, còn chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “ngoại lai”, “ngoại nhập”, không phù hợp với Việt Nam, thậm chí có người muốn đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh (!).

Quan điểm đó nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, song thực chất, trực tiếp và gián tiếp chính là nhằm phủ nhận cả tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đảng ta xác định nền tảng tư tưởng của Đảng gồm chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là rất đúng đắn, phù hợp, thể hiện mối quan hệ biện chứng, thống nhất, gắn bó giữa hai bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay (tiếp)

 


Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới, V.I. Lê-nin đã kiên quyết đấu tranh, kịch liệt phê phán quan điểm duy tâm, siêu hình của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của E. Ma-khơ, A-vê-na-ri-út,...; đấu tranh với những quan điểm cơ hội, xét lại của các nhà lãnh đạo Quốc tế II, như Béc-xtanh, Cau-xky,...; đấu tranh với những quan điểm sai lầm của Plê-kha-nốp, Tờ-rốt-xki,  Bu-kha-rin,  Di-nô-vi-ép,... Thông qua đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, V.I. Lê-nin đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác lên một giai đoạn mới - giai đoạn Lê-nin trên cả ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế học chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp với điều kiện lịch sử mới và phù hợp với những thành tựu mới nhất trong khoa học tự nhiên ở thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. V.I. Lê-nin đã từng gọi chủ nghĩa duy vật mác-xít là “chủ nghĩa duy vật chiến đấu”, nghĩa là nó không ngừng đấu tranh chống lại các quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội, xét lại, các quan điểm muốn bảo vệ trật tự tư sản. Vận dụng chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo vào thực tiễn nước Nga, V.I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, mở ra một thời đại mới trong sự phát triển của xã hội loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là sự khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối của Lê-nin, là sự bác bỏ mạnh mẽ nhất, quyết định nhất, có tính thuyết phục nhất đối với các quan điểm sai trái, thù địch lúc bấy giờ.

Từ khi ra đời cho đến nay, trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam và thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nắm vững và vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng, từ đó đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhận thức rõ âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch nhằm ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm thất bại âm mưu “chiến thắng không cần chiến tranh” của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Văn kiện các kỳ đại hội Đảng toàn quốc thời kỳ đổi mới đều nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh này. Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng yêu cầu tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Ban Chấp hành Trung ương cũng đã ban hành một số nghị quyết chuyên đề (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX “Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”...), Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Đặc biệt ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết chỉ rõ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, trước hết trong xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nghị quyết nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó có nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao.

 

Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay (1)

 

Trong bối cảnh các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi nhằm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, hòng gây nhiễu loạn về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mưu đồ “giải trừ ý thức hệ”, làm cho Đảng tan rã về ý thức hệ, từ đó tan rã về tổ chức, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ ta, thì việc kiên quyết, kiên trì đấu tranh trên cơ sở nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện mới là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay.

 Chủ nghĩa Mác do C. Mác và Ph. Ăng-ghen sáng lập vào khoảng giữa những năm 40 của thế kỷ XIX ở Tây Âu, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong điều kiện lịch sử mới đã được V.I. Lê-nin bổ sung, phát triển thành chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác ra đời là một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, mang bản chất khoa học và cách mạng, trở thành vũ khí tư tưởng - lý luận của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản nhằm mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng con người thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, tha hóa, phát triển toàn diện con người.

Từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa Mác đã tồn tại trên 170 năm và trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử. Mặc dù mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ; mặc dù chủ nghĩa đế quốc cùng những thế lực phản động, thù địch dùng nhiều thủ đoạn thâm độc chống phá, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lê-nin nhưng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn tồn tại, phát triển mà chưa có một học thuyết nào có thể thay thế được, nó có giá trị trường tồn, sức sống bền vững. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là thế giới quan và phương pháp luận khoa học của hàng triệu triệu người trên trái đất. Đúng như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận định: “Bây giờ, chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(1).

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta, Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước ta đều khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động. Sự khẳng định đó nói lên ý nghĩa to lớn, giá trị vững bền của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng nước ta. Chủ nghĩa Mác  - Lê-nin đã trở thành ngọn cờ tư tưởng, lý luận và phương pháp luận khoa học để nhận thức thời đại, nhận thức tình hình thế giới và trong nước, là cơ sở khoa học để Đảng ta đề ra đường lối, chính sách đổi mới, phát triển đất nước, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường như hiện nay. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng là cơ sở cho sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, cho sự thống nhất và củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân, tạo đoàn kết, đồng thuận trong xã hội.

Trong quá trình xây dựng, phát triển học thuyết khoa học của mình, C.  Mác, Ph.  Ăng-ghen và sau này là V.I. Lê-nin đã phải thường xuyên đấu tranh chống các quan điểm sai trái, như chủ nghĩa duy tâm, siêu hình, giáo điều, xét lại. C.  Mác và Ph.  Ăng-ghen từng phê phán quan điểm của phái Hê-ghen trẻ, của Pru-đông, của Đuy-rinh, của Lát-xan và nhiều quan điểm tư sản khác. Thông qua đấu tranh phê phán quan điểm phản diện, các ông đã trình bày quan điểm chính diện của mình, đã phát triển, hoàn thiện học thuyết của mình. C.  Mác và Ph.  Ăng-ghen đã từng khẳng định rằng, học thuyết của các ông có tính phê phán và cách mạng, nó không đội trời chung với quan điểm giáo điều, bảo thủ, với quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội và xét lại. Có thể khẳng định rằng, đấu tranh tư tưởng, lý luận để chống quan điểm sai trái nhằm bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác mang tính quy luật trong sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác.

Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới, V.I. Lê-nin đã kiên quyết đấu tranh, kịch liệt phê phán quan điểm duy tâm, siêu hình của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của E. Ma-khơ, A-vê-na-ri-út,...; đấu tranh với những quan điểm cơ hội, xét lại của các nhà lãnh đạo Quốc tế II, như Béc-xtanh, Cau-xky,...; đấu tranh với những quan điểm sai lầm của Plê-kha-nốp, Tờ-rốt-xki,  Bu-kha-rin,  Di-nô-vi-ép,... Thông qua đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, V.I. Lê-nin đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác lên một giai đoạn mới - giai đoạn Lê-nin trên cả ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế học chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp với điều kiện lịch sử mới và phù hợp với những thành tựu mới nhất trong khoa học tự nhiên ở thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. V.I. Lê-nin đã từng gọi chủ nghĩa duy vật mác-xít là “chủ nghĩa duy vật chiến đấu”, nghĩa là nó không ngừng đấu tranh chống lại các quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội, xét lại, các quan điểm muốn bảo vệ trật tự tư sản. Vận dụng chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo vào thực tiễn nước Nga, V.I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, mở ra một thời đại mới trong sự phát triển của xã hội loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là sự khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối của Lê-nin, là sự bác bỏ mạnh mẽ nhất, quyết định nhất, có tính thuyết phục nhất đối với các quan điểm sai trái, thù địch lúc bấy giờ.

Từ khi ra đời cho đến nay, trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam và thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nắm vững và vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng, từ đó đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Cần tỉnh táo để nhìn nhận sự việc

 

( tiếp theo “dư luận trái chiều” thực tế nó gì và như thế nào?)

Khi nhìn nhận một sự vật, hiện tượng, chúng ta cần phải rõ thông tin và có sự phân tích đa chiều thì mới có thể nhận rõ bản chất của sự vật, hiện tượng. Đối với vụ án xảy ra ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm cũng vậy. Nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ lợi ích về đất đai và sự bất chấp, coi thường pháp luật của một số người. Sự việc bị đẩy đi xa hơn bởi sự kích động có tính “hậu thuẫn” từ một số người có tư duy trục lợi, một số tổ chức phản động và một số tổ chức nước ngoài luôn muốn can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Việt Nam. Cụ thể trong vụ việc này là họ muốn tìm cớ để “gửi cái chân con cáo vào nhà thỏ”, hòng từ đó có thể làm thay đổi, tiến tới điều chỉnh các vấn đề liên quan tới luật pháp, chính sách ở Việt Nam, phục vụ cho mục đích của họ. Thế nên khi gặp sự việc ở Đồng Tâm, họ đã bám riết, tìm mọi cách công kích, nhằm “châm lửa” và “thổi bùng ngọn lửa”, trong đó, một số người của “tổ đồng thuận” ở thôn Hoành rất có thể là đối tượng đã được họ lựa chọn để làm phương tiện. Một phần nữa là do một số người trong “tổ đồng thuận” thiếu hiểu biết về pháp luật, lại bị mối lợi làm cho mất lý trí, mất đi sự tỉnh táo cần thiết, nên đã tiếp nhận sự kích động, xúi bẩy và đã dẫn đến hành vi phạm pháp, phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Hiện tượng này cũng đã từng xảy ra ở một số địa phương, cả ở đồng bằng, cả ở vùng sâu, vùng xa, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở. Còn thông tin cho rằng, các cơ quan, đơn vị “cưỡng chế thu hồi đất ở sân bay Miếu Môn để sử dụng vào mục đích riêng" là hoàn toàn bịa đặt, không có cơ sở.

Về số diện tích đất mà những người trong “tổ đồng thuận” đòi hỏi ở đồng Sênh cần phải nói rõ là: Trong Quyết định số 113/TTg ngày 14-4-1980, Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Quốc phòng diện tích đất là 208ha để xây dựng sân bay Miếu Môn. Sau khi có quyết định, đơn vị quản lý đất (Quân chủng Phòng không-Không quân) đã phối hợp với các huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức (tỉnh Hà Sơn Bình trước đây) đo đạc và cắm 16 mốc giới trên thực địa (sau tăng dày thêm 41 mốc, tổng cộng là 57 mốc), dưới sự chứng kiến, xác nhận của chính quyền các xã liên quan là: Mỹ Lương, Trần Phú, Đồng Lạc (Chương Mỹ) và Đồng Tâm (Mỹ Đức). Năm 2012 (khi chưa xảy ra hiện tượng tranh chấp), Bộ Quốc phòng cho đo đạc lại diện tích đất sân bay Miếu Môn dựa trên các mốc giới đã cắm. Kết quả, diện tích sân bay Miếu Môn là 236,7ha, nhiều hơn 28,7ha theo quyết định giao đất của Thủ tướng Chính phủ. Diện tích 28,7ha đất tăng thêm này nằm hoàn toàn trên địa bàn hai xã Mỹ Lương và Trần Phú (Chương Mỹ). Từ thực tế này, ngày 20-10-2014, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 5383/QĐ-UBND, giao toàn bộ 236,7ha đất thuộc địa giới hành chính các xã: Mỹ Lương, Trần Phú, Đồng Lạc (Chương Mỹ) và xã Đồng Tâm (Mỹ Đức) cho Bộ Quốc phòng để xây dựng các công trình quốc phòng. Trong Kết luận thanh tra số 2346/KL-TTTP-P5 ngày 19-7-2017 của Thanh tra TP Hà Nội đã kết luận: “Toàn bộ diện tích 239,9ha đất sân bay Miếu Môn (gồm: Nông trường Lương Mỹ 130,74ha; Hợp tác xã Hữu Văn 1ha; Hợp tác xã Trần Phú 45,8ha; Hợp tác xã Đồng Tâm 47,36ha; K66, Bộ tư lệnh Pháo binh 5ha; Hợp tác xã Vôi đá Trần Phú 2ha; Xí nghiệp Vôi đá Miếu Môn 3ha và Xưởng A31, Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không-Không quân là 5ha), trong đó diện tích đất thuộc địa giới hành chính xã Đồng Tâm là 64,66ha (gồm: Nông trường Quốc doanh Lương Mỹ 14,3ha; Xí nghiệp Vôi đá Miếu Môn 3ha và Hợp tác xã Đồng Tâm 47,36ha)... Trong số diện tích 239,9ha, sau khi trừ đi 2,5ha đường giao thông và sai số đo đạc là 0,7ha thì toàn bộ đất sân bay Miếu Môn là 236,7ha là đất quốc phòng”. Theo thông tin chúng tôi được biết, trong hồ sơ quản lý đất nông nghiệp của UBND xã Đồng Tâm thì xã Đồng Tâm không có đất nông nghiệp với diện tích 49ha, hoặc 59ha ở xứ đồng Sênh như ông Lê Đình Kình và một số người dân nêu.

Phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm đã kết thúc. Bản án Hội đồng xét xử vừa tuyên, bản thân các bị cáo cũng thấy đúng người, đúng tội. Bản án này đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh những đối tượng coi thường pháp luật, đồng thời cũng là lời cảnh cáo đối với mọi hành động xúi bẩy, kích động của một số kẻ cơ hội chính trị, chuyên lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin, thiếu hiểu biết của một số người để biến họ thành phương tiện, quân cờ cho tham vọng mờ ám của mình.

“DƯ LUẬN TRÁI CHIỀU” THỰC TẾ NÓ GÌ VÀ NHƯ THẾ NÀO?

 Chắp vá thông tin, dựng chuyện, bịa chuyện

Khi tìm hiểu về những người được cho là đang “đấu tranh cho dân chủ”, chúng tôi nhớ lại vụ một số đối tượng quá khích đập phá tài sản của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp ở Bình Dương năm 2014 và vụ Nhà máy Formosa gây ô nhiễm môi trường tại một số tỉnh ven biển Bắc Miền Trung năm 2016. Trong các vụ việc này, một số người cũng lấy danh nghĩa là “đấu tranh cho dân chủ” để tạo ra hàng trăm bài viết, video clip, đăng trên mạng xã hội và một số báo điện tử nước ngoài đề cập đến vụ việc. Trong số đó, có nhiều bài viết mang tính bịa đặt, quy chụp, hoặc chắp vá thông tin, hình ảnh, dựng chuyện, bịa chuyện, hòng làm lung lạc xã hội. Chẳng hạn như các video clip nói về ô nhiễm môi trường ở Vũng Áng (Hà Tĩnh), nhưng hình ảnh thì cóp nhặt trên mạng và cơ bản là hình ảnh ở nước ngoài. Trong số tác giả làm ra các sản phẩm giả dối này có cả những người một thời được coi là trí thức và họ luôn trưng ra cái học hàm, học vị nhằm thu hút dư luận. Những bài viết của họ thay vì tập trung bàn giải pháp, hiến kế với Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các địa phương để nhanh chóng khắc phục hậu quả, đồng thời tăng cường công tác quản lý, bảo đảm cho môi trường ngày một tốt hơn, luật pháp nghiêm minh hơn... thì họ lại chỉ tập trung chỉ trích công tác quản lý, chỉ trích chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước trong phát triển kinh tế gắn với bảo đảm môi trường... Có những người còn lợi dụng mạng xã hội, lập nhóm, lập hội, công khai hô hào, kích động người dân biểu tình, tuần hành, đập phá tài sản của nhà nước, doanh nghiệp. Hậu quả là hàng chục người bị xúi giục phạm pháp và đã bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Khi một số người dân vướng vào vòng lao lý, thì chính những người từng xúi giục họ vẫn “ăn ngon, ngủ yên” và họ tiếp tục vờ vĩnh viết thư, viết báo cáo... gửi đi chỗ này, chỗ kia, hòng kêu gọi "cộng đồng", kêu gọi "tổ chức quốc tế" vào cuộc để “giải cứu” những người phạm pháp. Họ thừa hiểu rằng, sẽ chẳng có “tổ chức quốc tế” nào có thể bênh vực cho những người vi phạm pháp luật.

Đối với vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm cũng thế. Khi vụ việc manh nha, vẫn chủ yếu là những con người đã tham gia kêu gọi, hô hào trong các vụ việc trước đây, lại xuất đầu lộ diện. Họ cũng khởi đầu sự việc một cách quen thuộc, đó là viết bài, làm video clip đăng tải trên mạng xã hội và gửi để đăng/phát tại một số trang báo điện tử nước ngoài chuyên châm chọc, xuyên tạc tình hình thực tiễn dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Nội dung các bài viết của họ cơ bản là thể hiện quan điểm chính trị, cuối cùng là quy kết, đổ lỗi cho chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Họ cho rằng cần phải cải cách thể chế, thay đổi hệ thống chính sách, pháp luật... cuối cùng là phủ nhận vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận vai trò quản lý của Nhà nước đối với xã hội. Đọc những bài viết này sẽ thấy rõ mưu mô hướng lái dư luận của các tác giả. Còn sau khi xảy ra vụ việc ngày 9-1-2020 ở thôn Hoành, những người này đã làm một bản báo cáo dài cả mấy chục trang, có tính chất trần tình sự việc, quy chụp cách xử lý của cơ quan chức năng theo kiểu một chiều, võ đoán. Rõ ràng họ không chịu tìm hiểu cặn kẽ nguyên nhân của vụ việc và không chịu thừa nhận bản chất sâu xa, cốt lõi của vụ việc là: Tham vọng trục lợi trên đất quốc phòng của một số người biến chất. Trong các bài viết, họ chỉ lấy vụ việc ở thôn Hoành, lấy những con người trong “tổ đồng thuận” để làm cái cớ, làm tấm bình phong để phục vụ, che đậy cho mục đích, dã tâm cơ hội chính trị của mình. Thế nên có thể thấy, những con người này chẳng khác gì những con cú nấp trong bóng tối.

 

DƯỚI GÓC NHÌN VỀ CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC
 TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY

Ngày nay, chủ nghĩa Tư bản có những điều chỉnh thích nghi, nhưng bản chất vẫn không hề thay đổi. Cụ thể: Về chính trị, các chính phủ, nghị viện tư sản hiện đại cũng được tổ chức như một công ty cổ phần tư bản chủ nghĩa. Sự tham dự của các đảng đối lập, kẻ cả Đảng Cộng sản trong chính phủ hoặc trong nghị viện cũng chỉ được chấp nhận ở mức độ chưa đe dọa quyền lực không chế của tầng lớp tư sản độc quyền. Với ý nghĩa đó, “đa nguyên tư sản” được tầng lớp tư sản độc quyền sử dụng vừa để làm dịu đi làn sóng đấu tranh của các tầng lớp nhân dân tiến bộ chống sự bóc lột, khống chế của tư bản lũng đoạn, vừa làm suy yếu sức mạnh của các lực lượng đối lập. Còn một khi thấy xuất hiện nguy cơ bị mất quyền chi phối thì ngay lập tức sẽ có giải tán chính phủ, quốc hội hoặc thiết quân luật, tình trạng khẩn cấp, thậm chí đảo chính quân sự. Những gì xảy ra ở Chilê năm 1973, nước Nga năm 1993 và rất nhiều nơi khác cho thấy rõ điều đó...

Là khách hàng chính trên thị trường tín dụng vay nợ trong nước và nước ngoài, quá trình sử dụng vốn vay không đem lại hiệu quả tương xứng để trả nợ cho nên những năm gần đây, ở hầu hết các nước tư bản phát triển, nợ công đã trở thành phổ biến. Một số nước đã lâm vào khủng hoảng nợ công, thậm chí đối mặt với nguy cơ vỡ nợ…. Đó là những dấu hiệu bất lực của Nhà nước của giai cấp tư sản hiện nay./.


LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 04/10

“Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày 04 tháng 10 năm 1945. Ngày này, trên báo Cứu Quốc đăng hai bài viết của Bác. Trong bài “Chống nạn thất học”, nhân danh Chủ tịch Chính phủ lâm thời, tác giả viết: “Nay chúng ta đã giành được quyền độc lập. Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí... Quốc dân Việt Nam! Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ...”. Còn trong bài “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các Ủy ban nhân dân”, Bác đã phân tích thực tiễn đang tồn tại trong các Ủy ban nhân dân để đưa ra những nhận định và giải pháp khắc phục tình trạng lộn xộn, kém khoa học: “Có kế hoạch làm việc nhưng sắp đặt công việc không khéo, phân công không sáng suốt thì việc cũng đến hỏng. Người nói giỏi lại cho vào việc chỉ cần khéo chân tay, người viết giỏi lại cho làm việc về lao động thì nhất định không thể nào thành công được. Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe... Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ... Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”. Đây là thời điểm đất nước mới giành được độc lập, chính quyền cách mạng mới được thiết lập, phải đối diện với một khối lượng lớn công việc cần được giải quyết, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải dốc hết tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, song cần phải có sự tổ chức khoa học, hiệu quả. Do vậy, Bác đã viết bài để căn dặn đội ngũ cán bộ các cấp chỉ làm việc chăm chỉ là chưa đủ, mà phải làm việc khoa học, mới mang lại hiệu quả cao trong tổ chức, sắp xếp công việc của chính quyền mới. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” và “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Thấu suốt quan điểm của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của dân tộc, chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nên đã dày công tổ chức, đào tạo, rèn luyện, xây dựng được đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, chất lượng ngày càng cao, là nhân tố quan trọng đóng góp vào những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Đội ngũ cán bộ quân đội được giao trọng trách lãnh đạo, chỉ huy, quản lý từ cấp cơ sở đến toàn quân; là lực lượng nòng cốt trong thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhân tố có vai trò quyết định trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội ta. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội làm nòng cốt để toàn quân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Chất lượng toàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, tác phong, phong cách lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, có phương pháp, tác phong công tác khoa học, luôn nêu cao tính đảng, tính chiến đấu, nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết. Luôn chủ động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có ý thức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu cả trong lời nói và việc làm, có khả năng xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, có uy tín cao trước bộ đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Hồng Hải 30A

 

VAI TRÒ CỦA TƯ BẢN TÀI CHÍNH
TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY
 

Ngày nay, chủ nghĩa Tư bản có những điều chỉnh thích nghi, nhưng bản chất vẫn không hề thay đổi. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách "tự do mới" trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. …Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở Phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng không mấy thành công.

... Những tình huống "phát triển xấu", những nghịch lý "phản phát triển", từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội, và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. ”[1]

Vai trò mới của tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính ngày càng rõ rệt trong thế giới đương đại. Sức mạnh của tư bản tài chính cá biệt hiện nay cũng đã có không ít trường hợp vượt trội hơn cả tiềm lực kinh tế một số quốc gia đang phát triển. Khủng hoảng tài chính - tiền tệ quốc tế cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI có nguyên nhân bắt nguồn từ sự lũng đoạn của bọn đầu sỏ tài chính. Đây cũng là một thách thức rất lớn đối với nhiều nước trong quá trình hội nhập quốc tế. Sự chuyển giao công nghệ gắn với xuất khẩu tư bản ngày càng chặt chẽ, đặc biệt là trong thời đại công nghệ cao. Độc quyền về sở hữu trí tuệ là nguồn thu nhập ngày càng quan trọng của các tập đoàn lớn và của các nước tư bản phát triển; đồng thời cũng làn nguyên nhân dẫn đến sự lệ thuộc và thua thiệt của các nước kém phát triển. “Chủ nghĩa thực dân công nghệ” là một khái niệm : càng phổ biến hiện nay trong quan hệ kinh tế quốc tế. Hiện tượng các nước NICs châu Á là sản phẩm đặc thù của kỷ nguyên Chiến tranh lạnh. Nó sẽ không thể lặp lại một lần nữa vì lịch sử không thể lặp lại một lần nữa kỷ nguyên đó. Các nên kinh về mới nổi (nhóm BRICS) là một thực thế mới xuất hiện gần đây trong thế giới đương đại cũng còn xa mới đạt đến vai trò đáng kể vị lợi ích quốc gia khác biệt nhiều hơn tương đông để có thể hợp tác với nhau chặt chẽ….

[1] Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:"Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam." Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 -19/5/2021) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 (ngày 23/5/2021),

 

 

SỰ CAN DỰ CỦA NHÀ NƯỚC TƯ SẢN- NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY

 Ngày nay, chủ nghĩa Tư bản có những điều chỉnh thích nghi, nhưng bản chất vẫn không hề thay đổi. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách "tự do mới" trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là, năm 2008-2009 chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới. Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở Phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng không mấy thành công... ”[1]

Dù có biến đổi để thích nghi, chủ nghĩa tư bản đương đại vẫn là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Vai trò của nhà nước và của thị trường trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đương đại có những sự khác biệt tương đối (chủ nghĩa tư bản tự do ở Mỹ và Anh; kinh tế thị trường xã hội ở lục địa châu Âu: mô hình Nhật Bản và các nước NIC, châu Á... ) là một thực tế hiển nhiên. Để cứu vãn sự sụp đổ của mình. Nhà nước tư sản không thể không thể hiện vai trò của mình trong điều chỉnh thích nghi. Cụ thể:

Chỉ tiêu ngân sách nhà nước là công việc thuộc quyền của giới hành pháp bị giới hạn, thậm chí bị quản lý chặt chẽ băng luật pháp. Giới hạn bằng luật ngân sách nhà nước. Có nghĩa là khác xa với thời mà IM.Kemes quan niệm: “Chính phủ có thể chôn cái két bạc của mình xuống rồi lại thuê một kẻ khác đào lên”[2]. Chống lạm phát và chống thất nghiệp được ưu tiên ngang nhau; dự trữ quốc gia trở thành nguồn vốn chỉ có thể được sử dụng trong những tình huống đặc biệt, cổ phần của nhà nước trong các ngân hàng và công ty lớn trở thành phổ biến.

Vai trò của đầu tư nhà nước để khắc phục những chi phí tốn kém trong nghiên cứu khoa học cơ bản, trong xây dựng kết cấu hạ tầng và giải quyết các nhu cầu mang tính xã hội ngày càng tăng lên ở các nước tư bản phát triển. Nhà nước đã dùng ngân sách của mình để tạo nên những cơ sở vật chất, gánh chịu các rủi ro lớn, còn các công ty tư nhân tập trung vào các lĩnh vực có lợi nhuận hấp dẫn.

Nhờ lợi thế vượt trội của mình về tiềm lực khi tham gia đấu thầu các dự án đầu tư bằng ngân sách nhà nước, cho nên các tập đoàn độc quyền lớn thường thu được lợi nhuận khổng lồ trong thực hiện các đơn đặt hàng thuộc các dự án đầu tư của nhà nước.

Nhà nước tư sản hiện đại là nhân tố quyết định trong ổn định kinh tế vĩ mô thông qua thu - chi ngân sách, kiểm soát lãi suất, trợ cấp và trợ giá, kiểm soát tỷ giá hối đoái, mua sắm công... Trong những điều kiện nhất định như khủng hoảng kinh tế, ngân sách nhà nước còn được dùng để cứu những tập đoàn lớn khỏi nguy cơ phá sản. Ví dụ: Ngày 28-2-2009, Chính phủ Mỹ nâng cổ phần nắm giữ trong Citigroup lên mức 36%. Citigroup đã được Chính phủ Mỹ bơm cho 45 tỷ USD và bảo lãnh cho 301 tỷ USD tài sản độc hại. AIG đã được Chính phủ Mỹ giải cứu hai lần bằng tổng số tiền lên tới 150 tỷ USD trong năm 2008. Đổi lại, Chính phủ Mỹ đã kiểm soát mức cổ phần gần 80% của hãng bảo hiểm này. Chính phủ Anh đã tung ra một gói giải cứu ngân hàng thứ hai trị giá khoảng 145 tỷ USD.

Ngân sách nhà nước còn được dùng để viện trợ ưu đãi, thậm chí không hoàn lại cho nước ngoài để tạo điều kiện, mở ra các cơ hội cho các tập đoàn độc quyền tới đó kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Tại một số nước, định hướng ưu tiên cho các vấn đề xã hội trong chi tiêu ngân sách nhà nước được luật pháp hóa. Trong số đó có phần chi cho các hoạt động bảo vệ môi trường, an sinh xã hội...

Nhờ đó, ở những nước phát triển, môi trường xanh và sạch hơn, có nước như Na Uy có giáo dục và y tế miễn phí toàn dân; ở một số nước châu Âu, người dân thực tế được hưởng phúc lợi xã hội khá cao. Nhưng sẽ là sai lầm nếu như coi những điều tốt đẹp đó là sự thức tính của giai cấp tư sản hay là sự nhân đạo hóa của chủ tư bản. Đó thực ra là những thành quả của cuộc đấu tranh bền bỉ nhiều năm của nhân dân tiến bộ ở những nơi đó, là những sự “chuẩn bị vật chất của chủ nghĩa xã hội" mà chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước tạo ra trong quá trình phát triển của nó. Hoặc nổi như C Mác: đó là những thành tựu của “văn minh tư sản”.

[1] Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:"Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam." Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 -19/5/2021) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 (ngày 23/5/2021).
[2] Xem Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb. Tư tưởng, M.1983, tr.246-247 (tiếng Nga).
 

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta. Dễ thấy rằng, bất kỳ một sự kiện chính trị nào diễn ra hay vấn đề nào đó xã hội quan tâm thì các thế lực thù địch sẽ dùng nhiều biện pháp để xuyên tạc nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, để có thể gây mất ổn định chính trị theo những mưu đồ của chúng.

ĐẨY LÙI NHỮNG TÁC PHẨM “NÚP BÓNG NGHỆ THUẬT” LÀM THA HÓA TƯ TƯỞNG CON NGƯỜI Thời đại hội nhập quốc tế và xã hội phát triển góp phần làm cho đời sống văn học-nghệ thuật (VHNT) ngày càng phong phú. Song VHNT cũng là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, phức tạp. Lợi dụng các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube và lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, một số “văn tài tha hóa” đã cho ra đời những sản phẩm "núp bóng tác phẩm nghệ thuật", làm tha hóa tư tưởng con người và tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần xã hội. Văn nghệ sĩ tha hóa sẽ cho ra những đứa con tinh thần lạc lối, nguy hại Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(1). Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, những văn nghệ sĩ yêu nước đã sử dụng một loại vũ khí có sức mạnh “thanh cao mà đắc lực”-thứ vũ khí không được chế tác bằng kim loại, không gây sát thương, nhưng mang lại hiệu quả chiến đấu to lớn, góp phần làm nên những chiến thắng lẫy lừng của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ở thế kỷ 21. Nhà thơ Sóng Hồng(2) đã viết: “Dùng bút làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ: Bom đạn phá cường quyền” ("Là thi sĩ"). Những vần thơ như thay cho lời khẳng định về giá trị, vị trí, vai trò của VHNT trong kháng chiến giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định, VHNT là lĩnh vực rất quan trọng để bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, hoàn thiện nhân cách, đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh của con người. Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) khẳng định: “VHNT là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam... VHNT Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ”(3). Ngày nay, trong điều kiện đất nước phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tư duy sáng tạo văn học cũng như tâm lý học sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ đã được đổi mới, mở rộng và phát triển mạnh mẽ, hội nhập cùng với xu hướng hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới. Cũng từ đó, VHNT ngày càng có cách nhìn phóng khoáng hơn, biên độ sáng tạo được mở rộng hơn, hệ thống tiếp nhận cũng được định hình theo sự phân tầng của tư duy nghệ sĩ; góp phần đổi mới, đa dạng hơn về đề tài, nội dung tư tưởng. Tuy nhiên, thời gian qua xuất hiện một số văn nghệ sĩ đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc; hay thậm chí chính họ bị tha hóa về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những đối tượng này thành lập các hội, nhóm, “sáng tạo” ra một thứ nghệ thuật đồi trụy "núp bóng" văn hóa, văn chương; tạo ra những cái gọi là “tác phẩm nghệ thuật” thiếu chuẩn mực, thiếu đạo đức, chà đạp truyền thống lịch sử, làm ô uế thuần phong mỹ tục của dân tộc với những tư duy lệch lạc, những câu chuyện rẻ rúng, những thứ ngôn từ thô tục... để phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đổ biết bao xương máu mới giành được. Thậm chí, “tác phẩm nghệ thuật” ấy được lồng ghép và tạo dựng những hình ảnh dung tục với một lối tư duy phi truyền thống, phi văn chương, phi nghệ thuật, phi chính trị... nhằm mục đích tuyên truyền, kích động, bôi nhọ lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, bôi nhọ anh hùng dân tộc, bôi nhọ nền tảng truyền thống văn hóa ngàn đời của dân tộc...Ví như những cuốn sách: “Bên kia bờ ảo vọng”, “Một cơn gió bụi”, “Tây Hùng Vương”, “Mối chúa”, “Đất mồ côi”... làm cho người tiếp nhận, nhất là thế hệ trẻ bị hoang mang, dẫn đến nhận thức lệch lạc, đánh mất niềm tin vào cuộc sống, trật tự xã hội bị đảo lộn, tư duy con người bị xô lệch, mất phương hướng. Xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn ngừa những tác phẩm lệch lạc, xấu độc Đảng, Nhà nước ta và các cơ quan quản lý không hạn chế, kìm hãm tư duy sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ, nhưng định hướng, mong muốn, khuyến nghị các văn nghệ sĩ cần đặt những sản phẩm sáng tạo-những thành quả lao động nghệ thuật-vào đúng vị trí của nó và phù hợp với các giá trị chuẩn mực của cộng đồng, xã hội. Trong bối cảnh thông tin bùng nổ hiện nay, cần thực hiện nhiều giải pháp để xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn ngừa hiệu quả những hệ lụy tiêu cực từ các tác phẩm VHNT có nội dung thấp kém, xấu độc. Giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện hiệu quả những định hướng của Đảng về VHNT gắn với phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Đặc biệt chú trọng quán triệt và thực hiện tốt nội dung Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) "Về tiếp tục xây dựng và phát triển VHNT trong thời kỳ mới" và những chương trình, kế hoạch về phát triển văn hóa, VHNT mà các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và chính quyền các địa phương đã xác định. Coi trọng và phát huy vai trò, trách nhiệm của những người làm nhiệm vụ “gác cổng nghệ thuật”, những cơ quan trực tiếp làm công tác biên tập, xuất bản, phát hành, tránh để những sản phẩm phi nghệ thuật được xuất bản, phát tán, lưu hành trong đời sống xã hội. Các cơ quan quản lý, cơ quan biên tập, xuất bản phải thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác biên tập; phối hợp chặt chẽ với cơ quan liên quan để phân tích, sàng lọc và nắm được tư tưởng văn nghệ sĩ thông qua sản phẩm sáng tạo. Bên cạnh đó, những người làm công tác quản lý VHNT phải thực sự nhạy bén trong nhận định, đánh giá tác phẩm nghệ thuật, biết phân biệt rõ những tác phẩm nghệ thuật chân chính với những sản phẩm “núp bóng nghệ thuật” được tạo ra bởi tư duy thấp hèn, phục vụ những lợi ích cá nhân không lành mạnh và mang động cơ đen tối. Đối với đội ngũ văn nghệ sĩ và cán bộ, đảng viên, cần nhận thức đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của VHNT trong đời sống tinh thần của nhân dân. Lĩnh vực VHNT là một mặt trận mà những “chiến sĩ văn hóa” cần đem hết tài năng, trí tuệ và nhiệt huyết của mình để cống hiến, sáng tạo những tác phẩm VHNT có giá trị. Cùng với đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần đấu tranh với những tác phẩm “núp bóng văn hóa”, những tác phẩm phi nghệ thuật và những cuốn sách có tư tưởng lệch lạc, ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ lịch sử dân tộc, ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức, tình cảm của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Chúng ta tôn trọng sự tự do sáng tạo nhưng phải quan tâm bồi dưỡng tư tưởng chính trị, quan điểm, lập trường cho văn nghệ sĩ. "Lá, cành" của "cây xanh" văn nghệ sĩ phải luôn "quang hợp" ánh sáng lý tưởng cách mạng, nếu không, "cây" sẽ bị héo và "quả" sẽ sài đẹn. Lịch sử nghệ thuật cho thấy, các nghệ sĩ lớn luôn tự do sáng tạo theo một xu hướng nhất định. Sáng tạo VHNT theo những nguyên lý cơ bản của mỹ học Mác-xít là sáng tạo theo tinh thần nhân văn, tiến bộ, phù hợp với quy luật tư tưởng và tình cảm tâm lý tiếp nhận của con người. Sứ mệnh cao cả nhất của văn nghệ sĩ là tự do sáng tạo vì nước, vì dân, vì chủ nghĩa xã hội, vì những phẩm giá tốt đẹp của con người và giá trị chân, thiện, mỹ của xã hội. Trong xã hội hiện đại, để góp phần cho VHNT đi đúng hướng và có sức sống dồi dào, sức lan tỏa sâu rộng, các cơ quan chức năng và các hội chuyên ngành VHNT cần tiếp tục tổ chức các chuyến đi thực tế để văn nghệ sĩ có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn về đời sống xã hội, từ đó có những cảm nhận vui buồn, cảm thông và chia sẻ với các tầng lớp nhân dân, nhất là người lao động. Vốn sống của văn nghệ sĩ không chỉ loanh quanh trong một cơ quan, địa phương, ngành nghề mà phải vươn ra khắp mọi miền Tổ quốc. Sinh thời, nhà văn Nam Cao từng nhấn mạnh: “Sống đã rồi hãy viết”. Vì lẽ đó, việc duy trì tổ chức những chuyến đi thực tế để các văn nghệ sĩ được sống, được hít thở, được đập cùng nhịp đập trái tim của nhân dân ở mọi lúc, mọi nơi trên đất nước Việt Nam sẽ góp phần giúp họ am hiểu cuộc đời, biết chắt lấy tinh hoa đời sống để xây dựng mô hình, chất liệu, sức sống cho tác phẩm VHNT.